1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về mối quan hệ giữa đảng và nhân dân ở thị xã sơn tây – thành phố hà nội hiện nay

129 415 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song, bên cạnh những thành tựu to lớn đó, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế, bất cập: không ít cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương mất đoàn kết thống nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài……… 4

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……… 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài……… 8

5 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu……… 9

6 Đóng góp của luận văn……… 10

7 Kết cấu của luận văn……… 10

Chương 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ

MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN

11

1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhân dân 11 1.1.1 Khái niệm “dân”, “nhân dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh 11 1.1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân 15

1.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và

nhân dân

24

1.2.1 Quan hệ “máu thịt” giữa Đảng và nhân dân là bản chất

cách mạng, khoa học của Đảng ta

24

1.2.2 Đảng là lực lượng lãnh đạo, nhân dân là người làm chủ vận

mệnh của mình

28

1.3 Giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về

mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

36

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở THỊ XÃ SƠN TÂY - TP HÀ NỘI HIỆN NAY

48

Trang 4

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến mối

quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở thị xã Sơn Tây

48

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tác động đến mối quan hệ giữa

Đảng và nhân dân ở thị xã Sơn Tây

50

2.2 Thực trạng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở thị

xã Sơn Tây thời gian qua

54

2.2.1 Những kết quả đạt được trong xây dựng mối quan hệ giữa

Đảng và nhân dân ở thị xã Sơn Tây thời gian qua

54

2.2.2 Một số yếu kém, khuyết điểm và nguyên nhân 70

2.3 Phương hướng, yêu cầu và một số giải pháp nhằm tăng

cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở thị xã Sơn Tây hiện nay

80

2.3.1 Đặc điểm tình hình nhiệm vụ và một số vấn đề đặt ra về

việc tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở thị

xã Sơn Tây hiện nay

80

2.3.2 Một số giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và

nhân dân ở thị xã Sơn Tây hiện nay

Trang 5

PHỤ LỤC 5: Kết quả điều tra 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa CNH - HĐH

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta Người

đã kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo tư tưởng “lấy dân làm gốc” của cha ông ta, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” vào xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng mác xít Người đặt nền móng tư tưởng cách mạng về mối quan hệ và sự cần thiết phải gìn giữ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng - nhân dân của Đảng ta Nghiên cứu, vận dụng bài học của Đảng về “lấy dân làm gốc” cũng như mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với nhân dân hiện nay, đang là vấn đề có ý nghĩa quan trọng góp phần thắng lợi trọn vẹn của cách mạng nước ta

Trải qua 83 năm xây dựng và trưởng thành, với bản lĩnh một Đảng cách mạng chân chính, gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc đứng lên làm cách mạng lập nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng CNXH

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã nêu lên bài học kinh nghiệm hàng đầu “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” [13,29] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng định hướng “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ XHCN và của Đảng” [18,65]

Vì vậy, giữ gìn mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân là vấn đề sống còn của sự nghiệp cách mạng

Trang 7

Thực tiễn cách mạng những năm qua cho thấy vai trò của Đảng và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng - nhân dân được khẳng định, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, dân chủ được mở rộng, nhân dân đã thực sự cống hiến được nhiều tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp phát triển đất nước; điều đó góp phần to lớn vào thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cường thịnh Song, bên cạnh những thành tựu to lớn đó, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế, bất cập: không ít cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương mất đoàn kết thống nhất; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lạm dụng quyền lực, hách dịch, nhũng nhiễu, xa rời, thiếu quan tâm đời sống quần chúng nhân dân, làm giảm uy tín Đảng và lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước; đó là những thách thức, trở lực, rào cản lớn đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta Trước thực tiễn đó, ngày 16/1/2012, Hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng (khóa

XI) đã ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện

nay” Nghị quyết đã lựa chọn đúng vấn đề, đánh giá đúng thực trạng và đề ra

đúng các giải pháp để tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân Nghị quyết chỉ rõ “công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ” [19,1] Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cảnh báo trong bối cảnh hiện nay: “nếu Đảng ta không giữ được bản chất cách mạng của mình, không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên” [20,11]

Thời gian qua, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang triệt để lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót, khuyết điểm của Đảng và Nhà nước để chống

Trang 8

phá Đảng, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN mà Đảng, Bác Hồ

và nhân dân ta đã lựa chọn

Việc nghiên cứu sâu sắc, tìm những giải pháp thuyết phục đầy đủ về lý luận và thực tiễn để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là vấn đề trọng yếu, cần thiết trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng ta hiện nay

Sơn Tây là thị xã trực thuộc Thủ đô Hà Nội, trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội phía Tây Bắc Thủ đô; nơi được Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời giành quan tâm đặc biệt, đã từng về thăm và căn dặn với Đảng bộ và nhân dân nơi đây: “Vào Đảng, vào Đoàn không phải để làm “quan” cách mạng, hay là để nói chính trị suông Tất cả đảng viên và đoàn viên phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành các chính sách của Đảng và Chính phủ,… làm gương mẫu, làm đầu tàu lôi cuốn quần chúng ” [42, 202-204] Rõ ràng, vấn đề giáo dục cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ, đảng viên thị xã Sơn Tây nói riêng nhằm xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và dân luôn được Người chú trọng

Trong bối cảnh hiện nay, hội nhập quốc tế sâu rộng, nhiệm vụ phát triển toàn diện của thị xã ngày càng đòi hỏi cao; đặc biệt là nhiệm vụ thực hiện thắng lợi Nghị quyết TW 4 khóa XI của Đảng “Một số vấn đề cấp bách

về xây dựng Đảng hiện nay” ở thị xã đang được đặt lên hàng đầu trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thì việc tăng cường, củng cố xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân thị xã Sơn Tây dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng quyết định thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của thị xã

Vì vậy, trở lại tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân,

về Đảng cầm quyền, về mối quan hệ giữa Đảng với dân vừa có giá trị lý luận, vừa là chỉ dẫn quý báu cho hoạt động thực tiễn của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới hiện nay nói chung và Đảng bộ thị xã Sơn Tây nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở thị xã Sơn

Trang 9

Tây - thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên

ngành Hồ Chí Minh học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng mối quan hệ gắn

bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuộc hội thảo, bài nói, bài viết của các nhà nghiên cứu lý giải ở các góc độ khác nhau Các tác giả phân tích, lý giải thực trạng, nguyên nhân của mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời đưa ra những yêu cầu, con đường, biện pháp để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

- Về sách gồm có:

+ Các tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói về vai trò của dân, về mối quan hệ giữa Đảng với dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng vì dân, gần dân, kính trọng dân, tin tưởng nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh Như đồng chí Lê Duẩn viết cuốn

“Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (1976), tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, nhấn mạnh quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”; Võ Nguyên Giáp với cuốn sách “Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh”

(1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội đã chỉ rõ “Thực chất công tác dân

vận là xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Dân”

+ Lê Văn Lý (ch.b), Mạch Quang Thắng, Đặng Đình Phú viết cuốn

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong

điều kiện Đảng cầm quyền”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2002; Tác giả Trần Đình Huỳnh, Ngô Kim Ngân viết cuốn “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về Đảng cầm quyền”, năm 2004 Các tác giả đã khái quát nội dung tư

tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng, phương hướng nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh

+ TS Phạm Ngọc Anh, PGS.TS Bùi Đình Phong với các cuốn “Tư

tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”, Nxb Lý luận

chính trị, Hà Nội xuất bản năm 2005 và cuốn “Vận dụng và phát triển tư tưởng

Trang 10

Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới” của Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2006 Các tác giả đã phân tích, lý giải tư tưởng

Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh: Đảng lãnh đạo là nhân

tố quyết định thành công của cách mạng, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, cốt lõi là tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

+ GS.TS Nguyễn Văn Huyên viết cuốn “Đảng Cộng sản cầm quyền,

nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, năm 2011 Tác giả đã khái quát quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản cầm quyền, vận dụng phương thức cầm quyền của Đảng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của đất nước

+ Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong thời kỳ đổi mới bàn trực tiếp về mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân ở nước ta Như tác giả Vũ Oanh với cuốn “Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”, Nxb Sự thật, Hà Nội xuất bản năm 1990; tác giả đã phân tích thực trạng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, khẳng định cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, chỉ rõ sự cần thiết và đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

Tác giả Đàm Văn Thọ, Vũ Hùng với cuốn sách “Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1997 Cuốn sách là kết quả trực tiếp của luận án PTS Triết học của hai tác giả, đã trình bày: Khái niệm về dân và những quan điểm, thái độ khác nhau về dân trong lịch sử Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

về Đảng và dân Nội dung chủ yếu của mối quan hệ Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh Thực trạng và nguyên nhân tồn tại của mối quan hệ Đảng và dân hiện nay Tăng cường mối quan hệ Đảng và dân trong thời kỳ mới trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh

Dương Xuân Ngọc (ch.b), Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Chí Dũng (1998) viết cuốn “Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân cấp

xã ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Đặc biệt là cuốn “Mối

Trang 11

quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ đổi mới đất nước: Vấn đề và kinh nghiệm” của T.S Nguyễn Văn Sáu, PGS T.S Trần Xuân Sầm, PGS T.S

Lê Doãn Tá (đồng ch.b) Cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về mối quan hệ gắn

bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, đồng thời nêu một số giải pháp nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng

- Về báo, (tạp chí) có các bài:

+ Nguyễn Thị Mai Anh (2002), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và dân

chủ”, Tạp chí Dân vận, Số 12, tr.14-15

+ PGS TS Lê Doãn Tá (2004), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan

hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân”, http://vietbao.vn/ChinhTri/, Thứ ba,

ngày 03/ 2/ 2004

+ Tác giả Lê Hữu Nghĩa “Củng cố và tăng cường quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân trong giai đoạn hiện nay”, tạp chí Cộng sản, Số 21-2005

+ Đại tá, PGS.TS Bùi Đình Bôn với bài “Nhiệm vụ cấp bách là củng cố

mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân”, Báo QĐND, số Thứ hai, ngày

30/05/2011 v.v

- Về Luận án tiến sĩ, luận văn có:

+ Tác giả Đàm Văn Thọ với đề tài: “Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh”, Luận án PTS khoa học (1996), đã làm sáng tỏ những quan điểm cơ bản và đề xuất những giải pháp cần thiết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

+ Vũ Hùng, với đề tài “Dân và mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với

dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Luận án PTS triết học (1996) Tác giả đã

khái quát quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân, về Đảng cầm quyền trong mối quan hệ với dân, vận dụng xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước

Trang 12

- Hội thảo khoa học:

+ “Hội thảo khoa học kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt

Nam” (3 /2/ 1930 - 3/ 2/ 2000), bao gồm: các báo cáo khoa học đề cập đến

cương lĩnh và đường lối chính trị, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam; các chặng đường lịch sử của Đảng và những thành tựu xây dựng, phát triển của Đảng; những thành tựu của đất nước trên mọi lĩnh vực dưới sự lãnh đạo của Đảng

+ Hội thảo về “Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân” diễn

ra ngày 21/10/2009, tại Hà Nội, do Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức, đã làm rõ quá trình nhận thức và tình hình thực tiễn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong hơn 20 năm đổi mới của đất nước

Với những góc độ, khía cạnh, và mục đích nghiên cứu khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đề cập đến mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh khá sâu sắc và toàn diện Các công trình khoa học trên là nguồn tư liệu giá trị để tác giả tiếp thu, kế thừa nhằm hoàn chỉnh

đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Song chưa có một công trình nào nghiên cứu, luận giải vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở thị xã Sơn Tây Vì vậy, đề tài luận văn không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

- Nghiên cứu, làm rõ những quan điểm cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh

về “dân”, “nhân dân” và mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

- Đánh giá khách quan, khoa học giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, ý nghĩa với sự nghiệp đổi mới hiện nay

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa Đảng bộ và nhân dân thị xã Sơn Tây; chỉ rõ những nguyên nhân tồn tại, khuyết điểm, yếu kém; đề ra những giải pháp nhằm củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng bộ và nhân dân thị xã Sơn Tây - TP Hà Nội dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan

hệ giữa Đảng và nhân dân; nghiên cứu đánh giá thực trạng, phương hướng

và giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa Đảng bộ và nhân dân thị xã Sơn Tây - TP Hà Nội hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn không nghiên cứu toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, mà chỉ nghiên cứu nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền và nhân dân Vận dụng tư tưởng

đó vào xây dựng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong phạm vi một địa phương cụ thể là thị xã Sơn Tây của thành phố Hà Nội, thời gian từ năm 2000 đến nay

Bởi vì:

- Tổng kết sau 15 năm đổi mới, và 10 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, cả nước đã giành được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng Song những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã bước đầu thâm nhập vào đời sống xã hội, bộc lộ nhiều tiêu cực, tệ nạn, làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng

Trang 14

- Ở thị xã Sơn Tây, tháng 11/2000 diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ thị

xã lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2000 - 2005), đã đề ra những chủ trương lớn, nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện đô thị hóa gắn liền với xóa đói giảm nghèo

- Từ năm 2000 đến nay, thị xã Sơn Tây có bước chuyển biến rõ rệt và phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa, xã hội Đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao Song những tệ nạn, tiêu cực diễn ra ở nơi này, nơi khác, làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân

Vì vậy, thực tiễn đặt ra cần phải củng cố, xây dựng Đảng, chính quyền thị xã trong sạch, vững mạnh; tăng cường mối quan hệ bền chặt giữa Đảng

bộ và nhân dân thị xã

5 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở nghiên cứu:

- Cơ sở lý luận:

+ Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân, về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân, về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

+ Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng

và nhân dân

+ Quan điểm của Đảng ta qua các kỳ Đại hội về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

+ Các Nghị quyết của Đảng bộ thị xã Sơn Tây về tình hình thị xã

- Cơ sở thực tiễn: luận văn dựa trên thực trạng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong phạm vi cả nước và ở thị xã Sơn Tây hiện nay

* Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp luận của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin

- Phương pháp cụ thể: luận văn sử dụng phương pháp logic - lịch sử và các phương pháp liên ngành khác như: nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng

Trang 15

hợp, đánh giá thực tiễn, điều tra xã hội học (điều tra 300 phiếu, thời gian tháng 8/2013, tại phường Quang Trung, xã Thanh Mỹ, xã Xuân Sơn của thị

xã Sơn Tây) để luận giải một cách khoa học những vấn đề thực tiễn đặt ra được đề cập trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần hệ thống hóa lý luận của Hồ Chí Minh về dân, nhân dân và về Đảng cầm quyền trong mối quan hệ với dân

- Chỉ ra những kết quả đạt được, những yếu kém, khuyết điểm và nguyên nhân trong xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở thị xã Sơn Tây - TP Hà Nội

- Đưa ra các nhóm giải pháp nhằm củng cố, tăng cường, phát triển mối quan hệ giữa Đảng bộ và nhân dân thị xã Sơn Tây - TP Hà Nội trong tình hình nhiệm vụ của thị xã hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; đề

tài gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 16

Chương 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN

1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhân dân

1.1.1 Khái niệm “dân”, “nhân dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng về dân, nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng, chỉnh thể thống nhất trong toàn bộ di sản tư tưởng của Người; có

ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước ta hiện nay Tư tưởng về dân của Hồ Chí Minh hình thành rất sớm, được kế thừa từ những tư tưởng nhân ái cao đẹp của truyền thống văn hóa đạo đức dân tộc; của những triết lý văn hóa Đông - Tây và có bước phát triển mới, sáng tạo phù hợp yêu cầu sự nghiệp cách mạng thời đại mới Điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh

là “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ đeo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân” [37, 240] Đó cũng là một nội dung sâu sắc, toàn diện và phong phú thể hiện trong cả thực tiễn hoạt động cách mạng và trong những trước tác của Người Nó đã trở thành những di sản tư tưởng vô giá đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân

Trước tiên, về khái niệm “dân”, xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử, được

sử dụng phổ biến trong các thư tịch của Nho giáo Trung Hoa Khổng Tử, Mạnh Tử nhà triết học lớn thời Xuân Thu - Chiến Quốc, đã có tư tưởng đề cao vai trò của dân, đồng thời nêu rõ trách nhiệm của vua đối với dân Tuy nhiên, quan niệm của Khổng Tử, Mạnh Tử về dân không bao gồm những người cùng khổ nhất trong dân cư “Khái niệm “Dân” của Mạnh Tử ở đây chủ yếu là chỉ hạng trí thức, địa chủ và thương nhân, không phải là nông nô” [69, 260]

Theo từ điển Tiếng Việt, năm 2009 của Hoàng Phê chủ biên, khái niệm dân được nêu với ba nghĩa:

Trang 17

1 Người sống trong một khu vực địa lý hoặc hành chính (nói

tổng quát): Dân giàu, nước mạnh Làm dân một nước độc lập Thành

phố đông dân 2 Người thường thuộc lớp người đông đảo nhất, (trong quan hệ với bộ phận cầm quyền, bộ phận lãnh đạo hoặc quân đội) (nói

tổng quát): tình quân dân, lấy dân làm gốc 3 Người cùng nghề

nghiệp, hoàn cảnh v.v… làm thành một lớp người riêng (nói khái quát;

hàm ý coi thường): Dân buôn, Dân ngụ cư [52, 330]

Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, dân là khái niệm xuất hiện và tồn tại trong xã hội đã có giai cấp, có Nhà nước; đó là khái niệm chỉ những người lao động bình thường, đông đảo, không có chức quyền và đối diện với những người cầm quyền cai trị ở các địa bàn lãnh thổ, các nghề nghiệp khác nhau trong các lĩnh vực sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần của một xã hội nhất định Do đó, khái niệm Dân mang màu sắc và ý nghĩa chính trị khá rõ rệt, phần nào phản ánh mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội

Về khái niệm “nhân dân”, Lênin đã quan niệm “Quần chúng là đa số,

hơn thế nữa chẳng những là đa số công nhân, mà đa số tất cả những người bị bóc lột” [67, 38] Rõ ràng, Lênin đã nhấn mạnh yếu tố giai cấp trong quan điểm về quần chúng nhân dân

Theo từ điển triết học Liên Xô (Rôdentan chủ biên):

“Nhân dân - với nghĩa thông thường: dân cư của một quốc gia, một nước; với nghĩa khoa học chặt chẽ: cộng đồng người thay đổi trong lịch sử, bao gồm một bộ phận, những tầng lớp, những giai cấp của dân cư mà theo địa vị khách quan của mình có khả năng cùng nhau tham gia giải quyết những nhiệm vụ phát triển tiến bộ của một nước nhất định trong một thời kỳ nhất định… Nhân dân bao gồm những người sản xuất trực tiếp - những người lao động, các nhóm dân cư không bóc lột…” [55, 401-402]

Trang 18

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê nêu khái niệm: “Nhân dân là đông đảo những người dân, thuộc mọi tầng lớp, đang sống trong một khu vực nhất

định (nói khái quát): quần chúng nhân dân, nhân dân lao động ” [52, 913]

Qua những định nghĩa trên, khái niệm “nhân dân” có thể khái quát ở mấy điểm chung sau:

Một là, nhân dân là khái niệm có ý nghĩa chính trị, phản ánh về một xã

hội đã phân chia thành giai cấp, thành các tập đoàn người có địa vị kinh tế chính trị khác nhau

Hai là, nhân dân gồm những người thuộc các giai cấp và tầng lớp lao

động, trực tiếp sản xuất ra của cải cho xã hội, có khả năng tham gia giải quyết những nhiệm vụ phát triển và tiến bộ xã hội

Nhìn chung, nội hàm cơ bản của khái niệm “dân” và “nhân dân” là giống nhau, nhiều trường hợp có nghĩa đồng nhất, có thể sử dụng thay thế cho nhau

Hồ Chí Minh đã tiếp thu, phát triển những quan điểm tiến bộ về “dân” trong lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam, tư tưởng chính trị Đông - Tây và đặc biệt phát triển sáng tạo quan điểm quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin làm phong phú tư tưởng của mình về dân, nhân dân

Với Hồ Chí Minh, dân là một phạm trù thể hiện sâu sắc tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại Khái niệm “dân” được Người sử dụng đồng

nghĩa với các khái niệm “nhân dân”, “quần chúng”, “đồng bào” Theo

Người, dân chính là nhân dân, quần chúng, đồng bào Năm 1952, trong bài nói chuyện, nhan đề “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu”, Người chỉ rõ: “Quần chúng tức là toàn thể chiến sĩ trong quân đội, toàn thể công nhân trong xưởng, toàn thể nhân viên trong cơ quan, v.v…, rồi

đến toàn thể nhân dân” [39, 495] Như vậy, nói đến “quần chúng” là nhắc đến

mọi người trong xã hội và cũng là toàn thể nhân dân, nhân dân là quần chúng

Còn “đồng bào”, theo Hồ Chí Minh, là “con Rồng cháu Tiên”, ruột thịt, anh

em, bởi chúng ta cùng chung một tổ tiên, do mẹ Âu Cơ sinh ra từ một bọc trăm trứng - theo truyền thuyết

Trang 19

Quan niệm của Hồ Chí Minh về “dân”, “nhân dân” có thể khái quát trên các nội dung sau:

Dân là những người chung một nước, chung một cộng đồng, chung một lãnh thổ thống nhất, là đồng bào, là "con Rồng cháu Tiên", là "con Hồng cháu Lạc", là anh em ruột thịt, là các tầng lớp, các đoàn thể, là những người cùng giai cấp, là những người yêu nước, là lực lượng cách mạng… Trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Người đã nhiều lần nhấn mạnh Trong bài

“Nói chuyện cùng đồng bào trước khi sang Pháp”, Người viết “… Việc nước

là việc chung, mỗi một người con Rồng cháu Tiên, bất kỳ già, trẻ, gái, trai,

giàu, nghèo, quý tiện đều phải gánh một phần” [37, 240] Trong “Lời cảm ơn

đồng bào”, Người cũng chỉ rõ: “Đồng bào ta bất kỳ già, trẻ, gái, trai, giàu,

nghèo, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, mọi người đều phải đưa chí sáng

suốt, lực lượng và tài năng của mình vào đó, để phụng sự dân tộc, phụng sự

Tổ quốc” [38, 437] Trong bài “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, viết ngày 11/6

/1948 đăng trên báo Cứu quốc số 968, Người nhấn mạnh “Mỗi người dân

Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, gái, trai, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ đều cần phải

trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa ” [38, 444]

Hồ Chí Minh mở rộng nội hàm khái niệm “dân” đến tất cả những ai

thừa nhận mình là “Con dân đất Việt” Người thường nói đến “Con Rồng

cháu Tiên”, “đồng bào”, gốc tích Việt Nam, “Hồng Bàng là tổ tiên ta”,

“người chung một nước”, không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, không phân biệt “già, trẻ, trai, gái, giàu, nghèo, quý, tiện” Dân là toàn bộ đồng bào trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài

Dân ở đây trừ bọn phản bội, Việt gian bán nước, bọn phát xít thực dân, tay sai cho đế quốc thực dân đi ngược lại quyền lợi, nguyện vọng của toàn dân, dân tộc Nói đến dân cũng là nói đến tuyệt đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động khác Với quan niệm đó, Người

Trang 20

cho rằng giai cấp tư sản dân tộc - những người có lòng yêu nước, cũng là dân;

họ cũng có đóng góp nhất định trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc

Tóm lại, dân, nhân dân, đồng bào… chính là những khái niệm đồng

nghĩa, cùng nội hàm, chỉ mọi người Việt Nam yêu nước Dân là mọi người dân Việt Nam, là mọi “con dân nước Việt”, là “mỗi một người con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt “già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quí, tiện” trong đó công, nông chiếm tuyệt đại đa số, là gốc của cách mạng Nhưng

Hồ Chí Minh hay dùng chữ Dân vì nó ngắn gọn và quen với cách nói hằng ngày của người Việt Nam

Còn “nhân dân”, Hồ Chí Minh quan niệm, đó là những người dân

nói chung “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước Đó là nền tảng của quốc dân” [40,

219] Theo Hồ Chí Minh, nhân dân, mà trước hết là nhân dân lao động, tập trung ở hai giai cấp chủ yếu, đông đảo nhất trong xã hội là công nhân và nông dân, trong đó công nông là gốc cách mạng

Như vậy, “Dân”, “Nhân dân” vừa là tập hợp đông đảo quần chúng, vừa được hiểu là mỗi con người Việt Nam cụ thể, và cả hai đều là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc Đây là nét đặc sắc, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh Khái niệm “dân”, “nhân dân” của Người, một mặt thể hiện nhất quán quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác thể hiện tính sáng tạo, tính thực tiễn, phù hợp với điều kiện của nước ta Quan điểm này có giá trị rất lớn trong tập hợp lực lượng, phát huy mọi khả năng của dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng của đất nước

1.1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân

Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân luôn nhất quán và sâu sắc, có nội dung rất phong phú, kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là học thuyết Mác - Lênin Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân có thể khái quát thành những luận điểm lớn chủ yếu sau đây:

Trang 21

Thứ nhất, “Dân là gốc của nước”, của cách mạng

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, kế thừa, phát triển những quan điểm có giá trị tích cực về dân trong lịch sử; đồng thời phê phán những quan niệm hạn chế, sai lầm Người phê phán những quan điểm sai lầm thời cổ đại ở phương Tây, coi nhân dân lao động đông đảo không nằm trong thành phần dân cư, thậm chí không được coi là con người; phê phán tư tưởng “khinh dân”, “ức dân”, coi những người lao động chân tay chiếm số đông trong dân cư là hạng tiểu nhân, ngu dốt, chỉ để sai khiến, chỉ biết ăn no vác nặng của Nho giáo Trung Hoa, đặc biệt là tư tưởng Hán nho của Đổng Trọng Thư; hoặc tư tưởng coi quần chúng nhân dân chỉ là một đám đông vô nghĩa, hay chỉ là phương tiện

để giai cấp thống trị lợi dụng cho mục đích của chúng Hồ Chí Minh tán thành sâu sắc tinh thần phê phán của Mác - Ăngghen đối với Brunô Bau-ơ và đồng bọn qua tác phẩm “Gia đình thần thánh” vì chúng coi quần chúng chỉ là một dãy số không (0), một đám đông vô nghĩa, chỉ là sức ỳ, ngu si đần độn và

là đối tượng của “sự phê phán” Bọn họ đã phủ nhận vai trò quần chúng, thậm chí còn lên án quần chúng “Sở dĩ tất cả những việc lớn của lịch sử

từ trước đến nay đều ngay từ đầu đã là không thành công và không

có hiệu quả thực tế, chính là vì quần chúng quan tâm đến các việc

đó, vì các việc đó khêu gợi nhiệt tình của quần chúng” [7, 121]

Cùng với phê phán những quan điểm sai lầm về dân, Hồ Chí Minh còn tiếp thu sáng tạo những quan điểm trọng dân, coi dân là “gốc của nước” trong

tư tưởng triết học cổ đại Trung Hoa Đó là tư tưởng của Khổng Tử đề cao vai trò của dân, coi dân là điều kiện quan trọng nhất đối với nhà cầm quyền, vì

nếu “dân mà không tin nhà cầm quyền thì chính phủ phải đổ” [10,185] Hồ

Chí Minh chắt lọc tư tưởng của Mạnh Tử “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi

khinh” - nghĩa là: Dân là qúy hơn hết, xã tắc là thứ hai, vua là thường; coi

việc cải thiện đời sống của dân là “điều gốc”, làm cho ai nấy đều đủ cơm ăn

áo mặc, là trách nhiệm của người cầm quyền phải chú trọng phát triển sản xuất Có thể nói, Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc, chọn lọc tinh túy và

Trang 22

vận dụng sáng tạo những tư tưởng có giá trị của nền văn hóa Trung Hoa để làm giàu cho trí tuệ của mình

Lịch sử Việt Nam cũng có những tư tưởng truyền thống đặc sắc và tiến

bộ về vai trò, sức mạnh của dân, coi “dân là gốc của nước” Nhà Trần đã ba lần đại thắng quân xâm lược Nguyên - Mông hung hãn là vì như Hưng Đạo vương

Trần Quốc Tuấn đã khẳng định: Vua tôi đồng tâm, anh em hoà mục, cả nước

góp sức; “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc” [DT 5, 227] Còn Nguyễn

Trãi - một nhà văn hoá lớn, anh hùng của dân tộc thế kỷ XV, đã khẳng định vai trò, sức mạnh của dân “Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”

Học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân là quan điểm cách mạng khoa học nhất, phù hợp với thực tiễn lịch sử xã hội Theo đó, quần chúng nhân dân là khái niệm chỉ tất cả những người lao động và các lực lượng tiến bộ trong xã hội, mà qua hoạt động của họ lịch sử sẽ phát triển lên, trong đó tiêu biểu là công nhân, nông dân Quần chúng nhân dân trong quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thể hiện tính giai cấp rõ nét “Khi dùng danh

từ “nhân dân”, Mác không thông qua danh từ ấy xóa mờ mất sự khác biệt về giai cấp: Mác đã gộp vào danh từ ấy những thành phần giai cấp nhất định, có khả năng làm cách mạng đến cùng” [66, 159] Đánh giá vai trò quần chúng nhân dân là vấn đề quan tâm đầu tiên của Mác trong quá trình nghiên cứu lý luận và hoạt động đấu tranh cách mạng Mác khẳng định, quần chúng nhân dân không chỉ là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp sáng tạo ra mọi của cải của

xã hội, mà còn là người quyết định vận mệnh của lịch sử

Mác và Ăngghen cũng là người đầu tiên nêu lên những tư tưởng cơ bản

về chính Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp công nhân, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể quần chúng nhân dân lao động Trong cách mạng vô sản, giai cấp công nhân là người có sứ mệnh thủ tiêu áp bức bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ mới - XHCN Nhưng sâu sắc hơn, các ông còn dạy, cách mạng vô sản muốn thắng lợi, phải

Trang 23

do Đảng Cộng sản lãnh đạo, phải được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, đặc biệt là của giai cấp công nhân và nông dân đông đảo

Lênin coi sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân lao động là điều kiện và cũng là mục tiêu hoạt động của giai cấp vô sản Trong cách mạng XHCN, Lênin càng chú ý đến vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, coi CNXH là

sự nghiệp của quần chúng nhân dân Song để khẳng định được vai trò, sức mạnh của mình, quần chúng nhân dân cũng cần có điều kiện, như Lênin đã nói “Một nước mạnh là nhờ ở sự giác ngộ của quần chúng Nước mạnh là khi nào quần chúng biết rõ tất cả mọi cái, quần chúng có thể phán đoán được về mọi cái và đi vào hành động một cách có ý thức” [68, 23]

Kế thừa những giá trị tư tưởng tích cực về dân, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc vai trò và sức mạnh quyết định của quần chúng nhân dân Đề cao nhân dân và sự đoàn kết toàn dân, đó là đặc trưng nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh Và Người nêu lên một triết lý “có dân là có tất cả”

Hồ Chí Minh nêu tư tưởng “Dân là gốc của nước” Nghĩa là, nước phải

có dân và do dân lập nên Không có dân thì không có nước, do đó dân là gốc của nước Nước là một quốc gia, một vùng lãnh thổ có chủ quyền của những cộng đồng dân cư mà bao giờ cũng có những người cầm quyền (một triều đại, một chính phủ) mang danh đại diện Dân là gốc, là nền của nước nhưng không phải ai cũng nhận rõ vai trò đó của dân Hồ Chí Minh thẳng thắn vạch

ra nhận thức sai lầm đó, Người nói “Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được Nhưng người ta dễ thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc” [45, 549]

Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc, phát triển những nội dung mới, làm phong phú thêm tư tưởng dân là gốc của nước, của cách mạng Người khẳng định, vai trò của nhân dân là những người lao động đã làm ra mọi của cải vật chất, giá trị văn hoá, nuôi sống bộ máy nhà nước và toàn thể xã hội, làm cho

xã hội tồn tại và phát triển “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu

Trang 24

chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân” [40, 392]

Hồ Chí Minh còn nói, dân là lực lượng chủ yếu, là gốc của các cuộc cách mạng Người đã khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân

“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là của cá nhân anh hùng nào” [43,197] Đồng thời, Người cũng thấy rõ mối quan hệ giữa cá nhân, lãnh tụ với quần chúng nhân dân, nhưng vai trò quyết định vẫn là quần chúng nhân dân “Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng, thì không làm gì được” [39, 207]

Hồ Chí Minh đã thấy được ý chí và sức mạnh của nhân dân Trong thư gửi Khải Định vào tháng 8/1922, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thừng phê phán

sự ươn hèn và lố lăng của ông vua bù nhìn, đồng thời ca ngợi ý chí và sức mạnh của nhân dân “Ngài sẽ thấy rằng ý chí của nhân dân - một ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực - một ý chí còn mạnh hơn và dẻo dai hơn sóng cả, cuối cùng sẽ khoét hổng dần và đánh bật cái tảng đá bề ngoài có vẻ vững chắc là sự áp bức và bóc lột kia đi” [34, 102] Nhận định này cũng được Nguyễn Ái Quốc nhắc lại trong tác phẩm “Đường cách

mệnh”: “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống

lại” [35, 274] Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [38, 410]

Dân là gốc của nước, của cách mạng vì dân có số lượng đông, vì “lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng” [38, 295]; “công an có bao nhiêu người?

Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân Năm vạn người thì chỉ có 5 vạn cặp mắt, 5 vạn đôi bàn tay Phải làm sao có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được Muốn như vậy, phải dựa vào dân, không được xa rời dân” [39, 366] Chính vì vậy, mà xưa nay những đội quân xâm lược nước ta của các nước thực dân, đế quốc, mặc dù được “trang bị đến tận răng”, vẫn bị đánh bại bởi chiến tranh nhân dân, chiến tranh toàn dân của ta

Trang 25

Dân không chỉ là lực lượng đông đảo mà còn rất cần cù, thông minh, khéo léo, có nhiều kinh nghiệm quý báu, “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” [38, 295]

“Dân là gốc của nước” cho nên dân là quí nhất, là quan trọng hơn hết

Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong bầu trời không gì qúy bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân… Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân” [41, 276] Đây là tư tưởng tổng quát, triết lý sâu xa, thể hiện thế giới quan khoa học, quan niệm nhân sinh đúng đắn, cao cả cuả Hồ Chí Minh Người nhấn mạnh: “Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong” [38, 406];

“Dân chúng đồng lòng, việc gì làm cũng được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên” [38, 293] Theo Người “dân là gốc của nước” nên phải chăm sóc đến gốc vì “gốc có vững cây mới bền”, dân có giàu nước mới mạnh

Tóm lại, quan điểm “dân là gốc của nước” của Hồ Chí Minh thể hiện trên ba luận điểm: Tin vào sức mạnh to lớn và năng lực sáng tạo của nhân dân; tất cả vì lợi ích của nhân dân; và phương pháp lãnh đạo, tác phong công tác phải theo quan điểm quần chúng Như vậy, với Hồ Chí Minh, “dân là gốc của nước” là nền tảng tư tưởng, cơ sở để Người lựa chọn con đường cách mạng cho dân tộc

Thứ hai, Dân là chủ của đất nước, là chủ vận mệnh của chính mình

Tư tưởng dân chủ - dân là chủ của nước, của xã hội, chủ vận mệnh của chính mình là tư tưởng mới, chưa từng có trong tư tưởng truyền thống của dân tộc ta Hồ Chí Minh không có một tác phẩm chuyên khảo nào bàn sâu về dân chủ, song, trong các tác phẩm của Người, thuật ngữ “dân chủ” được dùng trên 1.600 lần, trong đó cụm từ “dân chủ” hiểu một cách như định nghĩa về dân chủ được sử dụng trên 15 lần Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh xuất hiện và được khẳng định sau khi nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam “Cách mạng tháng

Trang 26

Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, độc lập, tự do, hạnh phúc” [39,160]

Tư tưởng dân chủ là nội dung cốt lõi nhất, bản chất nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân “Dân chủ”, theo Hồ Chí Minh “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ” [41, 375] Điều đó, Người nhiều lần khẳng định “Nước ta là nước dân chủ”, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ” [40, 499]

Trong tác phẩm Dân vận, Người viết năm 1949, đã trình bày một cách

cô đọng và sáng tỏ nội dung cơ bản tư tưởng dân chủ:

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [38, 698] Trong bảy câu trên, câu nào cũng có chữ “dân” Và “dân” ở địa vị cao

nhất, địa vị làm chủ Bảy câu trên đã thể hiện những vấn đề liên quan trực

tiếp đến dân: lợi ích, quyền hạn, trách nhiệm, công việc, chính quyền, đoàn thể, quyền hành và lực lượng Dân chủ, nghĩa là “dân làm chủ” “Dân làm chủ”

đã khẳng định rõ ràng địa vị người chủ trong chế độ chính trị, trong xã hội và nhà nước thuộc về nhân dân

Như vậy, dân là chủ vì mọi “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Dân là chủ, có quyền hành, lợi ích thì đương nhiên cũng có nghĩa vụ, trách nhiệm đối với mọi công việc, từ kháng chiến, kiến quốc đến xây dựng đổi mới đất nước Hồ Chí Minh đã kêu gọi các tầng lớp nhân dân làm tròn nghĩa

vụ của người công dân, người chủ của nước nhà Điểm nổi bật ở Người là sự tôn trọng nhân dân và niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh vô tận của nhân dân Đối với Người, cách mạng không phải là sự ban ơn cho nhân dân, mà trước

Trang 27

hết là sự nghiệp của nhân dân và do nhân dân Người nhấn mạnh tinh thần dân chủ trong sinh hoạt chính trị

“Dân làm chủ” còn phản ánh năng lực thực thi dân chủ của người dân Năng lực đó được biểu hiện ở trình độ văn hóa, bản lĩnh, ý thức, trách nhiệm , đó là nội hàm của năng lực dân chủ, thể hiện hành vi làm chủ Làm chủ, đó là hành động của dân, biểu hiện năng lực thực thi dân chủ, thước đo về trình độ phát triển ý thức dân chủ của dân với tư cách là chủ thể quyền lực, thực hiện sự ủy quyền chân chính của mình vào thể chế chính trị và thể chế nhà nước

Tóm lại, “dân chủ là của qúy báu nhất của nhân dân”, đây là tư tưởng mới, độc đáo của Hồ Chí Minh Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh chứa

đựng toàn bộ nguyên lý quyền lực của Dân, do Dân, vì Dân mà Đảng ta đã

nhận thức rõ và lãnh đạo triển khai trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong

sự nghiệp cách mạng Cũng theo Người, tất cả các cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân Vì vậy, cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều là công bộc của dân, phải “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”

Thứ ba, Dân là lực lượng to lớn, có quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm đối

với đất nước và phải được giác ngộ, tổ chức, lãnh đạo đúng đắn

Hồ Chí Minh luôn nhất quán đề cao vai trò làm chủ của người dân Nhưng Người cũng chỉ ra “nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa

vụ làm tròn bổn phận công dân” [40, 452] Trong bài phát biểu với Đoàn đại biểu nhân dân thủ đô Hà Nội, ngày 16/10/1954, Người nói “Chế độ của ta là chế độ dân chủ… Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó cho” [40, 368]

Trang 28

Hồ Chí Minh luôn nhất quán đề cao vai trò làm chủ của người dân Song Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Dân chúng không nhất luật như nhau Trong dân chúng có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau” [38, 296], với những nhu cầu và lợi ích riêng khác nhau Nhìn tổng thể, trong dân bao giờ cũng có ba loại người “Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định

có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém Mà trong ba hạng

đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn” [38, 289] Vì vậy, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở: không được theo đuôi quần chúng, cách mệnh trước hết phải làm cho dân giác ngộ, phải có đảng cách mệnh vận động và tổ chức dân chúng Người dân phải làm tròn nghĩa vụ công dân, tức là phải có ý thức chấp hành pháp luật, thực hiện đầy đủ và tham gia vào việc xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Người yêu cầu: “Các tầng lớp nhân dân ta… ai nấy hãy làm tròn nghĩa vụ của người công dân, người chủ nước nhà” [41, 248]

Muốn làm được điều đó, dân cũng cần tự nâng cao trình độ để xứng đáng với người làm chủ Dân phải được giác ngộ, được tổ chức và lãnh đạo mới tạo nên sức mạnh vô địch Hồ Chí Minh quan tâm nhiều tới vấn đề giáo dục, nâng

đỡ dân, mà điều quan trọng trước tiên là phải giác ngộ nhận thức cách mạng cho nhân dân Ngay từ năm 1927, Người đã lưu ý phải thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin cho nhân dân, để nhân dân giác ngộ lý tưởng của Đảng Đây

là cơ sở để dân nhận thức đúng mục tiêu của cách mạng, tạo nên sự nhất trí giữa Đảng và nhân dân

Giác ngộ nhân dân, phải nâng cao trình độ văn hóa, trình độ dân trí cho nhân dân Nâng cao dân trí là một quan điểm rất quan trọng của Hồ Chí Minh trong việc củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân Đúng như Lênin nói: người không biết chữ thì đứng ngoài chính trị

Tư tưởng trên của Hồ Chí Minh là cơ sở sâu xa của sự cần thiết phải có Đảng lãnh đạo và cũng là cơ sở sâu xa của chiến lược đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh

Trang 29

1.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

1.2.1 Quan hệ “máu thịt” giữa Đảng và nhân dân là bản chất cách mạng, khoa học của Đảng ta

Bàn về nhiệm vụ xây dựng Đảng của giai cấp vô sản, một trong những vấn đề Mác - Ăngghen quan tâm nhất, đó là mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân Mối quan hệ đó không chỉ phản ánh bản chất cách mạng, mà còn liên quan đến sự tồn vong của Đảng Các ông cho rằng, Đảng Cộng sản phải xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; phải là người kiên quyết nhất và biết lôi cuốn quần chúng hành động Các ông cũng chỉ rõ:

“Một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất (đối với Đảng) là sự cắt đứt liên hệ với quần chúng” [8, 426]

Lênin nhấn mạnh, mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền với quần chúng nhân dân là mối quan hệ hữu cơ, bản chất vốn có của Đảng Lênin đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng mối quan

hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng Cộng sản với quần chúng nhân dân Đó là một nguyên lý, một nguyên tắc bất di bất dịch đối với việc xây dựng một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Lênin khẳng định, Đảng Cộng sản chỉ làm tròn được sứ mệnh lịch sử của mình một khi biết gắn bó với quần chúng

và thật sự dẫn dắt toàn thể quần chúng tiến lên Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết với quần chúng, từ sự đồng tình ủng hộ của quần chúng đối với Đảng “Liên hệ với quần chúng Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng” [67, 611] Ông đã nhiều lần chỉ ra nguy cơ xa rời quần chúng đối với một Đảng cầm quyền; nếu Đảng quên mất và tự cắt đứt những mối liên hệ khăng khít với quần chúng, thì đó chính là một trong những nguy hiểm lớn nhất, đáng sợ nhất và sẽ là một tai họa thật sự Lênin chỉ rõ: Cái làm cho nông dân gắn bó với cách mạng, không phải chỉ là những

chính sách triệt để về ruộng đất, mà còn là tất cả những lợi ích chung hàng

ngày của họ

Trang 30

Hồ Chí Minh - Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, đã có nhiều công lao to lớn đối với Đảng, nhất là công tác xây dựng Đảng Trong

đó, “vấn đề Đảng cầm quyền bao giờ cũng là vấn đề được Người quan tâm nhiều nhất và có một sự chú ý đặc biệt” [31,25]

Theo Hồ Chí Minh, điều kiện và cũng là đặc trưng để một Đảng Cộng sản vốn hoạt động bất hợp pháp trở thành Đảng cầm quyền là lãnh đạo cách mạng thành công, giành lấy chính quyền Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951), Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa

thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm

chính quyền toàn quốc” [39, 159] Như vậy, Đảng cầm quyền là Đảng đã lãnh

đạo quần chúng nhân dân giành được quyền lực nhà nước và Đảng trực tiếp lãnh đạo bộ máy Nhà nước đó để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH [2, 77] Đảng cầm quyền nhưng mọi quyền hành, lực lượng đều thuộc về nhân dân (Đảng cầm quyền nhưng dân làm chủ) Trong điều kiện Đảng cầm quyền, phải xây dựng được một cơ chế lãnh đạo hợp lý, mà cốt lõi là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân

Trở thành Đảng cầm quyền là một bước nhảy vọt lớn về vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Đảng cầm quyền, nhưng không phải là chuyên quyền độc đoán, mà sự lãnh đạo của Đảng phải bằng trí tuệ của tập thể Trở thành Đảng cầm quyền cũng có nghĩa Đảng có quyền lực Song vấn đề này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn, đó là “Quyền lực bao giờ cũng có hai mặt của nó Một mặt nó là công cụ mạnh mẽ để cải tạo xã hội, cải tạo con người, phát triển xã hội, thúc đẩy bước tiến của lịch sử, mở đường cho nhân dân tạo nên những thành tựu to lớn Nhưng mặt khác, nó cũng có thể là sức mạnh để đàn áp nhân dân, kìm hãm xã hội, làm tha hoá con người, kể cả những kẻ nắm quyền lực Khi quyền lực thuộc về đông đảo quần chúng nhân dân và những

Trang 31

người đại biểu của nhân dân được giao cho nắm quyền lực không những là người lãnh đạo mà còn là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì quyền lực sẽ phát huy mặt tích cực của nó Ngược lại, khi quyền lực chỉ phụ thuộc về một số ít người, thậm chí chỉ thuộc về một người, trở thành độc tài chuyên chế thì tất cả những tiêu cực, xấu xa của quyền lực sẽ lập tức bộc lộ” [31, 26]

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền lực là ở nơi dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Đảng cầm quyền, dân là chủ “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [38, 698] Liên hệ, gắn bó mật thiết với nhân dân là nguồn gốc chủ yếu tạo nên sức mạnh của Đảng ta, là một trong những điều kiện và nguyên nhân làm cho Đảng giữ vững được quyền lãnh đạo và giành được thắng lợi trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đảng ta cũng

từ dân mà ra, do đó, giữa Đảng và dân vốn có một mối liên hệ gắn bó máu

thịt Đây là mối quan hệ thể hiện bản chất giai cấp công nhân, là vấn đề cơ bản trong công tác xây dựng Đảng, là vấn đề sống còn của Đảng cầm quyền

Sự gắn bó giữa Đảng với dân thực chất chính là, Đảng luôn vì dân, đặt dân ở

vị trí là gốc, Đảng không phải ở trên dân mà ở trong dân Đảng và dân gắn

bó, hòa quyện là một, không tách rời và không thể tách rời

Mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với dân là mối quan hệ tác động qua lại giữa hai chủ thể có vị trí, vai trò, khả năng khác nhau, nhưng không thể tách rời nhau Dân cần Đảng vì có Đảng lãnh đạo, dẫn đường chỉ lối thì dân mới giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh tự giải phóng và mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Đảng cần dân vì có dân thì Đảng mới có điều kiện để sinh tồn và hoạt động, mới có lực lượng và khả năng hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình “Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết” [38, 238] Vì vậy, về bản chất, mối quan hệ giữa Đảng với dân là mối quan hệ khăng khít, gắn bó máu thịt Người ví quan hệ Đảng với dân gắn bó với nhau như “người chèo” và “người lái” trên con thuyền cách mạng “nếu chỉ có người chèo không có người lái cũng không được Cho nên người chèo và người lái phải đoàn kết với nhau” [41, 150]

Trang 32

Rõ ràng, liên hệ gắn bó mật thiết với dân là một yêu cầu khách quan, cũng là một biện pháp quan trọng nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng

Điều kiện đảm bảo cho mối quan hệ khăng khít, gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân, theo Hồ Chí Minh đó là Đảng ta, trước sau như một giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong cách mạng “ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”, lấy việc phụng sự cho quyền lợi của nhân dân và toàn thể dân tộc làm mục tiêu cao nhất

Đảng lãnh đạo chính quyền nên Nhà nước cũng phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Theo Hồ Chí Minh, chính quyền dân chủ nhân dân

là chính quyền “của dân, do dân, vì dân” mà bản chất của nó là “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của nhân dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật ” [37, 56-57]

Đảng lãnh đạo chính quyền, nhưng quyền hành ở nơi dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt ở Hồ Chí Minh Người yêu cầu: nhà nước, các cơ quan và cán bộ từ Trung ương đến cơ sở

“đều do dân cử ra”, “đều là đày tớ của dân”, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, và nếu tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của dân thì “nhân dân có quyền bãi miễn” Có một điều rất có ý nghĩa ở đây là: Đối với nước, với dân, Hồ Chí Minh không bao giờ nói

trị nước, trị dân Những tiếng như trị, cai trị, Người dùng để chỉ nhà nước của

thực dân phong kiến, của các giai cấp bóc lột Bởi vì, nếu nhà nước trị nước, trị dân thì như vậy nhà nước đã trở thành một bộ máy đứng trên nhân dân, chứ không phải là của nhân dân nữa Nhà nước kiểu mới là nhà nước thay mặt

nhân dân lãnh đạo, quản lý, điều hành những công việc của dân, của nước

Mục đích cao cả nhất của việc xây dựng nhà nước ta, ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, trong thư “Gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện

và làng”, Hồ Chí Minh đã khẳng định “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nhưng nếu nước độc lập mà dân không

Trang 33

hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [37,56] Do đó, Đảng phải thực hiện “cách mạng không ngừng”, tiếp tục tiến hành cách mạng XHCN vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân Muốn xây dựng CNXH phải có con người mới XHCN Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu, người cán

bộ đảng viên phải là gốc của mọi việc Đảng viên phải luôn thấm nhuần đạo đức cách mạng, không trở thành quan cách mạng Trước lúc đi xa, Người còn căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật

sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô

tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là đày tớ thật trung thành của nhân dân” [45, 498]

Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định, cách mạng thành công là do quần chúng tin theo Đảng, mà quần chúng tin theo sự lãnh đạo của Đảng là vì Đảng tin dân, vì dân Vì vậy, Đảng phải dựa vào dân, không được xa rời dân Không dựa vào sức mạnh của nhân dân, cách mạng sẽ thất bại

Quan niệm về Đảng, về mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân của Hồ Chí Minh thực sự là một di sản tư tưởng quý báu, sâu sắc Đó là cống hiến to lớn của Người đối với sự phát triển học thuyết Mác - Lênin về Đảng Cộng sản, đặc biệt là đối với các Đảng Cộng sản trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu là thuộc địa nửa phong kiến Không phải chỉ có nước mới lấy dân làm gốc, mà Đảng cũng phải lấy dân làm gốc Đảng không ở trên dân,

cũng không ở ngoài dân, mà Đảng ở trong dân, trong lòng nhân dân, gắn bó

máu thịt với nhân dân

1.2.2 Đảng là lực lượng lãnh đạo, nhân dân là người làm chủ vận mệnh của mình

Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là mối quan hệ gắn bó máu thịt, mối quan hệ biện chứng Tuy vậy, Đảng và dân không đồng nhất, có vai trò vị trí khác nhau Nói đến Đảng là nói đến vai trò lãnh đạo, như Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta là một đảng cách mạng, một đảng lãnh đạo” [43, 68] Thực tế lịch sử cách mạng nước ta đã chứng minh “Đảng ta không những đã

Trang 34

giành được quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước, mà còn giữ được quyền lãnh đạo đó trên mọi lĩnh vực và đập tan được mọi âm mưu của giai cấp tư sản hòng tranh quyền lãnh đạo cách mạng với Đảng ta” [43, 17]

Trong mối quan hệ Đảng - dân, nếu Đảng là người lãnh đạo thì dân là đối tượng lãnh đạo, chịu sự lãnh đạo của Đảng và trong mọi thời kỳ cách mạng đều cần có sự lãnh đạo vững vàng của Đảng Ngay trong tác phẩm “Đường

cách mệnh”, Người đã chỉ rõ “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì

vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp ức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” [35, 267-268] Đảng lãnh đạo cách

mạng, lãnh đạo dân là vì dân Vì dân chính là điểm xuất phát và cũng là nội

dung, là mục tiêu phấn đấu của Đảng ta Đảng chỉ mưu giải phóng cho dân, nên mọi việc đều vì lợi ích của dân mà làm và chịu trách nhiệm trước dân Đây

là một luận điểm mới, sáng tạo của Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng vào lý luận xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Luận điểm này

đã chỉ rõ bản chất trong mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với dân

Đảng lãnh đạo tức là Đảng định hướng mục tiêu nhiệm vụ, đề ra đường lối, chủ trương, phương pháp tổ chức thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đó Lãnh đạo chính là “bàn chỉ nam”, là “người cầm lái” mọi hoạt động xã hội Vì vậy, trong phạm vi toàn quốc cũng như ở từng địa phương, Đại hội Đảng là sự kiện quan trọng nhất, được mọi tầng lớp xã hội quan tâm nhất vì đó là nơi quyết định đường lối, chủ trương, chính sách và quyết định cả về tổ chức cán bộ Cùng cấp chính quyền, nhưng ai ở trong cấp uỷ Đảng thì người đó có quyền lực thực tế lớn hơn Xét về vai trò cá nhân, ở nước ta trên thực tế, người có quyền lớn nhất và trách nhiệm cao nhất là đồng chí Tổng bí thư của Đảng Cũng như vậy, ở các địa phương, bí thư cấp uỷ các tỉnh thành, quận, huyện cũng là người có quyền cao nhất ở địa phương Như vậy, với uy tín chính trị và quyền uy về tổ chức, Đảng cầm quyền có quyền lực thực tế rất lớn

Trang 35

Đã lãnh đạo thì phải có đối tượng lãnh đạo, trong mối quan hệ Đảng - dân, đối tượng lãnh đạo của Đảng chính là dân, là quần chúng nhân dân, là con người với tất cả những nhu cầu và lợi ích mà Đảng cần nắm bắt và giải quyết thoả đáng Đảng cần có dân để có sức mạnh vững chắc về tinh thần, trí tuệ Có dân là có tất cả Mất dân cũng có nghĩa là mất tất cả Mở rộng mối quan hệ đó, Người viết “nếu không có nhân dân thì Chính phủ không có lực lượng Nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối” [37, 56]

Lãnh đạo chỉ có thể thực hiện được bằng đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, bằng hành động gương mẫu của đảng viên, bằng sự thỏa mãn những lợi ích thiết thực mà con người được hưởng Vì vậy, giữa chủ thể lãnh đạo (Đảng) và đối tượng lãnh đạo (dân) là sự thống nhất về lợi ích, là sự hội

tụ của “ý Đảng lòng dân” Các chủ trương, chính sách của Đảng phải tác động đúng và trúng tới tâm tư nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của dân Có như vậy, dân mới tin Đảng, theo Đảng

Là lãnh đạo, Đảng phải dựa vào dân, đảng viên có tin tưởng quần chúng, gần gũi quần chúng, hòa mình vào quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng, tìm hiểu những tâm tư nguyện vọng của quần chúng và quần chúng có tin yêu Đảng, đóng góp xây dựng Đảng thì mới giúp cho Đảng định ra những đường lối, chủ trương hợp với thực tế và yêu cầu nguyện vọng chính đáng của nhân dân

Dựa vào dân là quan điểm nhất quán trong mọi hoạt động cách mạng, là yêu cầu rèn luyện cán bộ, đảng viên, là cơ sở của chính sách đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh Người khẳng định “phải dựa vào dân, không được xa rời dân Nếu không thế thì sẽ thất bại” [39, 366]

Trong mối quan hệ giữa Đảng với dân, sự tác động qua lại không chỉ là: Đảng gắn với dân, dựa vào dân thì mới có sức mạnh, mới làm nên thắng lợi trong cách mạng mà còn có một khía cạnh khác khá phong phú và sâu sắc Đó là: có nêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng thì mới phát huy được quyền làm chủ của nhân dân

Trang 36

Sự thống nhất biện chứng giữa chủ thể lãnh đạo và đối tượng lãnh đạo được thể hiện rõ nét ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, Hồ Chí Minh nêu quan điểm Đảng lãnh đạo là để phụng sự

dân, là công bộc, là người đầy tớ trung thành của nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ, công bộc của dân “Đầy tớ”, “công bộc” là thuật ngữ thường dùng trong xã hội cũ để chỉ vị trí và công việc của người đi ở, kẻ làm thuê trong quan hệ với ông chủ Đó là những người phải biết và chỉ biết hết lòng hết sức tận tụy hầu hạ, phục dịch ông chủ Hồ Chí Minh trong nhiều trường hợp khác nhau đã nói các cơ quan Đảng, Nhà nước là “đầy tớ” của dân, cũng có lần Người gọi các cơ quan đó là “công bộc” của dân Công bộc cũng là đầy tớ, phục vụ chung cho mọi người, cho nhân dân Mối quan hệ Đảng - dân, dân là chủ cũng có nghĩa Đảng là đầy tớ của dân Dân là chủ, Đảng là đầy tớ nghĩa là Đảng phải trung thành và tận tụy phục vụ nhân dân Trong vai trò của Đảng

đối với dân, cái chung của người lãnh đạo và của người đầy tớ là vì Dân, phục

vụ Nhân Dân Vì vậy, Hồ Chí Minh đã thống nhất vai trò của Đảng là “người

lãnh đạo” với Đảng là “người đầy tớ” của dân “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân” [43, 323] Hai mặt lãnh đạo và đầy tớ không tách rời nhau, không đối lập nhau, mà như Người đã nhấn mạnh: lãnh đạo có nghĩa là làm đầy tớ dân

Để Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân đòi hỏi Đảng phải biết thu phục, thuyết phục và chinh phục được quần chúng Đảng phải giữ gìn và tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân Đó là một quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của Đảng và của cả

nhân dân Đảng muốn lãnh đạo giỏi thì phải làm đầy tớ giỏi Đảng phải chăm

lo lợi ích của nhân dân, tận tụy vì dân Mọi đường lối, chủ trương chính sách

của Đảng phải xuất phát từ tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, hợp lòng dân, thực sự là ngọn đèn dẫn lối, soi đường cho nhân dân hành

Trang 37

động Đường lối đó phải phù hợp với tuyệt đại đa số quảng đại quần chúng nhân dân lao động, thỏa mãn lợi ích chính đáng của quần chúng Các cơ quan

và cán bộ của Đảng, của Chính phủ từ trên xuống dưới đều phải có trách nhiệm “hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân” Dân đói, dân rét, dân

ốm, dân dốt, Đảng và Chính phủ đều có lỗi Người căn dặn:

Nhiệm vụ của Chính quyền ta và Đoàn thể ta là phụng sự nhân

dân Nghĩa là làm đày tớ cho dân…

Muốn làm được như vậy, thì mỗi cán bộ chính quyền và đoàn thể cần phải:

- Luôn luôn gần gũi nhân dân

- Ra sức nghe ngóng và hiểu biết nhân dân

- Học hỏi nhân dân

- Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân [39,88]

Từ đó, Người dạy rằng:

Chúng ta phải thực hiện ngay:

1 Làm cho dân có ăn

2 Làm cho dân có mặc

3 Làm cho dân có chỗ ở

4 Làm cho dân có học hành

Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó [37, 152]

Song Người cũng chỉ rõ: Đảng lãnh đạo quần chúng chứ không phải theo đuôi quần chúng

Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với dân, Lênin cũng luôn nhắc nhở nguy cơ đối với một Đảng cầm quyền; phải đề phòng hai nguy cơ: một là, sai lầm về đường lối chính sách; hai là, quan liêu xa rời quần chúng Sai lầm về đường lối, chính sách của một Đảng cầm quyền cơ bản là do không xuất phát từ đời sống thực tế và nhu cầu nguyện vọng, lợi ích chính

Trang 38

đáng của nhân dân Và hậu quả tất yếu là đời sống của nhân dân sẽ thấp kém, khó khăn, nghèo khổ, do đó làm cho nhân dân giảm sút lòng tin đối với Đảng,

xa Đảng, oán trách Đảng Còn quan liêu chủ yếu nhằm nói về tinh thần, thái

độ, tác phong làm việc xa rời quần chúng “tách khỏi dân, đứng trên dân”, thiếu trách nhiệm, kém hiệu quả dễ làm cho dân khốn khổ và oán ghét những tổ chức Đảng, những cơ quan nhà nước, những cán bộ có chức quyền nhưng đã thoái hoá biến chất thành những “quan cách mạng” đè đầu cưỡi cổ dân

Hồ Chí Minh cũng sớm nhận thấy nguy cơ quan liêu mệnh lệnh xa rời quần chúng, “khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng” của một

số cán bộ chính quyền các cấp, làm cho dân sợ hãi và oán ghét, làm rạn nứt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với dân Người sớm nhận ra những tệ nạn như tham ô, lãng phí, hủ hóa… Tất cả những thứ đó gộp lại như thứ “giặc nội xâm” làm ruỗng nát bộ máy của Đảng và nhà nước Vì vậy, chỉ trong vòng hai tháng (tháng 9 và tháng 10/1945), Hồ Chí Minh đã viết nhiều thư và bài báo như: “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, “Chính phủ là công bộc của dân”, “Sao cho được lòng dân” v.v… phê bình nhắc nhở, uốn nắn những hiện tượng quan liêu mệnh lệnh, “những lầm lỗi rất nặng nề” của cán bộ, chính quyền các cấp như cậy quyền cậy thế, hủ hoá, tư túng, kiêu ngạo cục bộ v.v…

Tóm lại, Hồ Chí Minh đã phác họa một cách sâu sắc tính mục đích của

sự lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo Người viết: “Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là người đày tớ trung thành và tận tụy của nhân dân” [40, 361-362]; “Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng

kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ” [40,368]

Thứ hai, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên phải có phương pháp lãnh

đạo đúng đắn

Trang 39

Theo Hồ Chí Minh, phương pháp lãnh đạo đúng đắn là: lãnh đạo nhân dân bằng tuyên truyền, giải thích, cổ động giáo dục, tổ chức nhân dân, để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân Trong việc động viên, giải thích bao giờ cũng phải có sức thuyết phục, sát thực tế, sát trình độ và đặc biệt phải gắn với lợi ích, với nhiệm vụ để nhân dân tự giác tham gia Người chỉ rõ: “Phải tìm mọi cách

giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm

vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được” [38, 698] Lãnh đạo, theo Người, còn phải áp dụng phương pháp làm gương, phải tự mình cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phải dũng cảm, công bằng trước nhân dân Đặc biệt, lời nói và hành động phải đi đôi với nhau “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói,

tay làm Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh” [38, 699]

Vậy là, với Hồ Chí Minh ngay trong khái niệm lãnh đạo đã hàm chứa

cả nghĩa “đầy tớ”, chứ không phải phân biệt lúc này là lãnh đạo, lúc khác mới

là đầy tớ “Đầy tớ” và “lãnh đạo” là thống nhất trong phẩm chất, năng lực và trách nhiệm của người đảng viên, cán bộ trước nhân dân

Đảng cầm quyền phải biết tìm những điểm tương đồng, thoả mãn những lợi ích chung của các tầng lớp dân cư, của cả cộng đồng và cũng phần nào giải quyết được lợi ích của mỗi tầng lớp riêng biệt Muốn thực hiện được điều đó, với vai trò trách nhiệm của mình, Đảng phải biết:

“Lãnh đạo đúng” - nghĩa là cần phải kết hợp với dân, dựa vào dân, học tập kinh nghiệm của dân ở tất cả các khâu trong quá trình lãnh đạo:

“1 Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng Vì dân chúng là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta

2 Phải tổ chức sự thi hành cho đúng Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong

3 Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được

Trang 40

Những người lãnh đạo chỉ trông thấy một mặt của công việc, của

sự thay đổi của mọi người: trông từ trên xuống Vì vậy sự trông thấy

có hạn

Trái lại, dân chúng trông thấy công việc, sự thay đổi của mọi

người, một mặt khác: họ trông thấy từ dưới lên Nên sự trông thấy

cũng có hạn

Vì vậy, muốn giải quyết vấn đề cho đúng, ắt phải họp kinh

nghiệm cả hai bên lại

Muốn như thế, người lãnh đạo ắt phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa mình với các tầng lớp người với dân chúng” [38, 285-286]

Vấn đề ở đây là, ý Đảng phải tác động đến lòng dân “Ý Đảng” là đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, còn “lòng dân” tức là nguyện vọng, lợi ích của nhân dân Đường lối chủ trương, chính sách của Đảng hợp với nguyện vọng, lợi ích của nhân dân tức là ý Đảng phù hợp với lòng dân, ý Đảng với lòng dân là một Ý Đảng có phù hợp với lòng dân thì mới có thể đem lại lợi ích thực tế cho nhân dân Đây cũng là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thực hiện “dân giàu, nước mạnh”, đảm bảo phương pháp lãnh đạo đúng của Đảng, của cán bộ đảng viên

Thứ ba, muốn nâng cao vai trò lãnh đạo, cán bộ đảng viên phải không

ngừng học tập và rèn luyện

“Cách mạng cũng là một nghề”, cho nên “làm nghề gì cũng phải học”,

do vậy làm cách mạng cũng phải học Muốn làm cách mạng, muốn lãnh đạo được nhân dân phải có kiến thức, trí tuệ, năng lực phẩm chất đạo đức Học, theo Hồ Chí Minh không phải học để làm quan mà “học để làm việc, học để làm người” Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ phải học, phải rèn luyện, mà trước hết là học lý luận Mác - Lênin để củng cố tu dưỡng đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và nâng cao trình độ chính trị Đảng viên, cán bộ còn phải học dân Vì dân ta rất thông minh, có nhiều kinh

nghiệm “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân Có biết làm học

Ngày đăng: 18/04/2016, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Mai Anh (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và dân chủ, Tạp chí Dân vận, Số 12, tr.14-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và dân chủ
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Anh
Năm: 2002
2. TS. Phạm Ngọc Anh, PGS. TS Bùi Đình Phong (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Tác giả: TS. Phạm Ngọc Anh, PGS. TS Bùi Đình Phong
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2005
3. GS.TS. Hoàng Chí Bảo (2011), Từ “dân” đến “dân chủ” và “dân vận” trong tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, in trong cuốn “Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh”, tr. 139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ “dân” đến “dân chủ” và “dân vận” trong tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh", in trong cuốn “Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh
Tác giả: GS.TS. Hoàng Chí Bảo
Năm: 2011
4. Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên (đồng chủ biên) (1999), Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới
Tác giả: Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
5. Bộ quốc phòng (2004), Danh nhân quân sự Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân quân sự Việt Nam
Tác giả: Bộ quốc phòng
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2004
6. Đại tá, PGS.TS Bùi Đình Bôn (2011), “Nhiệm vụ cấp bách là củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân”, Báo QĐND, số Thứ hai, ngày 30/05/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ cấp bách là củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân”
Tác giả: Đại tá, PGS.TS Bùi Đình Bôn
Năm: 2011
7. C. Mác - Ph.Ăng ghen (1983), Toàn tập, tập 2, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác - Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1983
8. C. Mác - Ph.Ăng ghen (1995), Toàn tập, tập 44, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác - Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. Bảo Cầm - Anh Vũ (2013), Công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm 47 lãnh đạo cao cấp, 11/06/2013, http://www.thanhnien.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm 47 lãnh đạo cao cấp
Tác giả: Bảo Cầm - Anh Vũ
Năm: 2013
11. Công ty văn hóa Trí Tuệ Việt (2007), Sơn Tây - Thành phố Xứ Đoài, Nxb Văn hóa thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơn Tây - Thành phố Xứ Đoài
Tác giả: Công ty văn hóa Trí Tuệ Việt
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2007
12. Lê Duẩn (1976), Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Trong cuốn Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tác phẩm chọn lọc, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1990
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Số 12-NQ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2012
20. Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ chính trị (2012), Chỉ thị số 15 về việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW Đảng (khóa XI), Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 24/12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 15 về việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW Đảng (khóa XI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ chính trị
Năm: 2012
21. Đảng Cộng sản Việt Nam - Thị ủy Sơn Tây (1999), Lịch sử Đảng bộ thị xã Sơn Tây 1930-1995, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thị xã Sơn Tây 1930-1995
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam - Thị ủy Sơn Tây
Năm: 1999
22. Đảng bộ thị xã Sơn Tây (2010), Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ Thị xã Sơn Tây khóa XVIII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2010-2015), Sơn Tây - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ Thị xã Sơn Tây khóa XVIII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2010-2015)
Tác giả: Đảng bộ thị xã Sơn Tây
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w