LỜI MỞ ĐẦUĐất nước đang chuyển mình cùng với thời đại, trong quá trình hội nhập kinh tếkhu vực và thế giới, cùng với sự tác động của quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá thươngmại quốc tế v
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ THỰC HIỆN 3
1.1- CƠ SỞ PHÁP LÝ 3
1.1.1 Luật Hàng Hải • Các văn bản quy phạm Quốc tế 3
1.1.2 Luật Hải Quan 4
1.2- CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.2.1 Khái quát chung về hoạt động giao nhận 5
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU CÔNG TY 11
2.1- Lịch sử hình thành và phát triển 11
2.2- Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự 13
2.3- Cơ sở vật chất 14
2.4- Tình hình hoạt động kinh doanh 18
2.5- Doanh thu và lợi nhuận toàn công ty 20
CHƯƠNG 3: 23
QUY TRÌNH KHAI THÁC KHO CFS HÀNG PHỤ LIỆU MAY MẶC NHẬP KHẨU 23
3.2 Quy trình khai thác hàng nhập CFS 24
3.2.1 Nhận chứng từ 24
3.2.2 Làm thủ tục Hải quan khai thác hàng CFS 24
3.2.3 Giao nhận hàng từ Cảng về kho 24
3.2.4 Đưa hàng vào kho 25
3.3 Quy tắc báo cáo 26
3.4 Các nghiệp vụ trong quá trình khai thác kho 26
3.4.1Bảo quản, lưu kho 26
3.5 Những khó khăn của công ty trong hoạt động khai thác kho 28
3.5.1 Tính thời vụ của hoạt động khai thác kho 28
3.5.3 Công việc 28
3.6 Những giải pháp hoàn thiện dịch vụ khai thác kho của công ty 28
3.6.1 Giải pháp về nguồn nhân lực 28
3.6.2 Giải pháp về thị trường 29
3.6.4 Giải pháp xúc tiến thương mại 30
3.6.6 Nâng cao chất lượng dịch vụ với giá không đổi 30
KẾT LUẬN 31
Trang 2LỜI MỞ ĐẦUĐất nước đang chuyển mình cùng với thời đại, trong quá trình hội nhập kinh tếkhu vực và thế giới, cùng với sự tác động của quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá thươngmại quốc tế việc phát triển hoạt động giao nhận vận tải quốc tế ở mỗi nước có một ýnghĩa hết sức quan trọng, tạo điều kiện làm cho sức cạnh tranh hàng hoá ở của nước đótrên thị trường quốc tế tăng lên đáng kể, đẩy mạnh tốc độ giao lưu hàng hoá xuất nhậpkhẩu với các nước khác trên thế giới, góp phần làm cho nền kinh tế đất nước phát triểnnhịp nhàng, cân đối Thời đại toàn cầu hoá các nền kinh tế và hội nhập kinh tế khuvực, mối liên hệ giữa các quốc gia về mọi phương diện kinh tế càng ngày càng gắn bóvới nhau; đặc biệt trong đó hoạt động ngoại thương đóng vai trò hết sức quan trọng.Nhiệm vụ này không thể tách rời với việc đào tạo nhân lực - yếu tố quan trọng hàngđầu của một doanh nghiệp Việc tạo ra nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở việc cungcấp các kiến thức chuyên ngành, mà cũng phải tạo ra được khả năng thích ứng cáccông việc trong thực tế và các vận dụng linh hoạt các kiến thức đó học vào trong côngviệc Do đó việc thực tập nghiệp vụ là rất cần thiết đối và hữu ích đối với sinh viên nóichung và sinh viên các ngành kinh tế nói riêng.
Được sự hướng dẫn nhiệt tình của cô Phan Thị Bích Ngọc cùng với sự giúp đỡ của quý công ty cổ phần container Việt Nam (VICONSHIP), em đã có 6 tuần thực
tập đầy ý nghĩa Trong thời gian thực tập tại công ty đã giúp chúng em có một cái nhìnđầy đủ và toàn diện hơn về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động khai thác kho CFS
và vận dụng một cách cụ thể hơn những kiến thức đã học vào trong điều kiện thực tế
Em xin được báo cáo về đề tài: ” Quy trình khai thác 1 lô hàng nhập khẩu phụ kiện may mặc tại kho CFS”.
Do chúng em chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như hiểu biết sâu rộng về các vấn
đề kinh doanh và các hoạt động ngoại thương và nghiệp vụ khai thác kho bãi nên trongmột khoảng thời gian ngắn (6 tuần) bản báo cáo thực tập của em không thể tránh khỏinhiều sai sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo đóng góp của các thầy cô để em cóthể hoàn thiện hơn về kiến thức của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ THỰC HIỆN1.1- CƠ SỞ PHÁP LÝ
1.1.1 Luật Hàng Hải
• Các văn bản quy phạm Quốc tế
Các quy phạm Quốc tế có thể kể ra như sau:
- Công ước Vienne 1980 về buôn bán Quốc Tế: Gồm 101 điều được chia làm 4 phần,gồm các điều khoản chung về phạm vi áp dụng, xác lập hợp đồng ( trình tự, thủ tục kíkết hợp đồng, mua bán hàng hóa( nghĩa vụ người bán, nghĩa vụ người mua, chuyển rủiro) và một số vấn đề mang tính chất thủ tục khi tham gia hay từ bỏ Công ước này
- Công ước Quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển, kí tạiBrussels ngày 25/08/1924: Những điều ước về người chuyên chở, hợp đồng vận tải,hàng hóa, tàu, chuyên chở hàng hóa ( định nghĩa về từng đối tượng trên, phạm vi, tráchnhiệm, của người chuyên chở, của chủ hàng hóa, của thuyền trưởng hay thủy thủ tàu,của người gửi hàng trước và sau khi hàng được xếp lên tàu, dỡ xuống tàu
- Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc vận đơn đườngbiển ( Nghị định thư Visby 1968): Sự sửa đổi, bổ sung cho Công ước Quốc tế để thốngnhất một số quy tắc luật pháp liên quan đến vận đơn kí tại brussels ngày 25/4/1924
- Công ước Liên hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển ( 1978): Gồm 34điều được chia làm 7 phần, gồm các điều khoản quy định chung, trách nhiệm củangười chuyên chở, trách nhiệm của người gửi hàng, chứng từ vận tải, khiếu nại và tíndụng
• Các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam
Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liênquan đến vận tải, xếp dỡ, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu như:
- Bộ luật Hàng Hải 1990: Gồm những quy định chung, các điều khoản về Tàu biển, antoàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường, kiểm tra dung tích tàu biển, tài liệucủa tàu, các quyền về sở hữu tàu biển, thuyền bộ, cảng biển và cảng vụ, hợp đồng vậnchuyển hàng hóa, thực hiện vận chuyển hàng hóa, dỡ hàng và trả hàng, cước phí và
Trang 4phụ phí vận chuyển, chấm dứt hợp đồng, trách nhiệm bồi thường và tổn thất hàng hóa,cầm giữ hàng hóa, hợp đồng cho thuê tàu vv
- Luật thương mại 2005 về mua bán hàng hóa và dịch vụ logistics
- Nghị định 140/207/NĐ- CP ngày 05/09/2007 Quy định chi tiết Luật thương mại vềđiều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhânkinh doanh dịch vụ Logistics
- Quyết định số 2073/ QĐ-GT ngày 06/20/1991
- Quyết định số 2016/QĐ-GTVT ngày 23/08/1997 của bộ trưởng bộ giao thông vận tải(thay thế Quyết định 2073/QĐ-GT)
1.1.2 Luật Hải Quan
- Luật Hải Quan được quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày29/06/2001 và Luật số 42/2005/QH11 ngày 14/06/2006 về sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật Hải Quan
- Nghị Định 149/2005/NĐ-CP ngày 08/12/2005 của Chính Phủ quy định chi tiếtthi hành luật thuế xuất nhập khẩu
- Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiếtmột số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
- Nghị định 155/2005/NĐ-CP ban hành ngày 15/12/2005 của Chính Phủ về việcxác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
- Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009 của Bộ Tài chính Hướng dẫn
về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vàquản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
- Thông tư 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 về hướng dẫn thi hành thuếxuất khẩu, nhập khẩu
- Thông tư 114/2005/TT-BTC ban hành ngày 15/12/2005 về hướng dẫn kiểmtra sau thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
- Quyết định 874/QĐ-TCHQ ngày 15/05/2006 về việc ban hành quy trình thủtục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thương mại Quyết định có hiệu lực thihành ngày 01/06/2006
Trang 5- Quyết định 1171/QĐ-TCHQ ngày 15/6/2009 của Tổng cục Hải quan về việcban hành quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thươngmại.
Và một số nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành khác
1.2- CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Khái quát chung về hoạt động giao nhận
1 Một số khái niệm về giao nhận:
Định nghĩa: giao nhận hàng hoá là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quanđến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hoá từ nơi gửi hàng (ngườigửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng)
Giao nhận gắn liền với vận tải, nhưng nó không phải vận tải Hoạt động giao nhận
lo liệu cho hàng hóa được vận tải đến điểm đến xác định, nhưng không phải chỉ loriêng vận tải mà còn làm những việc khác để di chuyển hàng hóa như bốc xếp, lưukho, chuyển tải, đóng gói, thủ tục, chứng từ…
Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là người giao nhận Chưa có một địnhnghĩa chính thức nào về người giao nhận được quốc tế chấp nhận Người giao nhận cóthể là chủ tàu, chủ hàng, công ty xếp dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệphay bất cứ người nào khác có đăng kí kinh doanh hoạt động giao nhận hàng hóa
* Các loại dịch vụ giao nhận hàng hoá:
- Loại dịch vụ thay mặt người gửi hàng (người xuất khẩu)
- Loại dịch vụ thay mặt người nhận hàng (người nhập khẩu)
- Dịch vụ giao nhận hàng hoá đặc biệt
- Những dịch vụ khác
2 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế
Ngày này do sự phát triển của vận tải container, vận tải đa phương thức, ngườigiao nhận không chỉ làm đại lý, người ủy thác mà còn làm cung cấp dịch vụ vận tảiđóng vai trò như một bên chính – Người chuyên chở ( Carrier)
Người giao nhận đã làm chức năng và công việc sau:
Môi giới hải quan ( Customs Broker):
Đại lý ( Agent)
Người gom hàng ( Cargo consolidator)
Trang 6 Người chuyên chở (Carrier)
Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO)
3 Phạm vi hoạt động của người giao nhận
Phạm vi các dịch vụ giao nhận là nội dung cơ bản của dịch vụ giao nhận khovận Trừ khi bản thân người gửi hàng ( hoặc người nhận hàng) muốn tự mình tham giavào bất kỳ khâu thủ tục, chứng từ nào đó, còn thông thường người giao nhận có thểthay mặt người gửi hàng ( hoặc người nhận hàng) lo liệu quá trình vận chuyển hànghóa qua các công đoạn cho đến tay người nhận cuối cùng Người giao nhận có thể làmdịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý hoặc thuê dịch vụ của người thứ bakhác
Những dịch vụ mà người giao nhận thường tiến hành là:
+ Chuẩn bị hàng hoá để chuyên chở
+ Tổ chức chuyên chở hàng hoá trong phạm vi ga, cảng,
+Tổ chức xếp dỡ hàng hoá,
+ Làm tư vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hoá,
+ Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước,
+ Làm thủ tục nhận hàng, gửi hàng,
+ Làm thủ tục hải quan,kiểm nghiệm, kiểm dịch,
+ Mua bảo hiểm cho hàng hoá,
+ Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình nhận hàng, gửi hàng,
+ Thanh toán, thu đổi ngoại tệ,
+ Nhận hàng từ chủ hàng, giao cho người chuyên chở và giao cho người nhận
+ Thu xếp chuyển tải hàng hóa
+Nhận hàng từ người chuyên chở và giao cho người nhận,
+ Gom hàng, lựa chon tuyến đường chuyên chở, phương thức vận tải và người
chuyên chở thích hợp
+ Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hoá,
+ Lưu kho, bảo quản hàng hoá,
+ Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến quá trình vận chuyển
hàng hoá,
+ Thanh toán cước phí, chi phí xếp dỡ, chi phí lưu kho, lưu bãi
Trang 7+ Thông báo tình hình đi và đến của phương tiện vận tải,
+ Thông báo tổn thất với người chuyên chở,
+ Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại, đòi bồi thường
4 Địa vị pháp lý của người giao nhận:
Khái niệm về lĩnh vực giao nhận còn mới mẻ, do đó còn thiếu các văn bản phápquy, quy định địa vị pháp lý của người giao nhận Vì vậy, địa vị pháp lý của người giaonhận thường không giống nhau ở các nước khác nhau
- Tại các nước theo luật tập tục (Common Law) phổ biến thuộc khối liên hiệp Anh,địa vị pháp lý của người giao nhận thường dựa trên khái niệm Đại lý, đặc biệt là đại lý
ủy thác Người giao nhận thường là đại lý của người ủy thác (người gửi hàng hayngười nhận hàng) trong việc thu xếp vận chuyển hàng hóa Do đó người giao nhận:trung thực với người ủy thác, phải tuân theo các chỉ dẫn hợp lý và có tính khả năng tínhtoán cho toàn bộ quá trình giao dịch
Với vai trò là đại lý, người giao nhận được hưỏng quyền bảo vệ và giới hạn tráchnhiệm
Tuy nhiên, khi không còn là người đại lý mà đóng vai trò là người ủy thác thì ngườigiao nhận sẽ không còn quyền đó nữa mà lúc này phạm vi trách nhiệm của anh ta sẽtăng lên Lúc này người giao nhận đã trở thành một bên chính thức của hợp đồng vàphải hoàn toàn chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ hợp đồng đã ký Thực tế, địa vị pháp
lý của người giao nhận phụ thuộc vào loại dịch vụ mà anh ta đảm nhận
- Tại các nước theo luật dân sự (Civil Law):
Hệ thống này rất chặt chẽ, được ban hành bằng văn bản cụ thể Theo luật này,người giao nhận thường lấy danh nghĩa của mình giao dịch cho công việc của người ủythác (người gửi hàng hay người nhận hàng) và đối với người chuyên chở thì họ làngười ủy thác
Ngoài ra, tại một số nước đã thông qua điều kiện kinh doanh chuẩn thì địa vị pháp
lý cũng như nghĩa vụ và quyền hạn của người giao nhận được quy định rõ ràng tronghợp đồng Các điều kiện này hoàn toàn phù hợp với tập quán thương mại hay thể chếpháp lý hiện hành
1.2.2 Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng biển
Trang 8- Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng là do cảng tổ chức thực hiện Trường hợpchủ hàng muốn đưa phương tiện vào xếp dỡ thì phải thoả thuận với cảng và phải trảcác lệ phí, chi phí liên quan cho cảng.
- Khi được uỷ thác giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu với tầu, cảng nhận hàng bằngphương thức nào thì phải giao hàng bằng phương thức đó
- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hoá khi hàng đã ra khỏi kho bãi, cảng
- Khi nhận hàng tại cảng thì chủ hàng hoặc người được uỷ thác phải xuất trình nhữngchứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận hàng và phải nhận được một cách liên tụctrong một thời gian nhất định những hàng hoá ghi trên chứng từ
Ví dụ: vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan
- Việc giao nhận có thể do cảng làm theo uỷ thác hoặc chủ hàng trực tiếp làm
2 Nhiệm vụ của các cơ quan tham gia giao nhận hàng hoá XNK
- Giao hàng xuất khẩu cho tầu và nhận hàng nhập khẩu từ tầu nếu được uỷ thác
- Kết toán với tầu về việc giao nhận hàng hoá và lập các chứng từ cần thiết khác đểbảo vệ quyền lợi của các chủ hàng
Trang 9- Giao hàng nhập khẩu cho các chủ hàng trong nước theo sự uỷ thác của chủ hàng xuấtnhập khẩu.
- Tiến hành việc xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho trong khu vực cảng
- Chịu trách nhiệm về những tổn thất của hàng hoá do mình gây nên trong quá trìnhgiao nhận vận chuyển xếp dỡ
- Hàng hoá lưu kho bãi của cảng bị hư hỏng, tổn thất thì cảng phải bồi thường nếu cóbiên bản hợp lệ và nếu cảng không chứng minh được là cảng không có lỗi
- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hoá trong các trường hợp sau:
+ Không chịu trách nhiệm về hàng hoá khi hàng đã ra khỏi kho bãi của cảng.
+ Không chịu trách nhiệm về hàng hoá ở bên trong nếu bao kiện, dấu xi vẫn nguyên vẹn
+ Không chịu trách nhiệm về hư hỏng do kỹ mã hiệu hàng hoá sai hoặc không rõ (dẫn đến nhầm lẫn mất mát)
b) Nhiệm vụ của các chủ hàng xuất nhập khẩu
- Ký kết hợp đồng uỷ thác giao nhận với cảng trong trường hợp hàng qua cảng
- Tiến hành giao nhận hàng hoá trong trường hợp hàng hoá không qua cảng hoặc tiếnhành giao nhận hàng hoá XNK với cảng trong trường hợp hàng qua cảng
- Ký kết hợp đồng bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho hàng hoá với cảng
- Cung cấp cho cảng những thông tin về hàng hoá và tầu
- Cung cấp các chứng từ cần thiết cho cảng để cảng giao nhận hàng hoá:
* Ðối với hàng xuất khẩu: gồm các chứng từ:
+ Lược khai hàng hoá (cargo manifest): lập sau vận đơn cho toàn tầu, do đại lý tầu biển làm được cung cấp 24h trước khi tầu đến vị trí hoa tiêu
+ Sơ đồ xếp hàng (cargo plan) do thuyền phó phụ trách hàng hóa lập, được cung cấp 8h trước khi bốc hàng xuống tầu.
Các chứng từ này đều phải cung cấp 24h trước khi tầu đến vị trí hoa tiêu
- Theo dõi quá trình giao nhận để giải quyết các vấn đề phát sinh
- Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình giao nhận để có cơ sở khiếu nại các bên
có liên quan
- Thanh toán các chi phí cho cảng
3 Nhiệm vụ của hải quan
Trang 10- Tiến hành thủ tục hải quan, thực hiện việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quanđối với tầu biển và hàng hoá xuất nhập khẩu
- Ðảm bảo thực hiện các quy định của Nhà nước về xuất nhập khẩu, về thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu
- Tiến hành các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, điều tra và xử lý hành vi buôn lậu,gian lận thương mại hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối, tiền Việt namqua cảng biển
Trang 11CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU CÔNG TY 2.1- Lịch sử hình thành và phát triển
CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI CONTAINER VIỆT NAM (VICONSHIP) làmột trong những hãng Đại lý Tàu biển và Vận tải hàng đầu chính thức hoạt động từnăm 1985
VICONSHIP luôn cam kết đem đến những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.Công ty có đội ngũ nhân viên giỏi, giàu kinh nghiệm và năng lực tiếp cận thị trườngthế giới nhằm đáp ứng những nhu cầu không ngừng thay đổi của khách hàng
VICONSHIP có hệ thống cảng container, kho bãi, đội xe riêng phục vụ cho cácdịch vụ vận chuyển hàng hóa thông thường và hàng container ở cả 3 miền Bắc, Trung,Nam Cung cấp đầy đủ phương tiện cho tất cả các phương thức dịch vụ hàng hóa Tạomối liên hệ gắn kết giữa người gửi, người nhận và chủ hàng là điều mà công ty cốgắng hết sức để đạt được
Phương châm hoạt động của công ty là "luôn nỗ lực hết mình để giải quyết mọivấn đề liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá của khách hàng"
VICONSHIP được những người gửi hàng, nhận hàng và các nhà điều hành vậntải đa phương thức biết đến như một doanh nghiệp vận tải đáng tin cậy và có uy tíntrong nhiều năm qua
Với đội ngũ nhân viên và các nhà quản lý được đào tạo chuyên nghiệp và giàukinh nghiệm trong lĩnh vực tàu biển và tiếp vận, Viconship đã ứng dụng thành công
Hệ thống Quản lý Chất lượng theo Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001-2000 và được chứngnhận bởi SGS-UKAS ( Thụy Sĩ ) từ tháng 05/2001
Với kinh nghiệm và uy tín trong lĩnh vực quản lý cảng biển và kho bãi, Công ty
đã được Chính phủ Việt Nam cấp giấy phép cho thành lập địa điểm thông quan vàongày 10/09/1999 Địa điểm thông quan này có chức năng quản lý hoạt động kê khaihải quan đối với tất cả hàng hóa xuất nhập khẩu qua khu vực Hải Phòng
Trụ sở chính tại : 11 Võ Thị Sáu Quận Ngô Quyền Thành Phố Hải Phòng Việt Nam
-Tóm tắt lịch sử :
1985 : Ngày 27/7/1985 công ty được thành lập, tên ban đầu "Công ty Container ViệtNam"
Trang 121992 : Mở chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh, sau đó tách ra và trở thành công ty độc lậptrực thuộc Vinalines (Viconship Sài Gòn) Công ty Container Việt Nam đổi tên thành
"Công ty Container Phía bắc Việt Nam" (Viconship Hải Phòng)
1995 : Thành lập Công ty liên doanh với 5 hãng Nhật Bản : (Kanematsu Corp - HondaTrading Corp - Suzue Corp - Meiko Trans Corp - Kamigumi Corp.) "Công ty liêndoanh Việt - Nhật"(VIJACO)
1996 : Tháng 4/1996 thành lập Công ty thành viên tại Hải Phòng "Công ty dịch vụgiao nhận vận chuyển Container Quốc tế"
1997 : Mở chi nhánh mới tại TP Hồ Chí Minh tái thành lập mang tên "Viconship HồChí Minh"
2000 : Thành lập công ty thành viên tại Đà Nẵng "Công ty TNHH Container MiềnTrung"
2001 : Thành lập công ty thành viên tại TP Hồ Chí Minh "Công ty đại lý MSC"
2002 : Tháng 4/2002 Viconship Hải Phòng được cổ phần hoá và trở thành Công ty cổphần với tên gọi "Công ty CP Container Việt Nam"
2004 : Tháng 3/2004 Thành lập " Công ty TNHH tuyến TS"
2004 : Tháng 9/2004 đưa cảng của Viconship (GreenPort) vào hoạt động
2006 : Tháng 3/2006 đưa thêm cầu cảng số 2 vào khai thác, nâng cao khả năng khaithác của cảng GreenPort
2006 : Tháng 8/2006 Thành lập "Công ty TNHH vận tải Toàn Cầu Xanh"
2007 : Tháng 10/2007 đổi tên "Công ty dịch vụ giao nhận vận chuyển Container Quốctế" thành "Công ty TNHH vận tải biển Ngôi Sao Xanh"
2008 : Tháng 1/2008 chính thức giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM
2008 : Tháng 2/2008 đưa thêm cầu sà lan với chiều dài 51,5m nằm liền kề với cầucảng số 1 và số 2 vào khai thác
2009 : Góp vốn vào " Công ty cổ phần Tiếp Vận Tương Lai
2009 : Tháng 4/2009 Mở chi nhánh mới tại Quảng Ninh
2012 : Tháng 1/2012 Đưa sà lan trọng tải 72 TEUs đầu tiên (GS05) vào khai thác, vàtháng 3/2012 đưa sà lan số 2 (GS11) cùng trọng tải vào khai thác
2012 : Tháng 9/2012 Thành lập Công ty TNHH MTV Bến Xanh (Green Depot)
2012 : Tháng 11/2012 Đưa trung tâm Logicstics xanh (diện tích 8,6 Ha) tại khu côngnghiệp Đình Vũ vào khai thác
Trang 132.2- Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự
Hội đồng quản trịBan kiểm soát
Ban tổng giám đốc
Công ty TNHH MTV
Viconship TP.HCM
Phòng đại lýPhòng vật tưPhòng kĩ thuậtPhòng tổng hợp
Trang 14- Điểm hoa tiêu : 20o40’00N- 106o50’00E.
- Chiều dài luồng : 30 Km
- Thuỷ triều : Nhật triều, chênh lệch cao nhất 4,23 m
- Cỡ tàu lớn nhất có thể tiếp nhận : 10,000 DWT/cầu