1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quan điểm hồ chí minh về quan hệ việt nam – lào trong sự nghiệp đổi mới ở việt nam

105 458 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 692,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ những năm đầu lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tìm thấy những nét tương đồng tạo cơ sở khách quan hình thành nên mối quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào là cùng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

5 Cơ sở lý luận, phương pháp và nguồn tài liệu nghiên cứu 14

6 Bố cục của luận văn 15

Chương 1: QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – LÀO 16

1.1 Điều kiện hình thành quan hệ Việt Nam – Lào 16

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý 16

1.1.2 Đặc điểm dân cư, văn hóa, lịch sử 16

1.1.3.Truyền thống chống giặc ngoại xâm 17

1.2 Quá trình hình thành và phát triển 22

1.2.1 Trong thời kỳ vận động thành lập Đảng 22

1.2.2 Trong thời kỳ cách mạng 1930 - 1945 26

1.2.3 Trong kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954 29

1.2.4 Trong kháng chiến chống Mỹ 1954 – 1969 34

1.3 Nội dung quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào 39

1.3.1 Giúp bạn là tự giúp mình 39

1.3.2 Tôn trọng quyền dân tộc tự quyết 43

1.3.3 Đoàn kết và xây dựng liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào là một nhân tố chiến lược đảm bảo thắng lợi cách mạng mỗi nước 46

Trang 4

1.3.4 Coi trọng và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và liên minh

trong đấu tranh chống kẻ thù chung 50

1.4 Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam -Lào 52

Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM - LÀO THỜI KỲ ĐỔI MỚI 55

2.1 Đặc điểm tình hình và thực tiễn quan hệ Việt Nam – Lào trong thời kỳ đổi mới 55

2.1.1 Đặc điểm tình hình 55

2.1.2 Hợp tác chính trị 57

2.1.3 Hợp tác kinh tế 62

2.1.4 Hợp tác an ninh – quốc phòng 71

2.1.5 Hợp tác văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, giao thông vận tải 76

2.1.5.1 Hợp tác giáo dục - đào tạo 77

2.1.5.2 Hợp tác văn hóa 80

2.1.5.3 Hợp tác khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ 83

2.1.5.4 Hợp tác giao thông vận tải 85

2.2 Một số giải pháp quán triệt và vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào 87

2.2.1 Bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách về quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam 88

2.2.2 Tăng cường hợp tác toàn diện trong các lĩnh vực giữa hai nước Việt Nam và Lào 89

2.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục quan điểm Hồ Chí Minh về mối quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam 92 KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân

CHND : Cộng hòa nhân dân

CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CNTB : Chủ nghĩa tư bản

CNXH : Chủ nghĩa xã hội

DCND : Dân chủ nhân dân

ĐCSVN : Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam

ĐNDL : Đảng Nhân dân Lào

ĐNDCML : Đảng Nhân dân cách mạng Lào

HN : Hà Nội

Nxb : Nhà xuất bản

NDCM : Nhân dân cách mạng

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống những quan điểm

về các vấn đề thế giới và thời đại, về đường lối quốc tế, chiến lược, sách lược, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam thời kỳ hiện đại Tư tưởng này thể hiện trong hoạt động đối ngoại của Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam

Hòa bình, hợp tác và phát triển luôn là nội dung xuyên suốt của ngoại giao Việt Nam Hòa bình, độc lập tự chủ để phát triển và phát triển nhằm bảo

vệ hòa bình Cuộc đấu tranh anh dũng của dân tộc Việt Nam suốt bao thế kỷ qua cũng vì mục tiêu độc lập dân chủ ấy Hồ Chí Minh đã phát triển đường lối đối ngoại vì hòa bình, hợp tác và phát triển lên tầm cao mới Để chiến thắng

kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần, Hồ Chí Minh luôn chủ trương tăng cường đoàn kết và tranh thủ sự hợp tác quốc tế và coi đây là một vấn đề có tầm chiến lược hàng đầu trong đường lối cách mạng Việt Nam

Một phần quan trọng trong đường lối đối ngoại của Hồ Chí Minh là hợp tác với các nước láng giềng Đặc biệt, Người rất quan tâm chú trọng đến quan hệ giữa hai nước trên bán đảo Đông Dương: Việt Nam – Lào Ngay từ những năm đầu lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tìm thấy những nét tương đồng tạo cơ sở khách quan hình thành nên mối quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào là cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, có chung đường biên giới trên bộ, núi liền núi, sông liền sông; có quan hệ truyền thống về nhiều mặt; cùng chịu sự áp bức, đô hộ của thực dân Pháp và sự can thiệp của các thế lực đế quốc Hồ Chí Minh là người đặt nền móng đầu tiên và

Trang 7

phấn đấu không mệt mỏi nhằm xây dựng, vun đắp mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào Người chủ trương thực hiện chính sách dân tộc tự quyết và tăng cường đoàn kết giữa hai nước nhằm

đấu tranh chống kẻ thù chung “Tôi tin chắc rằng trong cuộc đấu tranh chính

nghĩa đánh đuổi kẻ thù chung, để giành tự do và độc lập, nhân dân Pathet Lào, nhân dân Việt Nam và nhân dân Cao Miên, đoàn kết chặt chẽ trong khối liên minh Việt – Miên – Lào, nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn” [44; tr.152]

Quan điểm ngoại giao này được Người thể hiện xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam -Lào có giá trị khoa học

và thực tiễn rất quan trọng Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã vận dụng và phát triển quan điểm của Người nhằm xây đắp tình hữu nghị Việt Nam – Lào ngày một tốt đẹp và bền vững hơn trên tất cả các lĩnh vực

Với mong muốn tìm hiểu và làm rõ hơn hệ thống quan điểm và hoạt động của Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam - Lào và sự vận dụng của Đảng

Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, tôi chọn đề tài “Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ ngành Chính trị học, chuyên ngành Hồ Chí

Minh học

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước nói chung cũng như quan hệ Việt Nam – Lào nói riêng trong các thời kỳ cách mạng không phải là mới đối với các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước

2.1 Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Lào

Trang 8

Nguyễn Văn Khoan (2008): “Việt – Lào hai nước chúng ta”, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã khẳng định những cống hiến của Hồ Chí Minh và các thế hệ cán bộ, chuyên gia Việt Nam đối với Lào thông qua những bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam

và Lào

Nhìn một cách tổng quát, trải qua gần nửa thế kỷ (1930 – 1975) đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, quan hệ đoàn kết Việt – Lào đã tồn tại và trải qua một quá trình phát triển biện chứng từ thấp đến cao xuyên suốt trong lịch

sử đấu tranh giải phóng dân tộc [32; tr.364]

Lê Đình Chỉnh (2007): Quan hệ đặc biệt hợp tác toàn diện Việt Nam -

Lào trong giai đoạn 1954 - 2000 , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách

này trình bày, đánh giá quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào trên các lĩnh vực qua các giai đoạn cách mạng khác nhau

“Quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào giai đoạn 1930 – 1945 là

cơ sở vững chắc, tạo ra những thuận lợi cho hai dân tộc bước vào giai đoạn cách mạng mới tiếp tục giành thắng lợi trong cách mạng dân tộc, dân chủ [3;tr.25]

Đảng nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam Lịch sử

quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 – 2007 Công trình đã

tái hiện lịch sử phát triển quan hệ Việt Nam – Lào qua các giai đoạn và thành tựu hai nước đạt được trên các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật từ năm 1930 đến năm 2007; đồng thời các tác giả đánh giá bài học kinh nghiệm, triển vọng phát triển quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam thời kỳ đổi mới

Quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào trong thời kỳ đổi mới 1986 – 2007 đã trải qua nhiều khó khăn, thử thách, nhưng với sự quyết tâm của hai Đảng, hai Nhà nước và sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành, các địa

Trang 9

phương và các doanh nghiệp hai nước, quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào đã ngày càng được đẩy mạnh và khuyến khích phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, từ hợp tác về chính trị, đối ngoại, quốc phòng, an ninh đến hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hợp tác giữa các địa phương và đạt được những kết quả ngày càng to lớn hơn, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển của mỗi nước [15; tr.728]

Vũ Dương Huân (2007): Thành tựu hợp tác đặc biệt, toàn diện Việt – Lào trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8 Qua bài viết, tác giả đã

khái quát những thành tựu to lớn, đáng tự hào mà hai nước đạt được trong quá trình hợp tác đặc biệt toàn diện trên cơ sở phát huy truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau Hai nước khẳng định, trong bối cảnh quốc tế mới tuy có phức tạp, thách thức, song quan hệ đặc biệt Việt – Lào sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ

Về thương mại, hai bên đã ký các Hiệp định thương mại 5 năm và nghị định thư hàng năm, tạo hành lang pháp lý cho trao đổi thương mại giữa hai nước Năm 2005 hai bên đã thỏa thuận giảm thuế xuất nhập khẩu cho hàng hóa có xuất xứ từ hai nước từ 5% - 0% [24; tr.39]

Vũ Công Quý (2004): Quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào từ 1977 đến

2003, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 Tác giả đánh giá thực trạng

quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào trên các lĩnh vực từ năm 1977 đến

2003

Giai đoạn 2001 – 2005, theo Hiệp định hợp tác Việt Nam dự tính viện trợ không hoàn lại cho Lào khoảng 500 tỷ VND nhằm ưu tiên đào tạo phát triển nhân lực, các dự án nâng cao nghiệp vụ cho Lào trên tất cả các mặt [62; tr.21]

Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào – Campuchia của Hoàng

Văn Thái (1983), Nxb Sự thật, Hà Nội

Trang 10

Đoàn kết, liên minh ba nước được bền vững là vì đã lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản làm nền tảng, lấy sự nhất trí về đường lối chính trị chung và trong từng giai đoạn cách mạng làm cốt lõi, dưới

sự lãnh đạo của các đảng mác xít – lêninnít chân chính [66; tr.42]

Trình Mưu, "Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng nhân

dân Cách mạng Lào quyết định thắng lợi liên minh Việt - Lào, Tạp chí Lý

luận Chính trị, 12/2008, tr 35 – 39 Tác giả đã khẳng định liên minh là nhu cầu tự nhiên của hai Đảng qua các thời kỳ và sự phối hợp giữa hai Đảng trong việc đề ra đường lối chiến lược, sách lược; trong việc xây dựng căn cứ địa và hậu phương; kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị và hoạt động ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng hai nước

Nhờ giúp nhau xây dựng được đường lối đúng, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân Cách mạng Lào đã thiết lập được mối quan hệ lâu dài, thường xuyên bền chặt, nhịp nhàng trong mỗi bước chuyển của lịch sử cách mạng Đông Dương [38; tr.37]

Vấn đề này cũng đã được nhiều tác giả chọn làm hướng nghiên cứu cho

đề tài luận văn, luận án như “Quan hệ Việt Nam – Lào – Campuchia trong

kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954” của Đỗ Đình Hãng; “Quan hệ Việt Nam – Lào giai đoạn 1954 – 1975” của Lê Đình Chỉnh…

Dương Minh Huệ (2011), Hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và

Đảng Nhân dân cách mạng Lào về đào tạo cán bộ trong hệ thống chính trị từ

1986 đến 2006 Luận án đã tái hiện quá trình hợp tác đào tạo cán bộ trong hệ

thống chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào từ năm 1996 đến năm 2006; những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm của quá trình hợp tác đào tạo cán bộ giữa hai Đảng

Trong những năm 1991 – 2006, hệ thống Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, các bộ, ngành, đoàn thể chính trị xã hội trung ương tích cực

Trang 11

đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị, cán bộ chuyên môn và lưu học sinh giúp Đảng và Nhà nước Lào Hằng năm, nguồn kinh phí dành cho đào tạo cán bộ, học sinh Lào tại Việt Nam chiếm khoảng 40% số viện trợ của Chính phủ Việt Nam dành cho Chính phủ Lào [25; tr.98]

Trong những năm vừa qua cũng đã diễn ra nhiều hội thảo tại Lào, Việt Nam bàn về mối quan hệ khăng khít giữa hai nước Việt Nam – Lào anh em

như Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tình hữu nghị đoàn kết Việt Nam – Lào” của Bảo tàng Hồ Chí Minh; Hội thảo khoa học quốc tế: Liên minh chiến đấu Lào -

Việt Nam trên chiến trường cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng

2.2 Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào

Đã có một số công trình nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học luận bàn về vấn đề này như:

Bảo tàng Hồ Chí Minh (2007): Biên niên sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh

với tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào, Nxb CTQG Hà Nội

Cuốn sách này đã tái hiện những sự kiện lịch sử, những bài nói, bài viết, bức thư, điện… của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về quan hệ Việt Nam – Lào, đã làm rõ quan điểm giúp bạn là tự giúp mình “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình….”

Lào và Việt là hai nước anh em Mối quan hệ giữa hai dân tộc rất là mật thiết Đối với kiều bào ta làm ăn sinh sống ở đất nước Lào thì Lào lại như

là một Tổ quốc thứ hai Tục ngữ có câu: “Bán bà con xa, mua láng giềng gần”

ý nghĩa là như thế [1; tr.32]

Bùi Đình Phong (1996): “Một vài suy nghĩ về tư tưởng Hồ Chí Minh

trong quan hệ đoàn kết Việt Nam – Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,

số 3, tr 90-92 Qua bài viết, tác giả đã làm rõ cốt lõi tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ Việt – Lào là chủ nghĩa nhân đạo – sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ

Trang 12

Chí Minh về quan hệ Việt – Lào và khẳng định tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là sợi dây văn hóa bền chặt nối liền tình cảm thủy chung giữa hai dân tộc, góp phần định hướng, xây dựng nền văn hóa, giáo dục nhân dân Lào

Giải phóng con người bị áp bức là một yếu tố thường trực trong tư tưởng Hồ Chí minh Thông qua lý luận và hành động, tổ chức và chỉ đạo thực tiễn đối với cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân Lào, chủ nghĩa nhân đạo

Hồ Chí Minh đã góp phần vào sự thắng lợi của công cuộc giải phóng nhân dân các bộ tộc Lào Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, góp phần vào công cuộc đấu tranh chung của các dân tộc, trong đó có dân tộc Lào, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến

bộ xã hội [57; tr.91]

PGS.TS Nguyễn Bá Linh, TS Phạm Sang, TS Bua Khăm (2005): Hồ

Chí Minh với nhân dân Lào, nhân dân Lào với Hồ Chí Minh, Nxb CAND

Tác phẩm này được xuất bản bằng hai thứ tiếng là tiếng Việt và tiếng Lào Qua công trình nhóm tác giả đã khẳng định được vai trò to lớn của Chủ tịch

Hồ Chí Minh – người đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam - Lào; lòng biết ơn của nhân dân Lào đối với Hồ Chí Minh

Để có được các nhân tố bên trong của cách mạng Lào, trước hết Hồ Chí Minh quan tâm tới việc xây dựng các cơ sở chính trị, các căn cứ cách mạng trong nhân dân Ngay từ buổi “trứng nước” của cách mạng Lào, cũng như cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh là một trong những người đầu tiên bắt tay vào việc xây dựng các cơ sở cách mạng trong quần chúng, tuyên truyền, tổ chức quần chúng làm cách mạng, những năm 1928 – 1929 và đầu 1930, Hồ Chí Minh đã chọn Lào là một hướng để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và

tư tưởng cứu nước mới vào Việt Nam, vào Đông Dương [35; tr.34]

Trang 13

Một số bài viết của các nhà nghiên cứu Việt Nam và Lào tìm hiểu về

vấn đề này được đăng trên các tạp chí như Trịnh Nhu (2009), "Tư tưởng Hồ

Chí Minh về quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào", Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6,

trang 19 Bài viết này đã khẳng định công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình chăm lo, vun đắp, xây dựng quan hệ đoàn kết Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam trên các giai đoạn cách mạng Đồng thời tác giả cũng khẳng định việc học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào là một nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam, Lào

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào là một bộ phận hữu

cơ của quan hệ dân tộc – quốc tế được xác lập trong điều kiện cụ thể của hai dân tộc Việt Nam, Lào Đó là một di sản tư tưởng chính trị và nhân văn vô cùng cao quý của hai dân tộc Việt Nam, Lào, khích lệ tinh thần tự lực và đoàn kết, giúp đỡ nhau của hai Đảng và quân, dân hai nước [53; tr.18]

Xamản Vinhakệt (2010), "Chủ tịch Hồ Chí Minh với mối quan hệ hữu

nghị đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam", Tạp chí Lý luận Chính trị, số 5 Tác

giả khẳng định công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, vai trò của Người đối với sự nghiệp cách mạng của Lào.Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng hai dân tộc Việt – Lào

“đó vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là lợi ích sống còn của mỗi nước” [73; tr.56]

Nguyễn Thị Quế, Đỗ Thị Ánh (2010), "Một số quan điểm của Chủ tịch

Hồ Chí Minh về quan hệ Việt - Lào", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5,

tr 3-10 Bài viết đã đề cập một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ Việt – Lào và khẳng định vai trò của Người trong việc giáo dục cho những người cách mạng Việt Nam và Lào nhận thức sâu sắc mối quan hệ hai nước

Trang 14

Trong quá trình chỉ đạo và thực hiện Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quán triệt cán bộ và bộ đội ta: Phải đảm bảo tuyệt đối công tác bí mật, tôn trọng đầy đủ các nguyên tắc làm việc giữa hai Đảng, coi trọng ý kiến của phía Lào, mọi công việc của Lào là do Lào tự quyết định, phía Việt Nam không được bao biện làm thay [61; tr.8]

Lê Đình Chỉnh (2000), “Hồ Chí Minh với quan hệ đặc biệt Việt –

Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr 78-81.tác giả đã làm rõ công

lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh – người đặt nền móng đầu tiên cho mối quan hệ Lào – Việt Người đã giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, biến nó trở thành sức mạnh cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào

Đoàn kết và giúp đỡ cách mạng Lào là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng và nhân dân Việt Nam Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh thường xuyên cùng với Trung ương Đảng ta luôn luôn kiểm điểm, rút kinh nghiệm nhằm giúp cách mạng Lào đạt kết quả ngày càng cao [4; tr.80]

2.3 Những vấn đề các công trình chưa làm sáng tỏ

Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào và tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ hai nước là chủ đề thu hút được sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu Việt Nam và Lào Mặc dù các công trình nghiên cứu trên đã khái quát chung về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, quan hệ Việt Nam - Lào qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, tất cả những kết quả nghiên cứu đó là tài liệu tham khảo quý giá đối với tác giả khi thực hiện luận văn này Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu, làm rõ một cách có hệ thống quá trình hình thành và phát triển; quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam - Lào và sự vận dụng của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới như thế nào

2.4 Những vấn đề luận văn cần đi sâu nghiên cứu

Trang 15

Với tinh thần khiêm tốn học hỏi, tác giả luận văn xin phép được tiếp thu, kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học, lấy đó làm những gợi ý quan trọng để phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn Thạc sĩ

Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu, giải quyết một số vấn đề sau:

- Trình bày quá trình hình thành và phát triển quan điểm Hồ Chí Minh

về quan hệ Việt Nam – Lào

- Hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào

- Khẳng định giá trị quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào

- Sự vận dụng và phát triển quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào thời kỳ đổi mới

- Đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện quán triệt và vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam - Lào

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có mục đích làm rõ quá trình hình thành, hệ thống quan điểm

Hồ Chí Minh và nét độc đáo, sáng tạo của Người trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào Làm rõ quan điểm ngoại giao đúng đắn đó của Hồ Chí Minh qua từng thời kỳ cách mạng khác nhau

Trên cơ sở đó, luận văn phân tích rõ sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan điểm Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt Nam – Lào thời kỳ đổi mới hiện nay, được thể hiện rõ nét nhất qua đường lối, chủ trương, hoạt động và thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua và thực tiễn cách mạng hiện nay

Đưa ra một số giải pháp thực hiện quán triệt và vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào

Trang 16

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh trong

quan hệ Việt Nam – Lào và sự vận dụng của Đảng trong sự nghiệp đổi mới

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu quá trình hình thành và hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào trong quá trình hoạt động cách mạng của Người từ những năm 20 thế kỷ XX đến năm 1969

- Đặc điểm tình hình chi phối quan hệ Việt Nam - Lào từ năm 1986 đến nay và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

5.1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa vào quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam – Lào; những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về ngoại giao, đặc biệt là trong quan hệ Việt – Lào làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu

Tác giả còn sử dụng phương pháp lịch sử, hệ thống, so sánh, phân tích các nguồn tư liệu, gắn lý luận với thực tiễn

5.2 Nguồn tài liệu

Luận văn chủ yếu dựa vào các nguồn tài liệu sau:

Trang 17

- Hồi ký của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam và Lào

- Các công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài luận đăng tải trên các Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Lý luận Chính trị, Tạp chí Đối ngoại,…

- Một số luận án, luận văn liên quan đến đề tài luận văn

6 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia thành 2 chương:

- Chương 1: Quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam - Lào

- Chương 2: Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam - Lào thời kỳ đổi mới

Trang 18

Chương 1

QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ QUAN HỆ

VIỆT NAM - LÀO 1.1 Điều kiện hình thành quan hệ Việt Nam - Lào

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý

Việt Nam và Lào là hai nước nằm trên bán đảo Đông Dương, cùng có chung một dãy Trường Sơn hùng vĩ và dòng nước sông Mê Kông, có vị trí địa – chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á do nằm kề con đường giao thương hàng hải, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và

Ấn Độ Dương Về địa – quân sự, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng; Tây Nguyên và cao nguyên Bôlavên của Lào; vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Đông Bắc Lào… đều là những vị trí có tầm chiến lược quan trọng trên bán đảo Đông Dương, ai nắm được những vùng chiến lược trên sẽ làm chủ toàn

bộ chiến trường Đông Dương, vì vậy hai nước thường là nạn nhân của các cuộc xâm lược thuộc địa Những đặc điểm này đã chi phối đến quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam

1.1.2 Đặc điểm dân cư, văn hóa, lịch sử

Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có 54 dân tộc, Lào có 49 tộc người, có lịch sử phát triển lâu đời Do quan hệ gần gũi

và lâu đời, nhất là các vùng biên giới nên người Việt và người Lào đã am hiểu

về nhau nhiều Giữa hai nền văn hóa Việt Nam và văn hóa Lào có sự tương đồng đó là nền văn minh lúa nước Đông Nam Á Văn hóa làng – nước của Việt Nam có nhiều nét tương đồng với mô hình tổ chức xã hội cổ truyền bản – mường của dân Lào

Trong lịch sử thế giới, hiếm có quan hệ láng giềng nào như hai dân tộc Việt Nam và Lào, không hề có cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau, không có

Trang 19

sự thù hằn, mâu thuẫn dân tộc, cùng giúp đỡ, nương tựa vào nhau chống lại thiên tai địch họa Từ thời cổ, trung đại, quan hệ giữa hai nhà nước về cơ bản

là quan hệ bang giao láng giềng thân thiện “Tinh thần lấy hòa hiếu làm trọng xuyên suốt thế kỷ XIV và XV trong quan hệ bang giao Đại Việt – Lạn Xạng, Lạn Xạng – Đại Việt, cho dù không phải không có những thời khắc gặp nguy nan khi xảy ra biến cố đụng chạm lợi ích giữa các tập đoàn phong kiến dưới thời Vua Lê Thánh Tông Đó là sự kiện nhà Lê đưa quân sang Lạn Xạng vào năm 1479 Nhưng hai nước thật sáng suốt và công bằng khi cả Lào và Việt đều có ý thức đề cao không thù hận, biết chủ động vun đắp tình thân ái và hữu nghị lâu dài giữa hai dân tộc” [15; tr.14]

Thời kỳ cận, hiện đại, quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam phát triển ngày càng sâu sắc, hai dân tộc đoàn kết, nương tựa vào nhau trong cuộc cách mạng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài

1.1.3 Truyền thống chống giặc ngoại xâm

Bắt nguồn từ yêu cầu sống còn của hai dân tộc trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, Việt Nam và Lào đã kề vai, sát cánh, nương tựa vào nhau, cùng nhau đoàn kết trong các cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập xuyên suốt thời kỳ cổ, trung đại, hiện đại Truyền thống yêu nước của Việt Nam và Lào ngày càng được hun đúc và trở thành cơ

sở vững chắc cho sự đoàn kết, gắn bó giữa hai nước

Trong lịch sử cận và hiện đại, Việt Nam và Lào đều có chung kẻ thù xâm lược là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, do đó tất yếu phải hình thành liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung vì độc lập, tự do của hai quốc gia, dân tộc

Bán đảo Đông Dương có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trong thời

kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh và chủ nghĩa tư bản độc quyền, chiếm được Đông Dương sẽ tiến sâu vào khu vực Đông Nam Á, Đông Dương trở thành đối tượng xâm lược của chủ nghĩa đế quốc

Trang 20

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, từng bước thiết lập bộ máy thống trị thực dân ở Việt Nam và ở Đông Dương nói chung, thực hiện chính sách thống trị chuyên chế về chính trị, bóc lột một cách nặng nề về kinh tế, nô dịch về văn hóa Thực hiện chính sách "chia để trị", đế quốc Pháp

đã chia Việt Nam thành 3 xứ (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ) cùng với Cao Miên (Campuchia) lập thành Liên bang Đông Dương theo sắc lệnh ký ngày

17 tháng 10 năm 1887 của Tổng thống Pháp và tiếp đến là sắc lệnh ký ngày

19 tháng 4 năm 1899, có thêm Lào Do cùng chung kẻ thù xâm lược và chung một số phân nô lệ và áp bức bóc lột nặng nề, nhân dân hai nước Việt Nam và Lào đã liên kết với nhau, đoàn kết chặt chẽ trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược, hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc

Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào yêu nước ở Việt Nam với sự tham gia của nhân dân các bộ tộc Lào đã diễn ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau: khuynh hướng phong kiến và tư sản,

Tiêu biểu cho khuynh hướng phong kiến là phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động có sự tham gia của một số bộ tộc Lào ở Tây Nghệ An, khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Bên cạnh đó, cuộc khởi nghĩa của ông Kẹo và ông Commađăm ở

Hạ Lào (1901 – 1937) có sự tham gia của một số bộ tộc người Tây Nguyên; phong trào đấu tranh của Chậu PhaPátChay (1918 – 1922) của dân tộc

H’Mông Lào có sự tham gia của dân tộc H’Mông Việt Nam…

Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trước nhiệm vụ cách mạng Việt Nam

Tiếp đó đầu thế kỷ XX phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi dưới sự lãnh đạo của các bậc sĩ phu yêu nước tiến bộ phải kể đến các phong trào do Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh lãnh đạo Phan Bội Châu chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh

Trang 21

đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc Trong khi đó Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho nước Việt Nam

Có thể thấy rằng sự thất bại của phong trào yêu nước Việt Nam và Lào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX theo khuynh hướng phong kiến và tư sản đặt cách mạng Việt Nam cách mạng Lào vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong phong trào cách mạng và liên minh giữa hai ba nước Đông Dương, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo cách mạng Với hoàn cảnh lịch sử tương đồng, cùng chung mục tiêu và khát vọng độc lập tự do, con đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường Nguyễn Ái Quốc đã chọn cũng là phù hợp để giải phóng nhân dân các bộ tộc Lào khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, nhiều chi bộ cộng sản đã được xây dựng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Lào: Viêng Chăn, Phôn Tịu, Thà Khẹt, Xavănnakhẹt…, qua đó những chủ trương, đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam bắt đầu lan truyền vào bộ phận người Việt sống ở Lào

Trong cao trào cách mạng dân chủ 1936 – 1939, phong trào đấu tranh diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam đã ảnh hưởng đến Lào, thúc đẩy các Đảng viên

ở Lào khôi phục tổ chức và lãnh đạo một số cuộc đấu tranh của nhân dân Lào

Giai đoạn 1939 – 1945, quan hệ Việt Nam – Lào có sự chuyển biến mới Đứng trước thực tiễn nhân dân Đông Dương đang chịu ách thống trị của

cả thực dân Pháp và phát xít Nhật, Đảng Cộng sản Đông Dương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941), chủ trương thành lập ở mỗi

Trang 22

nước một mặt trận dân tộc thống nhất, có ý nghĩa cho từng dân tộc trong việc phát huy tính chủ động của cách mạng mỗi nước

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân Việt Nam

đã tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi vào tháng 8 năm 1945, nhân dân Lào với sự tham gia của Việt kiều yêu nước sống tại Lào cũng đã tiến hành khởi nghĩa thành công Liên minh chiến đấu giữa hai nước đã xác lập chính thức về mặt nhà nước

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Lào Ítxala ra đời không lâu thì nhân dân hai nước lại cùng nhau bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến kéo dài (1945 – 1954) Nhu cầu hợp tác, giúp đỡ nhau trong kháng chiến chống Pháp xuất phát từ hai bên Lào cần có sự giúp đỡ của Việt Nam và Việt Nam cũng cần có sự hỗ trợ của Lào vì mục tiêu chung đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc

Với đường lối kháng chiến, kiến quốc, nhân dân Việt Nam vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng mọi mặt Đồng thời với tinh thần “kháng chiến của Việt, Miên, Lào là nhiệm vụ chung của chúng ta, là bổn phận của chúng ta”, “giúp bạn là tự giúp mình”, Việt Nam đã cử cán bộ và chiến sĩ tình nguyện sang giúp đỡ cách mạng Lào xây dựng lực lượng Liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến đã thu được nhiều thắng lợi quan trọng, chiến dịch Biên giới năm 1950 của quân dân Việt Nam đã phá vỡ vòng vây của đế quốc Pháp, mở thông con đường liên lạc trực tiếp giữa ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia

Từ năm 1951, thực tiễn phong trào cách mạng ở mỗi nước đã phát triển

rõ rệt đòi hỏi Đảng phải có đường lối, chính sách và tổ chức phù hợp với đặc điểm của mỗi nước, tạo điều kiện thúc đẩy hơn nữa liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ

Trang 23

Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương (2/1951) được triệu tập, quyết định thành lập ở mỗi nước một đảng cách mạng riêng, phù hợp với hoàn cảnh từng nước để lãnh đạo cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng

và tăng cường hơn nữa sự phối hợp chiến đấu giữa ba dân tộc Việt Nam – Lào

– Campuchia để chống kẻ thù chung Trong Báo cáo chính trị thông qua tại

Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến Bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là

kẻ thù của ta và của dân tộc Miên, Lào Vì vậy, ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào; và tiến đến thành lập Mặt trận thống nhất các dân tộc Việt – Miên – Lào” [43; tr.174]

Ngày 11 tháng 3 năm 1951, Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Đông Dương được tổ chức tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, nhất trí thành lập khối liên minh Việt Nam – Lào – Campuchia, đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, góp phần tạo ra bước phát triển mới cho cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương

Đầu năm 1953, chiến trường Lào có điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp liên minh ba nước Ngày 3/2/1953, Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định mở chiến dịch Thượng Lào giải phóng Sầm Nưa, từ đó tiến tới giải phóng một phần tỉnh Xiêng Khoảng, tỉnh Phong Sa Lỳ Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào đã nối liền vùng tự do Việt Nam và hậu phương kháng chiến của Lào

Thắng lợi của liên minh Việt Nam – Lào trên chiến trường Đông Dương đã góp phần làm thất bại kế hoạch Nava, giành thắng lợi to lớn trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ 1954 được ký kết, buộc thực dân Pháp, đế quốc Mỹ phải thừa nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia

Trang 24

Kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, nhân dân ba dân tộc Việt Nam, Lào và Campuchia lại cùng nhau bước vào cuộc trường chinh mới Sau Hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mỹ nhanh chóng nhảy vào Đông Dương thay chân Pháp, từng bước thiết lập quyền kiểm soát ở miền Nam Việt Nam và Lào, âm mưu biến thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ

Với phương tiện chiến tranh hiện đại, để thực hiện âm mưu thâm độc của mình, đế quốc Mỹ đã cùng một lúc tiến hành chiến tranh xâm lược trên chiến trường Việt Nam và Lào, thi hành chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh và chiến tranh đặc biệt tăng cường ở Lào Dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng với việc phát huy truyền thống đoàn kết, nương tựa giúp đỡ nhau, nhân dân ba nước Đông Dương đã đánh bại mưu chiến lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giành thắng lợi vĩ đại trong năm 1975

Tiểu kết

Xuất phát từ những nét tương đồng về địa lý, tự nhiên, văn hóa, lịch sử, cùng có chung kẻ thù xâm lược trong các cuộc đấu tranh cách mạng, quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam hình thành từ rất sớm, được nâng lên thành quan hệ đặc biệt từ khi Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930, đưa sự nghiệp cách mạng của hai nước Việt Nam và Lào hòa quyện vào nhau, cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

1.2 Quá trình hình thành, phát triển những quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam - Lào

1.2.1 Trong thời kỳ vận động thành lập Đảng

Trước đòi hỏi của lịch sử, Hồ Chí Minh đã có tầm nhìn vượt lên các sĩ phu yêu nước đương thời khi thấy rõ các dân tộc thuộc địa muốn giành được độc lập thì phải đánh đổ sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc, không thể thỏa

Trang 25

hiệp với nó Nhận thức đó đã hướng Người sang phương Tây, đến các nước tư bản đế quốc và các nước thuộc địa để xem xét họ làm thế nào, học tập họ để

về giúp đồng bào khỏi xiềng xích nô lệ "Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem các nước như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào mình"

Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang trong tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 nổ ra và giành thắng lợi, Hồ Chí Minh đã hướng theo ánh sáng con đường cách mạng Nga, con đường cách mạng vô sản Sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V I Lênin (7/1920), Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, xác định đường lối cứu nước mới cho dân tộc mang tính nhân văn cao cả và ý nghĩa thời đại sâu sắc, đó là con đường cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" [40; tr.274] Việc xác định được con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc là công lao to lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, đưa cách mạng hai nước Việt Nam và Lào gắn kết với nhau, cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc và CNXH

"đối với nhân dân Lào, cống hiến to lớn đầu tiên của đồng chí Hồ Chí Minh, trước hết là việc tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn cho cách mạng Lào" [73; tr.57] Với luận điểm quan trọng khẳng định con đường giải phóng các dân tộc Đông Dương là con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh đồng thời cũng đã làm rõ cơ sở bền vững của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; Lào - Việt Nam

Hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đồng thời là hành trình tìm kiếm bạn đồng minh và thiết lập mối quan hệ đoàn kết, hợp tác

Trang 26

quốc tế Trong quá trình hoạch định con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn

Ái Quốc nhận thức rất sớm sức mạnh dân tộc "chủ nghĩa dân tộc là một động

lực lớn của đất nước" [39; tr.152] Trong bài báo Đông Dương viết vào năm

1921, Người luôn đặt niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của quần chúng nhân dân: "Người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi… Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, Người Đông Dương giấu một cái

gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy thời cơ đó mau đến Sự tàn bạo của CNTB đã chuẩn bị đất rồi: CNXH chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi" [44; tr.28] Nhưng Người không quên nghĩa vụ quốc tế, luôn đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ với cách mạng thế giới, với các dân tộc bị áp bức, nhất là đối với hai nước Lào, Campuchia trên bán đảo Đông Dương, cách mạng Việt Nam là một phận của cách mạng thế giới Ai làm cách mạng thế giới đều là đồng chí của cách mạng Việt Nam Có thể thấy rằng, đây là những nhận thức đặt tiền đề cho sự nghiệp xây dựng khối đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức nói chung, trong đó có tình đoàn kết của nhân dân

ba nước Đông Dương, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp

Tháng 7-1921, Người đã cùng một số nhà hoạt động cách mạng của nhiều nước thuộc địa lập ra “Hội liên hiệp thuộc địa” ở Pari - Pháp nhằm đoàn kết các lực lượng yêu nước của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược, đặt nền móng đầu tiên cho mối quan hệ đoàn kết giữa hai nước Việt Nam và Lào sau này

Xuất phát từ nhận thức muốn làm cách mạng trước hết phải có chính đảng cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẩn trương chuẩn bị những tiền đề tư tưởng, chính trị, tổ chức cần thiết cho sự thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân Năm 1924, Hồ Chí Minh tới Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt

Trang 27

động cách mạng, tại đây Người đã mở lớp huấn luyện lý luận chính trị cho những thanh niên Việt Nam yêu nước và thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (6/1925), sáng lập báo Thanh niên, tích cực truyền bá một cách sâu rộng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc vào phong trào công nhân, phong trào yêu nước ở Việt Nam và Lào

Để khắc phục sự biệt lập và khơi dậy tình đoàn kết của các nước châu

Á, nǎm 1925, Người cùng với những nhà cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan, Ấn Độ lập ra Hội các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, một tổ chức đoàn kết quốc tế

Từ năm 1928 - 1929, Hồ Chí Minh hoạt động sôi nổi trong phong trào Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan Người đã chọn Lào là một hướng để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng cứu nước mới vào Việt Nam, vào Đông Dương, tại đây Người đã trực tiếp tìm hiểu thực tế tình hình các bộ tộc Lào và chỉ đạo hoạt động của các chi bộ lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ở Lào và Thái Lan Điều đó thể hiện Hồ Chí Minh đã sớm xác định mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào, cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa Năm 1928, một số chi bộ Tân Việt cũng

ra đời ở Viêng Chăn, Thà Khẹc, Xavẳnnakhẹt Chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn

Sự ra đời và hoạt động của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn năm 1929 đặt ra yêu cầu bức thiết về việc thành lập một chính đảng cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương

Đầu năm 1930, Hồ Chí Minh đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam lúc bấy giờ, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng

về đường lối và lực lượng lãnh đạo cách mạng vì độc lập tự do và phát triển

Trang 28

của dân tộc Việt Nam Hội nghị đã thông qua văn kiện “Chánh cương vắn tắt

của Đảng”, “Sách lược vắn tắt của Đảng”, “Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng” do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Sau khi Đảng Cộng sản

Việt Nam được thành lập, nhiều chi bộ đảng ở Lào và Campuchia đã được thành lập ở Viêng Chăn, Thà Khẹt, Bò Nèng, Pạcxê, Savănnakhệt từ đầu những năm 30

Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, tháng 10 - 1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương Từ đó cách mạng ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia bước vào giai đoạn phát triển mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, cách mạng mỗi nước trở thành một bộ phận khăng khít gắn bó hữu cơ của cách mạng Đông Dương, trào lưu cách mạng thế giới "Từ đó dưới sự lãnh đạo của Đảng Mác - Lênin chân chính, với ngọn

cờ cách mạng dân tộc, dân chủ, cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân các

bộ tộc Lào bước sang một thời kỳ mới với chất lượng hoàn toàn mới"

Có thể nói rằng, khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh rất coi trọng việc lãnh đạo nhân dân ba nước Đông Dương cùng đứng lên để giải phóng, xây dựng nền độc lập của nước mình, đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong phong trào cách mạng và liên minh giữa hai nước Việt Nam

và Lào Quan hệ truyền thống hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam được nâng lên thành quan hệ đặc biệt kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 và sau đó đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào sau này

1.2.2 Trong giai đoạn cách mạng 1930 – 1945

Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời tạo ra sự phát triển về chất cho mối quan hệ vốn có giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào Trước sự lớn mạnh

Trang 29

của phong trào cách mạng Lào đòi hỏi phải có sự lãnh đạo thống nhất, tháng 9 năm 1934, Xứ ủy Ai Lao được thành lập, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Lào

Trong cao trào dân chủ 1936 - 1939, Đảng chuyển hướng hoạt động theo tinh thần nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, lấy việc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, đòi tự do, dân chủ và nâng cao đời sống làm khẩu hiệu chính Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và nêu rõ: Lúc này Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện ) Như thế sẽ rơi vào cạm bẫy của phát xít Nhật Chỉ nên đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp

Muốn đạt được mục đích trên phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi

Đồng thời năm 1940, Nguyễn Ái Quốc viết báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản với nội dung về địa lý, dân tộc, chế độ chính trị, tài nguyên, nạn bóc lột, quốc phòng, phong trào giải phóng dân tộc, các tầng lớp xã hội và khuynh hướng của họ, các đảng phái ở Đông Dương và Việt Nam Người mong Quốc tế Cộng sản giúp đỡ để có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc để giúp Đảng hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình

Trước những chuyển biến của tình hình thế giới và Đông Dương,

Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Đông Dương Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám (5/1941) do Người chủ trì

đã xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương là giải phóng dân tộc, tạm gác nhiệm vụ chống phong kiến để tập trung cao độ cho nhiệm vụ chống đế quốc "cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng" [7; tr.118]

Trang 30

Muốn thực hiện được nhiệm vụ ấy, cần phải đoàn kết tất cả các lực lượng trên toàn Đông Dương “Những dân tộc sống ở Đông Dương đều chịu dưới ách thống trị của giặc Pháp – Nhật, cho nên muốn đánh đuổi chúng nó không chỉ dân tộc này hay dân tộc kia là đủ, mà phải có một lực lượng thống nhất của tất thảy các dân tộc Đông Dương họp lại” [7; tr.114] Nét độc đáo, sáng tạo của Hồ Chí Minh trong vấn đề dân tộc đó là việc Người đã xác định thực hiện chính sách dân tộc tự quyết và tăng cường đoàn kết liên minh chiến đấu giữa ba nước chống kẻ thù chung, chủ trương không thành lập Liên bang Đông Dương mà giải quyết vấn đề dân tộc trong từng nước Sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật thì các dân tộc sẽ tùy theo ý muốn mà tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một quốc gia dân tộc Hội nghị quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, ở Việt Nam sẽ thành lập Việt Nam độc lập đồng minh, ở Lào và Campuchia thành lập Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến Vì vậy, ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào Và tiến đến thành lập Mặt trận thống nhất các dân tộc Việt – Miên – Lào” [8; tr36] Quan điểm trên đã thể hiện sự gắn kết và tác động tích cực giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng trong tiến trình cách mạng của ba dân tộc, hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa sô vanh, dân tộc vị kỷ Và đã được Đảng, Nhà nước của hai dân tộc Việt, Lào quán triệt và vận dụng trong quá trình xây dựng và phát huy sức mạnh của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Trong Chương trình Việt Minh, Người khẳng định “Liên hiệp và thân thiện với tất cả các dân tộc hèn yếu, nhất là dân tộc Miên, Lào, Tàu, Triều Tiên, Trung Quốc” [66; tr.584] Riêng đối với cách mạng Lào, Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc đến việc giúp đỡ xây dựng, phát triển lực lượng, phát

Trang 31

huy tinh thần độc lập tự chủ, coi đây là một nội dung quan trọng nhất của tình đoàn kết và liên minh chiến đấu Việt - Lào

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 8 năm 1945, nhân dân Việt Nam đã tiến hành tổng khởi nghĩa thành công trên cả nước thành công trên cả nước Cùng thời gian đó, nhân dân Lào

có sự tham gia của Việt kiều yêu nước sống trên đất Lào, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cũng tiến hành khởi nghĩa thành công và thành lập "Liên quân Lào

- Việt" để bảo vệ chính quyền cách mạng mới giành được

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam và cuộc khởi nghĩa giành chính quyền 23/8/1945 ở Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương là thắng lợi của hai nước có chung mục tiêu, cùng đấu tranh và cùng giành thắng lợi Đây là nhân tố hết sức quan trọng thúc đẩy sự phát triển của tình đoàn kết chiến đấu Việt - Lào, Lào - Việt do Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh xây dựng và vun đắp lên một bước mới, đồng thời thể hiện được tính đúng đắn trong quan điểm của Hồ Chí Minh về liên minh Việt Nam - Lào Việc Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ kháng chiến lâm thời Lào ký Hiệp định hợp tác tương trợ Việt - Lào (10/1945), thống nhất thành lập Liên quân Việt - Lào là một biểu hiện sinh động của tình đoàn kết chiến đấu Việt – Lào, nâng mối quan hệ đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau Việt Nam – Lào lên tầm liên minh chiến đấu chiến lược Từ

đó, quan hệ Việt Nam - Lào được chính thức xác lập về mặt nhà nước

1.2.3 Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

Ngay sau khi nhân dân hai nước Việt Nam và Lào giành được độc lập, tháng 9 năm 1945, được sự giúp đỡ của Anh và Mỹ, thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược Đông Dương lần thứ hai Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, hai nước đã tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trong bối cảnh mới, tình hình quốc tế và hai nước có nhiều

Trang 32

biến động với nhiều thuận lợi, khó khăn Thực tiễn đòi hỏi Việt Nam và Lào phải liên minh, đoàn kết chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu tranh nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc

Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhanh chóng phân tích tình hình quốc

tế và trong nước, đề ra những nhiệm vụ cụ thể cho phong trào đấu tranh giữa

ba nước Trong khi đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chỉ đạo việc mở rộng mặt trận kháng chiến ở Lào và Campuchia, thiết lập nhiều căn cứ địa cách mạng trên đất Lào, xây dựng chỗ đứng chân vững chắc cho Chính phủ Lào độc lập

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ Việt - Lào ngày càng mở rộng, phát triển và có ý nghĩa to lớn đối với thắng lợi của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy tính tất yếu khách quan giữa các cuộc kháng chiến của ba dân tộc

"kháng chiến Việt - Miên - Lào là chung của chúng ta, là bổn phận của chúng ta" Luận điểm này khẳng định quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào là quy luật giành thắng lợi của cách mạng hai nước Việt Nam và Lào Hồ Chí Minh nhiệt liệt ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Lào, Người nêu rõ

“giúp nhân dân nước bạn là mình tự giúp mình” [7; tr.64]

Trong thời gian này, Hồ Chí Minh dành sự quan tâm của mình đến việc giúp đỡ xây dựng, củng cố mặt trận dân tộc thống nhất, lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng và Đảng của giai cấp công nhân Lào "Chính phủ, Mặt trận và nhân dân Việt Nam ra sức hết lòng thực giúp Mặt trận, nhân dân Lào một cách không có điều kiện" Ngay trong lần gặp và làm việc đầu tiên với đồng chí Cayxỏn Phômvihản năm 1946, Hồ Chí Minh đã khẳng định vấn đề xây dựng cơ sở cách mạng trên đất Lào là bước đi

Trang 33

căn bản và quan trọng nhất trong tiến trình giành độc lập tự do cho nhân dân các bộ tộc Lào

Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ cuối năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương đã cử một số cán bộ, chiến sĩ Việt Nam sang giúp đỡ, phối hợp với nhân dân Lào xây dựng lực lượng cách mạng, đẩy mạnh cuộc kháng chiến Một số căn cứ du kích ở Lào thuộc các vùng dọc biên giới Lào - Việt Nam, Lào - Campuchia, Lào - Thái Lan đã được xây dựng với sự giúp đỡ của Việt Nam

Sau thắng lợi của Việt Nam ở chiến dịch Việt Bắc (1947), để tăng cường sức mạnh cho cách mạng Lào, ngày 27/2/1948, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập Ban xung phong Lào Bắc đặt dưới sự lãnh đạo của đồng chí Cayxỏn Phômvihản nhằm mục đích xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, tổ chức lực lượng

vũ trang nhân dân, xây dựng căn cứ cách mạng ở vùng Tây Bắc của Lào bao gồm Phiêng Xả, Lào Hung, Mong Năm, Pha Luông thuộc tỉnh Sầm Nưa Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh "Kiến lập căn cứ địa Lào độc lập là nhiệm vụ cần kíp Ban xung phong Lào Bắc phải ra sức gây cơ sở quần chúng trong vùng địch kiểm soát Tôi chúc Ban xung phong Lào Bắc chóng thành công, khu giải phóng Lào độc lập chóng thành lập"

Ngày 20/1/1949, tại chiến khu Xiềng Khọ tỉnh Sầm Nưa, Quân đội giải phóng Lào tự do (nay là Quân đội Nhân dân Lào) tuyên bố thành lập, đánh dấu bước trưởng thành của cách mạng Lào

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt trăn trở về việc thành lập một chính đảng mácxit - lêninit riêng ở Việt Nam, Lào và Campuchia trên cơ sở kế thừa bản chất và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương

Bước sang năm 1951, phong trào cách mạng ở ba nước Việt Nam, Lào

và Campuchia ngày càng phát triển mạnh mẽ, tuy có cùng mục tiêu cách

Trang 34

mạng nhưng tình hình lúc này đòi hỏi phải có một tổ chức và một đường lối phù hợp với đặc điểm của mỗi nước Hồ Chí Minh đã ra quyết định lịch sử tách Đảng Cộng sản Đông Dương ra thành ba đảng riêng ở ba nước nhằm phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ và ý thức trách nhiệm của mỗi nước trước vận mệnh của dân tộc mình

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 2 năm

1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị thành lập ở mỗi nước một Đảng Cộng sản Trong Báo cáo chính trị thông qua tại đại hội, Người nêu rõ: "Chúng ta kháng chiến Bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là kẻ thù của ta và của dân tộc Miên, Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào và tiến đến thành lập Mặt trận thống nhất các dân tộc Việt - Miên - Lào" [43; tr.174] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gặp gỡ đồng chí Cayxỏn Phômvihản, căn dặn cần phải cố gắng thành lập Đảng cách mạng, lấy tên là Đảng Nhân dân Lào để tập hợp mọi người yêu nước, có giác ngộ lý tưởng của toàn dân tộc vào cuộc đấu tranh cứu nước

Theo sáng kiến của Đảng Lao động Việt Nam, Hội nghị thành lập Mặt trận liên minh Việt - Miên - Lào đã diễn ra tại Việt Bắc (Việt Nam) (11/3/1951) Hội nghị quyết định thành lập khối liên minh nhân dân Việt Nam - Lào - Campuchia dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau để tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân và toàn diện để chiến thắng thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, giải phóng hoàn toàn ba nước Sự kiện này đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng mới, góp phần đẩy mạnh mối quan hệ đoàn kết chiến đấu, cùng chống kẻ thù chung, đặt cơ sở liên minh lâu dài của ba dân tộc trong những chặng đường lịch sử sau này

Chủ trương của Hồ Chí Minh tách Đảng Cộng sản Đông Dương ra Đảng Lao động Việt Nam và ở Miên, Lào có hai tổ chức khác rất đúng đắn và phù hợp với tình hình mới ở ba nước Trung ương Đảng Lao động Việt Nam

Trang 35

dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ Chính phủ Kháng chiến và Mặt trận Ítxala ở Lào, giúp Lào chuẩn bị thành lập Đảng Nhân dân Lào

Cùng với việc hết sức mình xây dựng khối đoàn kết nhân dân ba nước Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng và vun đắp mối quan

hệ chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân ba nước Tại Hội nghị cán bộ Mặt trận liên minh nhân dân ba nước Việt – Miên – Lào lần thứ nhất tháng 9 năm 1952, Người phát biểu: “Chính phủ, Mặt trận và nhân dân Việt Nam ra sức

và hết lòng thật giúp đỡ Mặt trận nhân dân Lào một cách không điều kiện Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào” [60; tr.7]

Mối quan hệ Việt – Lào theo HCM là quan hệ tương hỗ, không thể tách rời, tan vỡ là chết Ngay từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã nêu lên tính tất yếu, khách quan giữa các cuộc kháng chiến của ba dân tộc: “thắng lợi của nhân dân Lào cũng là thắng lợi của nhân dân Việt Nam, là thắng lợi chung của khối liên minh Lào – Miên – Việt đoàn kết chiến đấu đánh đuổi kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ” [1; tr60], không một nước nào tách khỏi hai nước kia mà giành được thắng lợi Luận điểm này khẳng định quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào là quy luật giành thắng lợi của cách mạng hai nước Việt Nam, Lào Xuất phát từ quan điểm đó, Người tuyên bố “Chính phủ, Mặt trận và nhân dân Việt Nam ra sức hết lòng thành thực giúp Mặt trận, nhân dân Lào một cách không có điều kiện”

Trong báo cáo trước Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II (1/1953), Hồ Chí Minh đã nhận định về việc giúp đỡ nhân dân Miên - Lào: “đến nay, chúng ta giúp kháng chiến Miên – Lào chưa đúng mực Từ nay chúng ta phải cố gắng giúp hơn nữa Ta phải

Trang 36

nhận rõ rằng: hai dân tộc anh em Miên, Lào được giải phóng, thì nước ta mới được giải phóng thật sự và hoàn toàn” [44; tr.18]

Cuộc kháng chiến anh dũng của ba nước Đông Dương phát triển mạnh

mẽ, thực dân Pháp ngày càng suy yếu, đế quốc Mỹ trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến tranh Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:

"Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc anh em Miên, Lào thì sức mạnh sẽ đủ đánh tan thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Đế quốc Mỹ sẽ thất bại

ở Đông Dương"

Tiểu kết

Thắng lợi của các chiến dịch Thượng Lào, Trung - Hạ Lào và Chiến dịch Điện Biên Phủ là thắng lợi rất to lớn của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng cách mạng hai nước Điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân hai nước trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương là cơ sở pháp lý quốc tế, buộc thực dân Pháp, đế quốc Mỹ phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, buộc quân đội Pháp phải rút lui hoàn toàn khỏi chiến trường Đông Dương, chấm dứt chế độ thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ

1.2.4 Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 -1969)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quan hệ Việt - Lào phát triển tới đỉnh cao, thực sự là liên minh chiến đấu toàn diện, vững chắc, đặc biệt trong sáng Chiến lược đại đoàn kết toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên cơ

sở liên minh công nông, trí thức được phát huy cao độ vào cuộc kháng chiến

chống Mỹ ở cả hai nước Việt Nam và Lào

Sau Hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mỹ nhảy vào Đông Dương, trực tiếp thay chân thực dân Pháp, thực hiện âm mưu chiến lược biến các nước trên bán

Trang 37

đảo Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và bán đảo Đông Dương là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ Một lần nữa, nhân dân hai nước lại bước vào cuộc đấu tranh chống lại thế lực đế quốc ngoại xâm hùng mạnh nhất

Miền Nam Việt Nam luôn là chiến trường chính, Lào là chiến trường phối hợp quan trọng, Campuchia là chiến trường mới mở nhưng có vị trí quan trọng đối với cách mạng miền Nam Việt Nam và Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nước ta đã triển khai các quan hệ với Lào và Campuchia vừa nguyên tắc vừa linh hoạt, ủng hộ nền trung lập của Lào và Campuchia, giúp đỡ các lực lượng kháng chiến ở hai nước chống kẻ thù chung “Nhân dân Đông Dương kịch liệt tố cáo âm mưu mới của đế quốc Mỹ và phe lũ Bảo vệ thắng lợi của hội nghị Giơnevo, nhân dân Việt Nam, Cao Miên và Lào quyết chặn bàn tay xâm lược của đế quốc

Mỹ và quyết đẩy mạnh đấu tranh hơn nữa để giữ gìn những quyền dân tộc đã giành được” [44; tr.442 ]

Từ ngày 22 tháng 3 đến 6 tháng 4 năm 1955, tiến hành Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào Đây là thành quả chính trị, nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công vun đắp Tháng 6 năm 1956, Mặt trận Neo Lào Hắc Xạt ra đời, kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên đấu tranh chống đế quốc, thực dân cùng bọn phản động tay sai

Đoàn kết, ủng hộ nhân dân Lào trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, vì độc lập tự do của mình là biểu hiện nhất quán trong tư duy quan

hệ quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh Vì vậy, từ những năm 1960, Người luôn bày tỏ sự kiên trì ủng hộ chính sách hòa bình, trung lập, hòa hợp dân tộc của Lào Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta tích cực

Trang 38

giúp đỡ Pathet Lào xây dựng lực lượng và phối hợp chiến đấu chống Mỹ và các lực lượng phái hữu, nhất là từ khi bọn phái hữu gây ra cuộc nội chiến ở Lào vào giữa năm 1959 Người khẳng định "Để bình thường hóa tình hình ở Lào, để bảo vệ nền hòa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á, con đường duy nhất là phải thi hành đúng đắn Hiệp định Giơnevơ 1954 về Lào" [37; tr.152] Lúc sinh thời, niềm vui lớn của Hồ Chí Minh về quan hệ giữa ba nước Đông Dương có lẽ là việc hình thành liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia trong công cuộc chống Mỹ cứu nước [48; tr.402]

Các bạn Lào, Campuchia cũng ghi nhận tình cảm sắt son, ý chí đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc Đông Dương: "Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ

là chiến sĩ cách mạng kiên cường của nhân dân Việt Nam mà còn là chiến sĩ cách mạng tiền bối của nhân dân Campuchia và Lào"

Hồ Chí Minh luôn tin tưởng rằng tình đoàn kết của ba nước Đông Dương sẽ đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng “Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai nhất định sẽ thất bại Sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào đoàn kết chặt chẽ nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng” [48; tr.413]

Ngày 5/9/1962 đánh dốc mốc quan trọng trong quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc Sau Hiệp định Giơnevơ năm

1962 về Lào, Chính phủ liên hiệp lần thứ hai (còn gọi là chính phủ 3 phái) ở Lào được thành lập, hai nước đã nhất trí thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một chặng đường mới, củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ Việt - Lào, nhân dân hai dân tộc đã trở thành người bạn chiến đấu "chia ngọt sẻ bùi",

"đồng cam cộng khổ", kề vai sát cánh trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc Trong đường lối đối ngoại của mình, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp tục phát triển quan hệ ngoại giao láng giềng với chính phủ mới

Trang 39

Một năm sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá sâu sắc về mối quan hệ Việt - Lào: "Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dãy Trường Sơn Hai bên dân tộc ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em Tình nghĩa láng giềng Việt Nam - Lào không bao giờ phai nhạt được" [48; tr.37]

Trong lời phát biểu tại buổi tiễn đoàn cấp cao Lào, năm 1963, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã ca ngợi quan hệ Việt – Lào

“Thương nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua Việt – Lào, hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” [48; tr.44] Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp tục thực hiện quan hệ ngoại giao láng giềng với Chính phủ mới (Chính phủ liên hiệp lần thứ hai được thành lập) Tại Hội nghị Chính trị đặc biệt, ngày 27/3/1964, Hồ Chí Minh nêu rõ: "Chúng ta luôn luôn mong muốn và sẵn sàng phát triển quan hệ hữu nghị về mọi mặt Chúng ta hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Lào, chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ, ủng

hộ những cố gắng của chính phủ Liên hợp ở Lào do Hoàng thân Xunava Phuma làm Thủ tướng, nhằm thực hiện Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào, bảo vệ nền hòa bình, trung lập của Lào" [48; tr.232]

Trong suốt quá trình nhân dân hai nước chiến đấu chống đế quốc Mỹ cho tới những ngày cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm sâu sắc đến quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt – Lào, luôn theo dõi sát sao cách mạng hai nước Người luôn tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các văn kiện đã ký kết và các nhiệm vụ đã đề ra đối với cách mạng Lào trong kháng chiến chống

Mỹ và bè lũ tay sai Liên minh chiến đấu Việt – Lào dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, hai Đảng đã không ngừng được tăng cường, phát huy và giành

Trang 40

được thắng lợi to lớn trên khắp các chiến trường, đánh bại các chiến lược

“chiến tranh cục bộ” và “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ Ngày 30 tháng 4 năm

1975, cách mạng Việt Nam đã đánh sập ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Trước sự kiện này, Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã quyết định tổng tiến công, nổi dậy giành chính quyền Và vào ngày 2/12/1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã ra tuyên bố xóa

bỏ chế độ quân chủ lỗi thời, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời

Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản nhất trí đặt tên là quan hệ đặc biệt Trong bài trả lời phỏng vấn báo Nhân dân, ngày 4 tháng 7 năm 1989, Chủ tịch Cayxỏn

Phômvihản cho biết “Khi thảo luận về mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và giữa nhân dân hai nước, Bác Hồ và chúng tôi đều thấy rằng, ngoài mối quan hệ giữa hai Đảng cùng chung lý tưởng cộng sản, giữa hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng thì mối quan hệ giữa hai Đảng Cộng sản, giữa nhân dân hai nước chúng ta còn có sự gắn bó thân thiết không giống bất cứ nước nào Bác Hồ và chúng tôi cùng suy nghĩ

Bác Hồ tay gõ lên trán và nói: “chúng ta phải gọi là quan hệ đặc biệt” Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với Bác vì đó là sự thật lịch sử” [15; tr.742] Mối quan hệ đặc biệt, thủy chung, son sắt, chưa từng có trong lịch sử quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới này đã được lãnh đạo Đảng,

Ngày đăng: 18/04/2016, 11:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo tàng Hồ Chí Minh, Biên niên sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh với tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh với tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào
Nhà XB: Nxb CTQG
2. Bảo tàng Hồ Chí Minh (2005), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tình hữu nghị đoàn kết Việt Nam – Lào”, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hữu nghị đoàn kết Việt Nam – Lào
Tác giả: Bảo tàng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
3. Lê Đình Chỉnh (2007), Quan hệ đặc biệt hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào trong giai đoạn 1954 - 2000, NXBCTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đặc biệt hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào trong giai đoạn 1954 - 2000
Tác giả: Lê Đình Chỉnh
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 2007
4. Lê Đình Chỉnh (2000), "Hồ Chí Minh với quan hệ đặc biệt Việt - Lào", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với quan hệ đặc biệt Việt - Lào
Tác giả: Lê Đình Chỉnh
Năm: 2000
5. Chummaly Xaynhaxỏn (Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước CHDCND Lào) (2013), Tình đoàn kết hữu nghị vĩ đại và quan hệ đặc biệt Lào – Việt Nam mãi mãi trường tồn, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình đoàn kết hữu nghị vĩ đại và quan hệ đặc biệt Lào – Việt Nam mãi mãi trường tồn
Tác giả: Chummaly Xaynhaxỏn (Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước CHDCND Lào)
Năm: 2013
6. Phạm Đức Dương (2002), "Hồ Chí Minh với các nước láng giềng (Nhìn từ góc độ văn hóa", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3, tr 13 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với các nước láng giềng (Nhìn từ góc độ văn hóa
Tác giả: Phạm Đức Dương
Năm: 2002
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
15. Đảng nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007
Tác giả: Đảng nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
16. Đảng nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007 – Bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, NXBCTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007" – "Bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Tác giả: Đảng nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 2011
19. Nguyễn Tất Giáp, Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, trang 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào
20. Đỗ Đình Hãng, “Quan hệ Việt Nam – Lào – Campuchia trong kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954” - Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Lào – Campuchia trong kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954
21. Vũ Quang Hiển (2009), Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc ở Đông Dương, cơ sở của liên minh chiến đấu và quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào, Kỷ yếu hội thảo quốc tế về quan hệ Việt Nam – Lào tại Xavănnakhệt, CHDCND Lào, tr 90 – 101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc ở Đông Dương, cơ sở của liên minh chiến đấu và quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào
Tác giả: Vũ Quang Hiển
Năm: 2009
22. Học viện Quan hệ Quốc tế (2003), Quan hệ đặc biệt Việt - Lào (lưu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đặc biệt Việt - Lào
Tác giả: Học viện Quan hệ Quốc tế
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w