Quy trình tổng thể ứng phó SCTD 66 MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước, sự gia tăng của các phương tiện vận tải thủy kèm theo đó là nguy c
Trang 1MỤC LỤC
1
Trang 2và rèn luyện ở Viện Môi Trường, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn Cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Như Ngọc
đã tận tình, chu đáo hướng dẫn em thực hiện đề tài này
Dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách tốt nhất Nhưng do lầnđầu làm quen với công tác nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu thực tế cũng như hạnchế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhấtđịnh mà bản thân chưa nhận thấy được Em rất mong nhận được sự góp ý củaquý Thầy, Cô giáo để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 5 tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Vũ Tuấn Hưng
Trang 3Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và Tìm kiếm cứu nạn
BTN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
GIS Hệ thông tin địa lý (Geography Information System)
KHƯPSCTD Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu
PCP Cơ quan đầu mối tại địa phương
PCLB&TKCN Phòng chống lụt bão và Tìm kiếm cứu nạn
PVN Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam)
UBQGTKCN Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn
DANH MỤC CÁC BẢNG
3
Trang 4Bảng 2.2
Sản lượng thủy sản (nghìn tấn) của các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa năm 2014
Bảng 3.3 Các khu vực chịu tác động do sự cố dầu tràn xảy ra tại cảng, bến cá 27
Bảng 3.4
Các khu vực chịu tác động do sự cố dầu tràn xảy ra ở các khu vực ven
Bảng 4.1 Tàu có khả năng tham gia ứng phó sự cố tràn dầu trên địa bàn tỉnh 38
Bảng 4.6 Trang thiết bị ứng phó sự cố tràn dầu của Ban QLDA Nhiệt điện 2 41 Bảng 4.7
Trang thiết bị ứng phó của Cty CP cảng DVdầu khí tổng hợp PTSC
Bảng 4.8.
Tàu ứng phó của Trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu khu vực miền Bắc
44 Bảng 4.9. Phương tiện và trang thiết bị ứng phó sự cố tràn dầu của trung tâm 46
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 5Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa 15Hình 4.1 Sơ đồ báo động ƯPSCTD
Hình 4.2 Quy trình tổng thể ứng phó SCTD 66
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước, sự gia tăng của các phương tiện vận tải thủy kèm theo đó là nguy cơ ônhiễm môi trường do sự cố tràn dầu đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần giải
5
Trang 6quyết Đặc biệt là sự cố tràn dầu trên biển và trên các hệ thống sông, cửa sôngven biển đang là một trong những sự cố đặc biệt nguy hại Thiệt hại gây ra do sự
cố tràn dầu ở các khu vực này không chỉ là kinh tế trước mắt mà còn để lạinhững hậu quả lâu dài, môi trường bị hủy hoại nặng nề Hơn nữa, chi phí khắcphục, phục hồi cho những sự cố tràn dầu rất tốn kém, mất nhiều thời gian, thậmchí có khi không thể cứu vãn nổi đối với những hoạt động vùng bờ như nôngnghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, du lịch và hệ sinh thái và gây ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống dân cư trong vùng Do vậy, sự cố tràn dầu đang trởthành vấn đề bức xúc cần giải quyết của các ngành kinh tế biển và chính quyềnđịa phương
Thanh Hóa là tỉnh có đường bờ biển dài 102 km, vùng lãnh hải rộng17.000 km2, vùng biển và ven biển Thanh Hóa có tài nguyên khá phong phú, đadạng, trong đó nổi bật là tài nguyên sinh vật biển, tài nguyên du lịch biển vàtiềm năng xây dựng cảng và dịch vụ hàng hải Dọc theo bờ biển có nhiều cửasông, cửa lạch lớn nhỏ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển rừng ngập mặn,nuôi trồng thủy sản Với những đặc điểm của vùng biển rộng, giàu tiềm năngsinh học, cùng với những giá trị về cảnh quan thiên nhiên, giá trị về kinh tế,vùng biển Thanh Hóa thực sự là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá Các yêucầu về quản lý, bảo vệ, ngăn chặn những sự cố môi trường, sự cố tràn dầu,những yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên môi trường biển là hết sức quan trọng
Là một trong những địa phương có tiềm năng xây dựng nhiều cảng,Thanh Hóa có hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền nghề
cá, hệ thống cảng tổng hợp, cảng chuyên dùng của Nhà máy xi măng Nghi Sơn,nhà máy Nhiệt điện Nghi sơn, đặc biệt cảng xuất nhập dầu của Nhà máy Liênhiệp lọc hóa dầu Nghi Sơn đang được triển khai đầu tư xây dựng Hàng năm,lượng dầu được vận chuyển thông qua cảng và sự gia tăng các phương tiện vậnchuyển xuất nhập khẩu dầu, cũng như phương tiện lưu trữ, phân phối các sảnphẩm xăng dầu đang càng ngày càng tăng nhanh, mật độ dày hơn làm tăng nguy
cơ tiềm ẩn gây sự cố tràn dầu trên biển Bên cạnh đó, ý thức tham gia giao thôngcủa người điều khiển chưa cao, hệ thống neo đậu tàu thuyền ngày càng xuốngcấp do đó việc đảm bảo an toàn giao thông đường thủy, dẫn đến nguy cơ xảy ra
sự cố dầu tràn là rất cao Hơn nữa, việc ứng phó với sự cố tràn dầu trên biểnhiện nay rất khó khăn do diễn ra trên phạm vi vùng biển rất rộng, trong khi nhân
Trang 7lực, phương tiện, điều kiện phòng chống ứng cứu sự cố môi trường của cácngành, địa phương trong tỉnh còn rất thiếu và yếu.
Bên cạnh sự cố tràn dầu trên biển còn có sự cố tràn dầu phát sinh trên các
hệ thống sông do sự va chạm giữa các tàu thuyền tham gia lưu thông trên sông
Sự cố tràn dầu còn có khả năng xảy ra trên đất liền tại các kho chứa, cửa hàngkinh doanh xăng dầu và phương tiện vận chuyển xăng dầu Là một tỉnh có diệntích rộng, dân số đông, nền kinh tế ngày càng phát triển, do vậy nhu cầu về tiêuthụ xăng dầu cho sản xuất và tiêu dùng trên địa bàn tỉnh sẽ ngày càng cao, kéotheo đó là sự phát triển của các đơn vị cung cấp, kinh doanh xăng dầu cả về quy
mô và số lượng Về quy mô, tính đến thời điểm hiện nay, Thanh Hóa đã có cáccông trình xăng dầu thuộc hạng mục công trình an ninh quốc gia như kho xăngdầu Đình Hương của Công ty Xăng dầu Thanh Hoá; kho xăng dầu của Công tyHoàng Sơn, kho xăng dầu của Công ty Thương mại & Đầu tư Phát triển MiềnNúi, kho xăng dầu của Công ty PETEC, kho xăng dầu của Công ty Cổ phần côngnghiệp thủy sản Nam Thanh tại cảng Lễ Môn Về số lượng, toàn tỉnh hiện có hơn
300 cửa hàng kinh doanh xăng dầu Đây cũng là những nguồn có nguy cơ xảy ra
sự cố tràn dầu trong tỉnh Thanh Hóa; nếu xảy ra sự cố tràn dầu mà không có cácphương án ứng phó kịp thời sẽ gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và thiệt hại vềkinh tế - xã hội
Với những lý do trên, việc xây dựng Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầutrên địa bàn tỉnh là nhiệm vụ hết sức cấp thiết, giúp nâng cao hiệu quả công tácứng phó sự cố tràn dầu và hạn chế thiệt hại tới mức thấp nhất về kinh tế, môitrường và con người
7
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Một số định nghĩa và khái niệm
1 Dầu và các sản phẩm của dầu bao gồm:
a) Dầu thô là dầu từ các mỏ khai thác chưa qua chế biến;
b) Dầu thành phẩm là các loại dầu đã qua chế biến như xăng, dầu hỏa, dầumáy bay, dầu Diesel (DO), dầu mazút (FO), và các loại dầu bôi trơn bảo quản, dầuthủy lực;
c) Các loại khác là dầu thải, nước thải lẫn dầu từ hoạt động súc rửa, sửachữa của tàu biển, tàu sông, các phương tiện chứa dầu;
2 Sự cố tràn dầu là hiện tượng dầu từ các phương tiện chứa, vận chuyểnkhác nhau, từ các công trình và các mỏ dầu thoát ra ngoài môi trường tự nhiên
do sự cố kỹ thuật, thiên tai hoặc do con người gây ra
3 Sự cố tràn dầu đặc biệt nghiêm trọng là sự cố tràn dầu xảy ra với khốilượng lớn dầu tràn ra trên diện rộng, liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố đe dọanghiêm trọng đến tính mạng, tài sản, môi trường và đời sống, sức khoẻ của nhândân
4 Ứng phó sự cố tràn dầu là các hoạt động sử dụng lực lượng, phươngtiện, thiết bị, vật tư nhằm xử lý kịp thời, loại trừ hoặc hạn chế tối đa nguồndầu tràn ra môi trường
5 Khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu là các hoạt động nhằm làm sạch đất,nước, hệ sinh thái khu vực bị nhiễm dầu và các biện pháp hạn chế thiệt hại, phụchồi môi sinh sau sự cố tràn dầu
6 Hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu là tất cả các hoạt động từ việc chuẩn
bị, ứng phó, khắc phục, giải quyết hậu quả sự cố tràn dầu
7 ”Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu là dự kiến các nguy cơ, tình huống
sự cố có khả năng xảy ra tràn dầu cùng các phương án ứng phó trong tình huống
dự kiến đó, các chương trình huấn luyện, diễn tập để đảm bảo sự sẵn sàng cácnguồn lực kịp thời ứng phó khi sự cố tràn dầu xảy ra trên thực tế”
(Nguyễn Bá Diễn, Tổng quan pháp luật Việt Nam về phòng, chống ô nhiễm dầu
ở các vùng biển)
Trang 98 Kế hoạch khẩn cấp ứng phó sự cố tràn dầu là phương án triển khai các hoạtđộng khẩn cấp để ứng phó, khắc phục, giải quyết hậu quả trong trường hợp xảy ra sự cốtràn dầu.
9 Hiện trường ứng phó sự cố tràn dầu là khu vực triển khai các hoạt độngngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu
10 ”Chỉ huy hiện trường là người được phân công hoặc được chỉ địnhtrực tiếp chỉ huy mọi hoạt động ứng phó tại nơi xảy ra sự cố tràn dầu Quyềnhạn và trách nhiệm của chỉ huy hiện trường được quy định cụ thể trong Kếhoạch ứng phó sự cố tràn dầu của từng cơ sở, địa phương, đơn vị” (Nguyễn Bá
Diễn, Tổng quan pháp luật Việt Nam về phòng, chống ô nhiễm dầu ở các vùng biển)
11 Cơ sở là các cơ quan, đơn vị cá nhân có hoạt động về khai thác, vậnchuyển, chuyển tải, sử dụng dầu và các sản phẩm dầu gây ra hoặc có nguy cơ gây ra
sự cố tràn dầu
12 Cơ sở ngoài khơi là bất kỳ thiết bị, cấu trúc lắp đặt cố định hay diđộng trên mặt biển ở phía bên ngoài lãnh hải Việt Nam tham gia vào việc thăm
dò, khai thác hoặc các hoạt động sản xuất, hay xuất nhập dầu
13 Chủ cơ sở là người đứng đầu cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm toàn bộ
về pháp lý đối với các hoạt động của cơ sở
14 Cơ quan chủ trì ứng phó sự cố tràn dầu là cơ quan tổ chức các hoạtđộng ứng phó sự cố tràn dầu
15 Đơn vị ứng phó sự cố tràn dầu (đơn vị ứng phó) là các tổ chức cótrang thiết bị ứng phó sự cố tràn dầu và nhân lực được huấn luyện, đào tạo vềchuyên môn nghiệp vụ để tiến hành hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu
16 ”Khu vực ưu tiên bảo vệ là khu vực có độ nhạy cảm cao về môitrường hoặc kinh tế xã hội, cần ưu tiên bảo vệ khi xảy ra sự cố tràn dầu nhưrừng ngập mặn, dải san hô, khu bảo tồn sinh thái, khu dự trữ sinh quyển, điểmnguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, khu di tích lịch sử đã được xếp hạng,
khu du lịch, khu nuôi trồng thủy sản tập trung” (Nguyễn Bá Diễn, Tổng quan pháp luật Việt Nam về phòng, chống ô nhiễm dầu ở các vùng biển)
9
Trang 1017 Khu vực hạn chế hoạt động là khu vực được xác lập bởi các tọa độtrên hải đồ trên biển hoặc bằng các ranh giới, địa giới cụ thể trên bờ, ven biển đểcảnh báo, hạn chế sự đi lại trong khu vực để bảo đảm an toàn khi tiến hành cứu
Tổng quan pháp luật Việt Nam về phòng, chống ô nhiễm dầu ở các vùng biển)
1.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường biển do dầu trên thế giới
Các thống kê cho thấy từ năm 1900 đến nay, trung bình mỗi năm trên thếgiới có từ 2 đến 4 vụ tràn dầu lớn trên biển
- Năm 1989, tàu Exxon Valdez làm tràn 40 ngàn tấn dầu ngoài khơiAlaska (Hoa Kỳ)
- 25/11/1991 nam Kuwait: trong chiến tranh vùng vịnh, Iraq cố tình bơmkhoang 60 triệu gallon dầu thô vào vịnh Ba Tư
- 10/8/1993, vịnh Tampa: Xà lan Bouchard B155, tàu chở hàng Balsa 37
và Xà lan Ocean 255 va vào nhau làm tràn khỏang 336 gallon dầu
- 15/2/1996 Biển xứ Wales: Siêu tàu chở dầu Sea Empress va vào đất liềntại vịnh Milford Haven, làm tràn 70 triệu lít dầu thô
Trang 11- 18/2/2000 ngoài khơi Rio de Janeiro, Brazil: đường ống dẫn dầu bị vỡlàm tràn 343200 gallon dầu nặng vào vịnh Guanbara
- Năm 2002, tàu Prestige làm tràn 77 ngàn tấn dầu ngoài khơi phía tây bắcTây Ban Nha
- Năm 2007, tàu Hebei Spirit làm tràn 2,7 triệu galong dầu ra biển tâynam Hàn Quốc
Hầu hết các vụ tràn dầu đều biến thành thảm họa với những tổn thấtnghiêm trọng về sinh thái, kinh tế và xã hội
1.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường biển do dầu ở Việt Nam
“Việt Nam nằm trên tuyến đường giao thông chính từ Trung Đông đếncác nước Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Tại khu vực ĐôngNam Á diễn ra nhiều hoạt động thăm dò và sản xuất dầu khí, Việt Nam là quốcgia có tốc độ phát triển kinh tế khá nhanh, kéo theo nhu cầu về dầu mỏ cũngtăng cao, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây sự cố tràn dầu Vùng biển Việt Nam là loạibiển mở nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là một trong những trụchàng hải có lưu lượng tàu bè qua lại rất lớn, trong đó 70% là tàu chở dầu Vớiđường bờ biển kéo dài 3000km cùng hệ thống sông suối, kênh rạch chằng chịtsong điều kiện hạ tầng hàng hải và phòng phòng ngừa sự cố yếu kém, nguy cơxảy ra sự cố dầu tràn, tràn đổ hóa chất ở Việt Nam là rất lớn Việt Nam cũng làmột quốc gia có hoạt động khai thác, xuất nhập khẩu xăng dầu khá lớn Tính đếnnay, đội tàu biển Việt Nam có tổng số 1.614 tàu với 4.497.157 GT và 7.348.206DWT Hệ thống cảng biển Việt Nam gồm 49 cảng, trên 130 cầu bến với tổngchiều dài cầu cảng gần 40km Trong năm 2010, có khoảng 119.744 lượt tàu ravào các cảng biển VN với tổng sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống ướcchừng 259 triệu tấn Theo Cục ĐKVN, cả nước hiện có 160 cơ sở đóng và sửachữa tàu biển, trong đó có 120 nhà máy đóng, sửa chữa tàu trọng tải ≥ 1.000DWT với 170 công trình nâng hạ thủy Hầu hết trong số này có quy mô nhỏ lẻ,công nghệ lạc hậu… rất khó nâng cao năng lực trong hoàn cảnh hiện tại” (TS
Nguyễn Hồng Thao, Bảo vệ môi trường biển vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản
Chính Trị Quốc Gia)
“Bên cạnh đó, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và sự phát triển mạnh
mẽ của các ngành công nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua đã kéo theo đó là
11
Trang 12những hệ lụy của ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp và sinh hoạt,trong đó có không nhỏ lượng dầu thải từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụthải vào hệ thống công thoát và đổ ra sông, ra biển Số lượng dầu mỏ thấm quađất và lan truyền ra nước biển ước tính 3 triệu tấn mỗi năm Theo Báo cáo quốcgia về ô nhiễm biển từ đất liền Việt Nam năm 2004 thì lượng dầu mỡ khoángthải xuống biển của các cơ sở công nghiệp chỉ riêng thành phố Hạ Long là 844tấn/năm Từ vùng kinh tế trọng điểm phía nam đã thải vào các con sông lượngnước thải sinh hoạt là 113.216m3/ngày và nước thải công nghiệp là 312.330m3/ngày, theo đó một lượng không nhỏ dầu thải đã đổ vào sông, biển, gây nên ônhiễm dầu cho môi trường Ô nhiễm dầu ở Việt Nam còn bắt nguồn từ các hoạtđộng khai thác dầu khí và sự cố tràn dầu trên biển Đông Hiện nay, Biển Đông
đã trở thành một trong những vùng biển nhộn nhịp các điểm thăm dò và khaithác dầu khí Nước ta có khoảng 340 giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí,phát triển mạnh ở các khu vực: Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan và Quần đảoTrường Sa Hoạt động khai thác dầu khí ngoài việc thải nước lẫn dầu với khốilượng lớn, trung bình mỗi năm hoạt động này còn phát thải khoảng 5.600 tấn rácthải dầu khí, trong đó có 20 – 30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãichứa và xử lý Ngoài ra, hàng năm ước tính có khoảng 1 triệu tấn dầu mỏ tràn ramặt biển do những sự cố ở các dàn khoan dầu Các tàu chở dầu cũng làm thấtthoát một lượng dầu mỏ ước tính tới 0,7% tải trọng của chúng trong quá trìnhvận chuyển thông thường Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường(2008), từ năm 1997 đến nay, ở Việt Nam đã xảy ra hơn 50 vụ tràn dầu trênbiển, trên sông do các hoạt động khai thác vận chuyển dầu, trong đó một số sự
cố đến nay chưa xác định được nguồn gốc” (TS Nguyễn Hồng Thao, Bảo vệ môi trường biển vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia)
Biển Việt Nam đang ở trong tình trạng ô nhiễm đáng báo động: Hàmlượng dầu trong nước biển của Việt Nam nhìn chung đều vượt giới hạn tiêuchuẩn Việt Nam và vượt rất xa tiêu chuẩn Hiệp hội các Nước Đông Nam Á(ASEAN Đặc biệt, có những thời điểm vùng nước khu vực cảng Cái Lân cóhàm lượng dầu đạt mức 1,75 mg/l, gấp 6 lần giới hạn cho phép; vịnh Hạ Long
có 1/3 diện tích biển hàm lượng dầu thường xuyên từ 1 đến 1,73 mg/l
Trang 1311 Kế hoạch 37/KH-UBND ngày 03/9/2009 của UBND tỉnh Thanh Hóa vềviệc thực hiện Nghị quyết số: 27 /NQ-CP ngày 12/6/2009 của Chính phủ về một
13
Trang 14số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môitrường.
12 Quyết định số 35/QĐ- UBND ngày 04/01/2013 của UBND tỉnhThanh Hóa về việc ban hành Chương trình Công tác trọng tâm năm 2013
13 Quyết định số 1733/QĐ-UBND ngày 27/5/2013 của UBND tỉnh ThanhHóa phê duyệt đề cương nhiệm vụ xây dựng Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu tỉnhThanh Hóa [4]
Trang 15CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ
HỘI TỈNH THANH HÓA
2.1 Điều kiện về địa lý, khí hậu và khí tượng.
2.1.1 Vị trí địa lý
Thanh Hoá là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 153km
về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560km Thanh Hoá Nằm ở vị trí
từ 19,18o đến 20,40o vĩ độ Bắc; 104,22o đến 106,40o kinh độ Đông Có ranh giớinhư sau:
- Phía Bắc giáp 3 tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La
- Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An
- Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn - CHDCND Lào
- Phía Đông mở ra phần giữa của Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa
Diện tích đất tự nhiên của Thanh Hoá là 11.130,47 km2, dân số của tỉnhnăm 2012 là 3.426.511 người Toàn tỉnh có 1 thành phố, 2 thị xã, 24 huyện,
15
Trang 16trong đó có 6 huyện, thị ven biển (Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, QuảngXương, Tĩnh Gia và thị xã Sầm Sơn).
2.1.2 Địa hình
Địa hình ở Thanh Hoá đa dạng, có hướng thấp dần từ Tây sang Đông vàchia thành 3 vùng rõ rệt:
* Vùng núi và trung du: “gồm 11 huyện (Như Xuân, Như Thanh,
Thường xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, NgọcLặc, Cẩm Thuỷ và Thạch Thành) với diện tích tự nhiên 7994,28 km2 (chiếm70,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh) Đây là vùng nối liền giữa hệ núi cao phíaTây Bắc và hệ núi Trường Sơn phía Nam Độ cao trung bình ở vùng núi từ 600
- 700 mét, độ dốc trên 25o, vùng trung du có độ cao trung bình 150-200 mét, độdốc từ 150 đến 200 Vùng có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh gây trở ngại lớncho phát triển kinh tế và xây dựng kết cấu hạ tầng”.(Website://thanhhoa.gov.vn/)
* Vùng đồng bằng: “gồm 10 huyện (Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Yên Định,
Đông Sơn, Vĩnh Lộc, Triệu Sơn, Nông Cống, Hà Trung, TP Thanh Hoá và TX.Bỉm Sơn) với diện tích tự nhiên 1.955,40 km2 (chiếm 18,5% diện tích tự nhiêntoàn tỉnh) Đây là vùng được bồi tụ bởi hệ thống sông Mã, sông Yên Vùng cóđịa hình xen kẽ giữa vùng đất bằng với các đồi thấp và núi đá vôi độc lập, độcao trung bình từ 5 - 15 mét, một số nơi trũng như Hà Trung có độ cao chỉ từ 0 -
1 mét Nhìn chung vùng đồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợicho phát triển nông nghiệp và công nghiệp” (Website://thanhhoa.gov.vn/)
* Vùng ven biển: “gồm 6 huyện chạy dọc bờ biển từ huyện Nga Sơn, Hậu
Lộc, Hoằng Hoá, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia, với diện tích 1.180,80
km2 (chiếm 11 % diện tích tự nhiên) Vùng có địa hình bằng phẳng, độ cao trungbình từ 3 - 6 mét, riêng phía Nam huyện Tĩnh Gia địa hình có dạng sống trâu docác dãy đồi kéo dài ra biển Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển nôngnghiệp (trồng trọt, chăn nuôi gia cầm), đặc biệt là nuôi trồng thủy sản, phát triểncông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cảng và phát triển dịch vụ vận tảisông, biển ’ (Website://thanhhoa.gov.vn/)
Trang 17* Đặc điểm đường bờ vùng ven biển
Vùng ven biển gồm 06 huyện chạy dọc ven bờ biển với chiều dài 102 km
từ huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến TĩnhGia Địa hình tương đối bằng phẳng, chạy dọc theo bờ biển là các cửa sông Cácdạng đường bờ biển trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa được thống kê như sau
17
Trang 18Bảng 2.1 Đặc điểm đường bờ vùng bờ biển tỉnh Thanh Hóa
Trang 19TT Huyện Xã Đặc diểm đường
Bờ biển từ xã Quảng Cư đến
Bờ biển phường Trường Sơn Bờ sỏi đá
Trang 202.1.3 Khí hậu và khí tượng
Thanh Hoá nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: Mùa hạnóng, ẩm mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô, nóng Mùa đônglạnh và ít mưa Theo quan trắc của Trung tâm KTTV Thanh Hóa, điều kiện thời tiếtThanh Hóa có những đặc trưng sau:
- Chế độ nhiệt: Thanh Hoá có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình năm
khoảng 230C- 240C, tổng nhiệt độ năm vào khoảng 8.5000C- 8.7000C Hàng năm
có 4 tháng nhiệt độ trung bình thấp dưới 200C (từ tháng XII đến tháng III nămsau), có 8 tháng nhiệt độ trung bình cao hơn 200C (từ tháng IV đến tháng XI).Biên độ ngày đêm từ 70C - 100C, biên độ năm từ 110C - 120C
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí biến đổi theo mùa nhưng sự chênh lệch độ ẩm
giữa các mùa là không lớn Độ ẩm trung bình các tháng hàng năm khoảng 85%,phía Nam có độ ẩm cao hơn phía Bắc, khu vực núi cao ẩm ướt hơn và có sươngmù
- Chế độ mưa: “ Lượng mưa ở Thanh Hóa là khá lớn, trung bình năm từ
1.456,6 - 1.762,6 mm, nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa và lớn dần từBắc vào Nam và từ Tây sang Đông Mùa khô (từ tháng XI đến tháng IV nămsau) lượng mưa rất ít, chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, khô hạn nhất làtháng I, lượng mưa chỉ đạt 4 - 5 mm/tháng Ngược lại mùa mưa (từ tháng V đếntháng X) tập trung tới 80 - 85% lượng mưa cả năm, mưa nhiều nhất vào thángVIII có 15 đến 19 ngày mưa với lượng mưa lên tới 440 - 677 mm Ngoài ratrong mùa này thường xuất hiện giông, bão kèm theo mưa lớn trên diện rộng gâyúng lụt Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 84 - 86% và có sự chênhlệch giữa các vùng và theo mùa Mùa mưa độ ẩm không khí thường cao hơnmùa khô từ 10 - 18%” (Website://thanhhoa.gov.vn/)
- Chế độ gió: Thanh Hoá nằm trong vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ,
hàng năm có ba hướng gió thịnh hành:
+ Gió Bắc (còn gọi là gió Bấc): Do không khí lạnh từ Bắc cực qua lãnh
thổ Trung Quốc thổi vào
+ Gió Tây Nam: Từ vịnh Belgan qua lãnh thổ Thái Lan, Lào thổi vào, gió
rất nóng nên gọi là gió Lào hay gió phơn Tây Nam Trong ngày, thời gian chịuảnh hưởng của không khí nóng xảy ra từ 10 giờ sáng đến 12 giờ đêm
Trang 21+ Gió Đông Nam (còn gọi là gió nồm): Thổi từ biển vào đem theo không khí
mát mẻ
Vào mùa hè, hướng gió thịnh hành là hướng Đông và Đông Nam; cáctháng mùa đông hướng gió thịnh hành là hướng Bắc và Đông Bắc
Tốc độ gió trung bình năm từ 1,3 - 2 m/s, tốc độ gió mạnh nhất trong bão
từ 30 -40 m/s, tốc độ gió trong gió mùa Đông Bắc mạnh trên dưới 20 m/s
- Bão và áp thấp nhiệt đới: Các cơn bão ở Thanh Hoá thường xuất hiện
từ tháng VIII đến tháng X hàng năm Tốc độ gió mạnh nhất trong bão ghi nhậnđược từ 30 - 40 m/s Theo số liệu thống kê từ năm 1996 đến 2005 có 39 cơn bão
và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, trong đó có 13 cơn bão và áp thấpnhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp tới Thanh Hóa
2.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội
2.2.1 Dịch vụ du lịch
Thanh Hoá có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng, gồm cả tàinguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, là điều kiện thuận lợi đểphát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như du lịch biển, du lịch mạo hiểm, dulịch văn hóa-lịch sử, du lịch sinh thái…
21
Trang 22- Về tài nguyên du lịch tự nhiên: “Thanh Hoá có bờ biển dài với nhiều bãi
biển đẹp như Sầm Sơn, Hải Tiến-Hoằng Hóa, Hải Hoà-Tĩnh Gia, Các bãi biểnnày đều có đặc điểm chung là dài, độ dốc thoải, cát trắng mịn, nước trong rấtphù hợp cho tắm biển và các hoạt động vui chơi giải trí Bên cạnh những bãi tắmđẹp là những thắng cảnh như Hòn Trống Mái, đền Độc Cước, Đền Cô Tiên ởSầm Sơn Ngoài khơi có các đảo như Hòn Nẹ, Hòn Mê, làm cho các tuyến dulịch ven biển thêm phần hấp dẫn Hiện nay, bãi biển Sầm Sơn đã được khai thácvới cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh Các bãi biển khác hầu như vẫn còn giữnguyên vẻ hoang sơ với môi trường thoáng đãng, trong lành và đang được đầu
tư xây dựng như : Hải Tiến, Hải Hòa…” (Website://thanhhoa.gov.vn/)
Thanh Hoá còn có nhiều hang động đẹp gắn với các truyền thuyết nhưĐộng Từ Thức (Nga Sơn), động Hồ Công (Vĩnh Lộc), động Tiên Sơn (TP
Thanh Hoá) Vườn quốc gia Bến En, các khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Pù
Hu, khu sinh thái Hàm Rồng, vườn cò Tiến Nông, thắng cảnh Cửa Hà (CẩmThuỷ), suối cá thần Cẩm Lương là những tài nguyên du lịch sinh thái quý giá
- Về tài nguyên du lịch nhân văn: Thanh Hoá là miền đất văn hoá rất lâu
đời Các nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đa Bút… cùng với những địa danhgắn liền với những tên tuổi của các anh hùng hào kiệt, các danh nhân như: TriệuThị Trinh, Lê Hoàn, Lê Lợi, Lê Văn Hưu, Đào Duy Từ đã để lại nhiều dấu ấntrong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, trong đó,nhiều di tích đã được Nhà nước xếp hạng và đang được trùng tu, tôn tạo ở quy
mô quốc gia như: Đền Bà Triệu, Lam Kinh, Thành Nhà Hồ, Thái miếu NhàLê… Đây là những tài sản vô cùng quý giá, không chỉ có ý nghĩa lịch sử, giáodục mà còn có thể khai thác phục vụ phát triển du lịch
Du khách đến Thanh Hoá không chỉ bởi cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú màcòn giàu chất nhân văn với những lễ hội được lưu giữ từ bao đời nay như lễ hộiLam Kinh (từ ngày 21 - 23/8 âm lịch); Lễ hội bánh chưng bánh dày (ngày 12/5
âm lịch); lễ hội Phủ Na được tổ chức 2 lần trong năm (tháng 1 đến tháng 2 và ngày15/8 âm lịch); Lễ hội Cửa Đặt (từ ngày 4 - 30/1 âm lịch); Lễ hội Mai An Tiêm (từngày 12 - 14/3 âm lịch)… Theo số liệu thống kê, số lượng khách du lịchtrong năm 2012 của tỉnh là: Khách trong nước 2.980,1 (nghìn lượt người), kháchquốc tế 19,1 (nghìn lượt người); số ngày khách do các cơ sở lưu trú phục vụ4.736,7 (ngày) với tổng doanh thu hơn 900 tỉ đồng
Trang 232.2.2 Hoạt động hàng hải
a) Đường thủy nội địa
Tỉnh Thanh Hóa là tỉnh duy nhất có hệ thống kênh đào (Kênh đào nhà Lê)nối liền 4 hệ thống sông tự nhiên chạy dọc theo vùng đồng bằng ven biển thôngsuốt từ Bắc đến Nam của tỉnh Chiều dài toàn bộ hệ thống sông, kênh dàikhoảng 1.889 km Trong đó, có 1.609 km là sông tự nhiên, 280 km là kênh đào.Khả năng khai thác vận tải là 1.170 km (61,9%) Trong toàn bộ hệ thống sôngThanh Hoá thì hệ thống sông Mã và hệ thống sông Yên là 2 hệ thống sông lớnnhất đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới đường thuỷ nội địa của tỉnh Hệthống sông và các cửa sông đều có tình trạng sa bồi, các phương tiện ra vào gặpnhiều khó khăn
Hệ thống sông ngòi được phân theo 2 vùng chủ yếu: vùng đồng bằng venbiển và trung du miền núi
- Đồng bằng ven biển: Với 755 km sông tự nhiên và 280 km kênh đào, có
thể tận dụng khai thác được 877 km gồm 7 sông, kênh lớn nhỏ Phương tiệntrọng tải đến 70 tấn có thể đi lại được trên chiều dài 355 km, phương tiện nhỏ cótải trọng từ 5 - 10 tấn đi lại được 522 km
- Trung du miền núi: Với 854 km sông tự nhiên, có thể khai thác 260 km
cho phương tiện nhỏ 5-10 tấn
Tuy nhiên hiện tỉnh Thanh Hóa mới chỉ đưa vào quản lý, khai thác được
487 km bao gồm:
Sông Bưởi: 26 km Sông Cầu Chày: 15,5 kmKênh Choán, De, Nga; 48,5 km Sông Càn: 9 km
Sông Trường Giang: 6,5 km
23
Trang 24b) Hệ thống cảng biển, cảng sông
Thanh Hoá có 102 km bờ biển trải dài qua 6 huyện, thị: Nga Sơn, HậuLộc, Hoằng Hoá, Sầm Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia với 5 cửa lạch phân bố kháđồng đều ở các huyện ven biển tạo thành hệ thống giao thông đường thuỷ (giữasông và biển) rất thuận tiện cho các loại phương tiện ra vào hoạt động Hệ thốngcảng Thanh Hóa bao gồm: + Cảng Lễ Môn: Là cảng tổng hợp, được quyhoạch thuộc nhóm cảng biển Bắc Trung Bộ (nhóm 2) Công suất 300.000tấn/năm, cỡ tàu vào cảng lớn nhất là 1.000 DWT Hiện nay do hạn chế về luồngtàu nên khối lượng hàng thông qua Cảng chỉ khoảng 70.000 - 80.000 tấn
+ Cảng Nghi Sơn: Là cảng biển tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực BắcTrung Bộ (cảng loại 1) gồm các khu bến chức năng: Bắc Nghi Sơn là khu bếnchuyên dùng cho tàu 1 ÷ 5 vạn DWT phục vụ liên hợp lọc hóa dầu, xi măng;Nam Nghi Sơn là khu bến cho tàu 3 ÷ 5 vạn DWT, có bến chuyên dùng Lượnghàng qua cảng dự kiến khoảng: 69 ÷ 80 triệu T/năm (2015); 132 ÷ 152 triệu
T/năm (2020); 212 ÷ 248 triệu T/năm (2030) (Theo Quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Quyết định số 1401/QĐ-BGTVT ngày 26/5/2010 của Bô Giao thông Vận tải về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết cảng biển Nghi Sơn - Thanh Hóa giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030).
+ Cảng Quảng Châu: Là cảng tổng hợp thuộc nhóm cảng biển Bắc Trung
Bộ, được UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch chi tiết đến năm 2020 và tiềm năngsau năm 2020 tại Quyết định số 4464/QĐ-UBND ngày 15/12/2009 của UBNDtỉnh Cảng được thiết kế với công suất dự kiến đến năm 2020 là1.500.000tấn/năm; cỡ tàu vào cảng lớn nhất là 1.000 DWT
Ngoài ra còn có một số cảng cá như cảng Lạch Hới, cảng Lạch Trường,cảng Hoà Lộc…
c) Cửa sông
Toàn tỉnh hiện có 104 bến sông trong đó có 39 bến sông có quy mô >3.000 tấn/năm Còn 65 bến có quy mô < 3000 tấn/năm Trong đó, có một bếncảng đầu mối quan trọng là bến cảng Hàm Rồng, cảng cá Quảng Tiến, cảng cá
Lạch Trường, bến Vạn Hà, bến Hói Đào
Trang 252.2.3 Hoạt động ngư nghiệp
Hoạt động ngư nghiệp trên địa bàn tỉnh bao gồm hoạt động nuôi trồng vàkhai thác thuỷ hải sản
Theo số liệu thống kê của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sảnThanh Hóa, tính đến ngày 15/9/2013 trên địa bàn toàn tỉnh có tổng số lượng tàuthuyền khai thác thủy hải sản là 7.501 tàu, với tổng công suất là 367.350CV.Công suất bình quân 33,1 CV/tàu Loại tàu cá công suất dưới 20CV là 5.000 chiếcchiếm 72,3%; từ 20CV đến 50CV là 429 chiếc, chiếm 6,2%; từ 50 CV đến90CV là 399 chiếc, chiếm 5,8%; tàu có công suất trên 90 CV trở lên là 1.092chiếc, chiếm 14,6%
Ngư trường vùng biển Thanh Hóa có đầy đủ giống, loài cá như trong VịnhBắc Bộ, nhiều loài có giá trị kinh tế cao, đối với cá nổi: Cá chim, cá thu, cá nục,
cá trích, …Đối với cá đáy: Cá Hồng, phèn, lưỡng mối, mực ống, mực nang, cácloại nhuyễn thể hai mảnh
2.2.4 Các hoạt động sử dụng nguồn nước biển
Hoạt động sử dụng nước biển ở vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa chủ yếu chohoạt động nuôi trồng thủy hải sản và sản xuất muối Trong đó, nuôi trồng thủy sản(nước mặn, nước lợ) ở vùng biển ven bờ, cửa sông năm 2012 được thống kê với diệntích khoảng 5500 ha, sản xuất muối 320 ha
Bảng 2.2 Sản lượng thủy sản (nghìn tấn) của các huyện ven biển tỉnh
Thanh Hóa năm 2014 Đơn vị Sản lượng thủy sản (nghìn tấn)
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hoá năm 2014)
Hoạt động thủy sản của các huyện ven biển là ngành truyền thống, thườngchiếm trên 4/5 tổng sản lượng thủy sản của tỉnh Thanh Hóa Tổng sản lượng
25
Trang 26thủy sản của tỉnh Thanh Hóa năm 2012 đạt 116.241 tấn, trong đó các huyện, thịven biển có 95.728 tấn, chiếm 82,35%.
2.3 Đặc điểm thủy văn/hải văn
độ cao khoảng 6m
2.3.3 Dòng hải lưu
Trong vùng vịnh Bắc Bộ, dòng nước lạnh chảy sang hướng Đông rồi cùngvới dòng nước ấm chạy ngược lên phía Bắc tạo thành một vòng tuần hoàn ngượcchiều kim đồng hồ
Mùa lạnh: Gió mùa Đông Bắc và các giai đoạn giao thời hoàn lưu chungcủa vịnh Bắc Bộ nói chung và của biển Thanh Hóa nói riêng có hướng dòngchảy ven bờ theo hướng Bắc - Nam (dọc theo ven biển Thanh Hóa về phíaNam) Cường độ hải lưu vào mùa này được tăng cường do khống chế của giómùa Đông Bắc, tuỳ theo mức độ mạnh hay yếu, liên tục hay đứt quãng màcường độ của hải lưu tăng hay giảm
Mùa nóng: Do ảnh hưởng của gió Tây Nam, dòng chảy ven bờ có hướngngược lại so với mùa lạnh, nhưng cường độ có giảm hơn Tháng II đến tháng IIIvùng biển Thanh Hóa thường có hiện tượng nước xoáy và tập trung ở phía Bắc,nhưng đến tháng VII hiện tượng này lại lùi xuống phía Nam
Trang 272.4 Hiện trạng tài nguyên sinh học
2.4.1 Hệ sinh thái trên cạn
2.4.1.1 Về thực vật
Là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích rừng và đấtlâm nghiệp tính đến thời điểm cuối năm 2012 là 626.812 ha Độ che phủ rừngđạt 50,5% (theo số liệu công bố hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2012 tạiQuyết định số 320/QĐ-UBND ngày 21/01/2013 của UBND tỉnh Thanh Hóa).Tài nguyên rừng ở Thanh Hoá còn khá nhiều, chủ yếu là rừng nhiệt đới lá rộng,
có hệ thực vật phong phú về loài và họ như: Lát hoa, Giổi, Táu Kiểu rừng rậmnhiệt đới nửa rụng lá, với các loại cây đại diện như: Săng lẻ, Gạo, Dẻ ở phíaTây Nam, rừng bị phá nhiều, tại đây phát triển các kiểu rừng thứ sinh hoặc trảng
cỏ, cây bụi, trong rừng có nhiều Song, Mây, Tre, Nứa và các dược liệu: Quế,Cánh kiến đỏ Các loại rừng trồng có luồng, thông nhựa, mỡ, bạch đàn, phi lao,quế, cao su Thanh Hoá là tỉnh có diện tích luồng lớn nhất trong cả nước vớidiện tích trên 50.000 ha [6]
2.4.2 Hệ sinh thái dưới nước vùng ven biển
Theo kết quả khảo sát mới nhất (tháng 4/2012) trong khuôn khổ dự án
“Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển tỉnh Thanh Hóa”, bướcđầu đã xác định được tổng cộng 869 loài, 457 giống, 261 họ thuộc 8 nhóm sinhvật biển Đa dạng về thành phần loài của các nhóm sinh vật ở vùng ven biểnThanh Hóa thể hiện sự biến động rất mạnh Trong đó, đa dạng nhất về số loàithuộc về nhóm Cá biển (bao gồm cả cá sống trên rạn san hô và ngoài rạn san hô)với 279 loài (chiếm 32,1% tổng số loài sinh vật); tiếp đó là nhóm Thực vật phù
du với 250 loài (chiếm 28,8%); hai nhóm Động vật phù du và Động vật đáy có
số loài bắt gặp lần lượt là 99 và 88 loài, chiếm tỷ lệ tương ứng là 11,4% và10,1%; các nhóm San hô và Rong biển có số loài tương ứng là 68 và 58 loài, với
27
Trang 28tỷ lệ phần trăm lần lượt là 7,8% và 6,7% Nhóm Thực vật ngập mặn mới chỉ bắt gặp
26 loài (chiếm 3%), đặc biệt nhóm Cỏ biển mới chỉ phát hiện 1 loài
Kết quả khảo sát Khu hệ sinh vật quần đảo Hòn Mê (đang triển khai thànhlập Khu bảo tồn biển Hòn Mê theo Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống các khu bảotồn biển Việt Nam đến năm 2020) cho thấy khu vực này không chỉ đa dạng vềthành phần loài mà có có nhiều loài có giá kinh tế và khoa học, nhất là có nhómsan hô tạo rạn đang tồn tại và phát triển Đây là nguồn gen vô cùng quý giákhông chỉ có ý nghĩa quan trọng về kinh tế mà còn có ý nghĩa khoa học và thamgia giữ cân bằng sinh thái – môi trường Nguồn lợi sinh vật ở quần đảo Hòn Mêkhá phong phú, trong đó quan trọng nhất là nguồn lợi cá Mú, cá Song, cá cảnh,tôm Hùm, Trai ngọc, Hải sâm, Cầu gai và một số loài ốc biển Tuy vậy, một sốloài đã bị suy giảm về số lượng do khai thác quá mức trong một thời gian dài.Một số loài hầu như đã bị mất hẳn như tôm Hùm, Bào ngư Các rạn san hô ởquần đảo Hòn Mê đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khácnhau [6]
Có thể nói, đã có sự suy giảm về số loài và chỉ số đa dạng tại vùng biển ven
bờ Thanh Hóa nói riêng và các vùng khác dải ven bờ tây Vịnh Bắc Bộ nói chung
Trang 29CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN TIỀM ẨN GÂY Ô
NHIỄM BIỂN DO DẦU
3.1 Thống kê các sự cố tràn dầu đã xảy ra ở tỉnh Thanh Hóa
3.1.1 Sự cố tràn dầu xảy ra ở khu vực đất liền và vùng biển Thanh Hóa
Đối với các vụ tràn dầu có nguồn gốc xuất phát từ các hoạt động trên biểnthì ở các vùng biển của tỉnh Thanh Hóa từ trước đến nay chưa ghi nhận cáctrường hợp sự cố tràn dầu (SCTD) nào xảy ra mà chủ yếu chịu tác động giántiếp bởi các vụ tràn dầu từ các vùng biển trong khu vực di chuyển đến
Đối với sự cố tràn dầu có nguồn gốc xuất phát từ các hoạt động trên đấtliền chủ yếu là do sự cố rò rỉ, tràn hoặc vỡ các bể chứa, ống dẫn xăng, dầu ở cáckho lưu trữ, kinh doanh, vận chuyển xăng dầu Trên địa bàn tỉnh, năm 2009,Công ty cổ phần sữa Lam Sơn, đóng tại Khu công nghiệp Lễ Môn - thành phốThanh Hóa đã để xảy ra sự cố môi trường làm rò rỉ dầu từ bồn chứa ra ngoài môitrường Sự cố đã làm 1000 lít dầu FO từ bồn chứa chảy khu vực lân cận, đồngruộng, dầu tràn lênh láng vào hệ thống mương gom nước thải của Khu côngnghiệp Lễ Môn, rồi đổ ra sông Thống Nhất chảy về biển gây ra những ảnhhưởng nghiêm trọng tới môi trường và các hệ sinh thái dọc theo sông Thốngnhất
3.1.2 Sự cố tràn dầu xảy ra ở vùng biển lân cận với tỉnh Thanh Hóa
Theo thống kê từ năm 2004 đến 2014 đã xảy ra một số vụ tràn dầu như:
- Sự cố tràn dầu tàu Mỹ Đình thuộc Công ty Vận tải Biển Đông có trọngtải 7276 tấn vào tháng 12/2004, trên tàu chứa 150 tấn dầu FO và 50 tấn dầu DO,
bị chìm ở Đảo Cát Bà - Hải Phòng
- Sự cố chìm tàu Sông Thương (thuộc đội tàu Vosco Hải Phòng) xảy rachiều ngày 31/12/2004 trên vùng biển Thuận An thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế.Dầu tràn ra biển khoảng 30 tấn
- Tháng 7/2005 tàu Mỹ Đình có trọng tải 7.276 tấn (thuộc Công ty Côngnghiệp tàu thủy VN - Vinashin) trên đường từ Hải Phòng đi Quảng Ninh đã vaphải đá ngầm tại vị trí cách đảo Cát Bà 6 hải lý và bị mắc cạn Trên tàu chứa
29
Trang 30khoảng 50 tấn dầu DO và 150 tấn dầu FO, trong khi đó chỉ thu gom xử lý đượckhoảng 65 tấn, số dầu còn lại hầu như tràn ra biển
- Trong 2 năm 2006, 2007, tại ven biển các tỉnh miền Trung và miền Nam
đã xảy ra một số sự cố tràn dầu bí ẩn, nhất là từ tháng 01 đến tháng 6/2007 có rấtnhiều vệt dầu trôi dạt dọc bờ biển của 20 tỉnh từ đảo Bạch Long Vĩ xuống tớimũi Cà Mau và đã thu gom được 1720,9 tấn dầu
- Ngày 02/11/2009, Sự cố chìm tàu Lucky Dragon xảy ra tại khu vực bãibiển Bắc Mỹ An - Đà Nẵng
- Ngày 13/3/2010, sự cố chìm tàu An Phát tỉnh Quảng Trị gặp nạn tại toạ
độ 17008’N và 107040’E cách đảo Cồn Cỏ khoảng 20 hải lý về hướng ĐôngĐông Nam
- Ngày 9/11/2010, sự cố tàu Jian Mao 9 (Trung Quốc) trên đường từ Malaysia đến Trung Quốc gặp nạn tại toạ độ 15043’04’’N và 110016’08’’E cáchđảo Lý Sơn - Quảng Ngãi 72 hải lý về hướng Đông Đông Bắc Trên tàu còn 80tấn dầu FO, 20 tấn dầu DO, 200 lít dầu LO, gây nguy cơ xảy ra sự cố tràn dầutrên vùng biển miền Trung
- Tháng 11/2011, sự cố cháy buồng máy tàu Phương Nam Star chở5.600m3 DO trên vùng biển Quảng Nam
3.2 Đánh giá một số các nguồn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường biển
do dầu
3.2.1 Nguy cơ tràn dầu từ các cảng
Với các ưu thế về điều kiện tự nhiên, Thanh Hóa có hệ thống các cảngsông, cảng biển cho phép tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn, vào xếp dỡ hànghoá Do đó, các khu vực này tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ra sự cố tràn dầu
Trang 31Bảng 3.1 Thống kê cảng biển, cảng sông tỉnh Thanh Hóa
- Do sự cố đâm va tàu;
- Do hoạt động buônbán và sang chiết dầu
- Do thiên tai (kháchquan)
đã khai thác từ năm 2002 Bến số
2 đã khai thác từ năm 2006, bếndài 225m cho cỡ tầu 30.000DWT
Các bến số 1 và bến số 2 của cảng
đã được chuyển giao cho Tậpđoàn dầu khí Quốc gia Việt Namquản lý
Hiện nay, đang đầu tư xây dựngthêm 02 bến mới số 3 và số 4
- Do sự cố đâm va tàu;
- Do hoạt động buônbán, chuyển hàng hóa(lương thực, thực phầm,
xi măng, phân bón,than, dầu …);
- Do thiên tai (kháchquan)
đó 01 bến cho tàu 30.000DWT,
có xem xét đến khả năng cho tàu50.000 DWT, các bến còn lại chotàu nhỏ 5.000T - 7.000T, diện tích
- Do sự cố đâm va tàu;
- Do hoạt động buônbán, chuyển hàng hóa ;
- Do thiên tai (kháchquan)
31
Trang 3216 ha, chiều dài tuyến bến là560m.
- Do sự cố va chạm tàu;
- Do hoạt động buônbán, chuyển hàng hóa ;
- Do thiên tai (kháchquan)
5 Cảng Lễ
Môn
Cảng được thiết kế với công suất300.000 tấn thông qua Cỡ tàu vàocảng lớn nhất là 1.000 DWT
- Do hoạt động buônbán và sang chiết dầu
3.2.2 Nguy cơ tràn dầu từ các cảng cá , bến cá và khu neo đậu tàu thuyền
3.2.2.1 Đối với các cảng cá, bến cá
Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 10 cảng cá và bến cá đã đi vào hoạt độnggồm: cảng cá Hòa Lộc; cảng cá Lạch Hới, cảng cá Lạch Bạng; bến cá HoằngTrường; bến cá Quảng Nham; bến cá Hải Châu; Mộng Dường; bến cá Ngư Lộc;bến cá Hoằng Phụ và bến cá Nghi Sơn Ngoài ra ở vùng ven biển còn một số bến
cá có quy mô nhỏ phân bố rải rác ở khắp các huyện là nơi neo đậu, cập bến củacác phương tiện nghề cá từ 20CV trở xuống và các phương tiện thủ công, bèmảng như: Nga Tiến, Nga Bạch, Đa Lộc, Hải Lộc, Quảng Vinh, Hải Hà, Cáccảng cá, bến cá khi được đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động đã thu hút mộtlượng lớn các tàu cá của các địa phương trong tỉnh và một số tỉnh lân cận khácđến bốc dỡ thủy sản và các dịch vụ nghề cá khác…[3]
Trang 33Suốt dọc dải ven biển Thanh Hóa là có các cửa Lạch lớn nhỏ gồm: LạchHới, Lạch Bạng, Lạch Càn, Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Ghép, tại đâythường xuyên có các tàu thuyền nghề cá và phương tiện giao thông vận tải khác
ra vào các cảng cá, bến cá Tuy nhiên, hầu hết các cửa Lạch đều không đượcthường xuyên nạo vét, cải tạo lại thường xuyên bị phù sa bồi lắng cộng với sốlượng tàu thuyền ra vào các cảng ngày càng gia tăng sẽ có nguy cơ xảy ra các sự
cố va quệt dẫn tới đổ hàng hoá (hoá chất, thực phẩm…) xuống sông, biển gây ônhiễm nguồn nước Việc va quệt cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ sự
cố tràn dầu gây ô nhiễm môi trường
3.2.2.2 Đối với khu neo đậu tránh, trú bão cho tàu thuyền nghề cá
Hiện nay, 2 khu neo đậu tránh, trú bão cho tàu thuyền nghề cá Lạch Hới(TX Sầm Sơn) Lạch Bạng (huyện Tĩnh Gia) đã đi vào hoạt động Trong giaiđoạn 2015-2020, một số khu neo đậu tránh, trú bão đã được quy hoạch để đầu tưxây dựng như khu neo đậu tránh, trú bão Lạch Trường (huyện Hậu Lộc); khuneo đậu tránh, trú bão cho tàu cá tại sông Lý (huyện Quảng Xương); tại kênhChoán (huyện Hoằng Hóa); tại kênh Sao Sa (huyện Nga Sơn)
Việc đầu tư xây dựng các khu neo đậu, tránh trú bão cho tàu thuyền nghề
cá đã thúc đẩy việc phát triển đánh bắt thuỷ sản xa bờ, đảm bảo an toàn cho tàuthuyền trong mùa mưa bão, tăng hiệu quả đánh bắt trong vùng và giải quyết tăngthêm việc làm cho người lao động, tạo điều kiện để phát triển kinh tế biển Tuynhiên, khi các khu neo đậu này đi vào vận hành thì nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy
cơ gây ra ô nhiễm môi trường nước bởi dầu hay sự cố tràn dầu trong khu vực.Nguyên nhân chủ yếu do:
- Các luồng lạch dẫn vào các khu neo đậu nếu không được duy tu nạo vétthường xuyên sẽ gây ra hiện tượng bồi lắng, tàu thyền vào khu neo đậu dễ bịmắc cạn, xảy ra các sự cố ngoài tầm kiểm soát, …
Thời gian vào các khu neo đậu tránh trú cho mỗi cơn bão thường từ 7
-10 ngày, nếu Ban Quản lý khu neo đậu không có biện pháp quản lý chặt chẽ, sátsao cũng như việc bố trí các công trình xử lý chất thải cho các tàu, thuyền vàotránh trú bão thì dẫn đến hiện tượng đổ, xả các loại chất thải (chất thải rắn sinhhoạt trên tàu, các loại giẻ lau dính dầu mỡ, nước dằn tàu, …) xuống nguồn nướcbiển gây ô nhiễm môi trường cho vùng nước trong khu vực
33
Trang 343.2.3 Nguy cơ xảy ra sự cố tràn dầu từ các phương tiện vận tải thủy
- Rủi ro gây rò rỉ từ các thiết bị chứa dầu như bồn, téc xăng dầu;
- Rủi ro do va chạm các với các phương tiện tàu thuyền khác;
- Rủi ro gây tràn dầu do thiên tai [2]
Việc gia tăng một cách nhanh chóng các phương tiện vận tải thủy hoạtđộng trên vùng biển Thanh Hóa là một trong những nguyên nhân chính gây ônhiễm biển do dầu và cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ sự cố tràn dầu bởi các nguyênnhân: va chạm tàu, thuyền; sự cố đắm tàu; các tàu chở dầu gặp sự cố
Bảng 3.2 Thống kê các vụ tai nạn, rủi ro trên biển trên địa bàn tỉnh
Nguyên
vụ
Số tàu bị thiệt hại
Nguyên nhân
Số vụ
Số tàu bị thiệt hại Thời
tiết
Rủi ro
Tổn
g Chìm
Thời tiết
(Nguồn: Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Thanh Hóa)
3.2.4 Nguy cơ xảy ra sự cố tràn dầu từ các kho xăng dầu
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 05 kho lưu trữ xăng dầu, là nơi cung cấp và
là nơi trung chuyển, phân phối xăng, dầu trên địa bàn cả tỉnh, bao gồm: khotrung chuyển xăng dầu - thuộc Công ty Thương mại và Đầu tư phát triển Miền