1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính sáng tạo trong giải pháp kỹ thuật

6 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 28,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt ngữ nghĩa, sáng tạo được hiểu là kết quả của một ý tưởng nhưng không nảy sinh một cách hiển nhiên có thể bắt nguồn từ những sáng chế khác, nhưng không nảy sinh một cách hiển nhiên

Trang 1

TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VỀ TRÌNH ĐỘ SÁNG TẠO CỦA SÁNG CHẾ

1 Cơ sở pháp lý đánh giá về trình độ sáng tạo của sáng chế

Trong xã hội hiện đại, cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao Nhằm đáp ứng những nhu cầu đó con người không ngừng cải tiến trong sản xuất Để tiến hành cải tiến hoạt động sản xuất đòi hỏi phải có các nguồn lực về vật chất, nguồn lực về tài chính, nguồn lực về lao động trí tuệ cũng như nguồn lực về công nghệ Trong số đó, nguồn lực về lao động trí tuệ là yếu tố nền tảng và quan trọng nhất Khi đề cập đến tính quan trọng của nguồn nhân lực trí tuệ là nói đến sự tìm tòi, tính sáng tạo của con người

Sự sáng tạo đó đã góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống hiện đại của xã hội loài người Sáng tạo đó là một loại tài sản trí tuệ có giá trị lớn của con người; bởi nó được xem như là một biện pháp kỹ thuật nhằm giải quyết một vấn đề xác định hay nói cách khác đó chính là giải pháp kỹ thuật Tuy nhiên, không phải tất cả các giải pháp kỹ thuật đều được pháp luật bảo hộ mà chỉ những giải pháp kỹ thuật đáp ứng các tiêu chí bảo hộ sáng chế được pháp luật quy đinh mới được công nhận là sáng chế

Theo Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định: “Sáng chế là giải

pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” Từ định nghĩa cho thấy bản chất của sáng chế

là giải pháp kỹ thuật Theo đó, giải pháp kỹ thuật có thể dưới dạng là sản phẩm hoặc quy trình và đó phải là những sản phẩm hoặc quy trình do con người sáng tạo ra chứ không phải là những gì tồn tại trong tự nhiên và được con người phát hiện ra Và để loại tài sản trí tuệ này được pháp luật bảo hộ thì sáng chế phải đáp ứng được các theo chí theo luật định Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại khoản 2 Điều 58 LSHTT 2005 quy định:

“1 Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các

điều kiện sau đây: a) Có tính mới; b) Có trình độ sáng tạo; c) Có khả năng áp dụng công nghiệp”.

Qua quy định trên nhận thấy điều kiện về trình độ sáng tạo là một trong ba tiêu chí quan trọng để sáng chế được pháp luật bảo hộ; và trong phạm vi của bài viết chỉ tập trung phân tích và làm rõ cơ sở để đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế Theo đó, trước hết cần phải hiểu được thế nào là “sáng tạo” Về mặt ngữ nghĩa, sáng tạo được hiểu là kết quả của một ý tưởng nhưng không nảy sinh một cách hiển nhiên (có thể bắt nguồn từ những sáng chế khác), nhưng không nảy sinh một cách hiển nhiên từ trình độ kỹ thuật hiện tại đối với một người có kỹ năng thông thường (trình độ trung bình) trong lĩnh vực

Trang 2

kỹ thuật tương ứng Những gì mà một người có trình độ trung bình ở cùng ngành kỹ thuật tương ứng có thể tự tìm ra được mà không cần phải có bản mô tả sáng chế của người yêu cầu nộp đơn được coi như "hiển nhiên" Hơn nữa, đây phải là một sự sáng tạo có trình độ, nghĩa là phải có sự khác biệt cơ bản giữa trình độ kỹ thuật vào ngày ưu tiên và sáng chế được yêu cầu bảo hộ (phải nêu được ví dụ về tính sáng tạo) Thuật ngữ “trình độ sáng tạo” được Hiệp định TRIPS giải thích là mỗi quốc gia thành viên coi là đồng nghĩa với các thuật ngữ “không hiển nhiên” và “hữu ích” Cụ thể, theo Điều 27.1 Hiệp định TRIPS đòi hỏi các Thành viên bảo hộ sáng chế cho sản phẩm hoặc quy trình thuộc mọi lĩnh vực công nghệ với điều kiện sản phẩm hoặc quy trình có tính mới, có trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp1 Như vậy, một sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: 1) Nó phải là mới, nghĩa là có đặc tính mới nào đó mà chưa được biết đến trong kho kiến thức hiện có thuộc lĩnh vực kỹ thuật của nó Kho kiến thức này được gọi là “tình trạng kỹ thuật” 2) Sáng chế phải có trình độ sáng tạo, nghĩa là nó không thể được tạo ra một cách dễ dàng bởi người bất kỳ có kiến thức trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật đó 3) Cuối cùng, nó phải có khả năng áp dụng công nghiệp Qua đó có thể nhận thấy rằng pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ đã giải thích trình độ sáng tạo với nội dung quá rộng như vừa nêu, việc vận dụng nó thế nào thuộc về pháp luật quốc gia

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại khoản 2 Điều 58 LSHTT 2009 quy định:

“1 Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Có tính mới; b) Có trình độ sáng tạo; c) Có khả năng áp dụng công nghiệp” Căn cứ theo Điều 61 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009,

sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu “căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được

bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng”

Ngoài ra, theo điểm b Khoản 6 Điều 25 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN quy định

“Việc đánh giá trình độ sáng tạo của giải pháp kỹ thuật nêu trong đơn được thực hiện

bằng cách đánh giá dấu hiệu (các dấu hiệu) cơ bản khác biệt nêu trong phạm vi (yêu

1 Xem thêm Điều 27.1 Hiệp định Trips về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS) có hiệu lực vào năm 1995.

Trang 3

cầu) bảo hộ để đưa ra kết luận:

(i) Dấu hiệu (các dấu hiệu) cơ bản khác biệt có bị coi là đã được bộc lộ trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc hay không, và;

(ii) Tập hợp các dấu hiệu cơ bản khác biệt có bị coi là có tính hiển nhiên đối với người

có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng hay không.

ứng với một điểm thuộc phạm vi (yêu cầu) bảo hộ, giải pháp kỹ thuật được coi là có trình

độ sáng tạo nếu việc đưa dấu hiệu cơ bản khác biệt vào tập hợp các dấu hiệu cơ bản của giải pháp kỹ thuật là kết quả của hoạt động sáng tạo và không phải là kết quả hiển nhiên của hiểu biết thông thường trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng”

Sáng chế chỉ được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật

đã biết, sáng chế cũng được coi là một bước tiến sáng tạo và không được tạo ra một cách

dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng, trong đó điều kiện “không được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng” hay không bị coi là “có tính hiển nhiên đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng” là điều kiện thiết yếu Sáng chế không có tính mới đương nhiên không có trình độ sáng tạo Việc đánh giá trình độ sáng tạo chỉ được tiến hành đối với những sáng chế có tính mới2

Người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng được hiểu là người có

các kỹ năng thực hành kỹ thuật thông thường và biết rõ các kiến thức chung phổ biến trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng tại một thời điểm thích hợp; có khả năng tiếp cận mọi tài liệu và thông tin có trong các giải pháp kỹ thuật đã biết, và có đầy đủ các phương tiện

và khả năng thông thường để thực hiện các thao tác và thực nghiệm kỹ thuật thông thường Nếu vấn đề kỹ thuật đặt ra khiến người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng phải tìm kiếm giải pháp nhằm giải quyết vấn đề này trong một lĩnh vực

kỹ thuật khác thì chuyên gia trong lĩnh vực đó là người có đủ khả năng giải quyết vấn đề

kỹ thuật này Do đó, việc đánh giá một sáng chế có trình độ sáng tạo hay không cần dựa trên kiến thức và khả năng của chuyên gia trong lĩnh vực tương ứng Trong một số trường hợp, nếu thích hợp, người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể được coi là một nhóm người, ví dụ một nhóm nghiên cứu hoặc sản xuất, chứ không phải

là một người duy nhất Điều này có thể được áp dụng trong việc đánh giá trình độ sáng

2 Xem thêm 23.1.2, 23.1.3 Điều 23 Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế (Ban hành kèm theo Quyết định số 487/QĐ-SHTT ngày 31/3/2010 của Cục Trưởng Cục Sở hữu trí tuệ)

Trang 4

tạo của sáng chế thuộc các ngành công nghệ cao như hệ thống máy tính hoặc điện thoại,

và trong các quy trình mang tính chuyên môn cao nhưquy trình sản xuất mạch tích hợp hoặc sản xuất hoá chất phức tạp ở quy mô công nghiệp3

Về tính hiển nhiên của sáng chế, nếu sáng yêu cầu bảo hộ bị coi là có thể được tạo

ra một cách hiển nhiên bởi người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng, khi căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã biết trước, thì sáng chế bị coi là không có trình

độ sáng tạo Theo khía cạnh này, thuật ngữ “hiển nhiên” được dùng để chỉ việc tạo ra sáng chế không nằm ngoài tiến trình phát triển thông thường của công nghệ, và chỉ là sự phát triển mang tính đơn giản hoặc logic từ các giải pháp kỹ thuật đã biết Cụ thể, sáng chế bị coi là có thể được tạo ra một cách hiển nhiên bởi người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng là sáng chế mà việc tạo ra nó không cần đến kỹ năng hoặc khả năng vượt quá kỹ năng hoặc khả năng của người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực

kỹ thuật tương ứng Khi đánh giá trình độ sáng tạo, tài liệu đối chứng bất kỳ có thể được hiểu trên cơ sở kiến thức có được sau khi tài liệu này được công bố và có xét đến toàn bộ các kiến thức chung mà người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có được tại thời điểm ngày trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên có hiệu lực với sáng chế nêu trong một điểm yêu cầu bảo hộ4

2 Bất cập và đề xuất về tiêu chí đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế.

Với các quy định còn mang tính định lượng khó giải thích và khó áp dụng của pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ cũng như nội hàm còn quá rộng mà Hiệp định Trips quy định về đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế đã dẫn đến một số hạn chế sau:

Thứ nhất, trong phạm vi pháp luật quốc gia các chủ thể có thẩm quyền sẽ khó đưa

ra các quy định để đánh giá, thẩm định, kiểm tra về trình độ sáng tạo của sáng chế cũng như việc hiểu và áp dụng các quy định này trong thực tiễn quản lý Bởi những tiêu chí trên được xác định chủ yếu trên cơ sở định tính, rất khó để xác định cụ thể và từ đó không thể tránh khỏi sự thiếu khách quan trong khâu thẩm định

Thứ hai, trong mối quan hệ quốc tế có thể nhận thấy các quốc gia thành viên dễ

dàng chủ quan và thậm chí có thể tùy tiện khi thẩm định, kiểm tra tính sáng tạo của sáng

3 Xem thêm 23.3 Điều 23 Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế (Ban hành kèm theo Quyết định số 487/QĐ-SHTT ngày 31/3/2010 của Cục Trưởng Cục Sở hữu trí tuệ)

4 Xem thêm 23.4 Điều 23 Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế (Ban hành kèm theo Quyết định số 487/QĐ-SHTT ngày 31/3/2010 của Cục Trưởng Cục Sở hữu trí tuệ)

Trang 5

chế Có một số lượng đáng kể trường hợp mà thẩm định viên và người nộp đơn hoặc luật

sư sáng chế không đạt được sự nhất trí về trình độ sáng tạo của sáng chế và quyết định cuối cùng phải được đưa ra tại toà án Cũng có không ít các quyết định của thẩm định viên của cơ quan sáng chế bị toà án bác bỏ hay quyết định của toà án cấp dưới bị toà án cấp trên bác bỏ Theo các quyết định trước đây của toà án, một số ví dụ về những thứ bị coi là thiếu trình độ sáng tạo là: sự thay đổi kích thước đơn thuần; làm cho có thể vận chuyển được; hoán đổi các bộ phận; thay đổi nguyên liệu; sự kết hợp của các bộ phận; hay sự thay thế đơn thuần bởi bộ phận hay chức năng tương đương Những giải pháp này không được coi là có đủ trình độ sáng tạo để được cấp bằng độc quyền sáng chế5

Từ những hạn chế trên thiết nghĩ các luật chuyên ngành nên quy định rõ tiêu chí đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế để không nhập nhằng và khó áp dụng tiêu chí chung khi quyết định tính sáng tạo của sáng chế (điển hình khi thẩm định tính sáng tạo khi sử dụng cây thuốc, dược liệu pháp luật về dược cần phải quy định rõ) Ngoài ra khi quy định các tiêu chí đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế nên kết hợp với cơ sở định lượng rõ ràng để việc hiểu và áp dụng pháp luật sẽ thống nhất và khách quan hơn

Tài liệu tham khảo

1 Hiệp định Trips

2 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009

3 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14 tháng 02 năm 2007, Hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp

4 Thông tư 05/2013/TT-BKHCN ngày 20 tháng 02 năm 2013, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14 tháng 02 năm 2007, Hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp

5 Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế (Ban hành kèm theo Quyết định số 487/QĐ-SHTT ngày 31/3/2010 của Cục Trưởng Cục Sở hữu trí tuệ)

6 Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Luật học, Tập 30, Số 1(2014), 62-72

5 Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Luật học, Tập 30, Số 1(2014), 62-72.

Trang 6

7 Đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế, http://sohuutritue.org.vn/tin-chi-tiet/danh-gia-trinh-do-sang-tao-cua-sang-che/907.html, [truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013]

Ngày đăng: 18/04/2016, 12:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w