1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường huy động vốn bằng trái phiếu được chính phủ bảo đảm ở việt nam

136 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 416,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh các loại trái phiếu do Chính phủ trực tiếp phát hành như tín phiếu, trái phiếu kho bạc còn có các công cụ nợ khác được Chính phủ bảo đảm thanh toán, đó là trái phiếu chính quyền

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Chính sách huy động vốn là một bộ phận quan trọng của chính sách tài chính quốc gia, gắn bó mật thiết với chính sách đầu tư phát triển kinh tế, chính sách tiền tệ tín dụng, đồng thời tác động trực tiếp đến các quan hệ phân phối - thu nhập, tích luỹ - tiêu dùng trên phạm

vi toàn xã hội Đây là chính sách được ưu tiên hàng đầu của các quốc gia đang phát triển

Trong những năm gần đây, để thực hiện chủ trương khai thác tối đa các nguồn vốn trong nền kinh tế cho đầu tư phát triển, Chính phủ đã rất chú trọng đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, trong

đó có việc phát hành các chứng khoán nợ của Chính phủ Bên cạnh các loại trái phiếu do Chính phủ trực tiếp phát hành như tín phiếu, trái phiếu kho bạc còn có các công cụ nợ khác được Chính phủ bảo đảm thanh toán, đó là trái phiếu chính quyền địa phương để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của các địa phương và trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ, các doanh nghiệp Nhà nước phát hành để thực hiện các dự án, chương trình mục tiêu của Chính phủ

Việc huy động vốn bằng trái phiếu được Chính phủ bảo đảm trong thời gian qua bước đầu đã mang lại những ý nghĩa thiết thực, khẳng định hướng đi đúng đắn trong chiến lược tạo vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, vì nhiều lý do nên các công cụ

Trang 2

này chưa phát huy hết vai trò và hiệu quả của nó Hình thức trái phiếu chưa đa dạng, cơ chế phát hành còn bất cập, quy mô phát hành còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và vốn thực hiện các chương trình mục tiêu của Chính phủ.

Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các công cụ quản lý nhà nước về tài chính, tạo điều kiện phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, bảo đảm đủ nguồn lực tài chính cần thiết phục vụ nhu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và nhu cầu vốn thực hiện các dự án kinh tế trọng điểm, các chương trình mục tiêu của Chính phủ trong giai đoạn sắp tới, đòi hỏi công tác huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo đảm phải tiếp tục cải tiến và hoàn thiện

Xuất phát từ tình hình trên, học viên đã lựa chọn đề tài:

"Tăng cường huy động vốn bằng trái phiếu được Chính phủ bảo đảm ở Việt Nam" để nghiên cứu và làm luận văn Thạc sỹ của mình.

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tổng quan về hoạt động huy động vốn bằng trái phiếu Chính phủ bảo đảm: khái niệm, đặc điểm, các hình thức trái phiếu của Chính phủ nói chung và trái phiếu được Chính phủ bảo đảm nói riêng; cơ chế phát hành, giao dịch trái phiếu được

Trang 3

Chính phủ bảo đảm; làm sáng tỏ sự cần thiết khách quan của việc huy động vốn được Chính phủ bảo đảm.

Phân tích, đánh giá thực trạng việc huy động vốn bằng trái phiếu được Chính phủ bảo đảm ở Việt Nam thời gian qua, nêu lên những mặt được, những mặt còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó

Trên cơ sở lý luận chung và thực trạng huy động vốn bắng trái phiếu được Chính phủ bảo đảm ở Việt Nam, luận văn đã đề xuất quan điểm và các giải pháp tăng cường huy động vốn bằng trái phiếu được Chính phủ bảo đảm ở Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào hoạt động phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo đảm tại Việt Nam, gồm có trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ, các doanh nghiệp Nhà nước phát hành và sử dụng vốn theo chương trình, mục tiêu chỉ định của Chính phủ Đề tài dựa vào thực trạng phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo đảm trong giai đoạn 2001 - 2005 để phân tích, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phù hợp nhằm tăng cường khả năng huy động vốn trong thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm

Trang 4

của chủ nghĩa Mác - Lê nin, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: thu thập thông tin, tổng hợp, thống kê, so sánh và phân tích để nghiên cứu

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề tổng quan về trái phiếu được Chính

phủ bảo đảm

Chương 2 Thực trạng công tác huy động vốn bằng trái phiếu

được Chính phủ bảo đảm ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005

Chương 3 Giải pháp tăng cường huy động vốn bằng trái

phiếu được Chính phủ bảo đảm ở Việt Nam trong thời gian tới

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU

ĐƯỢC CHÍNH PHỦ BẢO ĐẢM

Trang 5

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁI PHIẾU CỦA CHÍNH PHỦ

1.1.1 Khái niệm

Trái phiếu là một loại tài sản tài chính phản ánh nghĩa vụ của nhà phát hành đối với người nắm giữ trái phiếu Nhà phát hành (người vay tiền) phải cam kết trả cho người nắm giữ trái phiếu (người cho vay) tương ứng số tiền đã vay và tiền lãi trong một thời hạn nhất định Như vậy xét về bản chất, trái phiếu là một hình thức đặc biệt của tín dụng Nó phản ánh quan hệ vay mượn, sử dụng vốn lẫn nhau trên nguyên tắc hoàn trả Bản thân chứng chỉ trái phiếu hoặc các sổ sách ghi chép trái phiếu thể hiện mối quan hệ vay mượn giữa hai chủ thể Dù phát hành dưới hình thức nào thì trái phiếu cũng có các điều khoản phản ánh quan hệ vay nợ như: số tiền gốc;

kỳ hạn; lãi suất; cách thức trả lãi, gốc; các điều khoản có liên quan như quyền mua lại, quyền chọn bán, thế chấp,

Trái phiếu của Chính phủ là một loại công cụ nợ đặc biệt mà người phát hành là Chính phủ hoặc các cơ quan, tổ chức được Chính phủ chỉ định phát hành và Chính phủ đứng ra bảo đảm thanh toán trong trường hợp tổ chức phát hành không bố trí đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn Trái phiếu của Chính phủ được sử dụng để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước hoặc để đầu tư xây dựng các công trình, dự án mang tính cộng đồng hoặc để thực hiện các dự án trọng điểm quốc gia, các chương trình, mục tiêu của Chính phủ Nguồn

Trang 6

vốn thanh toán trái phiếu của Chính phủ được bố trí từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn thu do công trình mang lại Từ đó, có thể xác định khái niệm về trái phiếu của Chính phủ là một loại công cụ nợ

do Chính phủ phát hành hoặc đảm bảo, có mệnh giá, có kỳ hạn, có lãi, xác nhận nghĩa vụ của Chính phủ với người sở hữu trái phiếu

1.1.2 Đặc trưng của trái phiếu của Chính phủ

- Tính biến động của giá trái phiếu phụ thuộc và kỳ hạn Nếu

kỳ hạn càng dài, mức độ biến động của giá càng lớn và ngược lại

Trang 7

Lãi suất được xác định dưới nhiều hình thức như: lãi suất coupon, lãi suất chiết khấu, lãi đơn, lãi gộp, lãi suất cố định, lãi suất thả nổi Lãi suất là một trong những yếu tố cơ bản của trái phiếu,

nó có ảnh hưởng rất lớn đến giá và lợi tức của trái phiếu Lãi suất trái phiếu của Chính phủ tuỳ thuộc vào các yếu tố: thời hạn, khả năng thanh khoản, chỉ số lạm phát và tình hình thị trường

1.1.2.3 Mệnh giá

Mệnh giá trái phiếu là số tiền mà người phát hành cam kết sẽ trả cho người sở hữu trái phiếu khi đến hạn, thường được xem như

là số nợ gốc ghi trên tờ trái phiếu

1.1.2.4 Thị giá trái phiếu

Thị giá trái phiếu là giá thực tế của trái phiếu trên thị trường, thường được thông báo bằng tỷ lệ % so với mệnh giá Trái phiếu có giá 100 nghĩa là bằng 100% mệnh giá Nếu giá trái phiếu thấp hơn mệnh giá (ví dụ như 95) thì được gọi là chiết khấu (discount); nếu giá cao hơn mệnh giá (ví dụ 105) thì gọi là phụ trội (premium)

1.1.2.5 Lợi tức

Cũng như các loại chứng khoán nợ khác, trái phiếu của Chính phủ có tính sinh lời Khi đầu tư vào trái phiếu của Chính phủ, người đầu tư sẽ được hưởng một mức lợi tức nhất định Lợi tức của trái phiếu là vấn đề mà người đầu tư và các nhà kinh tế quan tâm nhất vì

nó phản ánh chính xác lợi nhuận thu được khi đầu tư vào trái phiếu

Tỷ lệ lợi tức được xác định bằng cách lấy số tiền mà người sở hữu

Trang 8

trái phiếu nhận được từ lãi suất được hưởng của trái phiếu, cộng với

sự sai biệt về giá của trái phiếu đó, chia cho giá mua

Ví dụ: một trái phiếu có mệnh giá 1.000.000 đồng, lãi suất coupon là 10%/năm, được mua với giá 1.000.000 đồng, giữ 1 năm, sau đó bán với giá 1.200.000 đồng Như vậy, tỷ lệ lợi tức của trái phiếu là:

1.000.000 đ x 10% + (1.200.000 đ - 1.000.000 đ)

= 30%1.000.000 đ

Từ ví dụ trên cho thấy, đối với một trái phiếu, tỷ lệ lợi tức không nhất thiết bằng lãi suất của trái phiếu đó

Hai loại lợi tức thông dụng trên thị trường tài chính là lợi tức hoàn vốn và lợi tức hoàn vốn hiện hành

- Lợi tức hoàn vốn của trái phiếu là mức lợi tức mà ở đó có thể làm cân bằng giá trị hiện tại của một món phải trả trong tương lai theo chính trái phiếu đó với giá trị hiện tại của nó [25-68]

Đối với trái phiếu coupon, giá trị hiện tại của trái phiếu được tính như sau:

Pb = + - + - + + - + -

1+i (1+i)2 (1+i)3 (1+i)n (1+i)n

Trong đó:

C: Tiền lãi từ lãi suất coupon

Trang 9

F: Mệnh giá trái phiếun: Số năm tới ngày đáo hạnPb: Giá hiện hành (thị giá trái phiếu)i: Lợi tức hiện hành

Từ công thức trên có thể xác định ra lợi tức hiện hành của trái phiếu khi biết các yếu tố còn lại

Cũng từ công thức trên, có thể xác định mối quan hệ giữa giá trị hiện tại và lợi tức hoàn vốn là nghịch chiều Giá càng cao, lãi suất hoàn vốn càng thấp và ngược lại giá càng thấp, lợi tức hoàn vốn càng cao Khi trái phiếu được đặt bằng mệnh giá thì lợi tức hoàn vốn bằng lãi suất coupon Lợi tức hoàn vốn lớn hơn lãi suất coupon khi giá trái phiếu thấp hơn mệnh giá và ngược lại

- Lợi tức hoàn vốn hiện hành: là loại lợi tức được sử dụng rộng rãi trên thị trường tài chính vì nó là số đo gần đúng với lợi tức hoàn vốn và dễ tính toán hơn lợi tức hoàn vốn Lợi tức hoàn vốn hiện hành được xác định bằng tỷ số giữa khoản tiền lãi coupon hàng năm với giá hiện hành của trái phiếu đó

C

i =

-PbTrong đó:

i: Lợi tức hoàn vốn hiện hànhC: Tiền lãi coupon hàng nămPb: Giá trái phiếu

Trang 10

Lợi tức hoàn vốn hiện hành càng gần với lợi tức hoàn vốn, nếu giá trái phiếu càng gần với mệnh giá khi kỳ đáo hạn của trái phiếu càng dài.

Lợi tức hoàn vốn hiện hành càng xa với lợi tức hoàn vốn nếu giá trái phiếu càng xa với mệnh giá, khi kỳ đáo hạn của trái phiếu càng ngắn

Lợi tức hoàn vốn hiện hành có gần với lợi tức hoàn vốn hay không tuỳ thuộc vào sự thay đổi lãi suất hoàn vốn hiện hành có cùng chiều với lãi suất hoàn vốn hay không

1.1.2.6 Tính rủi ro

Trái phiếu của Chính phủ có độ rủi ro thấp nhất trong các loại chứng khoán nợ Có thể dễ dàng hiểu được điều này bởi vì trái phiếu của Chính phủ được ngân sách nhà nước bảo đảm thanh toán Trong trường hợp ngân sách không bảo đảm được nguồn để thanh toán gốc, lãi trái phiếu khi đến hạn thì Chính phủ có thể phát hành

nợ mới để đáo nợ cũ hoặc dùng quyền phát hành tiền để trang trải cho các khoản nợ đến hạn (bằng đồng tiền nội địa) Mặt khác, về mặt chính khính trị, khi Chính phủ này hết hạn cầm quyền thì Chính phủ mới có trách nhiệm tiếp nhận và thanh toán các khoản nợ của Chính phủ tiền nhiệm

Mặc dù được coi là có độ an toàn cao nhất trong các loại chứng khoán nợ nhưng trái phiếu của Chính phủ vẫn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro: rủi ro về do biến động lãi suất, tỷ giá, rủi ro về khả

Trang 11

năng thanh toán bằng ngoại tệ, rủi ro về khả năng chuyển trái phiếu thành tiền mặt.

Trái phiếu của Chính phủ có nhiều loại khác nhau, tương ứng với mức độ rủi ro khác nhau Trái phiếu Chính phủ trực tiếp phát hành có độ rủi ro thấp nhất, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu của các cơ quan của Chính phủ phát hành có độ rủi ro cao hơn trái phiếu Chính phủ nhưng vẫn thấp hơn trái phiếu công ty

1.1.2.7 Tính thanh khoản

Tính thanh khoản là khả năng chuyển trái phiếu thành tiền mặt Trong các loại trái phiếu của Chính phủ, tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao nhất bởi kỳ hạn ngắn Trái phiếu kho bạc có

kỳ hạn dài hơn nhưng được tham gia thị trường tiền tệ với tư cách là công cụ vay chiết khấu, cầm cố, mua bán ngắn hạn, nên trái phiếu kho bạc cũng có tính thanh khoản cao Các loại trái phiếu được Chính phủ bảo đảm có tính thanh khoản thấp hơn tín phiếu, trái phiếu kho bạc Có những loại trái phiếu không có tính thanh khoản

do mục tiêu phát hành không cho phép trái phiếu được lưu hành trên thị trường Ví dụ, trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã phát hành loại trái phiếu đặc biệt để tăng vốn cho một số ngân hàng thương mại Nhà nước và loại trái phiếu này không được phép mua bán, chuyển nhượng ít nhất trong vòng 5 năm kể từ ngày phát hành

1.1.3 Phân loại trái phiếu của Chính phủ

1.1.3.1 Theo chủ thể phát hành

Trang 12

- Trái phiếu Chính phủ: do Chính phủ (thường uỷ nhiệm cho

Bộ Tài chính) phát hành với mục đích bù đắp bội chi ngân sách, tăng cường vốn đầu tư phát triển và Chính phủ chịu trách nhiệm trích ngân sách hoàn trả gốc, lãi trái chiếu cho chủ sở hữu khi đến hạn Đây là hình thức phổ biến nhất và thường tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ từ chứng khoán nợ của các quốc gia

- Trái phiếu chính quyền địa phương: do chính quyền địa phương cấp bang trở xuống phát hành, gồm: chính quyền bang; chính quyền tỉnh, thành phố; chính quyền quận, huyện, Theo luật pháp của Mỹ và một số nước phát triển như Anh, Nhật, Canada, Italia, chính quyền địa phương có ngân sách độc lập với ngân sách quốc gia, được hình thành từ nguồn thu thuế, phí, lệ phí và một phần trợ cấp từ ngân sách liên bang Chính quyền địa phương được phép huy động vốn để tài trợ cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn và chịu trách nhiệm thanh toán khi đến hạn Ở Việt Nam, theo Luật Ngân sách nhà nước, chỉ chính quyền cấp tỉnh mới được phép phát hành trái phiếu chính quyền địa phương

- Trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ phát hành và sử dụng nguồn vốn đó để thực hiện các chương trình, dự án theo mục tiêu chỉ định của Chính phủ Tổ chức phát hành loại trái phiếu này thường là các tổ chức tài chính, tín dụng Nhà nước

Trang 13

- Trái phiếu của các doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ chỉ định phát hành trái phiếu để đầu tư cho các dự án kinh tế trọng điểm quốc gia và được Chính phủ bảo đảm thanh toán.

- Trái phiếu dài hạn: kỳ hạn trên 1 năm Trái phiếu thường được phát hành để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, đáp ứng các nhu cầu chi đầu tư phát triển Thông thường, trái phiếu được phát hành theo hình thức trả lãi định kỳ hoặc cuối kỳ, giao dịch trên cơ

sở lãi suất cộng dồn Về nguyên tắc, lãi suất trái phiếu dài hạn phải lớn hơn lãi suất tín phiếu ngắn hạn

1.1.3.3 Theo hình thức trả lãi

Theo cách phân chia này thì có các hình thức sau:

Trái phiếu có lãi suất cố định: lãi suất của trái phiếu không thay đổi và được xác định ngay tại thời điểm phát hành, có thể trả

Trang 14

một lần khi đến hạn (bullet bond), trả định kỳ (coupon bond) hoặc trả trước;

Trái phiếu có lãi suất thả nổi: lãi suất của trái phiếu thay đổi tại từng thời điểm trả lãi, thường được tính theo lãi suất của thị trường liên ngân hàng hoặc điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát

Trái phiếu chiết khấu (zero coupon): trái phiếu được bán với giá thấp hơn mệnh giá và thanh toán bằng mệnh giá khi đến hạn Số tiền chênh lệch giữa giá bán và mệnh giá chính là lãi của trái phiếu

1.1.3.4 Theo hình thức trái phiếu và tiêu thức quản lý

Theo hình thức biểu hiện có trái phiếu chứng chỉ vật chất và trái phiếu ghi sổ Theo tiêu thức quản lý có trái phiếu vô danh và trái phiếu ghi danh.Trái phiếu vô danh không ghi tên chủ sở hữu trên trái phiếu Trái phiếu ghi danh có ghi tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, của nhà đầu tư trên trái phiếu và trong sổ của nhà phát hành Trong trái phiếu ghi danh có trái phiếu ghi danh đầy đủ

và trái phiếu ghi danh không đầy đủ Ngày nay, bên cạnh hình thức chứng chỉ ghi danh thì hình thức trái phiếu ghi danh ghi sổ ngày càng phát triển vì tiết kiệm được chi phí in ấn và quản lý

1.1.3.5 Theo mục đích phát hành

- Tín phiếu kho bạc: phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước và làm công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương

Trang 15

- Trái phiếu kho bạc: phát hành để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, bổ sung vốn cho đầu tư phát triển thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Trung ương.

- Trái phiếu chính quyền địa phương: phát hành để đầu tư các

dự án phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của chính quyền địa phương

- Trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ phát hành để thực hiện các chương trình, mục tiêu chỉ định của Chính phủ

- Trái phiếu của các doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ chỉ định phát hành và bảo lãnh thanh toán, được phát hành để đầu tư cho các dự án kinh tế trọng điểm quốc gia

1.1.3.6 Theo mức độ bảo đảm thanh toán

- Trái phiếu Chính phủ: do Chính phủ (uỷ nhiệm cho Bộ Tài chính) phát hành và chịu trách nhiệm bố trí nguồn thanh toán gốc, lãi trái phiếu cho chủ sở hữu từ ngân sách nhà nước

- Trái phiếu được Chính phủ bảo đảm: do chính quyền địa phương, các cơ quan, tổ chức được Chính phủ chỉ định phát hành trái phiếu Các tổ chức phát hành có trách nhiệm thanh toán gốc, lãi khi đến hạn; trường hợp các tổ chức phát hành không bố trí đủ nguồn thanh toán gốc, lãi đúng hạn thì Chính phủ trích ngân sách nhà nước để thanh toán cho chủ sở hữu

1.1.3.7 Theo địa bàn phát hành

- Trái phiếu trong nước: phát hành trong phạm vi một quốc gia

Trang 16

- Trái phiếu quốc tế: phát hành ra thị trường vốn quốc tế.

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát hành trái phiếu của Chính phủ

- Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế: Việc phát hành trái phiếu của Chính phủ trên thị trường sơ cấp phụ thuộc vào nhu cầu huy động vốn để bù đắp thiếu hụt của ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển Với rất nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, các nguồn thu ngân sách có hạn nhưng nhu cầu chi ngân sách rất lớn, Chính phủ cần phải đi vay để bù đắp thâm hụt ngân sách Hơn nữa, nhu cầu vốn lớn cho đầu tư phát triển, đặc biệt

là các dự án cơ sở hạ tầng, cũng là một vấn đề hết sức cấp bách Nhiều Chính phủ không muốn phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách, đồng thời thi hành chính sách tín dụng thận trọng để kiểm soát lạm phát nên việc phát hành các loại trái phiếu cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng

- Tốc độ phát triển kinh tế: Với một nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, thu nhập và tiết kiệm trong nền kinh tế nói chung và các tầng lớp dân cư nói riêng ngày càng tăng Khi đó, nhu cầu đầu

tư vào trái phiếu của Chính phủ cũng tăng lên Trong trường hợp kinh tế suy thoái, thu nhập dân cư giảm sút cùng với tiết kiệm, cầu

về trái phiếu của Chính phủ sẽ giảm đi Cầu về trái phiếu là yếu tố quan trọng quyết định khả năng huy động vốn trái phiếu trên thị trường sơ cấp

Trang 17

- Lạm phát và lãi suất tương lai dự tính: Lạm phát và lãi suất chịu ảnh hưởng lớn của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Hai phạm trù này liên quan chặt chẽ với nhau và cùng có ảnh hưởng trực tiếp đến cầu trái phiếu Nếu nhà đầu tư dự đoán lạm phát hoặc lãi suất tăng trong tương lai, họ sẽ giảm cầu trái phiếu của Chính phủ trong hiện tại Ngược lại, nếu dự kiến lạm phát hoặc lãi suất giảm trong tương lai thì cầu trái phiếu hiện tại sẽ có xu hướng tăng.

- Lợi tức và mức độ rủi ro của của các công cụ đầu tư khác (vàng, bất động sản, ): Khi lợi tức của các công cụ đầu tư khác tăng lên hoặc mức độ rủi ro của chúng giảm đi thì cầu trái phiếu giảm xuống Ngược lại, trường hợp lợi tức các công cụ đầu tư giảm hoặc mức độ rủi ro của chúng tăng lên thì cầu trái phiếu của Chính phủ sẽ tăng lên

- Khả năng sinh lợi từ việc mua, bán, chuyển nhượng trái phiếu của Chính phủ: Khi mua trái phiếu trên thị trường, các nhà đầu tư có thể nhằm hai mục đích chủ yếu: mua để hưởng lãi từ trái phiếu khi đến hạn thanh toán và mua trái phiếu để bán lại nhằm thu lợi từ hoạt động kinh doanh này Đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp và các nhà đầu tư có tổ chức, đa số mua trái phiếu để nhằm mục đích thứ hai Tuy nhiên, các nhà đầu tư chỉ bán lại trái phiếu đã mua khi thu được lợi từ hoạt động này, tức là số tiền lợi nhuận thu được do đầu tư vào các loại hình đầu tư khác lớn hơn số tiền lãi từ việc giữ trái phiếu Nếu nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững

Trang 18

sẽ có nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư tìm kiếm các công cụ đầu tư

có khả năng sinh lợi cao, như trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp hoặc đầu tư trực tiếp Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái, ít cơ hội đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao, các chủ thể sẽ tăng tỷ trọng đầu tư vào các công cụ tài chính ít rủi ro là trái phiếu của Chính phủ Khi

đó, cầu trái phiếu của Chính phủ trên thị trường tăng lên

- Tính thanh khoản của trái phiếu của Chính phủ: Nếu khả năng thanh khoản của trái phiếu tăng thì cầu trái phiếu tăng Ngược lại, nếu khả năng thanh khoản của trái phiếu thấp thì cầu trái phiếu

sẽ giảm nhanh chóng, nhất là đối với loại trái phiếu trung và dài hạn Tính thanh khoản của trái phiếu chịu ảnh hưởng lớn của các quy định và trình tự thủ tục mua, bán trên thị trường Nếu các quy định và trình tự này đơn giản, nhanh chóng và chi phí thấp, các nhà đầu tư sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc mua, bán, chuyển nhượng các loại trái phiếu để chuyển đổi hình thức đầu tư nhằm tối đa hoá lợi nhuận Trong điều kiện đó, tất các các nguồn vốn đầu tư của các

cá nhân và doanh nghiệp sẽ được huy động và sử dụng một cách có hiệu quả nhất

1.2 TRÁI PHIẾU ĐƯỢC CHÍNH PHỦ BẢO ĐẢM

1.2.1 Khái niệm

Trái phiếu được Chính phủ bảo đảm là loại chứng khoán nợ của Chính phủ, do chính quyền địa phương, các cơ quan của Chính phủ phát hành hoặc do các doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ

Trang 19

chỉ định phát hành, có mệnh giá, kỳ hạn, có lãi, xác nhận nghĩa vụ của nhà phát hành đối với người sở hữu trái phiếu Tổ chức phát hành có trách nhiệm thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc, lãi trái phiếu; trong trường hợp nhà phát hành không bố trí đủ nguồn thanh toán gốc, lãi đúng hạn thì được Chính phủ (ngân sách nhà nước) bảo đảm thanh toán.

Việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu của các cơ quan Chính phủ, các doanh nghiệp Nhà nước có mục đích thu hút các nguồn vốn từ thị trường tài chính để tài trợ cho các dự án, các chương trình nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giảm bớt gánh nặng từ ngân sách nhà nước Các dự án đầu tư từ nguồn trái phiếu cũng đa dạng, có dự án đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị,

có dự án kinh tế trọng điểm quốc gia, có dự án đầu tư phát triển trang trại, kinh tế hộ gia đình, có dự án đầu tư cho phúc lợi của cộng đồng hoặc một số đối tượng nhất định như tín dụng cho sinh viên, tín dụng cho người nghèo Điều đó làm tăng thêm khả năng xã hội hóa các nguồn cung cấp tài chính cho nền kinh tế

1.2.2 Các loại trái phiếu được Chính phủ bảo đảm

1.2.2.1 Trái phiếu chính quyền địa phương

Trái phiếu chính quyền địa phương (municipal bonds) là thuật ngữ dùng để chỉ các trái phiếu do chính quyền cấp bang, chính quyền cấp tỉnh, thành phố, chính quyền cấp quận huyện phát hành Các cấp chính quyền địa phương được tổ chức và hoạt động theo

Trang 20

Hiến pháp và pháp luật, họ có ngân sách riêng hình thành từ nguồn thu thuế, phí hoặc các khoản trợ cấp từ ngân sách cấp trên, đồng thời pháp luật quy định chính quyền địa phương có thể được huy động vốn trên thị trường tài chính để tài trợ vốn cho các dự án nhằm phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Chính quyền địa phương phát hành trái phiếu tức là người đi vay, do đó chính quyền địa phương phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ tiền gốc và lãi trái phiếu khi đến hạn.

Trái phiếu chính quyền địa phương là một loại chứng khoán

nợ của Chính phủ, vì vậy nó cũng có đầy đủ các yếu tố, đặc điểm và bản chất như các loại chứng khoán nợ khác của Chính phủ Trái phiếu chính quyền địa phương có thể mua đi, bán lại trên thị trường

Vì vậy, việc xuất hiện các loại trái phiếu chính quyền địa phương không chỉ có ý nghĩa làm đa dạng hoá khả năng huy động vốn của các chính quyền địa phương cho đầu tư phát triển mà còn góp phần

đa dạng hoá các loại hàng hoá trên thị trường chứng khoán

Trái phiếu chính quyền địa phương có hai loại chủ yếu sau:

- Trái phiếu nghĩa vụ chung: được phát hành để tài trợ cho các

dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp nhưng có hiệu quả kinh tế - xã hội cao như cải tạo hoặc xây dựng mới các công trình công cộng Loại trái phiếu này được bảo đảm thanh toán từ khả năng tài chính của địa phương, tức là dựa vào các nguồn thu thuế và

lệ phí

Trang 21

- Trái phiếu doanh thu: được phát hành để tài trợ cho các dự

án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Nguồn thanh toán gốc, lãi trái phiếu được trích từ doanh thu do chính dự án đó mang lại Với loại trái phiếu này, thời hạn của trái phiếu thường khớp với thời gian thu hồi vốn của dự án đầu tư

1.2.2.2 Trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ phát hành

Để hỗ trợ phát triển kinh tế theo những chương trình mục tiêu nhất định, trong khi nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước không

đủ cân đối hoặc để giảm bớt sự bao cấp của ngân sách, Chính phủ lập ra những cơ quan có chức năng tài trợ vốn cho các chương trình

dự án Có rất nhiều chương trình dự án cần được tài trợ vốn như chương trình phát triển kinh tế trang trại nông nghiệp nông thôn, chương trình kinh tế hộ gia đình, chương trình phát triển hệ thống điện, điện thoại, cấp thoát nước, tín dụng cho sinh viên, tín dụng cho người nghèo Vì thế, các cơ quan của Chính phủ cũng rất đa dạng, gồm những tổ chức tài chính do Nhà nước thành lập hoặc được Nhà nước bảo trợ Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan này cũng rất khác nhau, có cơ quan được tổ chức dưới dạng hiệp hội, có những cơ quan được tổ chức dưới dạng công ty hoặc tổ chức tín dụng, hoặc theo mô hình quỹ đầu tư Hoạt động của các cơ quan này cũng có sự khác biệt nhất định, có cơ quan hoạt động vì mục đích lợi nhuận, song cũng có cơ quan hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, trên nguyên tắc tự chủ, tuân thủ pháp luật và độc lập

Trang 22

về mặt tài chính Nguồn vốn ban đầu của các cơ quan này đa phần

là vốn góp, có thể có sự tham gia góp vốn của Nhà nước; đồng thời các tổ chức này được phép huy động vốn trên thị trường tài chính Một trong những công cụ huy động vốn mà các cơ quan của Chính phủ thường áp dụng đó là phát hành trái phiếu và trái phiếu đó gọi

là trái phiếu do cơ quan của Chính phủ phát hành

Đối với một số nước phát triển, điển hình là Mỹ thì việc phát hành trái phiếu của các cơ quan của Chính phủ bao gồm 2 loại cơ bản:

Một là, trái phiếu có đảm bảo bằng hợp đồng thế chấp: Trái

phiếu có đảm bảo bằng hợp đồng thế chấp được thiết lập dựa trên giá trị những khoản vay thế chấp bất động sản trong tập hợp các hợp đồng tương ứng Để hiểu rõ loại chứng khoán này, cần xem xét về các khoản vay thế chấp, nguồn cung cấp tín dụng vay thế chấp và cách thức hình thành nên trái phiếu bảo đảm bằng hợp đồng vay thế chấp

- Các khoản vay thế chấp bằng tài sản: Hình thức này khác biệt với hình thức vay thế chấp thông dụng ở Việt Nam hiện nay là người đi vay có sẵn bất động sản và sử dụng bất động sản của mình

để thế chấp vay tiền

Thế chấp bất động sản được hiểu là thế chấp để đảm bảo cho một khoản vay nhằm mục đích mua chính bất động sản đó Đây là một giải pháp dùng tài sản hình thành để bảo đảm vốn vay thế chấp

Trang 23

Một cá nhân muốn mua nhà hay một bất động sản nào đó có thể xin vay tiền của một định chế tài chính Định chế tài chính này sẽ đánh giá bất động sản và tình hình tài chính của người muốn vay tiền và

sẽ quyết định cho cá nhân đó vay tiền hay không Nếu như khoản vay được chấp thuận thì tài sản mà người vay tiền sẽ được đem thế chấp và người sở hữu tài sản phải thực hiện thanh toán một khoản tiền nhất định mỗi tháng để trả nợ gốc và lãi nợ vay cho đến hết thời hạn Nguyên tắc cơ bản là số tiền thanh toán nợ hàng tháng không quá 25% thu nhập hàng tháng của người vay tiền Tổ chức cho vay tiền thường yêu cầu người vay phải trả một khoản tiền đặt cọc đối với tài sản thế chấp Thời hạn của một khoản vay thế chấp bất động sản tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể, thông thường là dài hạn Lãi suất tiền vay áp dụng là lãi suất cố định

- Nguồn cung cấp tín dụng có thế chấp bằng tài sản: là những

tổ chức như các Hiệp hội tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm và các ngân hàng cho vay thế chấp bất động sản Các ngân hàng cho vay thế chấp bất động sản và các tổ chức tiết kiệm hoạt động với tư cách là một định chế tài chính trung gian Họ khởi xướng cho vay thế chấp bất động sản nhưng lại bán những khoản vay đó cho các nhà đầu tư Các ngân hàng và các tổ chức tiết kiệm mua và bán những khoản vay nhằm giảm bớt những khó khăn về vốn trên thị trường tín dụng thế chấp bất động sản Tuy nhiên, chỉ riêng sự can thiệp của các ngân hàng cho vay thế chấp không đủ để giải quyết vấn đề vốn trong lĩnh vực tín dụng thế chấp bất động sản,

Trang 24

vì thế Chính phủ thành lập các cơ quan của Chính phủ để hỗ trợ quá trình này Ở Mỹ, có 3 cơ quan lớn hỗ trợ thị trường tín dụng bất động sản là Hiệp hội thế chấp quốc gia liên bang (The Federal National Mortgage Association, gọi tắt là FNMA), Công ty cho vay thế chấp nhà đất liên bang (the Federal Home Loan Mortgage Corporation, gọi tắt là FHLMC) và Hiệp hội thế bất động sản quốc gia (The Government National Mortgage Association, gọi tắt là GNMA) [36-68]

- Cách thức hình thành trái phiếu bảo đảm bằng hợp đồng vay thế chấp: Các tổ chức có chức năng cung cấp tín dụng bất động sản tập hợp các hợp đồng vay thế chấp, bán những khoản vay này Tập hợp hợp đồng vay thế chấp có thể do một hoặc nhiều tổ chức tài chính, ngân hàng cung cấp Các tổ chức tài chính, ngân hàng sẽ tập hợp các khoản vay thế chấp thành một nhóm theo tiêu chuẩn nhất định Các tiêu chuẩn để tập hợp thành một nhóm bao gồm: tổng số các khoản vay thế chấp trong một nhóm phải đạt được số tiền nhất định; mọi khoản vay thế chấp trong cùng một nhóm phải có cùng thời hạn và cùng lãi suất Sau khi tập hợp những khoản vay thế chấp có tiêu chuẩn giống nhau thành một nhóm, các tổ chức tài chính, ngân hàng (người cho vay) đệ trình lên cơ quan bảo lãnh để bán lại khoản vay này Các cơ quan bảo lãnh mua lại khoản vay và phát hành chứng khoán để bán ra công chúng, các chứng khoán đó gọi là trái phiếu đảm bảo bằng hợp đồng vay thế chấp Lãi suất của các chứng khoán này thường thấp hơn lãi suất của những khoản vay

Trang 25

thế chấp Người sở hữu chứng khoán được hưởng lãi từ nguồn thu lãi cho vay nói trên Thông qua một chương trình chuyển đổi trung gian, các khoản thanh toán lãi và gốc của những khoản vay có thế chấp được chuyển cho những người sở hữu chứng khoán

Hai là, trái phiếu huy động vốn trực tiếp từ thị trường tài

chính

Ngoài trái phiếu được đảm bảo bằng hợp đồng vay thế chấp, các cơ quan Chính phủ còn phát hành trái phiếu huy động vốn trực tiếp từ thị trường tài chính để tài trợ cho các mục tiêu chương trình được Chính phủ hỗ trợ Các trái phiếu này được Chính phủ đảm bảo thanh toán và gọi là trái phiếu được Chính phủ đảm bảo Trường hợp đến hạn trả nợ, nếu các cơ quan Chính phủ không đủ vốn thanh toán thì Chính phủ đứng ra trả nợ thay Tuy nhiên không phải loại trái phiếu nào cũng được Chính phủ đảm bảo mà chỉ có những mục tiêu chương trình nhất định tuỳ theo chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ trong từng thời kỳ

1.2.2.3 Trái phiếu doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ bảo lãnh

Đây là loại trái phiếu của các doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ chỉ định phát hành để đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia Loại trái phiếu này chủ yếu xuất hiện ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước chuyển đổi do ở các quốc gia này, doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt các thành

Trang 26

phần kinh tế khác Tuy nhiên, không phải bất cứ doanh nghiệp Nhà nước nào phát hành trái phiếu cũng được Chính phủ bảo lãnh thanh toán Chỉ có các dự án kinh tế trọng điểm quốc gia như điện, dầu khí, hàng không được Chính phủ chấp thuận thì doanh nghiệp mới được phát hành trái phiếu có sự bảo lãnh của Chính phủ.

1.2.3 Đặc điểm của trái phiếu được Chính phủ bảo đảm

1.2.3.1 Đối với trái phiếu chính quyền địa phương

- Nguồn bảo đảm thanh toán trái phiếu: Các chính quyền địa phương có thể sử dụng trái phiếu để huy động vốn cho các dự án phát triển địa phương như các dự án xây dựng đường xá, cầu cống, sân vận động, hệ thống thoát nước, khu vui chơi giải trí cho cộng đồng Trong các dự án tài trợ bằng trái phiếu, có những dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, song cũng có những dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Tuy nhiên, một khi các chính quyền địa phương đứng ra phát hành trái phiếu thì họ phải có nghĩa vụ thanh toán nợ, trường hợp các dự án đầu tư bằng trái phiếu không hoặc chưa tập trung đủ nguồn thu thì ngân sách địa phương phải đảm bảo thanh toán

- Độ rủi ro của trái phiếu:

Về phía nhà đầu tư: Trái phiếu chính quyền địa phương được ngân sách địa phương đảm bảo, vì vậy có độ an toàn khá cao Độ rủi

ro của trái phiếu chính quyền địa phương được xếp ở giữa trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty Để đánh giá độ an toàn của trái

Trang 27

phiếu chính quyền địa phương có thể xem xét phân tích trên các yếu

tố chính như: tình hình kinh tế, ngân sách của địa phương, yếu tố pháp lý, cơ cấu nợ và các hoạt động của chính quyền địa phương Trong các yếu tố trên cơ cấu nợ là một yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ tin cậy của trái phiếu chính quyền địa phương

Về phía cơ quan quản lý nợ: Nợ của chính quyền địa phương thuộc nợ của khu vực công Vì vậy về phương diện khuôn khổ pháp

lý và chính sách quản lý cần được quy định chặt chẽ để bảo đảm an ninh tài chính Các nhà phân tích nợ quan tâm đến tỷ lệ giữa trả nợ

và thu nhập của nhà phát hành, do đó chính sách quản lý nợ của các quốc gia thường khống chế tỷ lệ tổng dư nợ của chính quyền địa phương so với thu thuế

- Chính sách thuế: Điều hấp dẫn của trái phiếu chính quyền địa phương đối với các nhà đầu tư đó là được miễn thuế Hầu hết các chính quyền địa phương phát hành trái phiếu đều miễn thuế đối với thu nhập từ trái phiếu của địa phương mình Do chính sách miễn thuế mà các trái phiếu chính quyền địa phương có lợi tức đầu tư cao hơn so với các loại trái phiếu khác có cùng lãi suất Thông thường khi mua trái phiếu, mối quan tâm của các nhà đầu tư là quan hệ giữa lãi suất và thuế Một công thức đơn giản để tính toán và so sánh giữa lợi tức trái phiếu được miễn thuế và trái phiếu không được miễn thuế là [35-40]:

Lãi suất trái phiếu

Trang 28

100 – Thuế Theo công thức trên thì nếu một trái phiếu có lãi suất 8% và thuế suất là 20% thì lợi tức trái phiếu không bị đánh thuế là 10%

Bởi sự ưu đãi về thuế mà các trái phiếu chính quyền địa phương phát hành có lợi tức cao hơn so với các loại trái phiếu kho bạc do Chính phủ phát hành

- Việc bảo hiểm trái phiếu chính quyền địa phương:

Một chính sách khác để đảm bảo an toàn cho trái phiếu chính quyền địa phương là bảo hiểm trái phiếu Bảo hiểm trái phiếu địa phương là việc đảm bảo cho các nhà đầu tư, nếu các nhà phát hành không thể thanh toán trái phiếu khi đáo hạn, thì người bảo hiểm sẽ đứng ra bồi thường

Việc bảo hiểm trái phiếu địa phương được thực hiện ngay khi phát hành và nguyên tắc bảo hiểm được in trên chứng chỉ trái phiếu (nếu trái phiếu phát hành dưới hình thức chứng chỉ) và phí bảo hiểm được trả khi các trái phiếu được phân phối

Ở Mỹ, bảo hiểm trái phiếu là một bộ phận quan trọng trong việc phát hành cũng như kinh doanh trái phiếu địa phương Vào những năm 1995-1996, khoảng 43% trái phiếu địa phương phát hành mới được bảo hiểm vào đầu năm 1996 tỷ lệ này vẫn được giữ nguyên Mặc dù kể từ khi có những trái phiếu mới phát hành có chất lượng cao thì việc bảo hiểm không mang nhiều ý nghĩa, tuy nhiên

Trang 29

vẫn có rất nhiều các chứng khoán mới phát hành có chất lượng vẫn được bảo hiểm [36-98].

Bảo hiểm trái phiếu địa phương tạo cho các nhà đầu tư trái phiếu lợi ích thiết thực, bởi vì tính an toàn của trái phiếu được nâng lên do sự tham gia của các công ty bảo hiểm và tạo ra sự đồng nhất

về chất lượng giữa các loại trái phiếu trên thị trường do được bảo hiểm

Hầu hết các nhà bảo hiểm trái phiếu đều là những công ty bảo hiểm lớn, có định mức tín nhiệm cao Các công ty bảo hiểm cung cấp cho nhà phát hành trái phiếu dịch vụ bảo hiểm, tuỳ theo sự đánh giá độ rủi ro của các trái phiếu phát hành Nhà bảo hiểm trái phiếu

có trách nhiệm bồi thường nếu có sự rủi ro trong thanh toán chi trả trái phiếu khi đáo hạn Người đầu tư mua trái phiếu được bảo hiểm thường không quan tâm đến nhà phát hành mà họ chỉ quan tâm đến việc bảo hiểm Người mua trái phiếu được bảo hiểm sẽ sở hữu chứng chỉ bảo hiểm; các chứng chỉ này cũng được giao dịch cùng với trái phiếu Người sở hữu trái phiếu được bảo hiểm sẽ nhận được mức giá tốt khi giao dịch trên thị trường thứ cấp

1.2.3.2 Đối với trái phiếu do cơ quan của Chính phủ phát hành

- Nguồn bảo đảm thanh toán trái phiếu: Cũng như các loại trái phiếu khác, trái phiếu do cơ quan Chính phủ phát hành là một loại chứng khoán nợ, có thể mua bán lại trên thị trường Cơ quan phát

Trang 30

hành trái phiếu có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ vốn gốc, lãi cho bất

cứ ai nắm giữ trái phiếu Đối với một số loại trái phiếu do các cơ quan Chính phủ phát hành để huy động vốn tài trợ cho các chương trình mục tiêu của Chính phủ có thể được Chính phủ đảm bảo thanh toán Việc Chính phủ đảm bảo cho các trái phiếu công trình làm tăng thêm độ an toàn và tính khả mại của trái phiếu, đồng thời tạo điều kiện cho các cơ quan Chính phủ huy động vốn với chi phí rẻ hơn Tuy nhiên không phải bất kỳ trái phiếu của cơ quan nào cũng được đảm bảo; việc đảm bảo loại trái phiếu nào tuỳ thuộc vào tổ chức hoạt động của từng cơ quan cũng như phụ thuộc vào chương trình, dịch vụ mà họ cung cấp, đồng thời cũng tuỳ thuộc vào chính sách khuyến khích, bảo trợ của Chính phủ trong từng thời kỳ

- Độ rủi ro của trái phiếu: Trái phiếu do các cơ quan Chính phủ phát hành cũng được xếp ở giữa trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty, vì thế đây cũng là một loại chứng khoán có độ an toàn cao

- Chính sách thuế: Cũng như trái phiếu công trình địa phương, trái phiếu do các cơ quan Chính phủ phát hành thường được miễn thuế, bởi vậy nó có sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư do lợi tức cao

và chi phí huy động vốn đối với nhà phát hành có thể thấp hơn so với trái phiếu công ty

- Khả năng chứng khoán hoá: Một điểm nổi bật đối với trái phiếu do các cơ quan Chính phủ phát hành đó là khả năng chứng

Trang 31

khoán hoá các khoản nợ Thông qua nghiệp vụ chứng khoán hoá, các khoản nợ không có khả năng chuyển nhượng đã được chứng khoán hoá; từ đó làm cho việc huy động, giải quyết cân đối vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế cũng như giữa các tổ chức tài chính tiền tệ được thúc đẩy.

1.2.3.3 Đối với trái phiếu doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ bảo lãnh

- Nguồn bảo đảm thanh toán trái phiếu: Cũng như các loại trái phiếu khác, trái phiếu doanh nghiệp Nhà nước là một loại chứng khoán nợ, cơ quan phát hành có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ vốn gốc, lãi cho bất cứ ai nắm giữ trái phiếu Đối với các đợt phát hành với mục đích là tài trợ cho các dự án trọng điểm kinh tế quốc gia thường được Chính phủ bảo lãnh, tức là trường hợp doanh nghiệp không bố trí đủ nguồn thành toán gốc, lãi đúng hạn thì ngân sách nhà nước đứng ra thanh toán cho chủ sở hữu trái phiếu

Khác với trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ phát hành

để thực hiện các chương trình mục tiêu của Chính phủ, luôn được Chính phủ bảo đảm thanh toán thì việc bảo lãnh thanh toán của Chính phủ đối với trái phiếu của doanh nghiệp Nhà nước chỉ được thực hiện cá biệt đối với từng đợt phát hành

- Mức độ rủi ro: Cũng như trái phiếu do các cơ quan Chính phủ phát hành, trái phiếu doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ bảo lãnh cũng có độ an toàn khá cao, được xếp ở giữa trái phiếu

Trang 32

Chính phủ và các trái phiếu công ty không được Chính phủ bảo lãnh

1.2.4 Phát hành và giao dịch trái phiếu được Chính phủ bảo đảm

1.2.4.1 Trái phiếu chính quyền địa phương

- Phát hành: Các trái phiếu chính quyền địa phương phát

hành dưới dạng vô danh (bearer bonds) kèm theo tem lãi (coupon) hoặc dưới dạng đăng ký (registered bonds) nghĩa là có ghi tên người

sở hữu trái phiếu Thông thường, việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương được thực hiện thông qua phương thức đấu thầu hoặc tổ hợp bảo lãnh

Đấu thầu trái phiếu có thể thực hiện theo kiểu Mỹ hoặc Hà Lan, tuỳ theo thực tế của mỗi nước Đối với các nước mới phát triển thị trường vốn thì việc đấu thầu thường theo kiểu Hà Lan vì sẽ khuyến khích các nhà đầu tư tham gia thị trường Ngược lại, đối với các nước có thị trường vốn tương đối phát triển thì việc đấu thầu thường theo kiểu Mỹ vì kiểu đấu thầu này tăng tính cạnh tranh của các nhà đầu tư và có lợi cho tổ chức phát hành Thành viên tham gia đấu thầu là các ngân hàng, tổ chức tài chính, các công ty chứng khoán và cả các cá nhân nhưng họ chỉ được đặt thầu thông qua hình thức đấu thầu không cạnh tranh

Tổ hợp bảo lãnh có thể gồm 2 hay nhiều thành viên tham gia, trong đó các nhà bảo lãnh đóng vai trò là đồng quản lý và có một

Trang 33

nhà bảo lãnh đóng vai trò là quản lý chính để điều hành đợt phát hành trái phiếu Tổ hợp bảo lãnh được tổ chức dưới dạng thư mời hay hợp đồng, quy định cụ thể các điều kiện và nhiệm vụ của từng thành viên tham gia và quy định chi tiết các nội dung bảo lãnh: số lượng trái phiếu, kỳ hạn, lãi suất, phương thức chào bán và các thông tin khác có liên quan Mỗi thành viên sẽ thực hiện bảo lãnh một phần trên tổng khối lượng bảo lãnh và chịu trách nhiệm bao tiêu hết số trái phiếu nhận bảo lãnh.

Các tổ hợp bảo lãnh mua trái phiếu từ nhà phát hành tại một mức giá và bán lại cho các nhà đầu tư với mức giá cao hơn để thu lợi nhuận, trong trường hợp này sẽ không có phí dịch vụ bảo lãnh

Tổ hợp bảo lãnh nhận được hoa hồng từ khách hàng khi họ thực hiện giao dịch với tư cách là nhà môi giới hay đại lý

Để lựa chọn các nhà bảo lãnh đối với từng đợt phát hành có thể sử dụng hai phương pháp: đấu thầu cạnh tranh hoặc thương lượng giá chào bán Đối với một cuộc đấu thầu cạnh tranh, nhà phát hành mời các nhà bảo lãnh tham gia đấu thầu Tổ chức bảo lãnh được lựa chọn là tổ chức đưa ra giá cao nhất (hay lãi suất thấp nhất)

Tổ hợp bảo lãnh thắng thầu sẽ mua số trái phiếu phát hành và bán lại cho khách hàng của họ Trong thời gian đấu thầu, các tổ chức bảo lãnh được phép nhận lệnh đặt mua của khách hàng, những lệnh đặt mua trước khi việc đấu thầu chính thức tiến hành sẽ được ưu

Trang 34

tiên mua trước Các nhà bảo lãnh tổng hợp nhu cầu đặt mua để đưa

ra giá chào thầu cạnh tranh

Đối với hình thức thoả thuận giá, nhà phát hành lựa chọn một hoặc một vài nhà bảo lãnh mua toàn bộ số chứng khoán của đợt phát hành và bán cho nhà đầu tư Trong quá trình này, nhà bảo lãnh phải thương thuyết với nhà phát hành về những điều khoản của trái phiếu, cơ cấu, kỳ hạn và địa điểm phát hành, đặc biệt là thương thảo

về tỷ lệ lãi suất và tỷ lệ tái chiết khấu Khi các điều kiện của đợt phát hành được quyết định thì nhà bảo lãnh tiến hành chào bán trái phiếu Trên cơ sở những thông tin phản hồi từ thị trường, nhà bảo lãnh có thể thay đổi những điều kiện chào bán, thậm chí có thể tăng giá hoặc giảm giá nếu cần thiết

Kết thúc đợt phát hành, nhà phát hành lập báo cáo chính thức công bố thông tin về đợt phát hành mới, đồng thời các nhà bảo lãnh cũng phải luôn cung cấp đầy đủ những thông tin về kinh tế, tài chính, thông báo chính thức phải gửi tới những người mua trái phiếu mới phát hành

- Giao dịch: Sau khi đợt phát hành kết thúc, trái phiếu địa

phương được tự do mua bán, trao đổi trên thị trường thứ cấp Việc trao đổi, giao dịch trái phiếu được thực hiện trên thị trường phi tập trung (OTC) thông qua các nhà kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp theo phương thức thoả thuận giá cả và khối lượng giao dịch

Trang 35

Những người mua trái phiếu địa phương bao gồm các ngân hàng thương mại, các nhà kinh doanh môi giới, các công ty bảo hiểm, các công ty và các cá nhân Các ngân hàng thương mại mua trái phiếu trước hết là để cân đối việc sử dụng vốn, sau đó là vì mục đích thu nhập Khi đã thực hiện cho vay và đã đạt được mức cầu cho vay nhất định thì các ngân hàng sẽ mua trái phiếu Lợi nhuận từ những khoản cho vay mới là nguồn thu nhập chính của ngân hàng, còn thu nhập từ trái phiếu chỉ là thứ yếu Các công ty bảo hiểm mua trái phiếu vì mục đích đầu tư Nói chung các công ty bảo hiểm chỉ giữ lại một nguồn vốn đủ để thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm, phần vốn còn lại, các công ty đem đầu tư vào chứng khoán Các nhà đầu tư cá nhân mua trái phiếu để hưởng lợi tức, đặc biệt là để tận dụng lợi thế miễn thuế của loại trái phiếu này.

Các trái phiếu chính quyền địa phương trên thị trường thứ cấp được thực hiện giao dịch theo cách thông thường, theo nguyên tắc thoả thuận cả về khối lượng và giá cả Giá giao dịch bao gồm cả tính lãi cộng dồn, tem lãi chưa thanh toán của kỳ thanh toán trước phải được đính kèm với trái phiếu vào thời điểm chuyển giao Nếu như cả bên mua và bán trái phiếu cùng tham gia một hệ thống thanh toán bù trừ chứng khoán thì việc chuyển giao trái phiếu sẽ được thực hiện thông qua trung gian lưu ký

1.2.4.2 Trái phiếu do cơ quan của Chính phủ phát hành

Trang 36

- Phát hành: Việc phát hành các trái phiếu đảm bảo do các cơ

quan của Chính phủ thực hiện, dựa trên cơ sở các hợp đồng vay thế chấp bằng tài sản Các trái phiếu có mệnh giá, có kỳ hạn, lãi suất và các điều khoản đó phụ thuộc vào việc phân loại các hợp đồng vay thế chấp theo tiêu chí nhất định Việc bán trái phiếu ra công chúng cũng được thực hiện thông qua hình thức đấu thầu, bảo lãnh hoặc đại lý phát hành Người mua trái phiếu cũng đa dạng, bao gồm các nhà đầu tư có tổ chức và cá nhân Tuy nhiên do tính chất phức tạp của cấu trúc phát hành nên đòi hỏi người đầu tư chứng khoán phải nghiên cứu kỹ, thậm chí phải tính toán số tiền gốc và tiền lãi Nhà phát hành có trách nhiệm trình bày rõ ràng cấu trúc của đợt phát hành, các điều kiện, điều khoản của trái phiếu trong báo cáo tài chính và bản cáo bạch, người được uỷ thác phát hành cũng cần phải

tư vấn, cung cấp thông tin đầy đủ về đợt phát hành để các nhà đầu

tư lựa chọn quyết định

- Giao dịch: Các chứng khoán đảm bảo được giao dịch qua thị

trường OTC Việc giao dịch cũng có những khác biệt nhất định, bởi loại trái phiếu này có cách tính lãi khác so với các trái phiếu thông thường Trái phiếu có độ rủi ro cao hơn so với trái phiếu kho bạc, song lợi tức thu được từ trái phiếu cao hơn do lãi suất có thể hấp dẫn hơn vì được miễn thuế thu nhập

1.2.4.3 Trái phiếu của các doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ bảo lãnh

Trang 37

- Phát hành: Trái phiếu doanh nghiệp Nhà nước được Chính

phủ bảo lãnh thường chào bán ra công chúng theo phương thức đấu thầu, bảo lãnh Bên cạnh việc phát hành ở trong nước thì các doanh nghiệp còn phát hành ra thị trường vốn quốc tế để thu hút ngoại tệ

để đầu tư các dự án cần sử dụng nhiều ngoại tệ Quy trình, thủ tục phát hành trái phiếu quốc tế rất phức tạp, đòi hỏi theo đúng thông tệ quốc tế

- Giao dịch: Trái phiếu doanh nghiệp Nhà nước được giao

dịch qua thị trường OTC, theo nguyên tắc thoả thuận cả về khối lượng và giá cả

1.3 VAI TRÒ, SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HUY ĐỘNG VỐN BẰNG TRÁI PHIẾU ĐƯỢC CHÍNH PHỦ BẢO ĐẢM

1.3.1 Đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế -

xã hội

1.3.1.1 Nhu cầu vốn phát triển kinh tế địa phương

Trong những năm gần đây, nhu cầu huy động vốn của chính quyền địa phương trở nên lớn hơn ở các nước đang phát triển, trong

đó có Việt Nam, chủ yếu do hai xu hướng:

- Xu hướng thứ nhất: xuất phát từ việc phân cấp chính trị đang được triển khai ở một số nước đang phát triển Ở những nước này, chính quyền Trung ương đã giao cho chính quyền địa phương trách nhiệm cung cấp các dịch vụ công cộng tại địa phương và phát triển

cơ sở hạ tầng có liên quan Điều này đòi hỏi phải có nguồn lực tài

Trang 38

chính rất lớn Việc cải cách này nhằm mục đích giảm các khoản thâm hụt tài chính lớn ở chính quyền Trung ương và địa phương bằng cách tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực của chính quyền địa phương cho việc cung cấp dịch vụ công cộng Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có cơ hội gần gũi với cử tri của mình hơn, sẽ nhạy cảm hơn và có trách nhiệm hơn với các nhu cầu của người dân, và nhờ vậy sẽ phân bổ hiệu quả hơn các nguồn lực cần thiết để cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu đó.

Tại Việt Nam, việc phân cấp chính trị đang được triển khai trong những năm gần đây Trong khuôn khổ công cuộc đổi mới bao gồm cải cách hành chính công năm 2001, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể về cải cách hành chính công giai đoạn 2001 -

2010 Theo đó, các quy định cơ bản mới về phân cấp quản lý hành chính giữa trung ương và địa phương và giữa các cấp khác nhau của chính quyền địa phương sẽ được phát triển và đưa vào thực hiện Ngoài ra, cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách cũng sẽ được đổi mới để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống quản lý tài chính quốc gia và vai trò dẫn dắt của ngân sách Trung ương Điều này sẽ thúc đẩy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm trong việc quản lý tài chính và ngân sách được phân bổ cho chính quyền địa phương, quyền ra quyết định về việc sử dụng ngân sách sẽ được giao cho Hội đồng Nhân dân các cấp Các cải cách này sẽ tăng cường việc phân cấp, giao trách nhiệm cung cấp các dịch vụ công cộng tại chỗ cho chính quyền địa phương

Trang 39

- Xu hướng thứ hai: xuất phát từ việc đô thị hoá nhanh đang diễn ra ở hầu hết các nước đang phát triển với sức ép lớn hơn đối với chính quyền địa phương trong việc nâng cấp và xây dựng cơ sở

hạ tầng mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về các dịch vụ công cộng đô thị bao gồm đường xá, hệ thống cấp nước, truyền tải

và phân phối điện, xử lý chất thải

Việc đô thị hoá cũng diễn ra rất nhanh tại Việt Nam Dân số thành thị ở Việt Nam tăng trung bình 4% trong thập kỷ qua và chiếm 25,1% dân số toàn quốc vào năm 2002, trong khi con số đó chỉ là 20% vào năm 1992 Dân số của Hà Nội cũng đã tăng từ 2.307.000 người vào năm 1993 lên 2.931.000 người vào năm 2002 Dân số của thành phố Hồ Chí Minh tăng từ 4.439.000 người vào năm 1993 lên 5.479.000 người vào năm 2002 Sự đô thị hoá ở các thành phố lớn càng nhanh, càng đòi hỏi nhiều dịch vụ đô thị và cơ

sở hạ tầng mới Sự đô thị hoá là một quá trình làm thu hẹp quỹ đất trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống đô thị như việc xây dựng nhà ở, việc lắp đặt các công trình dịch vụ đô thị, việc phát triển các hệ thống giao thông Thực tế, thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ đô thị hoá nhanh nhất trong cả nước cũng là địa phương có khối lượng trái phiếu đô thị phát hành lớn nhất cả nước

Với sự phát triển mạnh mẽ của hai xu hướng trên, ngân sách của các địa phương thường không đủ để đáp ứng các nhu cầu đó Nhu cầu về tài chính cho phát triển cơ sở hạ tầng địa phương đang

Trang 40

gia tăng nhanh hơn so với khả năng đáp ứng của ngân sách chính quyền địa phương Để thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn thì các địa phương cần phải chủ động khai thác các nguồn tài chính khác cho đầu tư phát triển Phát hành trái phiếu chính quyền địa phương là một trong những giải pháp hữu hiệu Theo tính toán của Bộ Tài chính thì trong giai đoạn 2006 -

2010, nhu cầu huy động vốn bằng trái phiếu chính quyền địa phương sẽ khoảng 20.000 tỷ đồng

1.3.1.2 Nhu cầu vốn tài trợ cho các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt của Chính phủ

Tài trợ cho chương trình mục tiêu của Chính phủ là một trong những hoạt động quan trọng của các nước đang phát triển Việc tài trợ của Chính phủ thông qua đảm bảo cho các trái phiếu do cơ quan của Chính phủ là một chính sách hữu hiệu và là xu hướng chung của nhiều quốc gia Chính phủ không tham dự trực tiếp vào việc huy động và tài trợ vốn cho từng dự án theo kiểu bao cấp mà chỉ bảo đảm khả năng thanh toán trong trường hợp tổ chức phát hành không thanh toán được nợ và có thể hỗ trợ một phần lãi suất dưới hình thức tín dụng đầu tư của Nhà nước Chính sách này đặt ra cho các tổ chức tài chính nghĩa vụ và trách nhiệm theo cơ chế thị trường, sau

đó là sự đảm bảo từ phía Chính phủ, dưới giác độ là người bảo trợ

Ngày đăng: 17/04/2016, 18:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Kết quả phát hành trái phiếu của Quỹ Hỗ trợ - Tăng cường huy động vốn bằng trái phiếu được chính phủ bảo đảm ở việt nam
Bảng 2.1 Kết quả phát hành trái phiếu của Quỹ Hỗ trợ (Trang 70)
Bảng 2.3 Kết quả phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo - Tăng cường huy động vốn bằng trái phiếu được chính phủ bảo đảm ở việt nam
Bảng 2.3 Kết quả phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w