Bước những bước đầu tiên vào nền kinh tế thị trường đầy khó khăn, phức tạp, nền kinh tế đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ sở cân nhắc, sáng tạo, chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của ViệtNam. Trong quá trình học hỏi đó, triết học Mác- Lênin, đặc biệt là Học thuyết giá trị có vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhận thức về sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
===============
TIỂU LUẬN Kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa- Xu hướng kinh tế
mới của Việt Nam
Sinh viên: Phạm Thị Ngọc Trang
MSV:1414410242 Lớp/Ngành/Khóa: Anh5/KTQT/K53
\ GV hướng dẫn:Ths Đặng Hương Giang
Hà Nội-2014
Trang 2I.Phần mở đầu:
1.Lí do chọn đề tài:
Với tiền thân là nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, lại phải chống chịuvới hai cuộc chiến tranh giữ nước khốc liệt, nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậulại càng khó theo kịp xu hướng kinh tế của thế giới Sau khi giành được độc lập,bắt đầu từ cơ sở kinh tế lạc hậu, trì trệ đó, nước ta lại xây dựng nền sản xuất kếhoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, vẫn sử dụng những chính sách kinh tế cũkhông còn phù hợp, khiến cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tếnghiêm trọng, đi sau những nền kinh tế khác hàng chục thập kỉ Năm 1982, đạihội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận kinh tế Việt Nam trong thời kì1976-1980 là: "kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động và vốn đầu
tư bỏ ra, những mất cân đối lớn của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thu nhập quốcdân chưa đảm bảo được nhu cầu của xã hội…đời sống nhân dân lao động cònnhiều khó khăn" điều này chứng tỏ chúng ta chưa có nền sản xuất hàng hóa hoànhảo Trong khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường và nền sản xuất hànghóa tiến bộ mà chủ nghĩa tư bản đã đạt đươc những thành tựu về kinh tế- xã hội,phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động Cũngnhờ sản xuất hàng hóa, quản lý xã hội đạt được những thành quả về văn minhhành chính, văn minh công cộng; con người nhạy cảm, tinh tế với khả năng sángtạo, sự thách thức và đua tranh phát triển Trước tình hình đó, trong Đại hộiĐảng VI, Đảng ta kịp thời nhận ra sai lầm và tiến hành sửa đổi, chuyển sang xâydựng kinh tế thị trường và nền sản xuất hàng hóa theo định hướng xã hội chủnghĩa, kích thích sản xuất, phát triển kinh tế nhằm mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, văn minh
Bước những bước đầu tiên vào nền kinh tế thị trường đầy khó khăn, phứctạp, nền kinh tế đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ sởcân nhắc, sáng tạo, chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của ViệtNam Trong quá trình học hỏi đó, triết học Mác- Lênin, đặc biệt là Học thuyết
Trang 3giá trị có vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhận thức về sản xuất hànghóa và kinh tế thị trường.
Để góp thêm một tiếng nói ủng hộ đường lối phát triển kinh tế mà Đảng vànhà nước ta đang xây dựng, tôi chọn vấn đề “Kinh tế thị trường, sản xuất hànghóa- xu hướng kinh tế mới của Việt Nam" làm đề tài cho tiểu luận của mình
2 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của tiểu luận là làm sáng tỏ quan điểm của Triết học Mác-Lênin
về kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị Từ đó rút ra một số
ý nghĩa của sự vận dụng quy luật giá trị và vận hành có hiệu quả nền sản xuấthàng hóa Việt Nam Hoàn thành tiểu luận này, tôi hi vọng có thể góp một phầnnhỏ của mình trong việc làm rõ, củng cố lòng tin của mọi người vào công cuộcđổi mới của nhà nước ta, giúp mọi người có quan điểm rõ ràng hơn và cùng xâydựng một nền kinh tế mới-nền kinh tế với sản xuất hàng hóa theo định hướng xãhội chủ nghĩa
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống lại quan điểm của Triết học Mác-Lênin về sản xuất hàng hóa vàkinh tế thị trường, tìm ra những điểm chung và riêng của sản xuất hàng hóa ViệtNam so với thế giới Nêu ra những ưu thế và hạn chế của sản xuất hàng hóa, đề
ra giải pháp giải quyết Từ đó phân tích và vận dụng chúng vào đặc điểm hoàncảnh cụ thể, vào công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Trang 4VD: sản xuất của người nông dân trong thời kỳ công xã nguyên thuỷ, sản xuấtcủa những nông dân dưới chế độ phong kiến v.v.
1.2
Sản xuất hàng hóa :
a.Định nghĩa của triết học Mác- Lê nin về sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất rakhông phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất
ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc traođổi, mua bán
b.Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá .
- Phân công lao động xã hội:
Là sự phân chia lao động xã hội ra các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất khácnhau tạo nên sự chuyên môn hoá lao động và theo đó là chuyên môn hoá sảnxuất thành những ngành nghề khác nhau
Do sự phân công lao động mà mỗi người tạo ra những hàng hoá khác nhautrong khi nhu cầu xã hội cần nhiều thứ nên tất yếu dẫn đến trao đổi, mua bánhàng hoá để thoã mãn nhu cầu
- Sự tách biệt tương đối về mặc kinh tế giữa những người sản xuất do quan hệ
sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.
Do sự tách biệt, do quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩmlao động dẫn đến sự tách biệt về kinh tế và lợi ích, làm cho lao động của ngườisản xuất mang tính chất là lao động tư nhân Do đó người này muốn tiêu dùngsản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi sản phẩm dưới hình thái hànghoá nhằm đảm bảo sự ngang bằng về lợi ích cho mỗi bên
Trang 5Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếumột trong hai điều kiện đó thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm lao độngkhông mang hình thái hàng hóa.
Một điều quan trọng nữa là sản xuất hàng hóa phải tuân theo quy luật giá trị.Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa, nó
đề cập đến việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị củahàng hóa, tức cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó.NÒn kinh tÕ hiÖn nay lµ nÒn kinh tÕ thÞ trêng cã tÝn hiÖu nh¹y bÐn nhÊt lµ gi¸ c¶
mµ gi¸ c¶ l¹i chÞu sự chi phèi cña quy luËt gi¸ trÞ v× thÕ nãi quy luËt gi¸ trÞ cã
¶nh hëng s©u s¾c tíi nÒn kinh tÕ lµ hoµn toµn phï hîp mang tÝnh tÊt yÕu
Quy luật giá trị đặt ra 2 yêu cầu:
Trong sản xuất:
+ Khối lượng sản phẩm mà người sản xuất tạo ra phải phù hợp với khả năng thanh toán của toàn xã hội, nếu không cũng sẽ lớn hơn cầu hoặc ngược lại
+ Muốn bán được hàng hóa, bù đắp được chi phí và có lãi thì hao phí lao động
cá biệt phải phù hợp với hao phí lao động xã hội, tức là phải bằng hoặc nhỏ hơn mức chi phí mà xã hội chấp nhận
Trong lưu thông:
+ Phải thực hiện nguyên tắc ngang giá: Chỉ trao đổi hàng hóa với nhau khi chúng có lượng lao động kết tinh như nhau
+ Hàng hóa có giá trị cao thì giá cả sẽ cao và ngược lại
+ Phải đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng
Trong thực tế, giá cả hàng hóa thường phụ thuộc vào: quy luật cung cầu, sứcmua của tiền, cạnh tranh, Những nhân tố này làm giá cả hàng hóa tách rời khỏi
Trang 6giỏ trị, lờn, xuống và quay xung quanh trục giỏ trị của nú Như vậy quy luật giỏ trị sẽ vận động thụng qua sự vận động của giỏ cả.
c.Khỏc nhau giữa sản xuất hàng hoỏ và sản xuất tự cấp tự tỳc
Sản xuất hàng húa phải trả lời đầy đủ 3 cõu hỏi dựa trờn tớn hiệu giỏ và sựđiều tiết của thị trường (theo lý thuyết bàn tay vụ hỡnh của A.Smith) nhưng vẫncần sự tham gia của chớnh phủ để vận hành nền sản xuất đạt hiệu quả cao nhất(dựa lý thuyết bàn tay hữu hỡnh của Keynes) Trong khi sản xuất tự cấp, tự tỳcthị trường đúng vai trũ khụng quan trọng, nhà nước sẽ trả lời 3 cõu hỏi đú 3 cõuhỏi núi đến ở trờn là:
Sản xuất cỏi gỡ?
Sản xuất như thế nào?
Sản xuất cho ai?
d Kinh tế thị trường
Sản xuất hàng húa gắn liền với kinh tế thị trường Ta cú thể định nghĩa nhưsau: Kinh tế thị trờng là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm cónăng suất, chất lợng và hiệu quả cao; d thừa và phong phú hàng hoá; dịch vụ đợc
mở rộng và coi nh hàng hoá thị trờng; năng động, luôn luôn đổi mới mặt hàng,
Khỏc nhau Kinh tế
Hàng hoỏ
Kinh tế tự cung tự cấp
- Mục đớch sản xuất Trao đổi, mua
bỏn Tiờu dựng bản thõn người sản xuất
- Phương thức sản
xuất
Hiện đại Thủ cụng lạc hậu
- Quy mụ sản xuất Lớn Nhỏ
Trang 7công nghệ và thị trờng Đó là một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trờng,với những đặc trng cơ bản nh: phát triển kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trờng, tự
do kinh doanh, tự do thơng mại, tự định giá cả, đa dạng hoá sở hữu, phân phối doquan hệ cung- cầu Vậy cú thể núi rằng sản xuất hàng húa đỏp ứng nhu cầu củakinh tế thị trường và kinh tế thị trường chỉ cú thể tồn tại được khi cú sản xuấthàng húa
1.3
Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoỏ so với sản xuất tự cấp tự tỳc.
- Sản xuất tự cung, tự cấp là sản xuất khộp kớn nhằm thoó món nhu cầu
của bản thõn người sản xuất Do vậy nhu cầu chỉ dừng lại ở mức độ hạn hẹp.Trỏi lại sản xuất hàng húa thoó món nhu cầu tiờu dựng của thị trường, nhu cầuthị trường là động lực kớch thớch sản xuất
- Sản xuất tự cung, tự cấp cản trở sự phỏt triển của phõn cụng lao động
xó hội, sản xuất hàng hoỏ thỡ ngược lại nú thỳc đẩy sự phõn cụng lao động,chuyờn mụn hoỏ sản xuất tạo điều kiện để phỏt huy lợi thế so sỏnh của mỗivựng.( Xuất hiện nhiều ngành nghề mới như vệ sĩ, dịch vụ nhà ở…)
- Sản xuất tự cung, tự cấp khụng cú cạnh tranh, chủ yếu dựa vào nguồnlực tự nhiờn cũn sản xuất hàng hoỏ đặt trong mụi trường cạnh tranh là động lực
to lớn để thỳc đẩy cải tiến kỹ thuật, sử dụng cỏc nguồn lực sản xuất, tiết kiệm và
1.4 Những hạn chế của sản xuất hàng húa núi chung
Sản xuất hàng húa cũng cú những mặt trỏi của nú như phõn húa giàu nghốo giữa những người sản xuất, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phỏ
Trang 8-hoại môi trường sinh thái, xã hội, v.v Cụ thể những hạn chế đó sẽ phân tích vàtìm giải pháp sau khi chúng ta làm rõ sự vận hành nền sản xuất hàng hóa ViệtNam dưới đây.
2.
Tình hình kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa nước ta :
2.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế trước đổi mới
- Về bối cảnh quốc tế
Từ những năm của thập kỷ 80 thế kỷ trước, thế giới chứng kiến những quátrình mới diễn ra đang làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế - chính trị và xãhội nhân loại Toàn cầu hoá kinh tế trở thành xu thế nổi bật và tất yếu chi phốithời đại; không ngoại trừ một quốc gia, dân tộc nào, nếu muốn phát triển bắtbuộc phải mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Cùng với toàn cầu hoákinh tế, cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới lần thứ 3 diễn ra với nhịp độngày càng mạnh mẽ, mà cốt lõi là dựa trên việc ứng dụng các phát minh khoahọc công nghệ, phát triển các ngành công nghệ cao, như công nghệ truyền thông
và tin học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học…
Tình hình này trước hết tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới Chẳng nhữngcác lực lượng sản xuất và cơ cấu kinh tế thế giới có nhiều thay đổi theo hướngdựa vào tri thức và khoa học công nghệ, làm xuất hiện các ngành sản xuất mới
có hàm lượng R&D và giá trị gia tăng cao, ngành dịch vụ ngày càng có vai tròquan trọng và tỷ trọng lớn dần trong cơ cấu kinh tế quốc dân
Mặt khác, nó làm thay đổi các quan hệ kinh tế và quản lý kinh tế thế giớitheo hướng:
- Trong các nước tư bản phát triển phát triển, sau các cuộc khủng khoảng cơ cấu
và dầu lửa, từ đầu những năm 80, đã tiến hành chính sách điều chỉnh kinh tế.Nội dung cơ bản là điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung vào cácngành có hàm lượng KHCN cao, thực hiện điều tiết nền kinh tế chủ yếu thông
Trang 9qua các công cụ vĩ mô, thực hiện tư nhân hoá khu vực kinh tế nhà nước, tăngcường vai trò của kinh tế tư nhân.
- Các nước đang phát triển như Đông Á và Đông Nam Á cũng thực hiện cảicách kinh tế, trở thành khu vực phát triển năng động của thế giới Các cải cách ởđây bao gồm cải cách cơ cấu và xác định đúng chiến lược kinh tế để nâng caosức cạnh tranh và phát triển, mở cửa hội nhập và liên kết kinh tế, khuyến khíchxuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài - coi đây là động lực phát triển kinhtế
- Các nước xã hội chủ nghĩa cũ trước các khó khăn chồng chất đã tiến hành cảicách kinh tế nhằm khắc phục cơ chế kế hoạch hoá hành chính chỉ huy, chuyểnđổi sang kinh tế thị trường Cải cách kinh tế Trung Quốc từ năm 1978 đã đạtđược những thành tựu to lớn và là tấm gương cho Việt Nam tham khảo
Như vậy, có thể thấy làn sóng cải cách kinh tế rộng khắp trên thế giới cùngvới quá trình toàn cầu hoá, cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 3 đã tạo
áp lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới về kinh tế ở Việt Nam Chuyển sang nềnsản xuất hàng hóa là hệ quả tất yếu của chúng ta
- Về bối cảnh trong nước
Sau khi đất nước giải phóng cho tới năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạchhoá tập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủnghĩa kiểu Xô viết đã được áp dụng rộng rãi trên cả nước Mặc dù cónhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế, nhất là tập trung chocông nghiệp hoá, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Nhưng nền kinh tếnói chung và sản xuất công nghiệp vẫn tăng chậm, hơn nữa, có xu hướnggiảm sút và rơi vào khủng khoảng Nền sản xuất bao cấp đã tỏ ra khôngcòn phù hợp và kìm hãm sự phát triển của kinh tế Trong khi nguồn việntrợ của bên ngoài, các nguồn vốn và hàng hoá vật tư, nguyên liệu và hàng
Trang 10hoỏ tiờu dựng đó bị cắt giảm đỏng kể, lại thờm bao võy cấm vận của đếquốc Mỹ ngăn cản Việt Nam bỡnh thường hoỏ quan hệ với thế giới
Mặt khỏc do đặc trng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc nên nóchỉ có tác dụng thúc đẩy tăng trởng kinh tế trong giai đoạn ngắn và chỉ cótác dụng phát triển kinh tế theo chiều rộng Nền kinh tế chỉ huy ở nớc tatồn tại quá dài nên nó không những không còn tác dụng đáng kể trongviệc thúc đẩy sản xuất phát triển mà nó còn sinh ra nhiều hiện tợng tiêucực làm giảm năng suất, chất lợng và hiệu quả sản xuất
Nếu không thay đổi cơ chế kinh tế, vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì khôngthể nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ cha muốn nói đến tích luỹ vốn
để mở rộng sản xuất Thực tế những năm cuối của thập kỷ tám mơi đã chỉ
rõ thực hiện cơ chế kinh tế cũ cho dù chúng ta đã liên tục chúng ta đã liêntục đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, nhng hiệu quả của nền sảnxuất xã hội đạt mức rất thấp Sản xuất không đáp ứng nổi nhu cầu tiêudùng của xã hội, tích luỹ hầu nh không có, đôi khi còn ăn lạm cả vào vốnvay của nớc ngoài
Trước những khú khăn, nhiều địa phương đó tỡm lối thoỏt và đổi mới kinh tế
từ cơ sở Từ việc tổng kết thực tiễn này, năm 1979, tại Hội nghị trung ương IV,Đảng ta đó thỏo gỡ khú khăn, vướng mắc trong cơ chế quản lý nền kinh tế, nhằm
“cởi trúi” và để cho sản xuất “bung ra”- sản xuất hàng húa Tiếp theo, những cảitiến quản lý thử nghiệm được bắt đầu từ năm 1981 với khoỏn trong nụng nghiệp,điều chỉnh kế hoạch và mở rộng quyền tự chủ cho xớ nghiệp cụng nghiệp quốcdoanh Cú thể coi những cải tiến quản lý trong cỏc năm 1979-1985 là cỏc tỡm tũithể nghiệm chuẩn bị cho cải cỏch toàn diện (Đổi mới) nền kinh tế Song, cỏc cảitiến cục bộ này vẫn chưa làm thay đổi căn bản thực trạng nền kinh tế, khủngkhoảng kinh tế vẫn rất trầm trọng Vỡ vậy đổi mới toàn diện nền kinh tế trởthành yờu cầu cấp bỏch ở nước ta
Đặc trưng nổi bật trong thời kỳ này là đổi mới Đại hội VI (thỏng 12/1986)của Đảng là mốc lịch sử quan trọng trờn con đường đổi mới toàn diện ở nước ta.Sau khi phõn tớch phờ phỏn nghiờm tỳc sai lầm, thiếu sút trong thời gian qua,Đại hội đó đề ra đường lối đổi mới kinh tế toàn diện cho đất nước trong thời kỳ
Trang 11mới Tiếp theo, các Đại hội VII (tháng 6/1991), Đại hội VIII (tháng 6/1996) vàĐại hội IX (tháng 12/2001) đã tiếp tục khẳng định và bổ sung, hoàn thiện cácchủ trương chính sách đổi mới kinh tế, có đổi mới phát triển công nghiệp vàthực hiện nền sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa Nền sản xuất này biểu hiện ởnhững đổi mới trong kinh tế như sau:
- Đổi mới về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và chính sách cơ cấu
- Đổi mới trong cải tạo và xây dựng, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa, thực hiện chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọinăng lực sản xuất Phê phán quan điểm nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩatrước đây, Đại hội VI đã khẳng định sự tồn tại lâu dài của các thành phần kinh tếtrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Điều này là xuất phát từthực trạng kinh tế - xã hội còn thấp của Việt Nam Nó cho phép có nhiều hìnhthức sản xuất kinh doanh đa dạng, phù hợp về qui mô, trình độ và hình thức vớitừng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông, nhằm khai thác các tiềm năngkinh tế của xã hội Đảng coi đây là giải pháp chiến lược để giải phóng sức sảnxuất và xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
- Đổi mới cơ chế quản lý công nghiệp: Cơ chế quản lý tập trung quan liêu baocấp từ nhiều năm nay đã không tạo được động lực phát triển và gây ra nhiềuhiện tượng tiêu cực trong xã hội Do đó, Đại hội VI đã chủ trương đổi mới về cơchế quản lý kinh tế và chỉ ra thực chất của cơ chế mới đó là: “cơ chế kế hoạchhoá theo phương thức hạch toán kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúngnguyên tắc tập trung dân chủ”
Trên cơ sở tổng kết đánh giá những vấn đề thực tiễn trong đổi mới cơ chếquản lý kinh tế ở nước ta từ năm 1986 đến nay, trong các kỳ đại hội, Đảng tatiếp tục làm rõ nội dung và phương thức đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theohướng “xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường