1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI-THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM

85 1,2K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 467 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp về nhượng quyền thương mại

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI – THỰC TIỄN TẠI

VIỆT NAM

Ngành: Luật Kinh tế Chuyên ngành: Luật Hợp đồng Niên khóa: 2011-2015

` KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SINH VIÊN THỰC HIỆN: VÕ THỊ SÁU NGƯỜI HƯỚNG DẪN : TH.S NGUYỄN THỊ HÀ

THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý Thầy Cô giáo tại Đại học Luật - Đại học Huế đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho em trong suốt bốn năm học qua.

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo Th.S Nguyễn Thị Hà – Người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và tận tình giúp

đỡ em với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành bài khóa luận này.

Mặc dù em đã rất cố gắng, song do kiến thức còn hạn chế và những lý

do khách quan khác nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự góp ý quý báu của quý Thầy Cô giáo để bài khóa luận được hoàn thiện hơn.

Sau cùng, em xin kính chúc quý Thầy Cô sức khỏe dồi dào và gặt hái nhiều thành công hơn nữa trong sự nghiệp giảng dạy cao đẹp của mình.

Em xin chân thành cảm ơn!

Thừa Thiên Huế, ngày 09 tháng 4 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Võ Thị Sáu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu do chính em thực hiện.Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong khóa luận đều được trích dẫn nguồn theođúng quy định và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của em

Em xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Thừa Thiên Huế, ngày 09 tháng 4 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Võ Thị Sáu

Trang 4

THỐNG KÊ TRÍCH DẪN

Bảng thống kê trích dẫn tài liệu tham khảo

STT Tác giả tài liệu trích dẫn Trang

Khóa luận trích dẫn Tần suất

2 Bộ Thương mại (2004) 01

3 Hồ Hữu Hoành (2008) 02

5 Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị

Bích Thọ, Dương Anh Sơn

18 Website Burger King Việt Nam 01

19 Website KFC Việt Nam 01

20 Website Metro Việt Nam 01

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 NQTM (Franchise) : Nhượng quyền thương mại

2 UNIDROIT : The International In Stitute for the Unification of

Private Law

Viện Quốc tế về nhất thể hóa pháp luật tư

3 USD: : Đô la Mỹ

4 WIPO : World Inllectual Property Organization

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới

5 WTO: : World Trade Organization

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

1 Phụ lục 2.1: Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động NQTM

2 Phụ lục 2.2: Số lượng công ty nước ngoài đã đăng ký hoạt động NQTM tạiViệt Nam từ năm 2014 đến nay

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, các nước hội nhập ngày càng sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực củađời sống kinh tế thế giới Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là các quốc gia phải hợptác, liên kết với nhau để cùng phát triển Trong rất nhiều hình thức hợp tác kinhdoanh giữa các doanh nghiệp của các quốc gia như liên doanh, độc quyền, nhượngquyền thương mại (NQTM) thì hình thức NQTM được áp dụng nhiều hơn cả.NQTM mang lại thành công cho nhiều doanh nghiệp ở nhiều nơi, đem lại cho nềnkinh tế thế giới hàng nghìn tỷ USD mỗi năm

Để có thể tiến hành hoạt động NQTM vượt ra ngoài biên giới quốc gia thànhcông, đòi hỏi các doanh nghiệp trên thế giới phải nắm rõ các quy định của pháp luậtquốc tế cũng như pháp luật trong nước về NQTM Sự phát triển mạnh mẽ củaphương thức NQTM hiện nay, rất cần sự điều chỉnh một cách thống nhất và đầy đủcủa hệ thống pháp luật quốc tế để tạo cơ sở cho hoạt động này ngày càng phát triển

Tại Việt nam, NQTM đã du nhập hơn 15 năm qua nhưng vẫn còn nhiềungười chưa hiểu về hình thức kinh doanh này cũng như không thấy được những lợiích có được khi kinh doanh theo mô hình nhượng quyền, do đó họ vẫn chưa mạnhdạn đầu tư Trong khi Việt Nam là mảnh đất giàu tiềm năng, lại có được lợi thế củangười đi sau, các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi từ các nước tiênphong đi trước để tăng tốc, phát huy hiệu quả của loại hình kinh doanh này Mặckhác, nền kinh tế phát triển nhanh chóng cộng với việc gia nhập WTO khiến ViệtNam trở thành điểm lý tưởng cho các nhà đầu tư Với những điều kiện kinh tế - xãhội phù hợp, hoạt động NQTM sẽ bùng nổ ở Việt Nam trong thời gian tới

Chính vì vậy việc tìm hiểu phương thức NQTM thông qua các quy định củapháp luật quốc tế, cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO về NQTM và việc nộiluật hóa các cam kết này để qua đó thấy được những hạn chế, vướng mắc trong thựctiễn áp dụng các quy định pháp luật về NQTM, trên cơ sở đó đề xuất một số kiếnnghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về NQTM là hết sức

cần thiết Xuất phát từ những lý do đó, em đã chọn đề tài "Pháp luật quốc tế về

Trang 8

nhượng quyền thương mại - Thực tiễn tại Việt Nam" làm đề tài khóa luận tốt

nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật quốc tế về NQTM không còn mới trên thế giới, đã có một số sách,công trình nghiên cứu, các trang web đề cập đến vấn đề này như: hướng dẫn vềNQTM của WIPO, sách luật kinh doanh NQTM quốc tế của tác giả Adrew P.Loewinger, Michael K Indsey; luật NQTM quốc tế của tác giả Dennis Campbell;NQTM quốc tế của tác giả Alex S.Konigsberg; hướng dẫn của Hiệp hội NQTMquốc tế

Tại Việt Nam, hình thức kinh doanh NQTM không còn xa lạ, có rất nhiều bàiviết nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế vềNQTM là một nội dung khá mới mẻ, thực tế có rất ít công trình nghiên cứu, sách,tạp chí và các trang web đề cập đến Các nghiên cứu tại Việt Nam chỉ xoay quanhvấn đề pháp luật NQTM tại Việt Nam như đề tài "Pháp luật NQTM (Franchise) vàthực tiễn tại Việt Nam" của tác giả Hoàng Minh Tuấn hay đề tài "Tìm hiểu phápluật về NQTM của tác giả Trần Thị Xuân Hằng Bên cạnh đó, một số đề tài đã mởrộng phạm vi nghiên cứu về pháp luật NQTM nhưng dưới giác độ yếu tố nướcngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam như: "Hợp đồng NQTM có yếu tốnước ngoài theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Nguyễn Bá Bình; khóa luận "Phápluật điều chỉnh hợp đồng NQTM có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam - Những vấn đề

lý luận và thực tiễn" của tác giả Đinh Thị Thu Hà; khóa luận "Hợp đồng NQTM cóyếu tố nước ngoài - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn ThịHương Ly Các nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến pháp luật NQTM có yếu tốnước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam chứ chưa đề cập đến pháp luậtquốc tế về NQTM

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này, mục đích của tác giả nhằm:

· Nghiên cứu các văn bản pháp luật quốc tế về NQM

Trang 9

· Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về NQTM tại ViệtNam trên cơ sở pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam; nêu ra những mặt hạnchế, tồn tại trong các quy định pháp luật hiện hành về NQTM cũng như hoạtđộng NQTM tại Việt Nam.

· Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thựcthi của pháp luật NQTM ở Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

· Tập hợp các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam vềNQTM

· Nghiên cứu cơ sở lý luận NQTM trong các tài liệu

· Thu thập số liệu về tình hình hoạt động NQTM ở nước ta trong nhữngnăm gần đây

· Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về NQTM tại Việt Nam

· Đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng cácquy định pháp luật về NQTM tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

· Nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế về NQTM

· Nghiên cứu cam kết của Việt Nam về NQTM khi gia nhập WTO và cácquy định về NQTM trong Luật Thương mại 2005, Nghị định 35/2006/NĐ-CP

và các văn bản liên quan như Bộ luật Dân sự 2005, Luật Chuyển giao côngnghệ 2006

· Tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về NQTM trongquá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển hoạt động NQTM tại Việt Nam

Trang 10

4.2.2 Về thực tiễn

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về NQTM tại ViệtNam Trên cơ sở đó, tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong hệ thống pháp luậtcũng như trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật về NQTM để qua đó

đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định vềNQTM

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra, tác giả nghiêncứu đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiêncứu cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lýluận về NQTM;

- Phương pháp thống kê để thấy được số lượng một số hệ thống NQTMtại Việt Nam;

- Phương pháp điều tra, khảo sát để làm rõ các hoạt động NQTM tại ViệtNam;

6 Cơ cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận được chia thành

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT QUốC TẾ

1.1 Một số vấn đề cơ bản về nhượng quyền thương mại (Franchise)

1.1.1 Lịch sử và các quan điểm về nhượng quyền thương mại

1.1.1.1 Lịch sử nhượng quyền thương mại

Thuật ngữ "Nhượng quyền - Franchise" có nguồn gốc tiếng Pháp

"Francis" có nghĩa là đặc quyền, ưu đãi Mặc dù không có nguồn gốc tiếng Anhnhưng các quan hệ franchise đầu tiên được sử dụng phổ biến một cách rộng rãikhông phải ở châu Âu lục địa mà là ở Hoa Kỳ [9, tr 226] Tuy nhiên, theonhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của phương thức kinh doanh nhượngquyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII tại châu Âu

Ở Đức, vào những năm 1840, một số nhà sản xuất rượu bia lớn đã cấp quyềncho một số quán rượu kinh doanh độc quyền rượu bia của họ, đây chính là khởinguồn của khái niệm NQTM mà hiện nay chúng ta đang nói đến Trong giai đoạnnày, bản chất của franchise cũng chỉ mới là việc cấp quyền phân phối và bán cácsản phẩm của nhà sản xuất

Franchise dưới hình thức cho phép bên nhận quyền được sử dụng một hệthống kinh doanh đã được bên nhượng quyền xây dựng và thực hiện thành công baogồm cả phương thức kinh doanh, các đối tượng sở hữu trí tuệ để điều hành một cơ

sở kinh doanh của bên nhận quyền như ngày nay chỉ bắt đầu xuất hiện trong nềnkinh tế thế giới sau chiến tranh Thế giới thứ hai với sự trở về của hàng triệu ngườiphục vụ trong quân đội và sự gia tăng dân số Trong hoàn cảnh có sự gia tăng nhucầu đối với tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ thì NQTM là một phương thức kinh

Trang 12

doanh lý tưởng cho sự mở rộng nhanh chóng của các ngành kinh doanh, đặc biệt làdịch vụ khách sạn và thức ăn nhanh Trong đó phải kể đến MC Donald's - Một trongnhững công ty hoạt động theo phương thức nhượng quyền kinh doanh đầu tiên vàthành công nhất trên toàn cầu.

Tuy nhiên cũng chính từ sự phát triển nhanh chóng của phương thức kinhdoanh NQTM, một số công ty đã nảy sinh vấn đề lạm dụng phương thức kinhdoanh này Năm 1960, 1970, xuất hiện những công ty nhượng quyền gian lận tiềncủa người khác và bỏ trốn Bên cạnh đó, một số công ty nhượng quyền được quản

lý một cách yếu kém, thiếu vốn, hoạt động kém hiệu quả dẫn đến phá sản và để lạicác vụ kiện cho bên nhận quyền

Để chống lại việc lạm dụng nhượng quyền như trên và duy trì sự phát triểncủa phương thức kinh doanh NQTM, pháp luật của các nước đã có những quy định

cụ thể và chặt chẽ đối với phương thức kinh doanh này Bên cạnh đó, các hiệp hộinghề nghiệp cũng được thành lập ở các nước để bảo vệ bên nhận quyền cũng như đểgiúp bên nhượng quyền hoạt động có hiệu quả hơn như Hiệp hội NQTM quốc tế(International Franchise Association - IFA), Hiệp hội NQTM Anh Quốc (BritishFranchise Association), Hội đồng NQTM Úc (Franchise council of AustralianLimited)

Ngày nay, NQTM là một lĩnh vực được quy định chặt chẽ và đã xuất hiện ởhầu hết các quốc gia Nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ phát triển, hỗ trợ vàquảng bá hoạt động franchise đã được thành lập, điển hình là hội đồng Franchise thếgiới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994 với các thành viên là các hiệphội franchise của nhiều quốc gia Thông qua các tổ chức này, nhiều hoạt động cóích cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế các quốc gia đã được thực hiện như: Tổ chứccác hội chợ franchise quốc tế; xây dựng niên giám franchise khu vực và trên thếgiới; hợp tác xuất bản các ấn phẩm chuyên ngành; xây dựng các Website để cungcấp thông tin cho mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đến franchise

1.1.1.2 Các quan điểm về nhượng quyền thương mại

Trang 13

Các trường phái trên thế giới đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về NQTMnhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanhNQTM đạt hiệu quả Tuy nhiên, do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh

tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia nên các khái niệm này có sự khác biệt

Theo từ điển Anh Việt của Viện Ngôn ngữ học thì franchise là "Cho phép ai

đó chính thức được bán hàng hóa hay dịch vụ của một công ty ở một khu vực cụ thể nào đó" Còn theo từ điển Webster của Anh thì định nghĩa "Franchise là một đặc quyền được trao cho một người để phân phối hay bán sản phẩm của chủ thương hiệu" [23] Qua hai định nghĩa trên, chúng ta thấy cả hai định nghĩa đều đã nêu

được nội dung cơ bản của NQTM nhưng lại quá ngắn gọn nên chưa diễn tả hết nộidung của từ franchise Do đó, để tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm NQTM, chúng tanghiên cứu một số khái niệm khác về NQTM

Theo Hiệp hội NQTM quốc tế thì "NQTM là một mối quan hệ hợp đồng giữa

bên nhượng quyền và bên nhận quyền, theo đó bên nhượng quyền cung cấp và có nghĩa vụ duy trì sự quan tâm liên tục đến việc kinh doanh của bên nhận quyền trên các lĩnh vực như bí quyết kinh doanh và đào tạo; còn bên nhận quyền sẽ hoạt động dưới tên thương mại chung, phương thức và/hoặc cách thức kinh doanh do bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát và theo đó bên nhận quyền đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào việc kinh doanh của mình bằng các nguồn lực riêng của mình" [21, tr.

19] Quan điểm này chỉ ra quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ NQTM, ở đóvai trò của bên nhận quyền trong việc đầu tư vốn và điều hành doanh nghiệp được đặcbiệt nhấn mạnh hơn so với trách nhiệm của bên nhượng quyền Quan điểm này cũngxuất phát từ sự chênh lệch về quyền lực và thông tin giữa các bên trong quan hệ hợpđồng NQTM Theo đó, quan điểm này đã đưa ra những yêu cầu chặt chẽ hơn đối vớibên nhượng quyền nhằm đảm bảo lợi ích cho bên nhận quyền, nhưng cũng đã chỉ ratính độc lập tương đối giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền

Ủy ban NQTM Úc thì cho rằng: "NQTM là quan hệ thương mại, trong đó, bên

nhượng quyền là chủ sở hữu của một mô hình kinh doanh trao cho bên nhận quyền

Trang 14

quyền được sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở tên thương mại, nhãn hiệu của bên nhượng quyền trong một khoảng thời gian nhất định" Theo đó, quan điểm này đặc

biệt nhấn mạnh vai trò của bên nhượng quyền trong việc chuyển giao mô hình kinhdoanh có gắn liền với tên thương mại, nhãn hiệu của bên nhượng quyền, bên nhậnquyền có quyền tiến hành hoạt động kinh doanh dựa theo mô hình kinh doanh này

Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ tháng 6 năm 1991 định

nghĩa: "NQTM tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một thương hiệu nhất

định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative methods), các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand owner) thiết lập, với chất lượng (quality), danh tiếng (prestige), hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã được tạo dựng được dưới thương hiệu đó." [11, tr 20] Như vậy, Luật Mêhicô đề cập tới lợi ích của việc

nhượng quyền kinh doanh về mặt hỗ trợ kỹ thuật (technical assistance) và nhấnmạnh tới việc chuyển giao "kiến thức kỹ thuật" (technical Knowledge) để bán sảnphẩm, hoặc dịch vụ đồng bộ và có chất lượng Định nghĩa này phản ánh một phầnquan điểm của Mêhicô là một nước đang phát triển và có nhu cầu rất lớn trong việcnhập khẩu công nghệ và bí quyết kinh doanh từ nước ngoài

Pháp luật Việt Nam đưa ra định nghĩa về NQTM tại Điều 284 Luật Thương

mại 2005 như sau: "NQTM là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền

cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh."

Từ khái niệm này ta thấy pháp luật Việt Nam đã khẳng định hoạt động

Trang 15

NQTM là hoạt động thương mại, do vậy hoạt động này có mục đích sinh lợi Bêncạnh đó, khái niệm còn chỉ rõ tính chất ràng buộc qua lại giữa các bên liên quan,nhất là sự giám sát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền Các bên trongquan hệ NQTM là các chủ thể độc lập với nhau về tư cách pháp lý, các bên cùngnhau khai thác giá trị thương mại của quyền thương mại Bên nhượng quyền cóquyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việckinh doanh.

Dù các khái niệm đã nêu có khác nhau về quan điểm và mặt lượng câu chữnhưng có thể thấy rằng quan điểm chung trong tất cả những định nghĩa này là việcmột bên độc lập (bên nhận) phân phối sản phẩm, dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa

và các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ cùng với hệ thống kinh doanh đồng

bộ do một bên khác (bên giao) phát triển và sở hữu, để được phép làm việc này, bênnhận phải trả một khoản phí và chấp nhận một số hạn chế do bên giao quy định

Tuy nhiên, theo quan điểm của cá nhân em thì NQTM là hoạt động thươngmại nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh của các thương nhân thông qua việc chia sẻquyền kinh doanh trên một thương hiệu cho một thương nhân khác Hay nói cáchkhác, NQTM chính là việc nhượng quyền kinh doanh kèm theo đó là uy tín, nhãnhiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu, biểu tượng kinh doanh cũng như các kiếnthức, bí quyết kinh doanh, dây chuyền thiết bị công nghệ cho một thương nhânkhác Quan hệ này được tạo lập bởi ít nhất hai chủ thể: bên nhượng quyền (là bên cóquyền sở hữu đối với "quyền thương mại") và bên nhận quyền (là bên độc lập,muốn kinh doanh bằng "quyền thương mại" của bên nhượng quyền) Theo đó, bênnhượng quyền trao cho bên nhận "quyền thương mại" bao gồm sử dụng mô hình, kỹthuật kinh doanh sản phẩm, dịch vụ dưới thương hiệu của mình và nhận lại mộtkhoản phí trong một khoảng thời gian nhất định; bên nhận quyền sử dụng "quyềnthương mại" của bên nhượng quyền để tiến hành hoạt động kinh doanh nhưng phảichấp nhận tuân thủ một số điều kiện mà bên nhượng quyền đưa ra

1.1.2 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại

Hoạt động NQTM có một số đặc trưng riêng biệt, có thể phân biệt dễ dàng

Trang 16

với một số hoạt động thương mại cùng loại khác.

Thứ nhất, về chủ thể

Chủ thể của quan hệ NQTM bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền.Bên nhượng quyền phải có một hệ thống và cơ sở kinh doanh có lợi thế cạnh tranhtrên thị trường Hệ thống kinh doanh này phải có sự trải nghiệm thị trường đủ để tạo

ra một giá trị "quyền tài sản" hợp lý và tạo niềm tin cho bên nhận quyền Bên nhậnquyền là một doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý, tài chính với bên nhượng quyền,đồng thời chấp nhận rủi ro đối với vốn bỏ ra để thực hiện việc tham gia vào hệthống nhượng quyền của bên nhượng quyền

Thứ hai, về đối tượng

Đối tượng của NQTM là quyền thương mại Nội dung của quyền thương mại

có thể khác nhau tùy thuộc vào từng loại hình NQTM và sự thỏa thuận giữa cácbên Quyền thương mại có thể bao gồm quyền sử dụng các tài sản trí tuệ như tênthương mại, nhãn hiệu hàng hóa/dịch vụ, bí mật kinh doanh và quyền kinh doanhtheo mô hình, với phương thức quản lý, đào tạo, tiếp thị sản phẩm của bên nhượngquyền Quyền thương mại cũng có thể là sự kết hợp các yếu tố nêu trên, từ đó tạonên sự khác biệt giữa các cơ sở kinh doanh trong hệ thống nhượng quyền với các cơ

sở kinh doanh khác là đối thủ cạnh tranh

Thứ ba, bên nhượng quyền có sự hỗ trợ và giám sát đáng kể về nhiều

phương diện đối với bên nhận quyền

Trong hoạt động NQTM, bên nhận quyền luôn nhận được sự hỗ trợ từ phíabên nhượng quyền, bao gồm hỗ trợ trước khi mở cửa hàng (Giúp chọn địa điểmkinh doanh; thiết kế trang trí cửa hàng; đào tạo nhân viên ) và hỗ trợ trong quátrình hoạt động

Mặc dù hoạt động của bên nhận quyền luôn nhận được sự hỗ trợ của bênnhượng quyền nhưng vẫn tìm ẩn nhiều rủi ro Một trong những rủi ro của hoạt độngNQTM chính là việc phá vỡ hệ thống kinh doanh, nếu chỉ một mắt xích trong hệthống làm ăn không hiệu quả thì sẽ ảnh gây hưởng xấu đến uy tín của cả hệ thống

Do đó, để tránh và đối phó với hậu quả này, người nhượng quyền phải giám sát chặt

Trang 17

chẽ tới cách thức hoạt động của người nhận quyền.

Thứ tư, trong hệ thống NQTM, bên nhượng quyền và bên nhận quyền có sự

độc lập về tài chính và địa vị pháp lý

Đây là đặc điểm đặc thù của hệ thống kinh doanh này nhằm phân biệt hệthống kinh doanh này với các hình thức gần giống khác như đại lý, chi nhánhthương mại Tuy rằng trong hệ thống NQTM có sự giám sát một cách đáng kể củabên nhượng quyền đối với bên nhận quyền nhưng theo pháp luật của các nước thìbên nhận quyền lại là các cá nhân độc lập hoặc các pháp nhân độc lập về mặt tổchức lẫn tài chính, không phụ thuộc vào bên nhượng quyền

Thứ năm, bên nhận quyền phải trả phí cho bên nhượng quyền

Trong tất cả các hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền đều phải trả phí chobên nhượng quyền để được quyền tham gia vào hệ thống NQTM Phí nhượng quyềnbao gồm phí nhượng quyền ban đầu và phí định kỳ (thường được tính trên tỷ lệ doanhthu hoặc một khoản phí cố định), phí dịch vụ, phí cấp phép, phí quảng cáo, các loạiphí khác về cung cấp các dịch vụ cho bên nhận quyền có thể được thỏa thuận giữa haibên

Trên đây chỉ là một số đặc điểm cơ bản của NQTM, tùy theo từng hình thứcnhượng quyền cụ thể mà quan hệ NQTM còn có thể có các đặc điểm khác

1.1.3 Các loại hình nhượng quyền thương mại

Từ khi NQTM ra đời cho đến nay, hoạt động này có rất nhiều cách phân loạinhư: phân loại theo bản chất, phân loại theo cách thức nhượng quyền của chủ thươnghiệu, phân loại theo lĩnh vực kinh doanh Tuy nhiên, trong phạm vi khóa luận nàyngười viết chỉ xin đề cập đến ba cách phân loại dựa trên các căn cứ sau: căn cứ theobản chất của hoạt động NQTM, căn cứ theo cách thức tiến hành nhượng quyền của chủthương hiệu cho bên nhận quyền, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ Cụ thể:

Một là, căn cứ theo bản chất của hoạt động NQTM

Căn cứ vào nội dung của hoạt động NQTM, học thuyết về NQTM ở cácnước phát triển như Hoa Kỳ, Tây Âu cho rằng có hai hình thức NQTM: Nhượngquyền phân phối sản phẩm và nhượng quyền phương thức kinh doanh

Trang 18

Thứ nhất, nhượng quyền phân phối sản phẩm (product distribution franchise)

Nhượng quyền phân phối sản phẩm là hình thức NQTM trong đó bênnhượng quyền cung cấp cho bên nhận quyền nhãn hiệu hàng hóa/dịch vụ, logo củamình, dịch vụ quảng cáo trên phạm vi quốc gia và quan trọng nhất là sản phẩm Bênnhượng quyền không cung cấp cho bên nhận quyền cách thức điều hành kinh doanh[3, tr 15] Hay nói cách khác đây là hình thức NQTM theo hệ thống nhượng quyềnnhằm mục đích phân phối một sản phẩm hay một tập hợp các sản phẩm Hình thứcnhượng quyền này tạo nên một cơ cấu trực tiếp cho phép đưa sản phẩm từ khâu sảnxuất đến khâu tiêu thụ Ngoài việc được phép sử dụng tên nhãn hiệu, thương hiệu,biểu tượng, logo, khẩu hiệu và phân phối sản phẩm hay dịch vụ của bên nhượngquyền trong một phạm vi địa lý và trong một thời hạn nhất định thì bên nhận quyềnhầu như không nhận được bất cứ sự hỗ trợ đáng kể nào từ phía bên nhượng quyền.Bên nhận quyền sẽ quản lý cửa hàng của mình một cách khá độc lập và ít bị ràngbuộc bởi những quy định của bên nhượng quyền Hình thức nhượng quyền phânphối sản phẩm được sử dụng khá phổ biến trong các dịch vụ bán lẻ Tại Việt Nam,

cà phê Trung Nguyên là mô hình tiêu biểu cho hình thức này

Hình thức nhượng quyền phân phối sản phẩm có ưu điểm là dễ nhượngquyền bởi đối tượng nhượng quyền chỉ là thương hiệu, nhãn hiệu, biểu tượng nênhợp đồng nhượng quyền không có nhiều điều khoản phức tạp về trách nhiệm củacác bên tham gia Tuy nhiên, chủ thương hiệu rất khó kiểm soát tính đồng bộ vàchuẩn mực của hệ thống Bên nhận quyền có thể lợi dụng uy tín của thương hiệu đểkinh doanh giả mạo, cung cấp hàng hóa và dịch vụ kém chất lượng, đôi khi chủthương hiệu còn phải đối mặt với những vụ tranh chấp liên quan đến bản quyềnthương hiệu

Thứ hai, nhượng quyền phương thức kinh doanh (business format franchise)

Đây là hình thức NQTM mà theo đó bên nhận quyền sẽ sản xuất sảnphẩm/dịch vụ theo chỉ dẫn của bên nhượng quyền và bán những sản phẩm đó dướinhãn hiệu của bên nhượng quyền Bên nhượng quyền sẽ chuyển giao cho bên nhận

Trang 19

quyền bí quyết kinh doanh, thường là các công thức sản xuất, quyền sản xuất, kinhdoanh sản phẩm và công thức điều hành quản lý Theo phương thức này, các chuẩnmực của mô hình kinh doanh phải tuân thủ một cách tuyệt đối Thực chất nhượngquyền công thức kinh doanh là bước phát triển cao hơn của nhượng quyền phânphối sản phẩm, nó thể hiện đầy đủ nhất bản chất cũng như các đặc điểm của môhình kinh doanh NQTM Đây là hình thức NQTM phổ biến nhất hiện nay và được

áp dụng trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, đặc biệt là các lĩnh vực như:nhà hàng, ăn uống (KFC, McDonald's), bán lẻ (Blockbuster Video,The Ethelete'sFood), Tại Việt Nam, Phở 24 và Kinh Đô Bakery là hai hệ thống áp dụng thànhcông hình thức nhượng quyền mô hình kinh doanh

Hình thức nhượng quyền mô hình kinh doanh phức tạp hơn nhượng quyềnphân phối sản phẩm nhưng những tiêu chí nghiêm ngặt trong nhượng quyền môhình kinh doanh giúp đảm bảo được tính đồng bộ về chất lượng của cả hệ thốngnhượng quyền, hạn chế được các vi phạm về bản quyền và thương hiệu Chính vìvậy, trên thế giới, hình thức nhượng quyền mô hình kinh doanh được ưa chuộnghơn và thực tế loại hình này cũng phát triển hơn nhượng quyền phân phối sản phẩm

Hai là, căn cứ theo cách thức tiến hành nhượng quyền của chủ thương hiệu

cho bên nhận quyền

Dựa vào tiêu chí này có thể chia NQTM thành nhượng quyền cho từng cơ sở(Singer-unit franchise) và nhượng quyền đa cơ sở (multiple-unit franchise)

Thứ nhất, nhượng quyền cho từng cơ sở (Singer-unit franchise)

Nhượng quyền cho từng cơ sở là cách thức NQTM trong đó bên nhượng quyềntiến hành nhượng quyền trực tiếp cho từng đối tác riêng rẻ để mở một cơ sở kinh doanhduy nhất trong một khu vực địa lý nhất định Điểm lợi thế của hình thức này là chủ thươnghiệu có thể làm việc trực tiếp và sâu sát với bên nhận quyền, tuy nhiên khi số lượng ngườinhận quyền quá lớn sẽ rất khó khăn cho người nhượng quyền trong việc kiểm soát toàn bộ

hệ thống Một số hệ thống nhượng quyền theo hình thức này là: Hilton Hotel, Phở 24

Thứ hai, nhượng quyền đa cơ sở (multiple-unit franchise)

Đây là cách thức NQTM thông qua đó thiết lập nhiều hơn một cơ sở kinh doanh

Trang 20

theo phương thức NQTM [31, pg 15] Hình thức NQTM đa cơ sở có hai dạng:

- Nhượng quyền phát triển khu vực (area development franchise)

Nhượng quyền phát triển khu vực là hình thức nhượng quyền theo đó, bênnhận quyền có quyền mở nhiều hơn một cửa hàng nhượng quyền tại một khu vực cụthể trong một thời hạn xác định Bên nhận quyền thường phải cam kết được mở baonhiêu cửa hàng trong một thời gian nhất định nếu không sẽ mất quyền Người nhậnnhượng quyền khu vực không được phép "bán" franchise cho những người mua tiếptheo Phí trả cho hình thức nhượng quyền này cũng tương đối cao

- Nhượng quyền độc quyền (master franchise)

Nhượng quyền độc quyền là hình thức nhượng quyền theo đó, bên nhậnquyền ngoài việc được quyền mở nhiều hơn một cửa hàng nhượng quyền tại mộtkhu vực trong một thời gian xác định còn được phép bán nhượng quyền lại chonhững người khác (người nhận quyền thứ cấp), trong khu vực xác định Hay nóicách khác, đây là hình thức mà chủ thương hiệu sẽ chọn một cá nhân hay doanhnghiệp địa phương tại quốc gia hoặc khu vực mà mình muốn xâm nhập làm bên

"mua" franchise độc quyền kinh doanh Để có được franchise độc quyền, bên "mua"franchise phải trả một khoản phí chuyển nhượng cao hơn các hình thức nhượngquyền khác Bên "mua" franchise này vừa là bên nhận quyền từ chủ thương hiệuvừa là bên nhượng quyền cho những người nhận quyền khác trong phạm vi khu vựcđịa lý đã thỏa thuận Phần phí nhượng quyền thu được từ những bên nhận quyền thứcấp sẽ được chia cho chủ thương hiệu và bên nhận franchise độc quyền theo tỷ lệthỏa thuận trước Bên nhận franchise độc quyền phải cam kết trong một khoảng thờigian nhất định sẽ có bao nhiêu cửa hàng được mở nếu không sẽ mất độc quyền Một

ví dụ cho hình thức nhượng quyền này là công ty Aptech của Ấn Độ nhượng quyềnđộc quyền cho tập đoàn FPT tại thị trường Việt Nam

Hình thức nhượng quyền phát triển khu vực và nhượng quyền độc quyềnthường được áp dụng khi chủ thương hiệu muốn mở rộng hệ thống của mình ranước ngoài hoặc những khu vực xa xôi Ưu điểm của hai loại hình này là bênnhượng quyền có thể vừa phát triển nhanh chóng mô hình kinh doanh trên phạm vi

Trang 21

rộng lớn, vừa cắt giảm được đáng kể chi phí nhờ có các bên nhượng quyền thứ cấpkhác, đồng thời làm tăng sự gắn kết chặt chẽ của bên nhận quyền đối với hệ thống,bởi lẽ bên nhận quyền cũng chính là nhà nhượng quyền thứ cấp Tuy nhiên, hai loạihình này có nhược điểm là hạn chế phần nào quyền chủ động của chủ thương hiệu,khó đảm bảo tính đồng bộ và chuẩn mực của hệ thống Do vậy, để chủ động và đạthiệu quả tốt hơn trong việc chuyển nhượng mô hình kinh doanh mẫu, chủ thươnghiệu thường lựa chọn hình thức nhượng quyền trực tiếp.

Thứ hai, NQTM quốc tế

NQTM quốc tế là quan hệ NQTM có yếu tố nước ngoài, do pháp luật quốc gia,các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế điều chỉnh Ví dụ: Phở 24 NQTM tại Nhật Bản

1.1.4 Lợi ích của phương thức nhượng quyền thương mại

Qua lịch sử hình thành và phát triển khá lâu đời, hình thức NQTM đã ngàycàng khẳng định được vị thế của nó trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.NQTM là sự lựa chọn hàng đầu cho nhiều doanh nghiệp, bởi đây là phương thứckinh doanh có lợi cho cả ba bên: bên nhượng quyền; bên nhận quyền; xã hội vàngười tiêu dùng

1.1.4.1 Đối với bên nhượng quyền

Thứ nhất, phát triển thương hiệu và nhân rộng mô hình kinh doanh, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường

Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng muốn ngày càng phát triển thương hiệu

và nhân rộng mô hình kinh doanh của mình khi đã thành công Một khi mô hìnhkinh doanh của doanh nghiệp đã được thành công và nhân rộng một cách nhanh

Trang 22

chóng thì thương hiệu của doanh nghiệp cũng lớn mạnh theo Nhờ vậy bên nhượngquyền sẽ có được một hệ thống kinh doanh lớn, chiếm lĩnh được nhiều thị trườnghơn mà không phải bỏ ra nhiều vốn Việc nhân rộng mô hình kinh doanh cũng làmột hình thức giúp bên nhượng quyền có được kênh phân phối rộng, đưa sản phẩmđến tay người tiêu dùng nhanh hơn Có thể nói phương thức NQTM là sự kết hợpgiữa doanh nghiệp lớn với hệ thống quản lý bài bản, có sức mạnh tài chính, kỹ thuật

và công nghệ hiện đại với doanh nghiệp nhỏ có tính linh hoạt, sáng tạo, có sự camkết và am hiểu thị trường Sự kết hợp này sẽ nhanh chóng giúp doanh nghiệp chiếmlĩnh được thị truờng hơn các phương thức kinh doanh khác Ví dụ như tính đến thờiđiểm cuối năm 2007, McDonald's có tổng số 31,000 nhà hàng tại 119 quốc gia trênthế giới, trong đó 78% số cửa hàng là do nhượng quyền và chỉ có 22% cửa hàng là

do công ty lập nên [32]

Thứ hai, tăng doanh thu

Thông qua hình thức NQTM, bên nhượng quyền có thể nhận được phí nhượngquyền ban đầu, phí hàng tháng từ việc bán franchise (Phí này có thể là một khoản phí cốđịnh theo thỏa thuận của các bên hoặc tính theo phần trăm trên doanh số của bên muafranchise và thường dao động trung bình từ 3 - 6% tùy vào loại sản phẩm, mô hình vàlĩnh vực kinh doanh) Tại Mỹ, chỉ có khoảng 8% các cửa hàng nhượng quyền là khôngphải trả phí hàng tháng này (còn gọi là royalty fee) [23] Ngoài ra bên nhượng quyền còn

có các khoản thu từ việc bán các nguyên liệu đặc thù cho bên nhận quyền

Thứ ba, tiết kiệm được chi phí

Bên nhượng quyền có thể tiết kiệm được khá nhiều chi phí khi nhập nguyênliệu với số lượng lớn để phân phối lại cho các cửa hàng nhượng quyền Ví dụtrường hợp của KFC, hệ thống nhượng quyền này tiêu thụ hàng nghìn tấn thịt gàmỗi ngày Với khối lượng mua khổng lồ như vậy, tất yếu KFC được hưởng mức giá

ưu đãi từ bất cứ nhà cung cấp nào Ngoài ra, các chi phí trong quảng cáo, tiếp thịcũng được giảm đi đáng kể nhờ được chia nhỏ cho nhiều cửa hàng trong hệ thốngNQTM

Thứ tư, tận dụng nguồn nhân lực của bên nhận quyền

Trang 23

Trong hoạt động NQTM, bên nhận quyền sẽ là người bỏ vốn ra kinh doanhnên đây là động lực để thúc đẩy họ làm việc tốt hơn, vì khi đó người nhận quyền làchủ nên họ làm việc có trách nhiệm hơn Ngoài ra, bên nhận quyền có thể tiếp cậnnhững địa điểm mà bên nhượng quyền không thể tiếp cận được Do đó, bên nhượngquyền sẽ tận dụng được nguồn nhân lực không nhỏ từ phía bên nhận quyền màkhông phải tốn nhiều chi phí Hơn nữa, sau khi bên nhượng quyền đào tạo cho bênnhận quyền thứ nhất, bên nhận quyền này lại có thể tiếp tục đào tạo cho bên nhậnquyền thứ hai sau mình Với hình thức như vậy bên nhượng quyền không chỉ tậndụng được nguồn nhân lực của bên nhận quyền mà còn tiết kiệm được khá nhiều chiphí trong công tác đào tạo.

1.1.4.2 Đối với bên nhận quyền

Thứ nhất, giảm thiểu rủi ro

Việc mở cửa hàng, cơ sở kinh doanh mới có rất nhiều rủi ro và tỷ lệ thất bạicao Lý do chính của tỷ lệ thất bại cao là do người quản lý là những người mới bướcvào nghề, không có kinh nghiệm và phải mất nhiều thời gian cho việc học hỏi cácđặc trưng riêng của từng loại hình kinh doanh Khi tham gia vào hệ thống nhượngquyền, bên nhận quyền sẽ được huấn luyện, đào tạo và truyền đạt kinh nghiệm quản

lý, bí quyết thành công của mô hình kinh doanh mà bên nhượng quyền đã tích lũyđược từ những lần trải nghiệm trên thị trường Bên nhận quyền không phải trải quagiai đoạn xây dựng và phát triển ban đầu, do vậy sẽ góp phần giảm thiểu rủi rotrong hoạt động kinh doanh

Thứ hai, được sử dụng thương hiệu có uy tín

Đây có thể coi là lợi ích cơ bản nhất mà bên nhận quyền có được từ bênnhượng quyền khi tham gia vào hệ thống NQTM Khi đó, họ sẽ không phải mất thờigian để xây dựng thương hiệu mà có thể dễ dàng thâm nhập vào thị trường và ngaylập tức có được uy tín về chất lượng sản phẩm/dịch vụ, chiến lược marketing củabên nhượng quyền

Thứ ba, nhận được sự hỗ trợ từ phía bên nhượng quyền

Bên nhận quyền luôn nhận được sự hỗ trợ từ phía chủ thương hiệu, bao gồm

Trang 24

hỗ trợ trước khi mở cửa hàng như: Giúp chọn địa điểm kinh doanh; thiết kế trang trícửa hàng; đào tạo nhân viên; giúp đỡ về tài chính và hỗ trợ sau khi cửa hàng khaitrương như: đào tạo nhân viên định kỳ; quảng cáo tiếp thị; hỗ trợ về quản lý; vậnhành giám sát; tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra, bên nhượng quyền còn hỗ trợ cho bênnhận quyền trong suốt quá trình hoạt động.

Thứ tư, tiết kiệm được chi phí nghiên cứu và phát triển

Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ thường có ít vốn cũng như thời gian để nghiêncứu và phát triển thị trường, sản phẩm mới Khi tham gia vào hệ thống NQTM, bênnhượng quyền sẽ thực hiện việc này, họ luôn có một bộ phận chuyên viên nghiên cứutình hình cũng như xu hướng phát triển đối với từng loại sản phẩm, từng thị trườngtrong từng thời kỳ để nhanh chóng có được phương hướng thay đổi cho phù hợp Do

đó, bên nhận quyền sẽ được sử dụng thành quả này mà không cần tốn nhiều chi phí bởi

họ chỉ phải đóng một phần chi phí theo quy định của bên nhượng quyền

Thứ năm, thuận lợi trong việc huy động vốn

Do xác suất thành công của mô hình NQTM cao nên các ngân hàng tin tưởngcho các doanh nghiệp nhận quyền vay tiền Thực tế thì hầu như các doanh nghiệpnhượng quyền lớn trên thế giới đều chủ động đàm phán, thuyết phục ngân hàng ủng

hộ các đối tác nhận quyền tiềm năng của mình bằng cách cho vay với lãi suất thấp.Nói khác đi chủ thương hiệu thường đóng vai trò cầu nối giúp người mua franchisevay tiền ngân hàng hoặc chính mình đứng ra cho vay, nhằm phát triển và nhân rộng

mô hình kinh doanh nhanh hơn

1.1.4.3 Đối với nền kinh tế

Trên thế giới, không có một quốc gia nào có nền kinh tế phát triển mà không

có công nghiệp NQTM phát triển NQTM không những đem lại lợi ích cho cácdoanh nghiệp mà còn cho cả một nền kinh tế nói chung

Thứ nhất, hoạt động NQTM huy động một lượng lớn đầu tư xã hội.

Khi các doanh nhiệp tham gia hoạt động NQTM kinh doanh có lãi, họ sẽ đónggóp một phần thu nhập đáng kể vào ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế Vìvậy, hình thức kinh doanh NQTM sẽ tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội, tránh lãng phí

Trang 25

tiền của vì tỷ lệ phá sản của hình thức này rất thấp Bên cạnh đó, nhờ vào khả năngthành công cao nên mô hình NQTM giúp giảm thiểu tổn thất cho nền kinh tế.

Thứ hai, góp phần chuyển giao công nghệ, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm và phương kinh doanh từ các nước phát triển

Thông thường các thương hiệu lớn trên thế giới có xu hướng nhượng quyền đểphát triển và mở rộng tầm ảnh hưởng của mình đến các nước và khu vực đang phát triển

Vì vậy, thông qua việc nhận quyền, doanh nghiệp ở các nước đang phát triển sẽ có cơ hộitiếp cận công nghệ tiên tiến, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm quản lý của các nước pháttriển Do đó, các doanh nghiệp ở các quốc gia sẽ có cơ hội hợp tác, học hỏi và nhân rộng

mô hình kinh doanh đã chứng minh thành công trên thương trường

Thứ ba, giúp người tiêu dùng có cơ hội tiếp cận và tiêu dùng sản phẩm của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới với chất lượng đồng đều

Các cửa hàng nhượng quyền đều phải đảm bảo tính đồng nhất do nhànhượng quyền đề ra, vì vậy người tiêu dùng ở khắp nơi trên thế giới đều có cơ hội

sử dụng những sản phẩm chính hãng, đảm bảo chất lượng mà không phải đi ra nướcngoài Mặt khác, tính đồng bộ và chuẩn mực của hệ thống nhượng quyền là nhân tốđảm bảo chất lượng cho sản phẩm, dịch vụ, giúp giảm rủi ro cho người tiêu dùng

Thứ tư, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội

Hầu hết các doanh nhiệp mới mở ra dưới hình thức NQTM đều có nhu cầutuyển dụng nhân công, vì thế sẽ giải quyết được vấn đề việc làm cho một lượng laođộng trong xã hội, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp của nhiều quốc gia

1.1.5 Những yếu tố cấu thành mô hình nhượng quyền thương mại

Trước khi tiến hành NQTM, cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền cầnphải xác định các yếu tố cấu thành mô hình NQTM Đây là việc làm rất quan trọng,bởi lẽ khi xác định đúng những yếu tố này thì sẽ xây dựng chiến lược kinh doanh,chiến lược marketing phù hợp để qua đó nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường

Một là, thương hiệu (the brand)

Sản phẩm sẽ được thị trường chấp nhận như thế nào phụ thuộc rất nhiều vàothương hiệu của sản phẩm Đối với các sản phẩm chỉ mới được chứng minh thànhcông ở một vài địa điểm nhất định thì khi tiến hành bán franchise, chủ thương hiệu

Trang 26

lấy phí franchise ban đầu rất thấp để mở những cửa hàng franchise đầu tiên Ngàynay nhu cầu của người tiêu dùng yêu cầu ngày càng cao, sản phẩm phải có uy tín vàchất lượng tốt, vì vậy đòi hỏi chủ thương hiệu phải xây dựng được thương hiệumạnh Khi đã xây dựng được thương hiệu mạnh thì việc bán franchise sẽ dễ dàng vàthu phí franhise cao hơn so với các thương hiệu kém nổi tiếng Do đó, thương hiệuđóng một vai trò rất quan trọng trong mô hình NQTM.

Hai là, hệ thống kinh doanh (Business system)

Khi tham gia vào hệ thống NQTM, bên nhượng quyền và bên nhận quyền đềuphải tiến hành một phương thức kinh doanh chung, tạo nên một hệ thống NQTM vàphải đáp ứng được các yêu cầu như: Tiêu chuẩn về hàng hóa, tiêu chuẩn về vị trí, tiêuchuẩn về sản xuất hàng hóa, tiêu chuẩn về cung ứng dịch vụ, các tiện nghi, về việc dựtrữ, về hệ thống kế toán (sổ sách), kiểm toán hàng tồn kho, các chính sách tiêuthụ Trong một hệ thống kinh doanh nhượng quyền, các doanh nghiệp franchise phảithể hiện tính đồng nhất Ở một số hệ thống nhượng quyền, bên nhượng quyền hầu nhưquản lý toàn bộ quá trình hoạt động, thậm chí cả những tiêu chí hết sức nhỏ nhặt Ví dụnhư trong hệ thống NQTM của Phở 24, bên nhượng quyền chú ý quản lý đến mọi côngđoạn từ nguyên liệu, cách chế biến, cách phục vụ khách hàng cho đến nội thất, ánhsáng, đồng phục nhân viên ,nhưng ở một số hệ thống lại có sự can thiệp ít hơn vàdành cho bên nhận quyền sự độc lập tương đối trong công tác điều hành nếu chúngkhông liên quan trực tiếp đến những vấn đề quan trọng của hệ thống

Ba là, phí nhượng quyền (Fees)

Trong tất cả các hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền đều phải trả phícho bên nhượng quyền để được quyền tham gia vào hệ thống NQTM Phí nhượngquyền bao gồm phí nhượng quyền ban đầu và phí định kỳ (thường được tính trên tỷ

lệ doanh thu hoặc một khoản phí cố định), phí dịch vụ, phí cấp phép, phí quảng cáo,các loại phí khác về cung cấp các dịch vụ cho bên nhận quyền có thể được thỏathuận giữa hai bên Với mỗi thương hiệu khác nhau thì chắc chắn mức phí này sẽ có

sự khác nhau Sự khác nhau này tùy thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ nổi tiếngcủa thương hiệu, địa điểm nhượng quyền, mức sống quốc gia

Trang 27

1.2 Pháp luật quốc tế về nhượng quyền thương mại

1.2.1 Các văn bản pháp luật quốc tế về nhượng quyền thương mại

Mặc dù quan hệ NQTM đã được phổ biến rộng rãi trong quan hệ quốc tếnhưng hiện nay chưa có một văn bản thống nhất điều chỉnh các quan hệ này Chính

vì vậy, khi bảo vệ quyền lợi cho các bên trong hợp đồng NQTM, người ta thường

áp dụng quy định của những Công ước quốc tế và hướng dẫn của những tổ chứcquốc tế khác nhau Nhìn chung các quy định của pháp luật quốc tế về NQTM chủyếu đề cập đến các khía cạnh như: Hợp đồng NQTM được đề cập trong văn bảnhướng dẫn về NQTM của WIPO năm 1994; vấn đề công khai thông tin trong hoạtđộng NQTM được quy định trong Luật mẫu về công khai thông tin trong hoạt độngNQTM của UNIDROIT; việc lựa chọn luật áp dụng trong quan hệ NQTM được quyđịnh trong hướng dẫn về hợp đồng NQTM độc quyền quốc tế của UNIDROIT năm

1998, tái bản năm 2007 Sau đây, người viết xin trình bày cụ thể các vấn đề nêutrên

1.2.1.1 Quy định về hợp đồng NQTM

Tùy thuộc vào đối tượng cụ thể và mục đích của từng loại hình nhượngquyền mà hợp đồng NQTM sẽ có các nội dung khác nhau Các nội dung tiêu biểucủa một hợp đồng NQTM gồm: Quy định về quyền và nghĩa vụ của bên nhượngquyền; quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền; các quy định khác như độc quyền,thời hạn hợp đồng, vi phạm hợp đồng, gia hạn hợp đồng, chấm dứt hợp đồng,

Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của bên nhượng quyền

Các nghĩa vụ của thương nhân nhượng quyền đối với bên nhận quyền có thểđược chia thành hai nghĩa vụ cơ bản:

Một là, cho phép bên nhận quyền sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ và cácquyền khác có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời cho phép bên nhậnquyền sử dụng hệ thống kinh doanh của bên nhượng quyền

Đây là vấn đề trọng tâm của các thỏa thuận NQTM Bên nhượng quyền chophép bên nhận quyền kinh doanh dưới tên thương mại, nhãn hiệu, kiểu dáng côngnghiệp, sáng chế, công trình có bản quyền và bí mật thương mại của bên nhượng

Trang 28

quyền Bên nhận quyền yêu cầu bên nhượng quyền phải xác định rõ các quyền sởhữu trí tuệ và cách thức sử dụng các quyền đó, điều này được thể hiện trong hợpđồng NQTM, bao gồm cả phụ lục và tài liệu bổ sung Bên cạnh đó, bên nhượngquyền còn cho phép bên nhận quyền sử dụng hệ thống kinh doanh của mình.

Hai là, chuyển giao hệ thống nhượng quyền và trợ giúp cho bên nhận quyền

Để bên nhận quyền kinh doanh có hiệu quả thì bên nhượng quyền phải cung cấphướng dẫn hoạt động và các khóa đào tạo cho bên nhận quyền

- Cung cấp hướng dẫn hoạt động cho bên nhận quyền

Hướng dẫn hoạt động là một trong những phương tiện quan trọng nhất củaviệc chuyển giao các hệ thống nhượng quyền cho bên nhận quyền Hướng dẫn nàybao gồm các thông tin thực sự cần thiết cho việc hoạt động của mô hình NQTM nhưthông tin về địa điểm cho các đơn vị trong hệ thống nhượng quyền, thông tin vềtuyển dụng nhân viên, đào tạo

- Tiến hành đào tạo cho bên nhận quyền

Việc đào tạo được cung cấp bởi bên nhượng quyền có thể bao gồm các yếu

tố sau: đào tạo về marketing, đào tạo về phân phối, đào tạo về bảo hành, đào tạo vềkinh doanh

Ngoài ra bên nhượng quyền còn có nghĩa vụ cung cấp các hỗ trợ khác vàthực hiện việc hỗ trợ tiếp tục cho bên nhận quyền trong suốt quá trình hoạt động

Không phải lúc nào cũng có sự phân biệt giữa quyền và nghĩa vụ của bênnhượng quyền, có một số nội dung vừa là nghĩa vụ nhưng cũng vừa là quyền của bênnhượng quyền Ví dụ: việc kiểm soát mạng lưới nhượng quyền là nghĩa vụ nhưng cũng

là quyền của bên nhượng quyền để bảo vệ danh tiếng của mạng lưới và đảm bảo chấtlượng được duy trì Ngoài ra, bên nhượng quyền còn có các quyền khác như quyền phêduyệt các vị trí của cửa hàng; quyền bổ nhiệm một giám đốc với Hội đồng quản trị củabên nhận quyền hoặc nhận phí trực tiếp từ các đại lý nhận quyền

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền

Nghĩa vụ của bên nhận quyền có thể chia thành bốn nội dung cơ bản:

Một là, tuân thủ lịch trình phát triển của bên nhượng quyền

Trang 29

Trong hợp đồng NQTM sẽ bao gồm một lịch trình phát triển Lịch trình pháttriển sẽ xác định số lượng các đơn vị NQTM, số cửa hàng hoặc các đại lý khác màbên nhận quyền phải mở ra trong một khoảng thời gian theo thỏa thuận Trong hợpđồng nhượng quyền có thể có quy định rằng việc không tuân thủ kịp thời lịch trìnhphát triển có thể làm phát sinh những hậu quả nhất định, chẳng hạn như hạn chếhoặc tước bỏ các tình trạng độc quyền của bên nhận quyền, trường hợp nghiệmtrọng hơn có thể là căn cứ để chấm dứt hợp đồng NQTM.

Hai là, thanh toán phí nhượng quyền

Một trong những quy định quan trọng nhất trong hợp đồng NQTM là việcxác định các loại phí mà bên nhận quyền phải thanh toán cho bên nhượng quyền.Các khoản phí này gồm: Phí nhượng quyền ban đầu; phí duy trì hoạt động; phí chocác hoạt động quảng cáo, khuyến mại và các khoản phí cho các dịch vụ cụ thể khác

Ba là, tuân thủ các yêu cầu nhất định của bên nhượng quyền về kiểm soátchất lượng của hệ thống nhượng quyền

Việc bên nhượng quyền kiểm soát cách thức vận hành hệ thống NQTM củabên nhận quyền là rất cần thiết để đảm bảo rằng các quyền sở hữu trí tuệ và các dấuhiệu đặc biệt thuộc sở hữu của bên nhượng quyền được bảo vệ Bên nhượng quyền

sẽ kiểm soát chất lượng của hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp bởi bên nhậnquyền thông qua hướng dẫn và khuyến nghị nêu trong hướng dẫn vận hành; kiểmtra hoạt động của bên nhận quyền đối với vật tư do bên nhượng quyền cung cấphoặc từ một nguồn do bên nhượng quyền đề nghị hoặc chấp thuận

Bốn là, tôn trọng tính bảo mật nhất định của thông tin

Một cam kết giữ bí mật đối với các yếu tố nhất định của hệ thống NQTM sẽmang lại lợi ích cho cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền Bất kỳ bên nhượngquyền nào cũng sẽ phải mất nhiều thời gian và công sức vào việc phát triển các hệthống NQTM, do đó để duy trì hoạt động của hệ thống đòi hỏi bên nhận quyền phảitôn trọng các thông tin có tính chất bí mật của bên nhượng quyền Đương nhiên cácthông tin như vậy có thể được tiết lộ cho các viên chức của bên nhận quyền để thựchiện các hoạt động kinh doanh của các đơn vị nhượng quyền Tuy nhiên, thông qua

Trang 30

hợp đồng nhượng quyền, bên nhận quyền buộc các nhân viên của mình giữ bí mậtthông tin.

Thứ ba, các điều khoản khác

Một số điều khoản khác có thể được tìm thấy trong hầu hết các hợp đồngNQTM của các doanh nghiệp, chẳng hạn như độc quyền, thời hạn hợp đồng, viphạm quy định của hợp đồng, gia hạn và chấm dứt hợp đồng

Một là, độc quyền

Tính độc quyền đối với một khu vực địa lý hoặc lãnh thổ thường đòi hỏi phải

có cam kết của cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền Bên nhượng quyền camkết sẽ không cấp quyền thương mại cho các bên khác trong lãnh thổ độc quyền, đổilại, bên nhận quyền sẽ phải chấp nhận những hạn chế nhất định như:

- Cấm thành lập một đơn vị NQTM khác ở một vị trí quy định hoặc trongmột lãnh thổ nhất định;

- Cấm tiến hành các hoạt động kinh doanh khác với hoạt động kinh doanhcủa cơ sở nhượng quyền trong một lãnh thổ nhất định;

- Cấm quảng cáo, trưng cầu hoặc chấp nhận bán các hàng hóa khác tại một vịtrí quy định hoặc trong một lãnh thổ nhất định

Ngoài ra, bên nhượng quyền có thể cho phép bên nhận quyền độc quyềntrong một khu vực với điều kiện là không được mở một cơ sở nhượng quyền kháctrong một khoảng thời gian, sau đó bên nhượng quyền có thể mở một số lượng hạnchế đơn vị nhận quyền mới trong khu vực nhưng không được nằm trong mộtkhoảng cách hạn chế từ bên nhượng quyền ban đầu

Hai là, thời hạn của hợp đồng

Thời hạn của hợp đồng do các bên thỏa thuận nhưng cũng có thể chấm dứttrước thời hạn Thời hạn của hợp đồng nên đủ dài để cả hai bên thu được một số lợiích từ hợp đồng, lý do chủ yếu là do việc đào tạo ban đầu và chi phí cho một cơ sởnhượng quyền cao, bên nhận quyền phải tốn nhiều chi phí cần thiết cho hoạt độngnhượng quyền như chi phí xây dựng cơ sở vật chất, chi phí nguyên vật liệu, Tuynhiên, trong một số trường hợp thì thời hạn của hợp đồng là một khoảng thời gian

Trang 31

ngắn do các bên chấm dứt quan hệ hợp đồng vì các lý do của cá nhân hoặc củadoanh nghiệp mà không cần vi phạm các thỏa thuận của hợp đồng Cần lưu ý rằngtheo pháp luật của một số quốc gia nhất định, thời hạn của hợp đồng chịu sự giớihạn của các loại giấy phép sở hữu công nghiệp hoặc thỏa thuận chuyển giao côngnghệ hoặc trong một thời gian giới hạn đó phải đáp ứng các tiêu chí cụ thể.

Ba là, vi phạm quy định của hợp đồng

- Vi phạm hợp đồng bởi bên nhượng quyền

Các bên có thể thỏa thuận nếu bên nhượng quyền vi phạm một điều khoảnquan trọng của hợp đồng thì bên nhận quyền có quyền chấm dứt hợp đồng và yêucầu bồi thường Đối với các hành vi vi phạm một phần của bên nhượng quyền cóthể dẫn tới một sự vi phạm nghiêm trọng nhưng dễ khắc phục và điều chỉnh thì bênnhượng quyền có cơ hội điều chỉnh cần thiết trong thời gian quy định, ví dụ 30 ngàytrước khi bên nhận quyền có thể chấm dứt hợp đồng

- Vi phạm hợp đồng bởi bên nhận quyền

Sự thất bại của bên nhận quyền trong hoạt động NQTM có thể cấu thành vi

phạm nghiêm trọng và làm cho hợp đồng chấm dứt Ví dụ: nếu bên nhận quyền khôngđáp ứng hạn ngạch bán hàng đã được thỏa thuận, phá sản hoặc vi phạm các yêu cầubảo mật, không trả tiền bản quyền khi đến hạn, không đáp ứng các tiêu chuẩn của bênnhượng quyền về chất lượng và dịch vụ thì chủ thương hiệu có thể chấm dứt hợp đồng.Nếu bên nhận quyền không vi phạm các nội dung trên và vi phạm đó có thể sửa chữathì bên nhận quyền cần được tạo cơ hội để sửa chữa Trường hợp bên nhận quyền tựtuyên bố phá sản, gian lận hoặc bị kết tội về hành vi phạm tội thì bên nhượng quyền cóthể chấm dứt hợp đồng mà không cần phải thông báo trước cho bên nhận quyền

Gia hạn hợp đồng

Việc gia hạn hợp đồng nhượng quyền không có tính chất tự động, do đó, việcgia hạn phải được thỏa thuận chi tiết trong hợp đồng Trong trường hợp gia hạn hợpđồng, các điều khoản của hợp đồng mới sẽ được dựa trên các điều khoản của hợpđồng trước đó nhưng bên nhận quyền không phải trả một khoản phí ban đầu và chiphí đào tạo lại cho bên nhượng quyền

Trang 32

Chấm dứt hợp đồng NQTM

Hợp đồng NQTM chấm dứt khi thời hạn của hợp đồng kết thúc và khôngđược gia hạn hoặc hợp đồng chấm dứt trước thời hạn do sự vi phạm nghiêm trọngcủa bên nhượng quyền hoặc bên nhận quyền Hợp đồng này cũng có thể chấm dứttrước thời hạn theo thỏa thuận của hai bên [37, pg 27 - 46]

b Công khai thông tin trong hoạt động NQTM

Bên nhượng quyền phải cung cấp hợp đồng mẫu kèm theo bản công khaithông tin cho bên dự kiến nhận quyền ít nhất 14 ngày trước khi ký kết hợp đồnghoặc trước khi bên nhận quyền trả phí cho bên nhượng quyền Trường hợp có sựthay đổi các nội dung trong bản công khai thông tin thì phải đảm bảo phù hợp vớinội dung của bản công khai thông tin theo yêu cầu của Luật mẫu về công khai thôngtin trong hoạt động NQTM của UNIDROIT và phải thông báo bằng văn bản về sựthay đổi đó trước khi ký hợp đồng hoặc bên nhận quyền trả phí nhượng quyền

Bản công khai thông tin do bên nhượng quyền cung cấp gồm các thông tin sau:

· Tên pháp lý, hình thức pháp lý, địa chỉ pháp lý và địa chỉ địa điểm kinhdoanh của bên nhượng quyền;

· Các nhãn hiệu, tên thương mại, tên doanh nghiệp hoặc các thông tin khác

về hoạt động kinh doanh hoặc dự kiến kinh doanh của bên nhượng quyền;

· Địa chỉ trụ sở chính để hoạt động kinh doanh của bên nhượng quyền tạinước mà bên nhận quyền có trụ sở;

· Mô tả về quyền thương mại mà bên dự kiến nhận quyền sẽ nhận và hoạt động;

· Mô tả về kinh nghiệm kinh doanh của bên nhượng quyền và chi nhánh hoạtđộng dưới thương hiệu và tên thương mại của bên nhượng quyền;

· Tên, địa chỉ kinh doanh, vị trí tổ chức và kinh nghiệm của bất kỳ người nàoquản lý cấp cao và có trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của bên nhượng quyền;

· Bất kỳ thủ tục tố tụng liên quan đến vấn đề phá sản, vỡ nợ hoặc tươngđương của bên nhượng quyền trong 5 năm trước đó mà tòa án đã trích dẫn;

· Tổng số các đại lý nhượng quyền và các cửa hàng thuộc sở hữu của bênnhượng quyền và các chi nhánh hoạt động dưới nhãn hiệu và tên thương mại của

Trang 33

bên nhượng quyền;

· Tên, địa chỉ, điện thoại của bên nhượng quyền và chi nhánh hoạt động dướinhãn hiệu và tên thương mại của bên nhượng quyền;

· Thông tin về các đại lý nhượng quyền và các chi nhánh của bên nhận quyềntrong ba năm tài chính trước khi bên dự kiến nhận quyền tham gia vào hệ thốngnhượng quyền nhưng hiện tại không còn là bên nhận quyền của bên nhượng quyền;

· Các thông tin về tài sản của bên nhượng quyền như tài sản cấp cho bênnhận quyền, nhãn hiệu hàng hóa đặc biệt, bằng sáng chế, phần mềm và bản quyền;

· Thông tin về các loại hàng hóa và/ hoặc dịch vụ mà bên nhận quyền khôngđược yêu cầu mua hoặc thuê;

· Vấn đề tài chính: Ước tính tổng số phí ban đầu của hoạt động NQTM;

· Các mô tả về trạng thái của thị trường chung của các sản phẩm hoặc dịch vụ làđối tượng của hợp đồng; tình trạng của thị trường nội địa của các sản phẩm hoặc dịch

vụ là đối tượng của hợp đồng; các triển vọng phát triển của thị trường [36]

c Luật áp dụng

Việc lựa chọn đạo luật áp dụng cho một hợp đồng NTQM quốc tế có ý nghĩarất quan trọng giúp làm sáng tỏ ngay từ đầu cách hiểu về các điều khoản chính tronghợp đồng của các bên Ngoài ra, văn bản luật được chọn sẽ quyết định rất nhiều vềnhững nghĩa vụ ràng buộc trên thực tế bởi các bên

Việc lựa chọn văn bản luật áp dụng

Việc áp dụng các quy tắc giải quyết xung đột pháp luật của một quốc gia đểquyết định luật nào sẽ được áp dụng là khá phức tạp Về hợp đồng, có rất nhiều quyđịnh khác nhau được sử dụng để quyết định văn bản luật áp dụng Một trong cácquy định này, văn bản luật về nơi ký kết hợp đồng sẽ được áp dụng Theo một quyđịnh khác thì luật được áp dụng là luật về nơi thực hiện hợp đồng, luật này sẽ điềuchỉnh mối quan hệ giữa các bên hoặc cũng có thể là luật do các bên lựa chọn Việclựa chọn văn bản luật cụ thể sẽ tất yếu ảnh hưởng tới các điều khoản của hợp đồngnhượng quyền, cũng như tới cách mà các hợp đồng này được soạn thảo Ngoài ra,các bên sẽ phải tuân theo luật pháp nơi diễn ra hoạt động kinh doanh nhượng quyền,

Trang 34

mà trước tiên là luật sở hữu trí tuệ, chính sách công của quốc gia như luật cạnhtranh, luật đầu tư nước ngoài và luật bảo vệ người tiêu dùng.

Các đặc điểm cụ thể của một số lĩnh vực luật nội dung liên quan cần đượcxem xét kỹ lưỡng:

♦ Chính sách công;

♦ Luật đầu tư nước ngoài;

♦ Luật doanh nghiệp và các quy định của cơ quan quản lý;

♦ Luật cạnh tranh /luật chống độc quyền/thông lệ thương mại;

♦ Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ;

♦ Luật tài chính/ngân hàng/ tín dụng/ tiền tệ/xuất khẩu;

♦ Luật bán hàng;

♦ Luật hải quan;

♦ Luật bảo vệ người tiêu dùng;

♦ Luật bảo hiểm và trách nhiệm bên thứ ba;

♦ Pháp luật thuế, bao gồm khấu trừ thuế;

♦ Luật lao động;

♦ Quy định về NQTM trong nước cụ thể

Nếu như hệ thống luật doanh nghiệp của bên nhận quyền không phát triển tốt

để bảo vệ hiệu quả thương hiệu và các quyền sở hữu trí tuệ khác gắn liền với hoạtđộng kinh doanh NQTM thì các nhà nhượng quyền sẽ không có lựa chọn nào khácngoài việc phải chọn văn bản luật của nước đó nếu muốn tiếp tục phát triển hoạtđộng của mình trong một môi trường nhiều rủi ro như vậy

Tác động của luật quốc tế đến việc lực chọn văn bản luật áp dụng

Khi các bên thực hiện hoạt động NQTM trong bối cảnh quốc tế thì việc lựa

chọn luật áp dụng không chỉ giới hạn ở pháp luật trong nước mà pháp luật quốc tếcũng cần được xem xét Do đó, chẳng hạn, nếu như nhà nước sở tại nơi mỗi bên

hoạt động là một thành viên của công ước viên về hợp đồng mua bán hàng hóa

quốc tế (CISG) thì các quy định của CISG, chứ không phải pháp luật quốc gia sẽ

được áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa - Một phần của hợp đồng

Trang 35

NQTM, trừ khi bị loại bỏ bởi các điều khoản hợp đồng Ngoài ra, các bên có thểtham khảo các quy định của CISG mặc dù có thể các bên không áp dụng Bên cạnh

đó, nếu các bên trong quan hệ NQTM muốn tìm kiếm sự thay thế để tìm kiếm cácnguyên tắc pháp lý tương tự áp dụng cho tất cả các hợp đồng NQTM, thì cácnguyên tắc của hợp đồng phải đảm bảo phù hợp với bộ nguyên tắc của UNIDROIT

về hợp đồng thương mại quốc tế Mặc khác, trong việc lựa chọn luật áp dụng chohợp đồng NQTM, không chỉ có pháp luật quốc gia mà còn có thể lựa chọn cả luậtquốc tế chung (Hiệp ước, công ước) mà quốc gia đó là thành viên

Các bên tham gia hoạt động NQTM cần phải quan tâm đến hàng loạt cáckhía cạnh pháp lý để đảm bảo tính khả thi của hợp đồng NQTM Trong thực tế, luật

áp dụng thường xuyên và hợp lý cho hoạt động NQTM là luật của quốc gia nơi cơ

sở nhượng quyền hoạt động, trừ khi bên nhận quyền không hoạt động tại quốc gia

đó [35]

Trên thế giới hiện nay tuy chưa có văn bản pháp luật chung quy định vềNQTM nhưng các quy định về NQTM nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khácnhau và các hướng dẫn của các tổ chức quốc tế cũng góp phần định hướng cho hoạtđộng NQTM của hầu hết các nước

1.2.2 Pháp luật một số nước trên thế giới về nhượng quyền thương mại

Để quản lý và điều hành hoạt động NQTM phát triển một cách có hệ thống

và phù hợp với chính sách kinh tế - xã hội, mỗi quốc gia cần xây dựng cho mìnhnhững quy định cụ thể về NQTM Hiện nay, các quốc gia có hoạt động NQTM pháttriển như Mỹ, Australia, Trung Quốc, đều đã có những quy định về hoạt độngNQTM Dưới đây là pháp luật NQTM của một số nước trên thế giới:

Tại Hoa Kỳ

Ở Hoa Kỳ, hoạt động NQTM được điều chỉnh theo luật liên bang được gọi làFull Disclosure (sự tiết lộ hoàn chỉnh) do Ủy ban Thương mại liên bang Hoa Kỳban hành và có hiệu lực từ ngày 21/10/1979 Luật này yêu cầu bên nhượng quyềnphải cấp cho bên nhận quyền chậm nhất là 10 ngày trước khi ký hợp đồng một tàiliệu gồm 23 hạng mục thông tin cập nhật nhất về bên nhượng quyền, đối tượng

Trang 36

nhượng quyền và các điều khoản chính của một hợp đồng nhượng quyền để bênnhận quyền có thể lựa chọn Bản tài liệu đó gọi là UFOC (Uniform FranchiseOffering Circular) hay còn gọi là bản giới thiệu về NQTM Luật này theo hướngminh bạch bản tài liệu chào nhượng quyền Nếu việc cung cấp tài liệu UFOC khôngđược thực hiện đúng, chủ thương hiệu hay người bán franchise có nguy cơ bị thưakiện bởi đối tác mua franchise của mình, nhất là khi kinh doanh bị thua lỗ Ngoài ratheo quy định, trước khi công bố tài liệu UFOC thì người bán franchise phải đăng

ký và trình duyệt tài liệu này với chính quyền bang sở tại Khi đó nếu người bán cốtình đưa sai lệch các thông tin - Dù có đăng ký hay không đăng ký sẽ hoàn toàn chịutrách nhiệm trước pháp luật (Dân sự hoặc hình sự tùy mức độ) Tóm lại, sẽ không

có một luật định nào có thể xóa bỏ hoàn toàn việc vi phạm pháp luật của nguời bánfranchise khi họ cố tình chỉ công bố những mặt tốt và che giấu những mặt xấu củacông ty Do đó, người có dự định mua franchise phải hết sức cảnh giác và ý thứcđiều này khi tiếp xúc tìm hiểu với bên bán franchise

Trên cơ sở những quy định của Luật liên bang, các bang của Mỹ sẽ ban hànhnhững quy định cụ thể về NQTM trong khuôn khổ bang của mình Một số tiểu bang

có pháp luật rất khắt khe về hoạt động nhượng quyền như: California, Newyork,Illinois,Virginia, Indiana, Maryland, Minesota, North Dakota, Rhode Island, SouthDakota, Washington, Hawaii, Michigan, Oregan và Wisconsin [24, tr 71]

Mặc dù các quy định cấp cao này là sản phẩm của hệ thống luật nội địa củaHoa Kỳ nhưng nó cũng có thể áp dụng cho các hợp đồng NQTM từ nước ngoài vàoHoa Kỳ

Từ những thông tin mà bên nhượng quyền phải cung cấp đầy đủ cho bênnhận quyền thông qua UFOC, chúng ta có thể rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam làphải quy định cụ thể, chi tiết các nội dung trong bản giới thiệu về NQTM nhằmcung cấp những thông tin xác thực và cần thiết cho bên nhận quyền để họ quyếtđịnh tham gia vào mô hình NQTM

Tại Australia

Ở Australia, hoạt động NQTM không phát triển bằng và pháp luật về NQTM

Trang 37

cũng không quy định cụ thể như pháp luật Hoa Kỳ Năm 1986, một dự luật về hợpđồng NQTM được đề xuất bởi Hội đồng Bộ trưởng phụ trách công ty và chứngkhoán nhưng sau đó dự luật này không được thông qua Đến ngày 1/02/1993, một

bộ luật về franchise nhằm điều chỉnh hành vi của bên nhượng quyền và bên nhậnquyền đã được thông qua và được thực thi bởi Uỷ ban quản lý bộ luật NQTM Bộluật này được áp dụng cho những hợp đồng NQTM tại Australia và do nhiều bênnhận quyền người Australia nhận quyền từ bên nhượng quyền nước ngoài Trongtrường hợp chỉ có một người nhận quyền tại Australia thì người nhượng quyền nướcngoài sẽ không bị bắt buộc phải áp dụng bộ luật này trong việc kinh doanh Bộ luậtnày cũng không quy định sẽ áp dụng cho người nhận quyền ở nước ngoài, tuy rằngngười đó đã nhận quyền từ bên nhượng quyền Australia ở nước ngoài vì trongtrường hợp này hoạt động kinh doanh NQTM được xem như diễn ra ở ngoài nướcAustralia

Trong đạo luật thực tiễn thương mại năm 1974, theo đó quy định bắt buộcđối với một số vùng ở Australia khi tiến hành hoạt động NQTM phải thực hiện theocác quy định về NQTM theo mã số (Code of conduct) Theo mã số thì chủ thươnghiệu nhượng quyền phải công bố tài liệu về NQTM cho bên nhận quyền ít nhất 14ngày trước khi hợp đồng NQTM được ký kết Mã số nhượng quyền cũng quy địnhrất rõ các nội dung của hợp đồng NQTM như: các quy định liên quan đến ngân quỹtiếp thị, cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh bằng hình thức trọng tài,

Tại Trung Quốc

Thông tư về các biện pháp quản lý hoạt động NQTM do Bộ Nội thươngTrung Quốc ban hành vào tháng 11/1997 bao gồm các hướng dẫn và quy định vềthương hiệu, bản quyền, bảo vệ tài sản trí tuệ là văn bản pháp lý đầu tiên của TrungQuốc quản lý NQTM Tuy nhiên các điều khoản còn khá ít ỏi, nhiều thiếu sót nênkhông hấp dẫn được các nhà đầu tư

Tiếp theo, vào ngày 30/12/2004, Bộ Thương mại của Trung Quốc đã banhành bản quy chế mới về NQTM có nội dung liên quan đến quy chế đối xử bìnhđẳng với các doanh nghiệp franchise từ nước ngoài - Market Ascess and National

Trang 38

Treatment Of Foreign Franchise và có hiệu lực từ ngày 01/02/2005 Tiếp đó, để đápứng nhu cầu của hoạt động NQTM, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành hàng loạtcác văn bản điều chỉnh lĩnh vực này như: quy định quản lý hoạt động NQTM doHội đồng Nhà nước ban hành ngày 06/02/2007; quản lý đăng ký các hoạt độngNQTM do Bộ Thương mại ban hành vào ngày 7/11/2011; quy chế quản lý côngkhai thông tin trong hoạt động NQTM do Bộ Thương mại Trung Quốc ban hànhvào ngày 18/8/2012 (Theo đó, thương nhân nhượng quyền phải công khai các thôngtin sau cho bên nhận quyền trước khi tiến tới việc ký kết hợp đồng: Thông tin cơbản liên quan đến việc NQTM và kinh doanh NQTM và các thông tin về công tytrong 2 năm qua; thông tin cơ bản liên quan đến nguồn lực kinh doanh của bênnhượng quyền; thông tin cơ bản về chi phí NQTM; thông tin về giá cả và điều kiệncủa các sản phẩm/dịch vụ và các thiết bị cung cấp cho bên nhận quyền; thông tin vềcác dịch vụ được cung cấp cho bên nhận quyền (Ví dụ: đào tạo và hỗ trợ côngnghệ) ) [33].

Đây thực sự là hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển và mở cửathị trường NQTM của Trung Quốc với thế giới Chính phủ Trung Quốc đã có nhữngnhận thức đúng đắn và kịp thời về NQTM như là một mô hình kinh tế hiện đại, hiệuquả để giải quyết việc làm và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài

1.2.3 Cam kết quốc tế của Việt Nam về nhượng quyền thương mại

Sau 11 năm Việt Nam đàm phán song phương và đa phương, ngày07/11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO Gia nhậpWTO, Việt Nam cam kết tuân thủ toàn bộ các hiệp định và các quy định mang tínhràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập Đối với ngành dịch vụ phân phối, ViệtNam cam kết mở cửa tất cả các phân ngành dịch vụ phân phối theo phân loại củaWTO trong đó có dịch vụ NQTM

Trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về mở cửa thị trường dịch vụNQTM, có ba bộ phận: Cam kết chung (cam kết nền) về mở cửa thị trường dịch vụ;cam kết cụ thể về mở cửa thị trường dịch vụ NQTM của Việt Nam cho nhà cungcấp dịch vụ nước ngoài; vấn đề miễn trừ nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc (MFN) đối

Trang 39

với dịch vụ franchise.

Cam kết chung (cam kết nền) về mở cửa thị trường dịch vụ

Về cơ bản, cam kết chung thường ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc cung cấpdịch vụ theo phương thức hiện diện thương mại nhưng ít ảnh hưởng đến phươngthức cung cấp qua biên giới và phương thức tiêu dùng ở nước ngoài Trong khi đó,dịch vụ franchise lại chủ yếu được cung cấp bằng phương thức cung cấp qua biêngiới Do đó, dịch vụ NQTM ít chịu ảnh hưởng của cam kết chung

Cam kết cụ thể về mở cửa thị trường dịch vụ NQTM của Việt Nam cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài

Việt Nam không cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối (trong đó códịch vụ franchise) liên quan đến các loại hàng hóa, dịch vụ sau: Thuốc lá và xì gà;sách; báo và tạp chí; vật phẩm đã ghi hình, kim loại quý và đá quý; dược phẩm(không bao gồm các sản phẩm bổ dưỡng phi dược phẩm dưới dạng viên nén, viêncon nhộng hoặc bột); thuốc nổ; dầu thô và dầu đã qua chế biến; gạo; đường mía vàđường củ cải

Như vậy, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ không được thực hiện việc NQTMcho các doanh nghiệp khác tại Việt Nam đối với các sản phẩm nêu trên

Việt Nam cam kết không hạn chế phương thức cung cấp dịch vụ NQTM quabiên giới (Phương thức 1) và phương thức tiêu dùng dịch vụ franchise ở nước ngoài(Phương thức 2) Việt Nam không cam kết mở cửa thị trường dịch vụ theo phươngthức 4 (hiện diện của thể nhân), trừ các cam kết chung Đối với việc cung cấp dịch vụfranchise theo phương thức 3 (hiện diện thương mại), về cơ bản, Việt Nam cũng camkết không hạn chế nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài nếu tuân thủ các quy định sau:

Thứ nhất, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải thành lập liên doanh với đốitác Việt Nam với tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài không được vượt quá 49% Kể

từ ngày 01/01/2008, hạn chế mức vốn góp 49% nêu trên sẽ được bãi bỏ Kể từ ngày01/01/2009, Việt Nam cam kết không hạn chế mức vốn góp trong liên doanh

Thứ hai, sau 3 năm kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO, nhà cung cấp dịch

vụ nước ngoài sẽ được phép thành lập chi nhánh

Trang 40

Các cam kết nói trên rất "cởi mở" Tuy nhiên, thực tiễn NQTM quốc tế chothấy nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thường ít khi cung cấp dịch vụ theo phươngthức hiện diện thương mại.

Cũng giống như hầu hết các thành viên khác của WTO, trong cam kết gianhập WTO, về cơ bản, Việt Nam không đưa ra rào cản để hạn chế áp dụng nguyêntắc đối xử quốc gia (NT) Việt Nam cam kết không phân biệt đối xử giữa nhà cungcấp dịch vụ franchise trong nước trong việc cung cấp dịch vụ theo phương thứccung cấp qua biên giới, phương thức tiêu dùng ở nước ngoài Riêng đối với việccung cấp dịch vụ theo phương thức hiện diện của thể nhân Việt Nam chưa cam kết,trừ các cam kết chung Đối với việc cung cấp dịch vụ theo phương thức hiện diệnthương mại, về cơ bản, Việt Nam cam kết không hạn chế áp dụng nguyên tắc NTcho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, ngoại trừ quy định theo đó trưởng chinhánh phải là người thường trú tại Việt Nam [19, tr 75, 76]

Như vậy, vào thời điểm này, các hạn chế đối với hiện diện thương mại của cácdoanh nghiệp nước ngoài trong dịch vụ NQTM hầu như đã được gỡ bỏ Các doanhnghiệp này có thể thành lập các hiện diện thương mại với 100% vốn của mình và được

mở chi nhánh với điều kiện trưởng chi nhánh là người thường trú tại Việt Nam

Vấn đề miễn trừ nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc (MFN) đối với dịch vụ franchise

Trong cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đưa ra danh mục những loại dịch

vụ được miễn trừ áp dụng nguyên tắc MFN, nghĩa là chỉ mở cửa thị trường cho cácđối tác đã ký kết hiệp định song phương với Việt Nam mà không mở cửa cho tất cảcác thành viên của WTO Theo cam kết, Việt Nam không áp dụng MFN đối với tất

cả các dịch vụ được cung cấp bằng phương thức hiện diện thương mại và một sốtiểu ngành của dịch vụ nghe nhìn, dịch vụ vận tải biển [25, tr 1070]

Có thể thấy những cam kết về dịch vụ NQTM của Việt Nam khi gia nhậpWTO là khá phù hợp với thực tiễn Việt Nam Bởi lẽ đối với Việt Nam đây khôngphải là loại hình khá mới mẻ, tuy nhiên nó cũng chưa được hoàn thiện, chứ chưamuốn nói là mới ở giai đoạn đầu phát triển, chúng ta vừa làm vừa học Do vậy, việc

Ngày đăng: 17/04/2016, 17:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Đông Phong (2009), Giải pháp phát triển NQTM ở Việt Nam, Tạp chí phát triển kinh tế, (số 222), tr 19 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển NQTM ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đông Phong
Năm: 2009
19. Nguyễn Thanh Tâm (2007), Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về mở cửa thị trường dịch vụ NQTM, Tạp chí Luật học, (số 7), tr. 75 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về mởcửa thị trường dịch vụ NQTM
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
Năm: 2007
20. Nguyễn Khánh Trung (2012), Cạnh tranh bằng NQTM, Tạp chí Phát triển và hội nhập, (số 5) tháng 7-8/2012, tr. 4 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh bằng NQTM
Tác giả: Nguyễn Khánh Trung
Năm: 2012
21. Nguyễn Khánh Trung (2008) Franchise chọn hay không, NXB ĐH Quốc gia TPHCM, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Franchise chọn hay không
Nhà XB: NXB ĐH Quốcgia TPHCM
22. Lý Qúi Trung (2013), Bầu trời không chỉ có màu xanh, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bầu trời không chỉ có màu xanh
Tác giả: Lý Qúi Trung
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2013
23. Lý Qúi Trung (2007), Franchise - Bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí quyết thành công bằng mô hìnhnhượng quyền kinh doanh
Tác giả: Lý Qúi Trung
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2007
24. Lý Qúi Trung (2006), Mua franchise - cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mua franchise - cơ hội mới cho các doanh nghiệpViệt Nam
Tác giả: Lý Qúi Trung
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
31. Brett Lowell (2006), Multiple-unit franchishing: the key to rapid system growth, DLA Piper Rudnick Gray Cary USLLP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multiple-unit franchishing: the key to rapid systemgrowth
Tác giả: Brett Lowell
Năm: 2006
37. World Intellectual Property Organization (WIPO) (1994), Franchising Guide, Geneva 38. Carl E. Zwisler, Jan S. Gilbert (2007), Long awaited Amended Sách, tạp chí
Tiêu đề: Franchising Guide", Geneva38. Carl E. Zwisler, Jan S. Gilbert (2007)
Tác giả: World Intellectual Property Organization (WIPO) (1994), Franchising Guide, Geneva 38. Carl E. Zwisler, Jan S. Gilbert
Năm: 2007
1. Bộ Công thương, Thống kê NQTM vào Việt Nam, http://moit.gov.vn/vn/Pages.Thongke.aspx?Machuyende=TK&ChudeID=61,truy cập thứ 3 ngày 10/2/2015 Link
7. Hồ Hữu Hoành (2008), Một số vướng mắc về quản lý hoạt động franchise, http://vietfranchise.com/index.php?Module=Content&Action=view&id=113, truy cập thứ 3 ngày 3/3/2015 Link
8. Infornet (2014), Bao nhiêu tiền để mở và duy trì một nhà hàng nhượng quyền McDonald's, KFC, Pizza Hut...?,http://tin247.com/bao_nhieu_tien_de_mo_va_duy_tri_1_nha_hang_nhuong_ Link
10. Nguyên Nga (2013), Khốc liệt thị trường thức ăn nhanh, http://thanhnien.com.vm/kinh-te/khoc-liet-thi-truong-thuc-an-nhanh-9467.html. truy cập thứ 7 ngày 11/3/2015 Link
17. Linh San (2014), McDonald's vào Việt Nam: Ai mừng, ai đắn đo?, http://thanhnien.com.vn/doi-song/mcdonalds-vao-viet-nam-ai-mung-ai-dan-do-3822.html, truy cập thứ 3 ngày 24/3/2015 Link
18. Trần Ngọc Sơn (2009), Nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam, http://luatviet.org/Home/nghien-cuu-trao-doi/kinh-te-thuong-mai/2009/7945/Nhuong-quyen-kinh-doanh-o-Viet-Nam.aspx, truy cập thứ 2 ngày 9/3/2015 Link
30. Website Phở 24, Giới thiệu, http://pho24.com.vn/htmls/index.php?cur=1&language=vn, truy cập thứ 5 ngày 19/2/2015 Link
32. McDonald's Corporation (2007), Mc Donald's, 2007 Annual Report, http://aboutmcdonalds.com/content/dam/AboutMcDonalds/Investors/C- Link
2. Bộ Tài chính, Quyết định số 106/2008/QĐ/BTC, ngày 17/11/2008 về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký hoạt động NQTM Khác
3. Bộ Thương mại (2004), Tài liệu hội thảo về NQTM, Hà Nội Khác
4. Bộ Thương mại, Thông tư số 09/2006/TT-BTM, ngày 25/5/2006 về hướng dẫn đăng ký hoạt động NQTM Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê trích dẫn tài liệu tham khảo - PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI-THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
Bảng th ống kê trích dẫn tài liệu tham khảo (Trang 4)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w