Chất keo kết dính phát xít không còn Môi trường quốc tế thời kì đầu sau chiến tranh đã tạo điều kiện cho sự xung đột và đối kháng giữa hai nước Cô – Mỹ; sự đối lập về tín ngưỡng hình thá
Trang 1VẤN ĐỀ XÁC LẬP TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI
SAU CHIẾN TRANH LẠNH
I Khái quát về chiến tranh lạnh
a Chất keo dính phát xít không còn 3
b So sánh lực lượng quốc tế đã có sự thay đổi 4
c Quá trình giải quyết các vấn đề quốc tế 4
d Sự phát triển tự nhiên của hai lực lượng sau chiến tranh 5 2.2 Đối kháng lợi ích quốc gia và ý thức hệ 5
3 Các giai đoạn phát triển của chiến tranh 7
II Sự hình thành trật tự thế giới mới 8
1. Trật tự thế giới mới theo xu hướng đa cực 8
II Một số đặc điểm và xu thế phát triển quan hệ thế giới
1. Một số đặc điểm của quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh 17
2. Xu thế phát triển của quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh 18
Trang 22.1. Xu thế hòa dịu trên quy mô thế giới, hòa bình thế giới
2.2. Các nước lớn điều chỉnh quan hệ với nhau theo
chiều hướng xây dựng quan hệ bạn bè chiến lược ổn định
2.3. Xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa và các tổ chức
Trang 3
Trật tự quốc tế được xác lập bởi tương quan so sánh lực lượng thông qua tiềm lực tổng thể của các quốc gia, chủ yếu dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị Chủ thể nào nắm tiềm lực tổng thể lớn sẽ giữ vị trí quan trọng trong trật tự đó Nhưng xét cho cùng thì trật tự quan hệ quốc tế chỉ có tính bền vững tạm thời trong một giai đoạn lịch sử nhất định và nó được biểu hiện bằng các quan hệ ràng buộc Nó chế định hành vi trên trường quốc tế trong giai đoạn lịch
sử đó
Lịch sử thế giới biến động đầy phức tạp trong quan hệ giữa các quốc gia, các khu vực Nhưng quan hệ quốc tế định hình nên một trật tự thế giới hoàn thiện kể từ sau thế chiến thứ nhất với hòa ước Vecsai – Oasinhtơn và một trật tự thế giới thay thế được xác lập sau thế chiến thứ hai: trật tự hai cực Ianta Nguyên nhân chính dẫn đên sự thay đổi trật tự thế giới chính là sự dịch chuyển
vị trí trên trường quốc tế giữa các quốc gia với nhau Các nước khác mới nổi lên (Mỹ từ sau thế chiến thứ nhất, Liên Xô sau cách mạng Tháng 10 thành công với
sự ra đời của liên bang Xô Viết năm 1922) thay thế các cường quốc châu Âu trước kia giữ vị trí lãnh đạo thế giới
Trật tự hai cực Ianta là một trật tự với sự đối đầu trực tiếp giữa Mỹ và Liên Xô Hình thức của cuộc đấu tranh này vừa hòa bình, vừa phi hòa bình Hai siêu cường của thế giới đối lập với nhau, luôn phủ định lẫn nhau nhưng không đấu tranh trực diện trên chiến trường Cả hai chỉ ra mặt mâu thuẫn cho các khu vực nằm trong tầm ảnh hưởng của mình Dĩ nhiên ta cũng không thể không nhắc tới vai trò của các cường quốc như: Anh, Pháp, Đức, Nhật, Trung Quốc Thời kì này các quốc gia kể trên không còn mạnh như trong lịch sử Sau các thiệt hại do chiến tranh liên miên gây ra đã làm cho nền kinh tế của các quốc gia
đó bị suy thoái, không còn đủ sức vực dậy như xưa, họ đều phải dựa vào đàn anh của mình để khôi phục và trở thành đồng minh của Mỹ và Liên Xô Anh, Pháp sau là Đức, Nhật phụ thuộc vào Mỹ góp phần làm nên sức mạnh của Mỹ trên thế giới Trung Quốc được đánh giá như một nước trung gian: có thời kì
Trang 4liên minh với Liên Xô chống Mỹ (những năm 50 của thế kỉ trước), có thời kì chống cả Mỹ và Liên Xô (những năm 60), có thời kì liên minh với Mỹ chống Liên Xô (từ sau thông cáo Thượng Hải năm 1972) Ngoài những nước trên thì
cả Mỹ và Liên Xô đều cố gắng vươn cánh tay dài của mình ra các khu vực trên thế giới như cả mở Âu, Á, Phi: Đông Đức, Tây Đức; Bắc Triều Tiên và Nam Tiều Tiên, khu vực Trung Đông, …
Sau hơn 40 năm đối đầu, cả hai siêu cường đều chịu những thổn thất lớn, một số lĩnh vực mất vị trí số một thế giới Năm 1989 sau cuộc gặp gỡ của hai nhà cầm quân: Bush và Gioocbachop ở đảo Manta đã quyết định chấm dứt
“chiến tranh lạnh” sau đó là năm 1991 với tan rã của liên bang Xô Viết trật tự hai cực không còn tồn tại
I Khái quát về chiến tranh lạnh.
1 Khái niệm Chiến tranh lạnh
Chiến tranh lạnh là một cuộc đối đầu ý thức hệ, kinh tế và địa chính trị giữa hai phe: chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản sau Thế chiến thứ hai mà đứng đầu là Liên Xô và Mỹ
2 Nguồn gốc của chiến tranh.
2.1 Môi trường quốc tế:
a Chất keo kết dính phát xít không còn
Môi trường quốc tế thời kì đầu sau chiến tranh đã tạo điều kiện cho sự xung đột và đối kháng giữa hai nước Cô – Mỹ; sự đối lập về tín ngưỡng hình thái ý thức và khác biệt về lợi ích quốc gia của hai nước Xô – Mỹ đã khiến cho hai nước trong môi trường quốc tế chạm chán nhau, xung đột và đối kháng là điều không thể tránh khỏi Trong thế chiến thứ hai do cùng phải đối mặt với nguy cơ phát xít, cho nên các nước không cùng chế độ, không cùng lợi ích quốc
Trang 5gia, không cùng khu vực thế giới đã kết thành đồng minh rộng rãi, hợp tác chặt chẽ với nhau Sự nghiệp chung chống phát xít Đức, Ý, Nhật đã trở thành chất keo kết dính để duy trì đồng minh trong thời chiến của một số nước lớn Nhưng cùng với sự kết thúc của chiến tranh Thế giới thứ hai thì chất keo kết dính đó đã bắt đầu từng bước mất đi Chính vì thế về khách quan thì hòa bình sau chiến tranh đã tạo điều kiện cho xung đột và đối kháng giữa các nước lớn.
b So sánh lực lượng quốc tế đã có sự thay đổi
Các nước phát xít hung mạnh trước kia như Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại hoàn toàn Anh, Pháp tuy là nước thắng trận nhưng đã bị tổn thương nghiêm trọng trong chiến tranh, trên thực tế sau chiến tranh đã bị tụt hậu xuống hàng ngũ các nước “hạng hai” Sau chiến tranh chỉ có Mỹ và Liên Xô trở thành hai nước hung mạnh nhất thế giới không có nước nào có thể sánh được Trước chiến tranh, các nước lớn như Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Mỹ, Liên Xô cùng tồn tại, sức lực ngang nhau, so sánh lực lượng quốc tế với đặc trưng là “đa cực hóa” Nhưng sau chiến tranh so sánh lực lượng quốc tế đã có sự thay đổi mang tính căn bản, đặc trưng cơ bản của nó là “hai cực hóa” nghĩa là “cán cân quyền lực mới chỉ còn lại hai nước Mỹ - Xô” Tình trạng “hai cực hóa” trong so sánh lực lượng quốc tế đã tạo điều kiện cho xung đột và đối kháng Xô – Mỹ và đã chuyển từ đồng minh sang chiến tranh lạnh Bởi vì, từ góc độ lịch sử trong hệ thống quốc tế “hai cực hóa”, hai cường quốc chung sống hữu hảo với nhau là hết sức khó khăn Bên nào cũng coi cái được của đối phương đối với đồng minh cũng như là uy hiếp đến an ninh của bản thân mình Từ đó dẫn đến sự thù địch, đấu tranh lẫn nhau ngày càng gay gắt
c Quá trình giải quyết các vấn đề quốc tế
Vấn đề này được thỏa thuận tại các hội nghị lớn trong chiến tranh thế giới thứ hai Ví dụ như trong vấn đề Ba Lan: thỏa thuận ban đầu taij hội nghị Yalta
và Posdam là xây dựng một chính phủ liên minh giữa những người cộng sản và
Trang 6thành viên lưu vong ở nước ngoài Giai đoạn sau chiến tranh: lực lượng cộng sản phát triển mạnh mẽ; sự hiện diện của Hồng quân Liên Xô – là những nhân
tố quan trọng giúp Ba Lan thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, thu quyền về tay Đảng Cộng Sản Sau này, rất nhiều học giả và chính trị gia Mỹ dựa vào dẫn chứng này để kết luận rằng chính Liên Xô là người gây ra chiến tranh lạnh Phải thấy một điều rằng, xuất phát từ mục tiêu và lợi ích của mình, Liên Xô mong muốn một Ba Lan XHCN; nhưng cũng cần phải lưu ý có những vấn đề của chính Ba Lan phát triển vượt ra ngoài tầm kiểm soát cảu Liên Xô Tuy nhiện, trong quá trình giải quyết tình hình, có những chuyển biến khác đi so với thỏa thuận Bên cạnh đó, trong mỗi vấn đề quốc tế, Liên Xô – Mỹ đều có những nhìn nhận đánh giá hoàn toàn trái ngược nhau, xuất phát từ lợi ích hoàn toàn khác biệt của hai bên
d Sự phát triển tự nhiên của hai lực lượng sau chiến tranh
Hai thế lực cách mạng và phản cách mạng; vì hòa bình, chống chiến tranh
và thế lực với tham vọng duy trì trật tự quốc tế phân chia thành hai giới tuyến rõ nét có tác động rất lớn đến quá trình chuyển hóa quan hệ Xô – Mỹ Hai nước có thể lựa chọn thái độ hợp tác cùng giải quyết những vấn đề gặp phải sau chiến tranh Nhưng sự thực sau chiến tranh, hai nước Xô – Mỹ lại không lựa chọn phương thức hợp tác, mà từng bước đi đến chiến tranh lạnh Đó là vì sự đối lập căn bản về lợi ích quốc gia của hai nước Sự đối lập đó đã có những biểu hiện rõ ràng trong thời kì chiến tranh, sau chiến tranh lại càng rõ ràng hơn
2.2 Đối kháng giữa lợi ích quốc gia và ý thức hệ
a Đối kháng ý thức hệ
Liên Xô – Mỹ, một là nước XHCN lớn nhất, một là nước TBCN lớn nhất chịu sự chi phối của tín ngưỡng ý thức hệ, hai nước dựa vào tiến triển của chiến tranh thế giới thứ II và cục diện sau chiến tranh đề ra sức mở rộng phạm vi ảnh
Trang 7hưởng của mình ở nhiều khu vực khác nhau Là một quốc gia tôn thờ chủ nghĩa cộng sản, Liên Xô trong chính sách đối ngoại của mình cũng thể hiện rõ nét những tư duy về mặt ý thức hệ Ngay trong chiến tranh, từ 1944, Liên Xô đã bắt đầu phản công với quy mô lớn, thu được lãnh thổ đã bị mất và tiến ra bên ngoài biên giới Thời kì sau chiến tranh, Hồng quân Liên Xô đã giúp các nước Đông
Âu như: Ba Lan, Tiệp Khăc, Bungari … xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân Tổng thống Liên Xô lúc đó là Stalin từng phát biểu “Chiến tranh lần này và trước kia là khác nhau bất luận ai chiếm lĩnh đất đai thì đều áp đặt chế độ của minhg ở đó, không thể khác được” Tuy nhiên chính sách chủ yếu của Mỹ trong thời kì chiến tranh lại là duy trì đồng minh thời chiến, sắc thái ý thức hệ không
rõ ràng
b Đối kháng lợi ích quốc gia:
Lợi ích quốc gia của Liên Xô đó là bảo đảm an ninh, đặc biaatj an ninh biên giới phía Tây Sở dĩ Liên Xô đặc biệt coi trọng việc đảm bảo an ninh biên giới phía Tây vì Liên Xô là một quốc gia nằm ở trung tâm của lục địa Á – Âu, phía Tây là một dải bình nguyên rộng lớn, thiếu hẳn là chắn tự nhiên như đại dương, dãy núi hiểm trở, đầm lầy khắp nơi và rừng rậm nên nó dễ bị tấn công từ các nước lớn phương Tây Hơn nữa thời kì đầu sau chiến tranh Liên Xô ở trong cục diện lực lượng “hai cực” là một bên tương đối yếu và phải xây dựng lại từ đống tro tàn nên rất cần một môi trường quốc tế hòa bình trước hết là phải đảm bảo có một vùng biên giới phía Tây ổn định
Lợi ích quốc gia của Mỹ thì thứ nhất là an ninh chính trị và quân sự Đây
là bộ phận quan trọng trong lợi ích quốc gia của Mỹ, nó bao gồm tránh sự bùng
nổ một cuộc chiến tranh thế giới mới nguy hại đến sự sinh tồn của nước Mỹ, bảo đảm cho thế giới phương Tây không bị uy hiếp về mặt chính trị quân sự từ phương Đông
Trang 8Thứ hai là mở rộng ảnh hưởng và thế lực của nó trên toàn thế giới giữ vai trò chủ đạo trên vũ đài chính trị quốc tế.
Do lợi ích quốc gia của hia nước Xô – Mỹ trái ngược nhau nên chính sách
mà hai bên áp dụng để thực hiện lợi ích quốc gia cũng triệt tiêu nhau Liên Xô muốn thiết lập và bảo vệ một “phạm vi thế lực” để đảm bảo an ninh quốc gia và sức mở rộng phạm vi thế lực của mình, trong khi Mỹ để chống lại “sự uy hiếp của chủ nghĩa cộng sản” và “lãnh đạo thế giới” hòng làm suy yếu, thậm chí đánh đổ Liên Xô
Tóm lại, nếu môi trường quốc tế sau chiến tranh đã tạo điều kiện cho sự đối kháng giữa hai nước thậm chí là hai tập đoàn quốc gia lớn hoặc hai khối do
họ đứng đầu thì sự đối lập ý thức hệ và sự khác biệt về lợi ích quốc gia cũng khiến hai nước không thể tránh khỏi đối kháng trong môi trường quốc tế sau chiến tranh, dẫn đến sự xuất hiện của chiến tranh
3 Các giai đoạn phát triển của chiến tranh.
3.2 Giai đoạn 1962 – 1975
Từ 1962 – 1975, mối quan hệ Xô – Mỹ đã bớt căng thẳng, 2 bên dần đi vào hòa dịu Sau cuộc khủng hoảng tên lửa CuBa, các cuộc gặp gỡ đã xuất hiện Các cuộc đàm phán nhằm kiểm soát vũ khí chiến lược được tiến hành dẫn tới việc hạn chế các vũ khí chiến lược
Trang 9Thương mại song phương bắt đầu phát triển Tình trạng hòa dịu dường như được mở rộng và đỉnh cao là năm 1972 – 1973 Tháng 8/1975, 33 nước châu Âu cũng Mỹ và Canada kí hiệp ước Hansiki khẳng định chủ trương cùng tồn tại hòa bình giữa các quốc gia có chế độ chính trị khác nhua, đánh dấu một bước chuyển trong quan hệ Đông – Tây.
c Giai đoạn 1975 – 1985
Việc Liên Xô can thiệp vào Appakistan tháng 12/1979 và Hoa Kì xâm lược Grenada (1 đảo ở Trung Mỹ) đã kết thúc thời kì hòa dịu Có người gọi đây
là cuộc chiến tranh lạnh thứ hai nhưng thái độ thù địch mới trong những năm
1980 không phải là quay lạ thời kì chiến tranh lạnh 1950
d Giai đoạn 1985 – 1991
Kể từ khi Gópbachốp trở thành nhà lãnh đạo Liên Xô, hai nước đã kí nhiều văn bản trên nhiều lĩnh vực khác nhau và tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh tại cuộc gặp gỡ không chính thức trên đảo Manta vào ngày cuối cùng năm
1989 Nhưng chiến tranh lạnh chỉ thực sự kết thúc khi Liên Xô tan rã vào năm
1991 và chấm dứt sự tồn tại của hai cực Từ đây thì thế giới lại hình thành và phát triển một trật tự thế giới mới
II Sự hình thành trật tự thế giới mới.
1. Trật tự thế giới mới theo xu hướng đa cực.
Do sự tan ra của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô, Mỹ ngẫu nhiên trở thành cường quốc số một thế giới Trên thực tế Mỹ hiện đang giữ vị trí số một thế giới về sức mạnh quân sự, kinh tế, về tầm ảnh hưởng đến các vấn đề chính trị, văn hóa, tư tưởng trên toàn cầu Mỹ hằng năm vân sản xuất 20 – 25% tổng sản phẩm của thế giới với GDP năm 1912 ước tính đạt 15,6 nghìn tỷ USD, chi phí quốc phòng khổng lồ với lợi thế về vũ khí nguyên tử và hàng loạt kỹ thuật quân
sự mũi nhọn Mỹ vẫn là siêu cường về KHKT và công nghệ hiện đại, đủ sức đảm
Trang 10bảo cho nền kinh tế Mỹ tiếp tục phát triển vào thế kỷ XIX Tuy nhiên nước Mỹ cũng bị suy yếu tương đối khi bước ra khỏi chiến tranh lạnh và phải đương đầu với những thách thức ngăn cản Mỹ vươn lên vị trí bá chủ toàn cầu.
Trong giai đoạn cuối của chiến tranh lạnh, các quốc gia: Anh, Pháp, Đức, Nhật, Trung Quốc đã đạt được những bước tiến đáng kể về kinh tế và vẫn đang vận động phát triển không ngừng Bên cạnh đó các quốc gia nhỏ đang phát triển cũng mong muốn đưa đất nước lên vị trí cao hơn, họ đã liên kết lại với nhau nhằm hạn chế sự khống chế của các nước lớn Như vậy, trên thế giới có 3 lực lượng chủ yếu đang đuổi theo những mô hình kinh tế khác nhau của trật tự thế giới mới” Đó là Mỹ muốn thiết lập một trật tự thế giới đơn cực do Mỹ làm bá chủ; là các cường quốc trung tâm lớn như Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, liên minh châu Âu có cùng lợi ích chiến lược trong việc thúc đẩy sự ra đời của một trật tự thế giới đa cực mà bản thân họ sẽ đóng vai trò là các cực trong trật tự này; là đại đa số các nước còn lại – các nước nhỏ, các nước đang phát triển mong muốn thiết lập trật tự thế giới thật sự dân chủ, bình đẳng Các chủ thể ra sức hành động nhằm đạt được mục đích cao nhất của mình
Cho đến nay, Mỹ vẫn là một siêu cường duy nhất của thế giới đó là điều chúng ta không thể bàn cãi Nền kinh tế khổng lồ đó ngày ngày vẫn tiến những bước chóng mặt mà không có một nền kinh tế nào trên thế giới có thể đứng ngang bằng: số liệu gần đây nhất về kinh tế Mỹ, tăng trưởng kinh tế 3,4 %, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trong 11 tháng đầu năm 2006 đạt 1,3 nghìn tỉ USD chiếm khoảng 30% nền kinh tế thế giới; về quân sự Mỹ cũng là quốc gia đứng đầu thế giới về chi phí quân sự với 528,7 tỷ USD trong khi đó cả thế giới là 1200 tỷ USD Trong giai đoạn 2002 – 2006 Mỹ và Nga là hai nhà cung cấp vũ khí lớn nhất thế giới, với giá trị các loại vũ khí mỗi nước bán ra chiếm khoảng 30% Cũng vì lẽ đó từ sau khi Liên Xô thất thủ Mỹ luôn coi mình
là người anh cả đi đầu, lãnh đạo thế giới, bảo về an ninh thế giới Các nhà cầm quyền của nước Mỹ luôn mong muốn nước này vươn lên trở thành lãnh tụ toàn
Trang 11cầu với nhũng thủ đoạn, biện pháp mới hòng thực hiện các mục tiêu tối cao, trở thành tôn chỉ mục đích và hành động của Mỹ:
+ Thâu tóm trong tay và chi phối tất cả các khu vực trên thế giới
+ Tiếp tục tấn công làm xóa bỏ hết các nước XHCN
+ Vừa liên kết với các đồng minh TBCN, vừa kiềm chế cạnh tranh với
họ
+ Mở rộng và phổ biến cũng như áp đặt mô hình Mỹ và những giá trị CNTB Mỹ ra tất cả các nước
Mỹ cho rằng: “sự lãnh đạo của Mỹ đối với thế giới hiện nay là quan trọng
và cần thiết hơn bất kỳ thời kỳ nào trong quá khứ …”
Từ việc bao vây cấm vận kinh tế bất kể nước nào có thái độ đối đầu với mình, Mỹ đưa ra các chính sách cao hơn về mặt chính trị và quân sự
Chính trị: thì từ hồi tổng thống Billclinton đã đề ra chiến lược cam kết
mở rộng (1995) với nội dung: ra sức củng cố và phát huy sức mạn mọi mặt của
Mỹ ở trong nước cũng như trên thế giới, bảo vệ an ninh và các lợi ích chiến lược của Mỹ trên thế giới; chống lại mọi hiểm họa đối với Mỹ, xây dựng trật tự thế giới mới bảo đảm “sự lãnh đạo của Mỹ đối với thế giới” và “Mỹ có vai trò lãnh đạo toàn cầu” … ngăn chặn không để xuất hiện mọi đối thủ cạnh tranh với
Mỹ trong thời kỳ hậu chiến tranh … và đến năm 1998 đề ra “chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ cho thế kỷ mới” dựa trên nền tảng chiến lược 1995, có sự điều chỉnh một số nội dung mới Đặc biệt là từ sau vụ 11/9/2001 đã có nhiều sự thay đổi mới trong nội dung chiến lược của Mỹ 20/9/2002 Mỹ công bố “chiến lược
an ninh quốc gia mới thay thế chiến lược an ninh quốc gia cam kết và mở rộng” với những điều chỉnh mang tính chiến lược hiện thời của Mỹ mà nổi bật nhất là: chống khủng bố trở thành nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu …
Trang 12Một trong những thủ đoạn thâm độc nhất mà các cơ quan tình báo sử dụng là khai thác các khuyết tật kinh tế - xã hội, sự bất mãn của các thành phần kinh tế - xã hội, sự bất mãn của các thành phần quần chúng, cùng với sự trì trệ trong việc xúc tiến các chính sách mà Mỹ cho là phù hợp các tiêu chuẩn của nền kinh tế, xã hội, chế độ “tự do hóa” “tư nhân hóa”, “thị trường hóa” … đều bị liệt vào các phần tử phản động, phản cách mạng, phản dân chủ Mỹ sử dụng mọi chiêu bài đặc biệt là các chiêu bài về quyền dân chủ hòng thò bàn tay chính trị vào các nước mà Mỹ quan tâm hoặc những đối tượng của Mỹ.
Cùng với chiêu bài kinh tế, chính trị Mỹ còn đẩy mạnh sức mạnh vũ trang Như đã nói Mỹ là quốc gia có tiềm lực chính trị và chi phí cho quốc phòng lớn nhất thế giới Thủ đô Oasinhton của Mỹ với trên 50% thu nhập từ buôn bán vũ khí Mỹ sẵn sang sử dụng vũ lực một cách không khoan nhượng cho dù thế giới đã lên tiếng ngăn cản Và thực tế hầu hết các cuộc chiến tranh gần đây bao gồm cả các cuộc chiến tranh quốc gia hay sắc tộc đều có bàn tay của Mỹ hay chính Mỹ trực tiếp tham gia: 1991 chiến tranh vùng vịnh Pécxinh,
1994 tham gia cuộc chiến tại Boxnia Hecxegovina; tháng 4/1994 sau chiến tranh Côxovo, Mỹ chi phối được Nam Tư; năm 2001 Mỹ cùng các nước đồng minh đánh chiếm Apganixtan và chốt nhiều vị trí trọng yếu ở vùng Trung Á; năm 2003 liên quân Anh – Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh Irac lần 2 …
Với sức mạnh của mình Mỹ đã thu được những kết quả đáng kể, tầm ảnh hưởng của Mỹ rất lớn ở nhiều khu vực trên thế giới: Mỹ latinh, một số khu vực của châu Phi, Trung Đông, gần đây là Mỹ đang cố gắng thông qua Nhật gây ảnh hưởng ở châu Á – Thái Bình Dương Ngoài những khu vực trên thì ngay cả các quốc gia được coi là hàng đầu của thế giới cũng nằm trong sự liên quan với Mỹ
về những mặt riêng: liên minh châu Âu đặc biệt là Anh có quan hệ rất lớn với
Mỹ về kinh tế là thị trường số một với Mỹ và chịu nhiều “sự giúp đỡ” của Mỹ
về kinh tế; Nhật kinh tế đứng thứ 2 thế giới nhưng nhờ Mỹ về mặt quân sự (từ năm 1947) nhằm giữ gìn an ninh, trật tự … đặc biệt khu vực Trung Đông tầm
Trang 13ảnh hưởng của Mỹ liên quan đến sự yên ổn, hòa bình của khu vực này Ngày cả LHQ thì tiếng nói của Mỹ là có trọng lượng nhất Mỹ thường tự hành động với những việc làm mà nước này cho là “cần thiết” với “an ninh, hòa bình thế giới” mặc dù có sự lựa chọn của Mỹ vào hàng ngũ của những kẻ “phản động”
Từ sức mạnh kinh tế, quân sự chủ trương cuối cùng của Mỹ là tiếp tục đưa tiếng nói chính trị của Mỹ được đẩy cao hơn nữa trên trường quốc tế, dung tiếng nói của mình áp đặt cho các quốc gia “dưới cơ” sau là các nước lớn và toàn thể thé giới Mưu đồ của Mỹ là trở thành một cực duy nhất của thế giới Siêu cường duy nhất của thế giới
Đó là mục đích, bước đi riêng của Mỹ, còn đối với tình hình chung của thế giới cùng động thái của các nước được coi là đồng minh thân cận của Mỹ thì sao? Họ chấp nhận hay không vị trí cùng những tham vọng khổng lồ của Mỹ?
Ngay trong những năm 80 của thế kỷ trước thì một trật tự mới đã bắt đầu hình thành, có khả năng thay thế cho trật tự Ianta đang đi xuống trong thời gian
đó Được thể hiện là sự vươn lên của các quốc gia ngoài Mỹ và Liên Xô Đặc biệt là những năm gần đây cùng với sự biến động bất thường, chúng ta đã được chứng kiến một sự thay đổi ngoạn mục của thế giới Toàn cầu như đang “thay làn da mới” đặc biệt là tình hình kinh tế Các thế lực có truyền thống trong lịch
sử loài người về sức mạnh vươn lên mạnh mẽ cùng với thời đại Họ không chấp nhận sự áp đặt của Mỹ, mãi chỉ là đàn em của Mỹ Nên bên cạnh những quan hệ hợp tác với Mỹ, các quốc gia này đều đang tiến những bước đi riêng của mình trên trường quốc tế và mong muốn trở thành một cực trên đấu trường thế giới
Nhật Bản
Trở ngại thứ nhất đối với việc Mỹ vươn lên làm bá chủ thế giới đó là Nhật Bản Nhật là đồng minh thân cận truyền thông với Mỹ Trong giai đoạn được coi là “một thần kỳ Nhật Bản” thì đằng sau đó chính Mỹ là quốc gia tài trợ cao nhất giúp Nhật có được như ngày hôm nay Bên cạnh đó Nhật còn đẩy mạnh