1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, đánh giá những thuận lợi, khó khăn khi tham gia phụ lục VI công ước marpol 7378 và đề xuất các giải pháp triển khai áp dụng các quy định của phụ lục tại việt nam

44 660 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 99,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phụ lục VI, Công ước MARPOL 73/78 là một trong những yêu cầu cấpbách, góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường và các tác động khác của ngànhHàng hải thế giới nói chung và ngành Hàng hải của

Trang 1

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này Em xin chân thành cảm ơn các thầy côgiáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và rèn luyện ở Viện Môi Trường, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Th.s Trần Anh Tuấn đã tậntình, chu đáo hướng dẫn em thực hiện đề tài này

Dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách tốt nhất Nhưng do lầnđầu làm quen với công tác nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu thực tế cũng như hạnchế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhấtđịnh mà bản thân chưa nhận thấy được Em rất mong nhận được sự góp ý củaquý Thầy, Cô giáo để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hải Phòng, ngày 5 tháng 12 năm 2015

Sinh viên

Đinh Văn Mạnh

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU vi

1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI VÀ CÔNG ƯỚC MARPOL 1 1.1 Tổng quan về hoạt động hàng hải Việt Nam 1

1.1.1 Tổng quan hoạt động hàng hải Việt Nam 1

1.1.2 Những tác động tới môi trường của hoạt động hàng hải 5

1.2 Tổng quan về công ước MARPOL 8

1.2.1 Giới thiệu công ước MARPOL 8

1.2.2 Các quy định của phụ lục VI 16

1.3 Tình hình tham gia công ước MARPOL trên thế giới 21

2 ĐÁNH GIÁ NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA PHỤ LỤC VI CÔNG ƯỚC MARPOL 23

2.1 Những thuận lợi khi tham gia Phụ lục VI Công ước MARPOL 23

2.1.1 Thuận lợi trong công tác bảo vệ môi trường 23

2.1.2 Thuận lợi trong công tác quản lý 23

2.1.3 Thuận lợi đối với các doanh nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, các doanh nghiệp vận tải hàng hải 24

2.2.1 Khó khăn về môi trường 25

2.2.2 Khó khăn về quản lý đối với các cơ quan quản lý 25

2.2.3 Khó khăn đối với các doanh nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, các doanh nghiệp vận tải hàng hải 26

3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI PHỤ LỤC VI CÔNG ƯỚC MARPOL 28

Trang 3

3.1 Các giải pháp về thể chế, chính sách 28

3.2 Các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 29

3.2.1 Cập nhật kiến thức nhằm đáp ứng nguồn nhân lực thực thi các nội dung Phụ lục VI khi Việt Nam gia nhập Công ước MARPOL đầy đủ 29

3.2.2 Về nội dung chương trình đào tạo Phụ lục VI – MARPOL 30

3.2.3 Tăng cường năng lực cho việc phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện khi gia nhập Phụ lục VI MARPOL 31

3.2.4 Thời gian thực hiện Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thực hiện khi gia nhập Phụ lục VI 31

3.3 Các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật 32

3.4 Các giải pháp về phát triển phương tiện tiếp nhận 33

3.5 Các giải pháp về quản lý 34

3.6 Các giải pháp về cơ chế tài chính 34

3.7 Các giải pháp về kiểm soát, giảm thiểu, xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động hàng hải 35

3.8 Các giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường biển 35

KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 4

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

BGTVT Bộ Giao thông vận tải

BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường

CNTT Công nghiệp tàu thủy

ĐKVN Đăng kiểm Việt Nam

IMO International Maritime Organization

Tổ chức Hàng hải Quốc tế

NMĐT Nhà máy đóng tàu

Kiểm tra nhà nước cảng biểnQCVN Quy chuẩn Việt Nam

SEEMP Ship Energy Efficiency Management Plan

Kế hoạch quản lý năng lượng hiệu quả của tàu

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tên bảng Trang

1.1 Các chỉ tiêu hàng hóa và vận tải biển qua các năm 31.2 Nội dung các phụ lục của Công ước Quốc tế Marpol 91.3 Những thay đổi của Công ước Quốc tế Marpol 10

Trang 6

Để có thể phát triển kinh tế biển một cách bền vững, trong thời gian vừaqua, Việt Nam đã tham gia một số Công ước liên quan đến biển nhằm ngăn chặn

và giảm thiểu tối đa ô nhiễm biển, nổi trội nhất là Công ước quốc tế về ngănngừa ô nhiểm do tàu gây ra (MARPOL) Công ước MARPOL là một trongnhững công ước chính của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) Tháng 9/1997, Tổchức Hàng hải Quốc tế IMO đã bổ sung vào Công ước MARPOL 73/78 Phụ lục

VI – Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm không khí do tàu gây ra

Phụ lục VI, Công ước MARPOL 73/78 là một trong những yêu cầu cấpbách, góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường và các tác động khác của ngànhHàng hải thế giới nói chung và ngành Hàng hải của Việt Nam nói riêng

Mặc dù hiện nay, Việt Nam chưa gia nhập phụ lục VI - Công ướcMARPOL 73/78, song Chính phủ Việt Nam đã có những động thái tích cựctrong việc triển khai thực hiện các yêu cầu của Phụ lục này Để đảm bảo thựchiện tốt các yêu cầu của Công ước MARPOL, Việt Nam cần tiến hành xây dựngcác giải pháp kỹ thuật cũng như pháp lý để các cảng có thể từng bước thực hiệnđược công tác tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu

Em chọn đề tài “Nghiên cứu, đánh giá những thuận lợi, khó khăn khi tham gia phụ lục VI công ước Marpol 73/78 và đề xuất các giải pháp triển khai áp dụng các quy định của phụ lục tại Việt Nam ” bởi đây là một trong

những yêu cầu cấp thiết đối với hoạt động hàng hải trong thời kỳ hội nhập, hoàntoàn phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật Nhànước về bảo vệ môi trường, sẽ góp phần to lớn cho việc xây dựng và hoàn thiệnkhung chính sách, pháp luật, thúc đẩy và xây dựng ý thức pháp luật về bảo vệmôi trường biển

Trang 7

1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI VÀ CÔNG ƯỚC

MARPOL

1.1 Tổng quan về hoạt động hàng hải Việt Nam

1.1.1 Tổng quan hoạt động hàng hải Việt Nam

1.1.1.1 Vận tải biển

Tính đến 31/12/2012, đội tàu biển Việt Nam gồm 1755 tàu các loại, vớitổng dung tích hơn 4.3 triệu GT và tổng trọng tải hơn 6.9 triệu DWT Tăng cả

về dung tích và trọng tải so với cùng kỳ năm 2011

Mặc dù vẫn là lực lượng chủ lực trong vận tải hàng xuất nhập khẩu, trêntuyến Bắc - Nam Song chịu ảnh hưởng mạnh của sự suy giảm chung của thếgiới và khu vực: Mức độ tăng trưởng bình quân hàng năm về sản lượng vận tải

đã sút giảm nhiều 19,6%/ năm giai đoạn 2002 - 2008 còn 17,00% năm 2009 và4,41% năm 2012; Mức độ tăng trưởng hàng hóa vận tải biển của đội tàu ViệtNam những năm gần đây

 Sản lượng chung: Năm 2009 đạt17,00%, năm 2012 còn 4,41%;

 Vận tải trong nước: Năm 2009 đạt 26,47%, năm 2012 còn 2,72%;

 Vận tải nước ngoài:Năm 2010 đạt 17,31%, năm 2012 còn 5,18%

“Năm 2012 thị trường vận tải biển thế giới chưa thực sự phục hồi như dựbáo mà tiếp tục đi xuống và tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến thị trường vận tảitrong nước Thị trường thế giới khó khăn, giá nhiên liệu tăng cao, thị trườngtrong nước thu hẹp, sức mua giảm mạnh, hàng tồn kho lớn v.v…Điều này ảnhhưởng rất lớn đến thị trường vận tải biển Nhiều doanh nghiệp vận tải biển vàotình trạng bị nợ quá hạn kéo dài, nguy cơ dẫn đến phá sản Tình trạng tàu biển

và thuyền viên bị bỏ rơi diễn ra khá phố biến với tần xuất ngày càng tăng” (Cục

Hàng hải Việt Nam (2012), Đề án nghiên cứu, đánh giá hiện trạng, đề xuất quy

hoạch và triển khai xây dựng các công trình tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu đáp ứng yêu cầu của công ước MARPOL và các quy định của pháp luật liên quan)

Trang 8

Đến 8 tháng năm 2013, đội tàu biển Việt Nam gồm 1.789 tàu các loại, vớitổng dung tích 4.332.454 GT và tổng trọng tải 6.889.539 DWT, tăng cả về dungtích và trọng tải so với cùng kỳ năm 2012.

Trong 9 tháng năm 2013, thị trường vận tải biển thế giới vẫn chưa phụchồi, giá nhiên liệu vẫn tiếp tục tăng, thị trường trong nước dần thu hẹp, lượnghàng tồn kho lớn, … Điều này ảnh hưởng rất lớn đến thị trường vận tải biển.Nhiều doanh nghiệp vận tải biển lâm vào tình trạng bị nợ quá hạn kéo dài, nguy

cơ dẫn đến phá sản

Tình trạng nhiều tàu neo đậu dài ngày dẫn đến nguy cơ mất an toàn, anninh hàng hải tại các khu vực cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh, TP HCM,Vũng Tàu, Nha Trang, tình trạng tàu biển và thuyền viên bị bỏ rơi vẫn diễn rakhá phổ biến

1.1.1.2 Hệ thống cảng biển

Trong năm 2012, hệ thống cảng biển Việt Nam đã đón nhận 98901 nghìnlượt tàu biển Việt Nam và nước ngoài Một số cảng đầu tư xây dựng và đưa vàokhai thác đúng thời điểm kinh tế suy thoái nên gặp khó khăn về nguồn hàng,nhiều cảng hoạt động dưới công suất thiết kế, xuất hiện tình trạng cạnh tranh hạgiá dịch vụ làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của các doanh nghiệp và quốc gia.Một số cảng xây dựng xong nhưng thiếu hạ tầng kết nối, công tác di rời dịchchuyển quy hoạch các cảng chậm so với tiến độ, thủ tục hành chính tại một sốkhu vực cảng biển thiếu thông thoáng, dịch vụ logistics phát triển còn manhmún

Trong 9 tháng năm 2013, hệ thống cảng biển Việt Nam đã đón nhận hơn

61 nghìn lượt tàu biển Việt Nam và nước ngoài Sản lượng hàng hoá thông qua

hệ thống cảng biển đã có dấu hiệu phục hồi, đó cũng là thành công trong giaiđoạn kinh tế khó khăn hiện nay

1.1.1.3 Đóng mới và sửa chữa tàu biển

Tính đến tháng 08/2013, trên toàn lãnh thổ Việt Nam có khoảng 120 nhàmáy đóng tàu trọng tải từ 1.000DWT trở lên Tuy nhiên do nhiều lí do, trong đó

có sự yếu kém trong quản lý, thiếu tinh thần trách nhiệm và sự phát triển nóng,dàn trải của Tập đoàn CNTT trong thời gian vừa qua đã bộc lộ nhiều hạn chế,chưa phát huy tốt hiệu quả đầu tư, trong khi khối các doanh nghiệp nước ngoài,

Trang 9

doanh nghiệp tư nhân và các nhà máy đóng tàu thuộc các Tổng công ty khác vẫnhoạt động hiệu quả, điển hình là Nhà máy tàu biển Huyndai Vinashin, Công tyTNHH MTV chế tạo thiết bị và đóng tàu Hải Phòng đang tham gia đáng kể vàothị trường tàu xuất khẩu.

Công nghệ của các nhà máy đã được chú trọng đầu tư đổi mới, nhưng cònchậm, chưa đồng bộ; khả năng tự động hóa, cơ giới hóa chưa cao; năng suất vàsức cạnh tranh của sản phẩm vẫn còn nhiều hạn chế Hầu hết các trang thiết bị,vật tư phục vụ đóng tàu vẫn phải nhập khẩu Công tác đào tạo, nghiên cứu thiết

kế, thí nghiệm mô hình tàu thủy, đăng kiểm tàu biển đã có nhiều tiến bộ nhưngvẫn chưa đáp ứng được yêu cầu

1.1.1.4 Các dịch vụ hàng hải khác

Dịch vụ logistics, các dịch vụ hỗ trợ hàng hải (dịch vụ đại lý, môi giới )tiếp tục được duy trì và phát triển Vai trò của các hiệp hội ngành, nghề hàng hảiđược phát huy nâng cao Trong 9 tháng năm 2013, các hiệp hội, kịp thời có ýkiến với các cơ quan có thẩm quyền trong việc tháo gỡ vướng mắc, phát sinhtrong hoạt động dịch vụ, giúp doanh nghiệp, người lao động giảm bớt một phầnkhó khăn và phát triển kinh doanh

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu hàng hóa và vận tải biển qua các năm

Trang 11

1.1.2 Những tác động tới môi trường của hoạt động hàng hải

1.1.2.1 Tác động đến môi trường không khí

Hoạt động của tàu biển là một trong những nguồn nhân tạo đóng góp đáng

kể vào sự ô nhiễm không khí Chất lượng của tàu biển Việt Nam thường khôngcao, nhiều phương tiện đã quá cũ, lạc hậu, hiệu suất đốt cháy nhiên liệu thấp vàchưa có hệ thống xử lý khí thải nên đã phát thải vào không khí nhiều khí độc.Các chất gây ô nhiễm môi trường không khí phát sinh từ hoạt động của tàu biểngồm bụi và các khí độc SO2, CO2, CO, NO2, CxHy

Ô nhiễm không khí gia tăng do hoạt động của tàu biển sẽ tácđộng đến bầu khí quyển, đến đời sống của sinh vật và thậm chí còn là nguyênnhân gây ra sự di cư đối với nhiều loại động vật nhạy cảm với sự thay đổi củamôi trường không khí

1.1.2.2 Tác động đến môi trường nước

Sự cố tràn dầu

Đây là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm sông, biển, các dải ven

bờ nghiêm trọng nhất Sự cố tràn dầu thường do các tai nạn tàu thuyền gây ra.Thông thường, nguyên nhân gây tai nạn tàu thuyền là do các tàu đâm va nhau,

Trang 12

đâm vào cầu cảng, mắc cạn, … đặc biệt khi xảy ra bão, lốc xoáy, gió lớn Trungbình có khoảng 400.000 tấn dầu đổ xuống sông, biển hàng năm do tai nạn tàuthuyền, sự cố dàn khoan dầu khí trên biển

Dầu thải la canh tàu biển

Dầu thải la canh tàu biển là một thuật ngữ chỉ hỗn hợp nước lẫn dầu chứatrong khoang chứa la canh của tàu Dầu sử dụng trên tàu biển gồm hai loại làdầu nhiên liệu (dầu DO) và dầu bôi trơn (dầu LO) Các loại dầu này được chứatrong các két chứa dưới đáy tàu Trong quá trình tàu chạy trên biển, dầu nhiênliệu được sấy nóng và dẫn bằng đường ống đến máy tàu Trong quá trình dầuchảy trong ống dẫn có thể bị rò rỉ ra bên ngoài qua đường ống do đường ống bị

rò rỉ hoặc qua các khớp nối, van có khuyết tật hoặc do sự cố kỹ thuật Nước làmmát rò rỉ cũng được thu gom chung về két chứa nước la canh gọi chung là dầuthải la canh

Đối với những con tàu chạy tuyến quốc tế khi tàu đang trong hành trìnhtrên biển, dầu thải la canh được xử lý bằng cách dẫn qua máy phân ly dầu - nước

để tách dầu Khi nước thải đạt hàm lượng dầu trong nước nhỏ hơn 15 ppm đượcbơm xuống biển cách bờ 20 hải lý theo quy định của Công ước Quốc tế về ngănngừa ô nhiễm do tàu gây ra (Công ước MARPOL 73/78) Tuy nhiên, Khi tàucập các cảng nằm sâu trong lục địa thời gian từ lần bơm la canh gần nhất đến khicập bến kéo dài nên lượng nước la canh lớn do vậy các tàu này có nhu cầu xả tạicác cảng Cũng theo quy định của MARPOL 73/78 các cảng phải có phươngtiện và thiết bị thu gom dầu la canh đảm bảo đáp ứng yêu cầu xả thải của tàu

Đối với những tàu cũ, tàu chạy ven biển, tàu sông thậm chí không đượctrang bị máy phân ly dầu - nước thì dầu thải la canh được thu gom để thải tạicảng gần nhất Tuy nhiên, nhiều trường hợp người vận hành tàu đã thải trực tiếpxuống vùng biển tàu đang hành trình Do vậy, để bảo vệ môi trường cần phảiquản lý tốt loại dầu thải này

Tuy nhiên, trên thực tế tại các cảng biển của Việt Nam công tác quản lýdầu thải la canh còn yếu Theo kết quả điều tra của các cảng vụ hàng hải chothấy hầu hết các cảng biển trên toàn quốc đều chưa có cơ sở tiếp nhận, xử lýchất thải từ tàu nói chung và dầu thải la canh nói riêng Do đó các tàu dầu, tàuhoá chất, tàu hàng khi vệ sinh hầm hàng và khi có nhu cầu xả chất thải và dầu

Trang 13

thải la canh đều không thể thực hiện được tại các cảng biển Việt Nam hay thải

bỏ không đúng quy định Trong khi đó việc kiểm soát việc thải bỏ dầu thải lacanh còn hạn chế Mặt khác, dịch vụ thu gom chất thải từ tàu biển còn mang tínhthủ công, manh mún chưa đồng bộ hiện đại để có thể phòng chống ô nhiễm cóhiệu quả, công tác thu gom mới chú trọng đến hiệu quả kinh tế, chưa quan tâmđến vấn đề bảo vệ môi trường

Do hạn chế về năng lực thu gom và cơ sở hạ tầng cho xử lý dầu cặn nênlượng dầu cặn thu gom được còn ít hơn lượng dầu cặn cần thải

Số lượng dầu cặn và nước thải chứa dầu từ các tàu nước ngoài lớn hơnkhá nhiều so với các tàu trong nước Như vậy, ý thức chấp hành Luật bảo vệ môitrường và các công ước quốc tế Việt Nam tham gia còn hạn chế nhiều đối vớitàu biển nội địa

Nước dằn

Các loài sinh vật biển được vận chuyển và thâm nhập vào môi trường mớithông qua hoạt động chở nước dằn của tàu biển hoặc dính vào vỏ tàu là mộttrong những nguồn đe dọa đến môi trường biển Sự xuất hiện của các loài sinhvật mới có thể làm nhiễu loạn hệ sinh thái bản địa, gây ra hậu quả lớn đến đadạng sinh học

1.2 Tổng quan về công ước MARPOL

1.2.1 Giới thiệu công ước MARPOL

1.2.1.1 Sự ra đời của công ước quốc tế MARPOL

“Năm 1921, tại Anh, đại diện các chủ tàu, ngành công nghiệp dầu mỏ và

Trang 14

các cảng vụ đã tổ chức hội nghị đầu tiên về vấn đề ô nhiễm do dầu gây ra và cácbiện pháp phòng ngừa

Năm 1926, tại Washington đã tổ chức một hội nghị quốc tế về ngăn ngừa

ô nhiễm do dầu Trong hội nghị này đã đưa ra quy định về các vùng biển và bờbiển mà tàu thủy không được phép xả dầu; đồng thời yêu cầu việc trang bị cácthiết bị phân ly - lọc nước lẫn dầu buồng máy trên tàu Tuy nhiên các quy địnhnày không được các đại diện tham gia hội nghị chấp nhận

Năm 1954, đại diện của 33 quốc gia có tồng dung tích đội tàu trên100.000 và 10 quan sát viên đã nhóm họp hội nghị về ngăn ngừa ô nhiễm do dầugây ra và công ước OILPOL 54 đã được thông qua Công ước bắt đầu có hiệulực từ ngày 26/07/1958

Từ khi chính thức được thành lập năm 1959, tổ chức hàng hải quốc tếIMO, nhiệm vụ cập nhật và bổ sung sửa đồi OILPOL 54 đã được giao cho IMO.Một trong những nhiệm vụ đầu tiên IMO thực hiện là tiến hành điều tra trênphạm vi toàn thế giới nghiên cứu các biện pháp chống lại ô nhiễm dầu

Tháng 11/1969, một lần nữa công ước OILPOL 54 được bổ sung sửa đổitrên quy mô lớn

Năm 1972 thông qua Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển, đến năm

1973 Công ước này đi vào hiệu lực, từ đó có tên MARPOL (Marine PollutionPrevention) 73 Tiếp đó bổ sung một số vấn đề bằng nghị định thư 1978 và đếnnay Công ước được gọi là MARPOL” (Cục Đăng kiểm Việt Nam (2006),

MARPOL 73/78 (Consolidated Edition 2006))

1.2.1.2 Nội dung tóm tắt của công ước quốc tế MARPOL

Công ước MARPOL bao gồm:

1) Nghị định thư:

- Nghị định về việc báo cáo các sự việc liên quan đến thải các chất độc hại

do tai nạn, thải các chất các chất độc hại ở dạng bao gói hoặc thải các chấtđộc hại vượt quá mức độ cho phép

- Nghị định về thủ tục trọng tài trong trường hợp xảy ra tranh chấp có liên

quan đến việc giải thích hoặc áp dụng công ước (hay còn gọi là nghị địnhthư trọng tài)

Trang 15

2) 6 phụ lục (bao gồm các yêu cầu kỹ thuật về ngăn ngừa ô nhiễm do cácnguyên nhân khác nhau).

Bảng 1.2 Nội dung các phụ lục của Công ước Quốc tế Marpol

Phụ lục I Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu 02/10/1983Phụ lục II Các quy định về kiểm soát ô nhiễm do chất

Phụ lục III Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do các

chất độc hại được chở trong bao hoặc gói 01/07/1992

Phụ lục IV Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do

Phụ lục V Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do rác

Phụ lục VI Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm không

Từ ngày ra đời đến nay các phụ lục thường xuyên được sửa đổi, bổ sungcho phù hợp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của độitàu

Các bổ sung sửa đổi của Công ước MARPOL:

Từ khi ra đời đến nay, Công ước MARPOL đã có những thay đổi như sau:

Trang 16

Bảng 1.3 Những thay đổi của Công ước Quốc tế Marpol

TT Tên bổ sung sửa

đổi

Ngày thông qua

Ngày có hiệu lực Nội dung chủ yếu

4 Bổ sung sửa đổi

1985 (Nghị định I) 05/12/1985 06/04/1987

Sửa đổi Nghị định I của Công ước: Quy trình báo cáo khi xảy ra việc các chất độc hại ở dạng bao gói

5 Bổ sung sửa đổi

1987 (Phụ lục I) 01/12/1987 01/04/1989

Sửa đổi Phụ lục I: Vịnh Aden được quy định là vùng đặc biệt

6 Bổ sung sửa đổi

1989 (Phụ lục II) 17/03/1989 13/10/1990

Sửa đổi Phụ lục II: bổ sung sửa đổi danh mục các hóa chất

7 Bổ sung sửa đổi

1989 (Phụ lục V) 17/10/1989 18/12/1991

Sửa đổi Phụ lục V: biển Bắc được quy định là vùng đặc biệt

11 Bổ sung sửa đổi

1991 (Phụ lục I và

V)

06/03/1992 04/04/1993 Sửa đổi Phụ lục I: Thêm

quy định 26 về SOPEP.Sửa đổi phụ lục V: vùng

Trang 17

Caribe mở rộng được quy định là vùng đặc biệt.

12 Bổ sung sửa đổi

1992 (Phụ lục II) 30/10/1992 01/07/1994

Sửa đổi phụ lục II:

+ Bổ sung sửa đổi danh mục các hóa chất

+ Biển Nam cực quy định

15 Bổ sung sửa đổi

1994 (Phụ lục V) 14/09/1995 03/03/1996

Sửa đổi phụ lục I, II, III

và IV: yêu cầu đối với hoạt động kiểm soát của Chính quyền cảng

16 Bổ sung sửa đổi

1996 (Nghị định I) 10/07/1996

Sửa đổi Phụ lục 5: các hướng dẫn bổ sung đối với kế hoạch quản lý rác

17 Bổ sung sửa đổi

1997 (Phụ lục I) 25/07/1997 01/02/1999

Sửa đổi Phụ lục I:

+ Vùng biển Tây Bắc châu Âu được quy định là vùng đặc biệt

+ Yêu cầu bổ sung đối với

ổn định tai nạn của tàu dầu hai vỏ

18 Nghị định thư

1997 (Phụ lục VI) 26/09/1997

Chưa có hiệu lực

Đưa Phụ lục VI có liên quan đến ngăn ngừa ô nhiễm do khí thải của tàu vào Công ước

19 Bổ sung sửa đổi 13/03/2000 01/01/2002 Sửa đổi cho Phụ lục III

Trang 18

21 Bổ sung sửa đổi

Nội dung cơ bản của Phụ lục I bao gồm:

- Việc xả dầu ra biển bị cấm ở một số khu vực và bị hạn chế ở các khu vực

khác;

- Tàu phải thỏa mãn một số yêu cầu nhất định về kết cấu và trang thiết bị,

trên tàu phải có nhật ký dầu;

- Tàu phải được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận thỏa mãn yêu cầu của Phụ

lục I;

- Các cảng phải có các phương tiện tiếp nhận hỗn hợp dầu hoặc cặn dầu”.

(Cục Đăng kiểm Việt Nam (2006), MARPOL 73/78 (Consolidated Edition 2006))

Nội dung phụ lục II

“Phụ lục II áp dụng cho các tàu chở xô các chất lỏng độc hại

Chất lỏng độc có nguy cơ làm tổn hại đến môi trường biển được chia làm

4 loại: A, B, C, và D được nêu trong phụ chương II của Phụ lục II

Phụ lục II cấm xả xuống biển dòng thải có lẫn các chất này, trừ khi tuânthủ các quy định đặc thù cho việc thải mỗi loại chất thải

Trang 19

Phụ lục II cũng đưa ra các yêu cầu về mặt kết cấu và trang thiết bị đảmbảo kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm do chất lỏng độc chở xô” (Cục Đăng kiểm

Việt Nam (2006), MARPOL 73/78 (Consolidated Edition 2006))

Sửa đổi phụ lục II có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2007 quy định các loạichất lỏng độc chở xô là: X là chất độc hại và cấm thải; Y là chất độc hại và thảihạn chế; Z chất ít độc hại, việc thải ít hạn chế hơn; và các chất khác không gâyđộc hại thì không thuộc phạm vi áp dụng của phụ lục II

Nội dung Phụ lục III

“Phụ lục III áp dụng cho các tàu chở các chất độc hại dưới dạng bao gói.Phụ lục III cấm vận chuyển các chất độc hại trừ khi tuân thủ nghiêm ngặt cácyêu cầu đưa ra trong Phụ lục Các yêu cầu này liên quan đến việc đóng gói, dánnhãn, các hồ sơ cần thiết về hàng, sắp xếp hàng, các hạn chế về lượng hàng vàcác quy định ngoại lệ liên quan đến an toàn tàu và an toàn sinh mạng trên biển.Phụ lục III cấm việc thải xuống biển các loại hàng độc hại ở dạng bao gói, trừkhi đó là biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn cho tàu và người trên tàu.Trong trường hợp đó phải thực hiện việc khai báo theo Điều II, Nghị định I của

Công ước MARPOL 73/78” (Cục Đăng kiểm Việt Nam (2006), MARPOL 73/78 (Consolidated Edition 2006))

Theo Quy định 2 của Phụ lục III thì bao gói được quy định ở Phụ lục nàyphải phù hợp với tính chất của hàng chứa trong chúng để đảm bảo hạn chế tớimức thấp nhất nguy hiểm cho môi trường biển

Bao gói chứa chất độc hại phải được ghi chính xác tên kỹ thuật, khó phai

mờ, không được chỉ dùng tên thương mại và phải được đóng mác hoặc dán nhãnchắc chắn để chỉ ra rằng đó là chất gây ô nhiễm biển, hoặc có thể sử dụng cáchkhác bổ sung cho ký hiệu nêu trên Phương pháp đóng mác tên kỹ thuật và dánnhãn trên bao gói chứa chất độc hại phải sao cho đảm bảo rằng vẫn có thể nhậnbiết được thông tin này, cho dù bao gói có thể bị trôi nổi trên biển ít nhất batháng Khi xem xét việc đóng mác hoặc dán nhãn phải lưu ý tới độ bền của vậtliệu sử dụng và bề mặt của bao gói

Trong Phụ lục này, các bao gói hiện tại trống, nhưng trước đó được dùng

để vận chuyển chất độc hại, nếu không áp dụng các biện pháp phòng ngừa thích

Trang 20

hợp để đảm bảo không sót lại cặn thừa gây nguy hiểm cho môi trường biển thìcũng được coi như là chất độc hại.

Nội dung Phụ lục IV

“Phụ lục IV nói về Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do nước thải củatàu Những quy định của Phụ lục này áp dụng đối với các tàu hoạt động tuyếnquốc tế: Tàu mới có tổng dung tích từ 400 GT trở lên; Tàu mới có tổng dungtích nhỏ hơn 400 GT được phép chở trên 15 người; Tàu hiện có có tổng dungtích từ 400 GT trở lên, sau 5 năm kể từ ngày Phụ lục này có hiệu lực; và tàu hiện

có có tổng dung tích nhỏ hơn 400 GT, được phép chở trên 15 người, sau 5 năm

kể từ ngày Phụ lục này có hiệu lực” (Cục Đăng kiểm Việt Nam (2006),

MARPOL 73/78 (Consolidated Edition 2006))

Nội dung Phụ lục V

“Phụ lục V là Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do rác thải của tàu Phụlục V được áp dụng cho tất cả các tàu, gồm cả thuyển buồm, tàu cá và các côngtrình ngoài khơi

Việc thải rác ra biển bị cấm hoặc bị hạn chế như sau:

- Cấm thải bất kỳ các loại chất dẻo ra biển, gồm cả lưới đánh cá, dây thừng

bằng vật liệu tổng hợp và túi đựng rác bằng nhựa;

- Các vật liệu kê, chèn lót, và bao gói nổi chỉ được phép thải khi tàu cách

bờ trên 25 hải lý Các thức ăn và các loại rác khác (gồm giấy, thủy tinh,kim loại, giẻ vải, chai lọ, đồ sứ v.v…) không được phép thải cách bờ dưới

12 hải lý trừ khi chúng được mài hoặc nghiền để có thể lọt qua lớp lưới cókích thước mắc lưới không lớn hơn 25mm”

(Cục Đăng kiểm Việt Nam (2006), MARPOL 73/78 (Consolidated Edition 2006))

Trang 21

Phạm vi áp dụng của Phụ lục VI như sau:

- Tất cả các tàu không phụ thuộc vào năm đóng, vùng hoạt động và kích cỡ

tàu;

- Tất cả các tàu biển có tổng dung tích từ 400 trở lên được đóng vào hoặc

sau ngày 19/5/2005 phải được kiểm tra và chứng nhận theo yêu cầu củaPhụ lục VI

- “Đối với các tàu biển có tổng dung tích từ 400 trở lên được đóng trước

ngày 19/5/2009 phải được kiểm tra và chứng nhận không muộn hơn đợtkiểm tra đầu tiên sau ngày 19/5/2005, nhưng trong mọi trường hợp không

được muộn hơn 19/5/2008” (Cục Đăng kiểm Việt Nam (2006), MARPOL 73/78 (Consolidated Edition 2006))

Các qui định của Phụ lục này không áp dụng đối với:

- Bất kỳ phát thải nào cần thiết cho mục đích đảm bảo an toàn cho tàu hoặc

sinh mạng con người trên biển

- Bất kỳ phát thải nào là hậu quả do hư hỏng của tàu hoặc thiết bị của tàu

Hiện nay, Việt Nam đã ban hành Tiêu chuẩn về phát thải động cơ dieselvới các mức yêu cầu nghiêm ngặt về độ khói trên các phương tiện (% HSU) ởmức 1 là 85 và mức 2 là 72 (TCVN 6438-98)

Một vấn đề rất rõ là mặc dù có một số quốc gia chưa ký phụ lục VI nhưngtàu thuyền của họ vẫn chịu chi phối của Phụ lục này khi phương tiện của họ tớicác cảng của quốc gia đã phê chuẩn và tham gia Phụ lục VI (ví dụ nhưSingapore chẳng hạn)

Trang 22

Mục đích của Phụ lục VI là kiểm soát phát thải các chất làm suy giảmtầng ô zôn, oxit ni tơ (NOX), ô xít lưu huỳnh (SOX), các chất hữu cơ dễ bay hơi

và việc đốt chất thải trên tàu biển

1.2.2 Các quy định của phụ lục VI

Phụ lục VI của Công ước MARPOL 73/78 được IMO thông qua năm

1997 và đã có hiệu lực áp dụng kể từ ngày 19/5/2005 Tính đến ngày02/12/2013, trên thế giới đã có 77 quốc gia tham gia phụ lục này với dung tíchđội tàu chiếm khoảng 94,77% tổng dung tích đội tàu buôn thế giới, bao gồmBanamas, Trung Quốc, Cyprus, Hy Lạp, Nhật bản, Liberia, Malaysia, Malta,Marshall islands, Panama, Hàn Quốc, Singapore, Mỹ

Phụ lục VI của Công ước Marpol 73/78 bao gồm: 4 chương gồm 23 điều

và 7 phụ chương

“Phụ lục này đưa ra các yêu cầu nhằm kiểm soát ngăn ngừa ô nhiễm

không khí do các khí thải của tàu gây ra: khí thải của máy chính, máy phụ, của

lò đốt rác (NOx, SOx) ; các chất làm suy giảm tầng ôzôn (halon, CFC); hơihàng dễ bay hơi của các tàu chở dầu, chở khí hóa lỏng và chở hóa chất; kiểmsoát hàm lượng lưu huỳnh trong dầu nhiên liệu (không quá 4% khối lượng đốivới tàu hoạt động trong vùng biển thông thường và không quá 1,5% khối lượngđối với tàu hoạt động trong vùng "đặc biệt"); cấm việc đốt một số loại sản phẩm

hay rác trên tàu” (Cục Đăng kiểm Việt Nam (2006), MARPOL 73/78 (Consolidated Edition 2006))

Theo quy định của Phụ lục thì các động cơ diesel có công suất từ 130 KWtrở lên và các lò đốt chất thải lắp đặt trên tàu đóng từ ngày 01/01/2000 phảiđược kiểm tra và chứng nhận phù hợp với quy định của Phụ lục VI Các tàu cótổng dung tích từ 400 trở lên phải được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận ngănngừa ô nhiễm không khí quốc tế (IAPP)

Ngoại lệ, miễn giảm và tương đương: Theo quy định của Phụ lục này

chính quyền hàng hải của một thành viên có thể hợp tác với chính quyền hànghải khác miễn giảm một số điều khoản nhất định của Phụ lục này cho một tàuthực hiện thử nghiệm để phát triển công nghệ kiểm soát và giảm phát thải từ tàu

và chương trình thiết kế động cơ Việc miễn giảm như vậy chỉ được phép khi

Ngày đăng: 18/04/2016, 08:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3. Những thay đổi của Công ước Quốc tế Marpol - Nghiên cứu, đánh giá những thuận lợi, khó khăn khi tham gia phụ lục VI công ước  marpol 7378 và đề xuất các giải pháp triển khai áp dụng các quy định của phụ lục tại việt nam
Bảng 1.3. Những thay đổi của Công ước Quốc tế Marpol (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w