Đây là một thách thức không nhỏ đối với nền kinh tếnước ta bởi vì ngoài những lợi ích mà chúng ta thu được chúng ta phải đáp ứng rất nhiều các quy định của WTO, trong đó cócác quy định v
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đạihóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản là mộtnước công nghiệp Chúng ta đã và đang nỗ lực đẩy mạnh quátrình phát triển kinh tế trong nước đồng thời với quá trình hộinhập kinh tế quốc tế Trong thời gian gần đây, Việt Nam đang
nỗ lực vào quá trình tham gia vào tổ chức thương mại thế giớiWTO Đây là một thách thức không nhỏ đối với nền kinh tếnước ta bởi vì ngoài những lợi ích mà chúng ta thu được chúng
ta phải đáp ứng rất nhiều các quy định của WTO, trong đó cócác quy định về thương mại liên quan tới môi trường Đặc biệt,các quy định đó có tác động rất lớn tới hoạt động sản xuất củacác doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp dệtmay nói riêng- là ngành sẽ phải chịu rất nhiều thách thức khiViệt Nam gia nhập WTO
Do vậy, sinh viên đã lựa chọn chuyên đề thực tập tốt
nghiệp là: “Bước đầu nghiên cứu các quy định thương mại liên quan đến môi trường đối với hoạt động của doanh nghiệp dệt may khi gia nhập WTO - Trường hợp một số doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội”.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của
cô giáo TS.Lê Thu Hoa - là người đã trực tiếp hướng dẫn emhoàn thành đề tài này Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ của TS Hoàng Dương Tùng đã đóng góp rất nhiều
ý kiến quý báu cho chuyên đề này Ngoài ra, em xin gửi lời cảm
Trang 2ơn sâu sắc tới toàn thể cán bộ của Trung tâm Quan Trắc và Dữliệu Môi trường thuộc Cục bảo vệ Môi Trường đã tạo điều kiệnthuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập và nghiên cứu tạiđây!
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan chuyên đề thực tập này là do chính em
tự thực hiện: Không sao chép, cắt dán từ bất kỳ một tài liệu nào.Nếu vi phạm em xin chịu mọi hình thức kỷ luật của nhà trường
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2006
Sinh viên
Lê Quốc Cường
Trang 3CH ƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ DO HÓA
Khái niệm thương mại
Theo nghĩa hẹp: Hoạt động thương mại là các hoạt độngtrao đổi mua bán trên thị trường vì mục tiêu tối đa hoá lợinhuận
Trang 4Theo nghĩa rộng: Hoạt động thương mại đó là toàn bộ các hoạtđộng kinh doanh trên thị trường như mua bán, trao đổi, xâydựng, đầu tư…
Cơ sở của hoạt động thương mại
Thương mại được dựa trên cơ sở: Đó là lợi thế tuyệt đối vàlợi thế tương đối ( so sánh ) giữa các vùng lãnh thổ trong mộtquốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau.Trong phạm vichuyên đề đề này chỉ đề cập tới thương mại quốc tế
Sở dĩ có sự khác biệt về lợi thế giữa các vùng là do có sựkhác biệt về:
Nguồn lao động: Chi phí lao động, trình độ chuyên môn,
kỹ năng, kỹ nghệ trong lao động
Tài nguyên: Đất, nước, khoáng sản là nhân tố trong quátrình sản xuất
Khí hậu, điều kiện địa lý…
Các quốc gia tận dụng các lợi thế của mình mà sản xuất vàxuất khẩu các hàng hoá, dịch vụ có giá cả và chất lượng cạnhtranh hơn so với vùng khác, ngược lại họ nhập khẩu nhữnghàng hóa không sản xuất được hoặc sản xuất với chi phí quácao và không hiệu quả
Nhờ có hoạt động thương mại mà các quốc gia có thể sửdụng nhiều hàng hoá hơn, các nguồn lực được sử dụng hiệu quảhơn
1.2 Thương mại trong các khâu của quá trình sản xuất
Trang 5Mua nguyên vật liệu,
Thương mại có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế và đặcbiệt trong quá trình sản xuất Vai trò đó được thể hiện trongcác khâu của quá trình sản xuất
Hình1 : Tác động của thương mại trong các khâu của
quá trình sản xuất
Thương mại đầu vào: Thể hiện đó là các hoạt động mua
sắm các nguyên vật liệu trang thiết bị, thuê lao động cho quátrình sản xuất
Hoạt động này là quá trình khai thác các nguồn lực baogồm cả các nguồn lực tự nhiên Khi hoạt động này gia tăng sẽ lànhân tố gây ra việc khai thác cạn kiệt nguồn lực, sử dụng khônghiệu quả nguồn lực và phá huỷ môi trường
Thương mại đầu ra: Thể hiện đó là các hoạt động đưa các
sản phẩm của quá trình sản xuất tới người tiêu dùng, chính cáchoạt động này và quá trình tiêu dùng sản phẩm của con người
đã tạo ra lượng chất thải rất lớn gây áp lực về môi trường vàkhả năng chịu tải của môi trường
Áp lực cạn kiệt tài
nguyên thiên nhiên
Ô nhiễm môi trường
Trang 6Nghiên cứu vai trò của thương mại trong các khâu của quátrình sản xuất cho ta xác định được các tác động của thươngmại tới môi trường.
2 Các sản phẩm liên quan đến môi trường, sản phẩm thân thiện với môi trường
2.1 Khái niệm môi trường
Để thống nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng địnhnghĩa môi trường trong “ Luật Bảo vệ Môi trường” đã đượcquốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ tưthông qua ngày 27/12/1993 định nghĩa về khái niệm môi trườngnhư sau:
“ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” 2
2.2 Sản phẩm liên quan đến môi trường
Sản phẩm liên quan đến môi trường hay là những sảnphẩm nhạy cảm với môi trường: là những sản phẩm trong quátrình sản xuất, tiêu dùng và thải bỏ chúng có khả năng gây ra ônhiễm môi trường, làm suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiênhoặc gây ra tác hại tới sức khoẻ của con người, động thực vật
và đòi hỏi tương đối nhiều nguồn lực để xử lý các tác hại đó
2 Theo Điều 1 Luật bảo vệ Môi trường Việt Nam
Trang 7Ví dụ: Các loại chất tẩy rửa gia dụng, các loại sơn, cácloại chất dán, thuốc bảo dưỡng các loại đồ gỗ sử dụng trong giađình.
Các loại hoá chất, thuốc được sử dụng trong nông nghiệp
và thú y Các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt chuột
Đặc biệt trong quá trình sản xuất đó là các hoá chất có khảnăng gây ô nhiễm môi trường
2.3 Sản phẩm thân thiện với môi trường
Đây là nhóm sản phẩm mà quá trình sản xuất, tiêu thụ vàthải bỏ không ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường( hoặc nếu ảnhhưởng thì cũng nhẹ hơn so với sản phẩm cùng loại) Xét trongmột chừng mực nào đó, các sản phẩm thân thiện môi trường đôikhi có ảnh hưởng tích cực đến môi trường
Ví dụ: Các nông sản hữu cơ tạo điều kiện khôi phục lại,cân bằng sinh thái, hoặc khi phân huỷ chúng giúp cho khả năngtái tạo độ mùn trong đất, và một số các sản phẩm khác như côngnghệ khắc phục sự cố môi trường, các công nghệ sạch
Thông qua một số các khái niệm về môi trường, sản phẩm
có liên quan đến môi trường cho phép chúng ta nắm bắt đượcthông tin về một sản phẩm tác động ít hay nhiều đến môitrường, hay là không tác động đến môi trường
3 Chính sách thương mại và ảnh hưởng của chúng tới môi trường trong điều kiện Việt Nam hiện nay
Hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị trường bị chiphối bởi rất nhiều tới rất nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị,
Trang 8môi trường Bên cạnh đó hoạt động thương mại lại tạo ra rấtnhiều tác động tới kinh tế, chính trị đặc biệt là môi trường
3.1 Các ảnh hưởng tích cực của TM tới MT
Nhờ có kích thích của hoạt động thương mại mà nỗ lực bảo vệ môi trường được tăng lên cụ thể là trong các cơ chế của hoạt động thương mại bắt buộc các đối tượng phải duy trì được chất lượng môi trường.
Ví dụ: Trong hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam vàmột số nước sang EU, có hàm lượng một số chất bị cấm vượtquá tiêu chuẩn cho phép buộc lô hàng bị trả lại hoặc tiêu huỷ
Do vậy buộc các quốc gia xuất khẩu tôm phải đảm bảo chấtlượng môi trường trong quá trình sản xuất
Khi tự do hoá thương mại ngày càng phát triển, sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế từ đó tạo ra tiềm lực cho bảo vệ môi trường Tạo ra cho người dân nguồn thu nhập cao
Từ đó yêu cầu đòi hỏi chất lượng hàng hoá cao hơn vànhững hàng hoá thân thiện với môi trường Đồng thời họ cũngsẵn trả tiền cho các hàng hoá chất lượng cao đó Ví dụ: sự sẵnlòng chi trả của người dân cho những hàng hoá sạch, ví dụ nhưrau sạch, chè sạch được bán trong các siêu thị
Bên cạnh đó với sự phát triển của thương mại cũng đem lại nhiều cơ hội lựa chọn các sản phẩm có chất lượng cao và thân thiện môi trường
Trang 9Chính tự do hoá thương mại đã tạo điều kiện cho sự phát triển và truyền bá những công nghệ trong sản xuất thân thiện với môi trường.
Ví dụ: Nhờ việc hợp tác về thương mại với Nhật Bản màngành than Việt Nam được tiếp cận với những công nghệ sảnxuất sạch, không những tiết kiệm về mặt kinh tế mà còn có tácdụng bảo vệ môi trường: như khu sàng tuyển phun nước, thuhồi nước tại Xí nghiệp sàng tuyển than Cửa Ông
Chính tự do hoá thương mại sẽ xoá bỏ các khoản trợ cấp,
mà các khoản trợ cấp đó chính là các rào cản có tác động tiêu cực đến bảo vệ môi trường.
Ví dụ: Trong lĩnh vực nông nghiệp, thường một số cácquốc gia có trợ cấp cho nông nghiệp thông qua việc giảm thuếcác mặt hàng được sử dụng trong nông nghiệp như thuốc trừsâu, hoá chất khác Do vậy đã gián tiếp khuyến khích sử dụnggây phá huỷ môi trường Nếu tự do hoá thương mại được pháttriển thì đương nhiên các khoản trợ cấp bị xoá bỏ, người sảnxuất sẽ lựa chọn những chế phẩm có nguồn gốc sinh học nhưphân vi sinh, các loại thuốc trừ sâu vi sinh vật rẻ tiền hơn songlại có tác dụng bảo vệ môi trường
Một số vấn đề môi trường hiện nay không còn là vấn đề của mỗi quốc gia nữa, mà nó cần được sự quan tâm giải quyết của nhiều quốc gia.
Ví dụ: Vấn đề hiệu ứng nhà kính, cháy rừng, enino
Chỉ có sự hợp tác về thương mại giữa các quốc gia từ đóvấn đề môi trường có khả năng giải quyết được
Trang 103.2 Các ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động thương mại tới môi trường
Thực chất hoạt động thương mại chính là cơ chế luân chuyển hàng hoá thông qua lợi thế so sánh giữa các quốc gia Chính quá trình tự do hoá thương mại đã thúc đẩy quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia, qua đó việc khai thác tài nguyên cũng được tăng cường Do vậy, các quốc gia chủ yếu khai thác tài nguyên sẽ chịu ảnh hưởng lớn về mặt môi trường như cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường
Ví dụ: Việt Nam là một nước đang phát triển, để phát triểnkinh tế nước ta đã tăng cường xuất khẩu hàng hoá để thu vềngoại tệ Song trong cơ cấu xuất khẩu thì chiếm tỉ trọng chủ yếu
là nông sản và dầu thô Do vậy nó đã gây những áp lực rất lớncho môi trường như suy giảm mực nước ngầm, ô nhiễm môitrường
Khi hoạt động thương mại gia tăng, kéo theo nhu cầu đòi
hỏi phải sử dụng một lượng lớn nguồn tài nguyên Do vậy đã tạo ra lượng chất thải rất lớn gây ra nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Ví dụ: Cùng với quá trình phát triển kinh tế của Việt Namhiện nay là quá trình sử dụng một lượng lớn nguyên nhiên liệutrong các lĩnh vực Trong hoạt động giao thông vận tải là vấn đề
sử dụng xăng dầu gây ô nhiễm môi trường
Khi mà thương mại phát triển, mối quan hệ kinh tế được
mở rộng đã kéo theo sự thay đổi về quyền sở hữu tài sản và đất đai.
Trang 11Ví dụ: tại Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi, cũngxảy ra các hiện tượng như việc sử dụng đất đai không tính đếnthiệt hại môi trường như các vùng canh tác ven biển, các vùngtrồng cà phê ở Tây Nguyên, vùng trồng cây công nghiệp mà cónguyên nhân sâu xa từ việc sử dụng đất
Bảng 1 : Tác động của hoạt động thương mại tới môi
trường
Nỗ lực bảo vệ môi trường
được tăng lên
Cạn kiệt tài nguyên
Tăng tiềm lực về kinh tế cho
bào vệ môi trường
Lượng chất thải lớn gây ônhiễm môi trườngLựa chọn sản phẩm thân
thiện môi trường
Thay đổi mối quan hệ sởhữu về tài sản, đất đai.Truyền bá công nghệ thân
thiện với môi trường
Xóa bỏ các khoản trợ cấp
có tác đông tiêu cực tới môi
trườngGiải quyết vấn đề môi
trường xuyên biên giới
4 Giải quyết mối quan hệ giữa TM và MT
Trong thực tế có rất nhiều ý kiến của các doanh nghiệp vàcác tổ chức kinh doanh cho rằng việc áp dụng các quy định môitrường gây những thiệt hại đối với các doanh nghiệp trong quátrình sản xuất như: tài chính, năng lực thực hiện Song để đạtđược những mục tiêu về môi trường và thương mại thì cần có
sự kết hợp giữa chính sách thương mại và các quy định môi
Trang 12trường, nó hoàn toàn không mâu thuẫn với nhau mà thực tế nó
bổ xung cho nhau
Sự phát triển của thương mại nếu được lồng ghép tốt vàomôi trường thì nó sẽ tạo ra lợi thế cho bảo vệ MT, ngược lạichính chất lượng môi trường được tăng lên sẽ tạo ra cơ sở vàtiền đề cho thương mại phát triển
Xu hướng thương mại ngày càng được tự do hoá trênphạm vi toàn cầu, song để đảm bảo sự phát triển một cách bềnvững thì đòi hỏi hoạt động của con người trong đó có hoạt độngthương mại cần phải tính đến yếu tố môi trường
Trong các yếu tố để đảm bảo phát triển bền vững (kinh tế,
xã hội, môi trường) luôn luôn có sự đánh đổi lẫn nhau, đặc biệt
là giữa thương mại và môi trường có những sự tác động qua lại
cả theo chiều hướng tích cực và tiêu cực Vì vậy cần có mộtcách nhìn tổng quát về thương mại và môi trường, đảm bảo tối
đa hoá lợi ích về kinh tế đồng thời phải đảm bảo các mục tiêu
về môi trường
Hình 2 : Sự kết hợp giữa thương mại và môi trường.
Nguồn: Giáo trình thương mại và môi trường - Trường đại học
Kinh tế quốc dân
Chính sách thương mại Chính sách Môi trường
Trang 13Hình vẽ trên thể hiện sự đánh đổi giữa lợi ích của hoạtđộng thương mại và lợi ích từ việc bảo vệ môi trường đem lại.
Để lợi ích của thương mại được bền vững thì phần “ gạch chéo
” phải có diện tích lớn nhất.v
II Những nhân tố ảnh hưởng của hoạt động thương mại đối với môi trường trong điều kiện tự do hoá thương mại
1 Chính sách trợ giá và thuế suất
Trợ giá và thuế suất: là loại công cụ kinh tế được cácChính phủ sử dụng để điều chỉnh một mục tiêu nào đó nhằmkhuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển vớicác lĩnh vực mà chủ thể sẽ trợ giá nhằm đạt được mục tiêu đãđặt ra
Ví dụ: Trong lĩnh vực môi trường, để khuyến khích nhiều hơncho các doanh nghiệp tham gia vào thu gom, vận chuyển xử lýrác thải thì nhà nước có thể sử dụng trợ cấp
Song trong thực tế của chính sách trợ giá và thuế suất đãvấp phải những ảnh hưởng có tính tiêu cực Như trong trườnghợp trợ giá trong nông nghiệp của một số nước trong việc muamột số hoá chất sử dụng trong nông nghiệp, nhờ đó mà đạtđược một số mục tiêu phát triển kinh tế nhưng lại là nguyênnhân ô nhiễm môi trường
Đã có nhiều ý kiến giữa việc có nên duy trì hay loại bỏchính sách trợ giá Song trên góc nhìn toàn cầu, người ta chorằng việc các nước phát triển trợ giá trong nông nghiệp đã hạnchế sự phát triển nông nghiệp của các nước đang phát triển Đó
Trang 14là nguyên nhân gây ra nghèo đói, bần cùng hoá và phá hoại môitrường.
2 Các rào cản thương mại và các điều khoản mậu dịch
Rào cản thương mại và các điều khoản mậu dịch: là cácquy định do các quốc gia hay các tổ chức thương mại đặt ra đểbảo vệ quyền lợi cho quốc gia hoặc các tổ chức đặt ra các điềukhoản đó
Trong thực tế từ trước tới nay thì các rào cản về thươngmại là cản trở rất lớn cho hoạt động thương mại, nhiều khi nóđưa ra những vấn đề có tính chất chính trị, để đặt điều kiện chonhau
Hiện nay xu hướng xoá bỏ các rào cản về thương mại nhậnđược sự đồng thuận của nhiều quốc gia song một số quốc giamuốn duy trì các rào cản này
Xem xét vấn đề này từ giác độ môi trường người ta có thểthấy 2 loại tác động:
Tác động tích cực:Thông qua các quy định về kiểm dịch,
quy định về hoá chất trong thực phẩm, vệ sinh an toàn thựcphẩm đã định hướng cho việc sản xuất, tiêu dùng theo mục tiêubảo vệ môi trường
Tác động tiêu cực: Những rào cản môi trường là một
trong những công cụ nhà quản lý sử dụng lại có tác động hạnchế hoạt động thương mại tự do
Ví dụ thực tiễn Việt Nam trong việc nhập khẩu phế liệu tạiHải Phòng Việc đánh giá được lợi ích và chi phí của việc nhập
Trang 15khẩu nhập khẩu các nguyên liệu cho sản xuất có tính đến yếu tốmôi trường, nhằm đảm bảo được lợi ích về kinh tế song cũngđạt được mục tiêu về môi trường.
Mặt khác liên quan đến điều khoản mậu dịch thì hiện naytồn tại sự bất hợp lý trong việc trao đổi hàng hoá có nguồn gốc
từ thiên nhiên và các nước xuất khẩu các hàng hoá có nguồngốc từ chất xám Đó là sự bất hợp lý trong việc định giá các loạihàng hoá; hàng hoá có nguồn gốc từ thiên nhiên bị định giá quáthấp so với các hàng hoá chất xám khác Đây là một trongnhững nguyên nhân khai thác cạn kiệt tài nguyên của các nướcđang phát triển
3 Chính sách xuất khẩu tổn hại tới môi trường
Xuất nhập khẩu là hai lĩnh vực cơ bản của hoạt độngthương mại Mỗi quốc gia, mỗi tổ chức có những chính sáchriêng trong chiến lược xuất nhập khẩu của mình do vậy nó cũngảnh hưởng khác nhau tới môi trường
Ví dụ: Chính sách của Nhật Bản là xuất khẩu các hànghoá công nghiệp có giá trị cao và nhập khẩu chủ yếu là nguyênliệu thô và nông sản Do đó dẫn đến hậu quả môi trường chonhiều quốc gia khác, người ta cho rằng Nhật Bản là thủ phạmgián tiếp của việc phá huỷ các khu rừng của Đông Nam Á
Song trong chính sách của một số nước khác như các nướcChâu Âu lại rất có ý thức trong việc bảo vệ môi trường, họ cấmhoàn toàn việc nhập khẩu gỗ từ các khu vực nhiệt đới bởi vì họ
Trang 16đã phải trả giá cho sự biến đổi khí hậu mà nguyên nhân do việcphá huỷ các khu rừng đó.
4 Chính sách nhãn hiệu và sử dụng sản phẩm
Nhãn hiệu là một trong những biểu tượng phản ánh sảnphẩm và những đặc trưng của sản phẩm đó giống như tên củasản phẩm biểu hiện trực quan Thông qua nhãn đó, thì có thểhình dung được hình thức và chất lượng của sản phẩm
Thông thường các nhãn hiệu này phải được đăng ký tại cơquan sở hữu trí tuệ, khi đã đăng ký rồi thì không ai có thể sửdụng nó vì mục đích cá nhân, điều đó vi phạm pháp luật
Trong chính sách thương mại của các quốc gia, để thúcđẩy giao lưu và trao đổi hàng hoá đòi hỏi các hàng hoá đó phải
có đủ địa chỉ xuất sứ rõ ràng vì vậy các doanh nghiệp phải đăng
ký nhãn hiệu hàng hóa cho mình Khi đã đăng kí nhãn hiệu thìsản phẩm có khả năng tiêu thụ lớn hơn, khả năng cạnh tranh caohơn so với sản phẩm cùng loại
Chính sách về nhãn mác hàng hoá có những tác động nhấtđịnh cả tác động trực tiếp, cả tác động gián tiếp tới môi trườngsong chủ yếu là các tác động tích cực
Tác động trực tiếp: Đó là các cảnh báo về các tác động vềmặt môi trường hệ sinh thái cũng như sức khoẻ của con ngườicủa việc sử dụng hàng hoá
Ví dụ: Đó là trên nhãn hiệu của một số sản phẩm nhưthuốc lá, chất thải hạt nhân
Trang 17Các tác động gián tiếp: Đó là các sản phẩm do các quátrình sản xuất đạt được các tiêu chí về môi trường thì sẽ đượccấp nhãn sinh thái, chứng chỉ Iso 14000 nhờ nhãn mác đó sẽkhuyến khích việc tiêu dùng và sản xuất loại sản phẩm này Vìvậy mà các mục tiêu về môi trường được đảm bảo.
Nhãn hiệu nhìn trên các giác độ trực tiếp, gián tiếp báohiệu được những ảnh hưởng nguy hại và các tác động thân thiệnvới môi trường Do vậy trong các chính sách thương mạiđòi hỏi phải có sự xem xét mối quan hệ giữa nhãn hiệu và việc
sử dụng sản phẩm
5 Chính sách cán cân mậu dịch
Cán cân mậu dịch được hiểu là sự cân đối giữa xuất vànhập khẩu Nếu tỉ lệ này không cân đối, nhập lớn hơn xuất thì lànhập siêu và ngược lại xuất lớn hơn nhập thì là nhập siêu
Xem xét tỉ trọng cơ cấu xuất nhập khẩu trong các nước, cóthể chia thành 2 nhóm:
Nhóm các nước công nghiệp phát triển: Xuất khẩu chủ yếucác sản phẩm chất xám, có chất lượng cao
Nhóm các nước đang phát triển: Phần lớn xuất khẩu tàinguyên thiên nhiên dạng nguyên liệu thô
Chính sách này có những tác động tới môi trường thể hiện:Nếu hoạt động xuất khẩu tăng là nguyên nhân của việctăng khai thác tài nguyên trong nước, đó là nguyên nhân củahiện tượng mất rừng ô nhiễm suy thoái
Trang 18Nếu hoạt động nhập khẩu tăng dẫn đến mức tiêu thụ sảnphẩm tăng lên, lượng chất thải gia tăng là nguyên nhân gây ra ônhiễm môi trường.Do đó việc cân đối trong cán cân mậu dịchkhông chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà nó còn có ý nghĩa hếtsức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường.
6 Chính sách tỉ giá hối đoái
Tỉ giá hối đoái là giá trị của tiền tệ căn cứ vào một đồngtiền chuẩn để các quốc gia căn cứ vào đó làm thước đo cho hoạtđộng xuất nhập khẩu của mình
Khi giá trị đồng nội tệ cao hơn so với đồng tiền chuẩn sẽkích thích hoạt động nhập khẩu các sản phẩm từ bên ngoài, cóthể gây ra áp lực đối với môi trường do các sản phẩm nhập khẩutạo ra lượng chất thải lớn
Ngược lại khi giá trị đồng tiền trong nước thấp hơn so vớiđồng tiền chuẩn sẽ kích thích hoạt động sản xuất trong nước vàxuất khẩu dẫn đấn việc khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyêntrong nước
Thông qua chính sách về tỷ giá hối đoái cũng có tác độngnhất định tới môi trường Do vậy, khi có sự thay đổi trong chínhsách tỷ giá hối đoái thì phải cân nhắc giữa giá trị kinh tế cóđược và các tác động về mặt môi trường có thể tạo ra
III Các quy định TM liên quan đến MT trong khuân khổ của WTO
1 Những vấn đề chung của tổ chức thương mại thế giới
( WTO )
Trang 19WTO là tên viết tắt của tổ chức thương mại thế giới.(Word Trade Oganization) có trụ sở chính thức đặt tại Geneva-Thuỵ Sĩ WTO được chính thức thành lập vào ngày 01/01/1995,
là kết quả chính thức của vòng đàm phán Uruguay( Từ 1986đến 1994) Tính đến ngày 13/10/2004 WTO đã có tới 148 thànhviên
WTO là tổ chức duy nhất trên thế giới giải quyết các vấn
đề về quy định thương mại giữa các quốc gia Mục đích chínhcủa WTO là giúp cho các nhà sản xuất, các nhà nhập khẩu, cácnhà xuất khẩu có thể tiến hành công việc của họ một cách dễdàng
WTO hoạt động với các chức năng chính là:
Quản lý và thực thi các hiệp định thương mạicủa WTO,
Mở các diễn đàn cho các đàm phán thương mại,
Xử lý các tranh chấp thương mại,
Theo dõi các chính sách thương mại của cácquốc gia thành viên,
Đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho các quốc giađang phát triển,
Trang 20dụng các biện pháp chống ô nhiễm không tạo ra những rào cảnmới cho thương mại hay cản trở việc rỡ bỏ các rào cản hiện tại.
Mặc dù vấn đề môi trường không được đưa vào vòng đàmphán chính thức tại vòng đàm phán Uruguay, nhưng đến cuốivòng đàm phán vào cuối tháng 4 năm 1994 thì quyết địnhMarakesh về thương mại và môi trường đã được thông qua,trong đó nhấn mạnh việc bảo vệ hệ thống thương mại đa biên vàbảo vệ môi trường Cũng theo quyết định này, đại hội cũngquyết định thành lập Tiểu ban thương mại và môi trường(SCTE) và sau này phát triển thành uỷ ban về thương mại vàmôi trường ( CTE )
Kể từ khi WTO chính thức được thành lập , các vấn đềliên quan đến thương mại và môi trường vẫn luôn giành được
sự quan tâm sâu sắc của tổ chức này Sau nhiều cố gắng, vấn đềnày đã được đưa vào chương trình nghị sự chính thức của vòngđàm phán Doha 2001 Đây là kết quả nỗ lực của một số thànhviên WTO đặc biệt là EU và một số nước phát triển khác nhằmhợp thức hoá các biện pháp hạn chế thương mại dưới chiêu bàibảo vệ môi trường
2 Vấn đề môi trường và một số rào cản được đề cập trong các hiệp định thương mại của WTO
Tất cả các thành viên của WTO đều tin rằng một hệ thốngthương mại tự do, đa biên và không có sự phân biệt đối xử giữacác thành viên trong hệ thống là một trong những nhân tố đóngvai trò quan trọng đối với việc sử dụng hợp lý và hiệu quả cácnguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như mục tiêu bảo vệ môi
Trang 21trường, nhằm hướng tới một sự phát triển bền vững WTO làmột tổ chức thương mại hoạt động vì sự tự do hoá thương mại
do vậy bản thân nó không thể tự giải quyết tất cả các vấn đề vềmôi trường liên quan đến hoạt động thương mại Các nướctrong WTO tin rằng chính sách thương mại và chính sách môitrường có thể bổ xung và hỗ trợ cho nhau
Trên thực tế hệ thống các quy định Thương mại của WTOvấn đề môi trường ngày càng được bổ xung và hoàn thiện
2.1 Hiệp định chung về thương mại và thuế quan 1994 ( GATT 1994)
GATT có 37 điều trong đó có một số các điều khoản cóliên quan đến môi trường
Điều I và điều III: Nguyên tắc không phân biệt đối xử
Nguyên tắc không phân biệt đối xử bao gồm 2 bộ phậnquy tắc cấu thành
Nguyên tắc Đãi ngộ tối huệ quốc ( MFN: Most favored
nation), được quy định tại Điều I với nội dung là không một
thành viên nào của WTO được phép giành ưu đãi thương mạiđặc biệt hoặc áp dụng các chính sách phân biệt đối xử với cácthành viên khác
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia ( NT: nation treatment), được quy định tại Điều III với nội dung là một khi hàng hoá đã
xâm nhập vào một thị trường nhất định thì hàng hoá đó phảiđược đãi ngộ không kém thuận lợi hơn các hàng hoá tương tựđược sản xuất trong nước
Trang 22Tuy nhiên các quy tắc này cũng có những hạn chế là khóphân biệt được những sản phẩm tương tự có cùng chức năng Ví
dụ như là một loại sản phẩm chíp điện tử có cùng công dụngnhư nhau song một loại gây ra ô nhiễm trong quá trình sản xuất,một loại thì thân thiện với môi trường
Điều XX: Quy định về các ngoại lệ chung của GATT( General Exceptions )
Nội dung điều xx : quy định các trường hợp cụ thể, theo
đó các bên ký kết trong khuôn khổ của GATT, mà ngày nay làcác thành viên của WTO, có thể được miễn trừ áp dụng các quytắc của GATT
Với nội dung là không được áp dụng các công cụ phi lýgiữa các quốc gia, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình đối vớithương mại quốc tế, không có quy định nào trong điều này đượchiểu là nhằm ngăn cản các bên ký kết nào thi hành áp dụng cácbiện pháp
Trong số các ngoại lệ được đề cập tại điều này thì có hainội dung liên quan đến vấn đề môi trường Cụ thể là:
Mục b: Việc cần thiết để bảo vệ cuộc sống con người,
động vật, thực vật và bảo vệ sức khoẻ
Mục g: Liên quan tới việc giữ gìn nguồn tài nguyên có thể
bị cạn kiệt nếu các biện pháp đó được áp dụng hạn chế đối với
cả sản xuất và tiêu dùng trong nước
Hạn chế của một số nội dung trong điều 20: Thứ nhất làđôi khi việc xác định một biện pháp được đưa ra có chính đáng
Trang 23không rất khó khăn vì hầu hết các biện pháp đưa ra đều lấy lý
do "nếu không thực hiện sẽ gây tổn hại môi trường " mà khôngdựa trên các biện pháp khắc phục thực tế Thứ hai là trong trongviệc xác định các nguồn tài nguyên có nguy cơ cạn kiệt rất khóxác định do loại tài nguyên và tính chất cạn kiệt phụ thuộc vàotừng quốc gia
2.2 Hiệp định các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT)
Hiệp định TBT điều chỉnh các hoạt động xây dựng, thôngqua và áp dụng các yêu cầu kỹ thuật với sản phẩm cũng như cácthủ tục liên quan tới việc đánh giá sự phù hợp đối với các yêucầu kỹ thuật nhằm đảm bảo các quy định và tiêu chuẩn về kỹthuật cũng như các thủ tục xác nhận và kiểm tra sẽ không tạonên các rào cản không cần thiết đối với thương mại
Hiệp định TBT điều chỉnh các yêu cầu về kỹ thuật đối vớisản phẩm thành hai loại, gồm các quy định kỹ thuật ( mang tínhbắt buộc) và các tiêu chuẩn kỹ thuật ( mang tính tự nguyện ).Hiệp định này thừa nhận các nước thành viên có quyền áp dụngcác biện pháp cần thiết để theo đuổi một số mục tiêu chính đáng( Trong đó có mục tiêu bảo vệ môi trường sức khỏe và sự antoàn của con người, sức khỏe và cuộc sống của các loài độngthực vật, hoặc bảo vệ môi trường ) và mỗi nước Thành viên cóquyền áp dụng các quy định mức bảo hộ mà nước đó coi là hợp
lý Tuy nhiên, các nước thành viên có nghĩa vụ áp dụng các quyđịnh và tiêu chuẩn kỹ thuật một cách không phân biệt đối xử
Trang 24( Đảm bảo nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốcgia ), đồng thời đảm bảo chúng không mang lại những trở ngạikhông cần thiết đối với thương mại.Hiệp định này khuyến khíchcác nước áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để hạn chế sự khácbiệt về tiêu chuẩn giữa các quốc gia
2.4 Hiệp định Nông nghiệp
Hiệp định này khẳng định cam kết của các bộ trưởng WTOtrong việc cải cách nông nghiệp theo hướng bảo vệ mổi trường.Hiệp định Nông nghiệp đưa ra các quy định nhằm cải cáchthương mại nông sản và cung cấp cơ sở cho việc xây dựngchính sánh theo định hướng kinh tế thị trường
Trong điều XX của Hiệp định cũng quy định các cuộc đàmphán về việc tiếp tục cải cách hoạt động thương mại trong nôngnghiệp thì phải tính đến các yếu tố phi thương mại trong đó cóyếu tố môi trường Cụ thể hơn, phụ lục 2 của Hiệp định liệt kêtất cả các trợ cấp khác nhau không thuộc diện phải cắt giảmtrong đó có nhiều biện pháp trợ cấp liên quan đến môi trường
Liên quan đến vấn đề môi trường trong Hiệp định Nôngnghiệp là vấn đề các nước có thể sử dụng các khoản trợ cấptrong nông nghiệp vì mục tiêu bảo vệ môi trường Đó có thể làmột biện pháp tốt đối với nhỡng nước phát triển muốn bảo hộcho nền nông nghiệp trong nước, còn đối với các nước đangphát triển đó là một trong những khó khăn rất lớn vì sản phẩmxuất khẩu chủ yếu của họ là các sản phẩm Nông nghiệp phảicạnh tranh với các sản phẩm khác được trợ giá trên thị trường
Trang 252.5 Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng
Hiệp định trợ cấp chủ yếu được áp dụng đối với các sảnphẩm công nghiệp Trong khuân khổ của hiệp định có một sốtrợ cấp được coi là trợ cấp không bị cấm ( Được quy định tạiđiều 8 ), và một trong những hình thức trợ cấp đó có liên quantới chính sách môi trường Những trợ cấp này được sử dụng đểgiúp đỡ các hãng gặp khó khăn về tài chính trong việc nâng cấpcác phương tiện hạ tầng phù hợp với yêu cầu về môi trường doluật pháp, hay do các quy định đặt ra Bên cạnh đó thì trong cáccuộc thảo luận của Uỷ ban Thương mại và Môi trường thì coitrợ cấp năng lượng không phải là một hình thức trợ cấp xuấtkhẩu, theo đó thuế đánh vào loại năng lượng được sản xuấtkhẩu sẽ có thể được hoàn lại
IV Tổng kết các tác động có thể của các quy định thương mại liên quan đến môi trường của WTO đến hoạt động của ngành dệt may Việt Nam.
1 Liên quan đến nguồn nguyên liệu đầu vào
Tác động của Hiệp định Nông nghiệp tác động đến nguồnnguyên liệu cụ thể thể đó là việc tăng giá thành, khó khăn trongviệc huy động đáp ứng và yêu cầu về môi trường đối với nguồnnguyên liệu
2 Liên quan đến quá trình sản xuất và công nghệ
Điều 1 và điều 3: Không phân biệt đối xử Hiệp định
chung về thương mại và thuế quan 1994 ( GATT 1994), và
Trang 26Hiệp định TBT về đáp ứng các tiêu chuẩn về quy định qui trìnhsản xuất, công nghệ và các sản phẩm
Điều 20 : Về ngoại lệ chung trong đó có ngoại lệ về môi
trường (GATT) Về việc đáp ứng các quy định về môi trườnglao động liên quan đến con người
3 Liên quan đến sản phẩm và vấn đề môi trường
Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng: việc cácdoanh nghiệp Việt Nam khó có thể nhận được các khoản trợ cấptrong việc sử lý môi trường từ chính phủ do nguồn kinh phí hạnhẹp
Và một số các quy định liên quan đến sản phẩm: nhãn sinhthái
V Phương pháp đánh giá áp lực từ các quy định về MT lên các hoạt động TM
1 Phương pháp liệt kê các áp lực được tạo ra bởi các quy định về
môi trường cho hoạt động TM
Thông qua quá trình nghiên cứu các quy định có liên quanđối với quá trình hội nhập Từ đó, có thể rút ra được các giảđịnh về các ảnh hưởng có thể có đối với các doanh nghiệp ViệtNam nói chung và cụ thể là các doanh nghiệp dệt may Qua đó
có thể đo lường về mức độ đáp ứng của các doanh nghiệp dệtmay Việt Nam trong quá trình hội nhập
Phương pháp liệt kê các nhân tố ảnh hưởng tới các doanhnghiệp dệt may được tiếp cận dựa trên các công đoạn trong quátrình sản xuất:
Trang 27Liên quan đến nguồn nguyên liệu đầu vào
Liên quan đến quá trình sản xuất
Liên quan đến sản phẩm và sau quá trình sản xuất
2 Phương pháp điều tra Xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học là một trong nhữngphương pháp được sử dụng khá phổ biến trong công tác thuthập thông tin phục vụ cho một số công tác nghiên cứu Trongnghiên cứu này sẽ sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu một
số doanh nghiệp Bảng câu hỏi được tác giả chuẩn bị trước vớinhững nội dung đã được nghiên cứu có liên quan đến quá trìnhhội nhập của doanh nghiệp dệt may
Mục đích của quá trình điều tra là việc xác định hai yếu tốliên quan đến quá trình hội nhập của doanh nghiệp là: Nhậnthức của doanh nghiệp về quá trình hội nhập và mức độ đáp ứngcủa doanh nghiệp đối với quá trình hội nhập của doanh nghiệp
3 Phân tích kết quả
Kết quả được tổng hợp từ tất cả các mẫu phiếu điều tra.Thông qua bảng biểu phân tích cho từng nhân tố nhận thức,mức độ đáp ứng của các doanh nghiệp của ngành dệt may Việtnam
Trang 28CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI
TRƯỜNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
I Hiện trạng phát triển và vai trò của ngành dệt may Việt Nam trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
1 Hiện trạng sản xuất, kinh doanh ngành dệt may Việt
Nam 3
Ngành dệt may có khoảng 2.000 doanh nghiệp trong đóquốc doanh có 307, ngoài quốc doanh 1.170, FDI là 470 doanhnghiệp
Lượng lao động khoảng 2.000.000 lao động trong đó có
1050000 lao động trong các xí nghiệp công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp: 29.144 tỷ đồng chiếm 10% giátrị snả xuất của công nghiệp chế biến
Xuất khẩu 4.386 triệu USD chiếm 16,5% giá trị xuất khẩu của
cả nước
Năng lực sản xuất: Bông: 15.000 tấn; Sợi: 220.000 tấn; Vải
700 triệu m2; Khăn xuất khẩu 30.000 tấn ; May công nghiệp: 1
tỷ sản phẩm
1.1 Về quy mô năng lực hiện tại của ngành
Về chế biến bông: Có 7 nhà máy cán bông với tổng công
suất khoảng 60.000 tấn bông hạt/ năm ( 20.000 tấn bông nguyênliệu / năm)
3 Theo báo cáo phát triển của ngành dệt may, 31/12/2004
Trang 29Về chế biến sơ sợi tổng hợp: đang triển khai dự án với
công suất xơ sợi polyester với tổng công suất 150.000 tấn/ năm
Về kéo sợi: có khoảng 100 nhà máy với 2,2 triệu cọc sợi
và 15.000 rotor với tổng công suất khoảng 300.000 tấn sợi/năm
Về sản xuất vải kiểu dệt thoi: có 305 nhà máy và hàng
ngàn hộ gia đình với khoảng 16.750 máy dệt vải và dệt khănbông các loại trong đó máy dệt không thoi đời mới có khoảng6.800 nhà máy ( chiếm khoảng 40,6%) Tổng công suất khoảng
680 triệu m2 vải và 38.000 tấn khăn bông/ năm
Về sản xuất vải dệt kim: Có khoảng 86 nhà máy và hàng
ngàn hộ gia đình với khoảng 3.700 máy dệt kim tròn và 500máy dệt kim phẳng Tổng công suất khoảng 300.000 tấn/ năm
Về sản xuất vải không dệt: Có 5 nhà máy sản xuất tấm sơ
và 2 nhà máy sản xuất vải địa kỹ thuật Tổng công suất 5000tấn/năm
Về may: có 1417 doanh nghịêp với 771.447 máy may các
loại, với năng lực 2.150 triệu sản phẩm ( quy sơ mi tiêu chuẩn )
Về sản xuất nguyên phụ liệu hiện có:
Bảng 2 : Các mặt hàng nguyên phụ liệu của ngành
d t may Vi t Nam ệt may Việt Nam ệt may Việt Nam
Mặt hàng
sản xuất
Số lượng doanh nghiệp, nhà máy
Công suất/
Trang 30Chỉ khâu 8 3000 Tấn/ năm
năm
( Nguồn: Tổng cục dệt may Việt Nam 2004 )
1.2 Cơ cấu sản phẩm
Ngành dệt may Việt Nam sản xuất các sản phẩm rất đadạng, song có một số mặt hàng chủ yếu sau:
Trang 31Bảng 3: Cơ cấu sản phẩm của ngành dệt may Việt
(Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam 10/2005)
1.3 Phân bố các cơ sở sản xuất của ngành dệt may
Các cơ sở dệt may tập trung chủ yếu tập trung ở hai khu vực làđồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, chiếm khoảng 50-60% sản lượng
Vùng đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh phụ cận chiếm 40% sản lượng Vùng Duyên hải miền Trung chỉ chiếm 10%sản lượng toàn ngành dệt may
30-Phần lớn các doanh nghiệp dệt may đều phân bố tại các khu đôthị tập trung dân cư cao Đây cũng là một đặc trưng của ngành,
là nguyên nhân gây ô nhiễm tại môi trường gây ảnh hưởng tớisức khỏe của người dân sinh sống xung quanh khu vực này
2 Năng lực thiết bị công nghệ và trình độ lao động
Trang 322.1 Về năng lực thiết bị công nghệ
Về năng lực thiết bị công nghệ có độ chênh lệch lớn giữacác khu vực các thành phần kinh tế
Ngành kéo sợi có hơn 30% thiết bị đã sử dụng từ 10-20năm Cho đến năm 2004 toàn ngành có 1050.000 cọc sợi trong
đó đầu tư mới khoảng 10 vạn cọc, sản xuất được khoảng 84.100tấn sợi/năm
Một số loại thiết bị công nghệ như:
Công nghệ dệt thoi: Đã đầu tư 1.500 máy mới trên tổng số
10.500 máy trước đây, một số công nghệ có chuyển biến mạnh
do cơ chế của thị trường như công nghệ dệt sợi cotton 100%,công nghệ dệt vải tổng hợp, công nghệ dệt vải pha
Thiết bị in, nhuộm, hoàn tất: Hầu hết các thiết bị in nhuộmđều phải nhập ngoại trong đó có khoảng 35% có chất lượng tốt,30% cần hiện đại hoá, 35% cần loại bỏ dần dần đến năm 2010
Về thiết bị công nghệ may: Trước năm 1991 các dây
chuyền may của các nhà máy phần lớn là các mấy may của Đức
Ngành dệt may đang tích cực đầu tư hiện đại hoá thiết bị.Tuy nhiên trong quá trình phát triển việc đầu tư nhiều giai đoạnlàm cho thiết bị và công nghệ của ngành dệt may rất đa dạng.Hiện nay vẫn còn sử dụng những thiết bị của thập kỷ 60,70 ởmột số doanh nghiệp cụ thể:
Bảng 4: Thực trạng đổi mới các thiết bị công nghệ
c a ng nh d t may Vi t Nam ủa ngành dệt may Việt Nam ành dệt may Việt Nam ệt may Việt Nam ệt may Việt Nam
Trang 33May 95% thiết bị và công nghệKéo sợi 32% thiết bị và công nghệDệt thoi 25% thiết bị và công nghệToàn ngành 35% thiết bị và công nghệ
( Nguồn Tổng công ty dệt may Việt Nam 2004 )
2.2 Về trình độ lao động
Qua thống kê gần 2.000 doanh nghiệp cho thấy số doanh nghiệp
có quy mô nhỏ và vừa sử dụng dưới 1.000 lao động là phổ biếnchiếm 86,9% số doanh nghiệp
Trang 34Bảng 5: Kết cấu của lực lượng lao động của các
Về trình độ của lực lượng lao động.
Ngành dệt có khoảng 66% là lao động phổ thông, chỉ cóhơn 7% lao động có trình độ đại học trở lên
Hơn 8% có trình độ trung cấp kỹ thuật trở lên và gần 20 %lao động có tay nghề cao
Ngành may có gần 80% là lao động phổ thông, chỉ có hơn4% trình độ đại học cao đẳng trở lên , hơn 6% lao động có taynghề cao
Nhân lực về khoa học công nghệ của ngành dệt may ViệtNam hiện có khoảng 500.000 người, nếu tính cả lao động tạicác gia đình phục vụ dệt may thì tổng số lên tới 1,6 triệu người.Lao động ngành dệt may có tay nghề cao, khoé léo, có khảnăng làm ra sản phẩm có chất lượng cao Tuy nhiên nhân lựccủa ngành còn thiếu cả số lượng lẫn chất lượng
Trang 353 Thị trường và kim ngạch xuất nhập khẩu
Về nhập khẩu: Hiện nay ngành công nghiệp dệt may đáp
ứng được trên 30% nhu cầu tiêu dùng nội địa, phần còn lại phải
nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan và một số quốc gia khác
Về xuất khẩu: kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam liên tục tăng tốc từ năm 1991 đến năm 1997 đạt 1,3 tỷ
USD đứng thứ 2 sau sản phẩm dầu thô
Bảng 6: Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của ngành
dệt may từ 1997 đến 2004:
n v : Tri u USD Đơn vị: Triệu USD ị: Triệu USD ệt may Việt Nam
Chỉ tiêu
Năm 1997
Năm 1998
Năm 199 9
Năm 200 0
Năm 2001
Năm 2002
Năm 2003
Năm 2004
1,91
11,541
23,30
14,483
25,49
15,029
3,77
16,706
11,16
20,176
20,77
26,005
28,89
0,15
1,747
29,31
1,892
8,30
1,962
3,70
2,752
40,27
3,654
32,78
4,386
20,03
Trang 3613,05
16,47
18,11
16,87
(Nguồn:Tổng công ty dệt may Việt Nam năm 2004)
II Các vấn đề môi trường ngành Dệt may
1 Vấn đề nước thải và ô nhiễm môi trường do nước thải do
ngành dệt
Nước thải công nghiệp dệt nhuộm rất đa dạng và phức tạp.Theo tính toán từ các loại hoá chất sử dụng như: phẩm nhuộm,chất hoạt động bề mặt, chất điện ly, chất ngậm, chất tạo môitrường, tinh bột, men, chất ôxy hoá đã có hàng trăm loại hoáchất đặc trưng, các loại này hoà tan dưới dạng ion và các chấtkim loại nặng đã làm tăng thêm tính độc hại không những trongthời gian trước mắt mà còn ảnh hưởng lâu dài đến môi trườngsống
Nước thải ở các khâu hồ sợi: chứa hàm lượng chất hữu cơ
cao, pH vượt tiêu chuẩn xả thải Tuy nhiên, công đoạn hồ sợi,lượng nước được sử dụng rất nhỏ, hầu như toàn bộ phẩm hồđược bám trên vải, nước thải chỉ xả ra khi làm vệ sinh thiết bịnên không đáng kể
Nước thải giặt tẩy: có pH dao động khá lớn từ 9 - 12,
hàm lượng chất hữu cơ cao (COD = 1000 - 3000 mg/l) do thành
Trang 37phần các chất tẩy gây nên Thành phần chủ yếu của nước thảibao gồm: thuốc nhuộm thừa, chất hoạt động bề mặt, các chấtôxy hoá, xenlulô, xáp, xút, chất điện ly
Công nghệ nhuộm: sử dụng một lượng nước lớn phục vụ
cho các công đoạn sản xuất và xả ra một lượng nước thải tươngứng, bình quân khoảng 12 - 300 m3/tấn vải Trong đó hai nguồn
ô nhiễm chính cần phải giải quyết là từ công đoạn dệt nhuộm vànấu tẩy
Nước thải thành phần thường không ổn định và đa dạng,
thay đổi ngay trong từng nhà máy khi nhuộm các loại vải khácnhau, thậm chí ngay cả khi cùng một loại vải với loại thuốcnhuộm khác nhau Môi trường nhuộm có thể là axit hoặc kiềm,hoặc trung tính Cho đến nay, hiệu quả hấp thụ thuốc nhuộmcủa vải chỉ đạt 70 - 80%, 20- 30% các phẩm nhuộm thừa còn lại
ở dạng nguyên thuỷ hoặc một số đã bị phân huỷ ở dạng khác,ngoài ra một số các chất điện ly, chất hoạt động bề mặt, chất tạomôi trường cũng tồn tại trong thành phần loại nước thải này
Đó là nguyên nhân gây ra độ màu rất cao của nước thải dệtnhuộm
Tuỳ theo từng loại phẩm nhuộm mà ảnh hưởng đến tínhchất nước thải Trong số các loại hoá chất sử dụng cho giaiđoạn nhuộm, các phẩm nhuộm trực tiếp thường thải ra ngoàimôi trường với lượng phẩm nhuộm thừa lớn dẫn đến gia tănghàm lượng chất hữu cơ và độ màu
Trang 38Nước thải công nghiệp dệt nhuộm gây ô nhiễm nghiêmtrọng đối với môi trường sống, độ màu, pH, TS, COD, nhiệt độvượt quá tiêu chuẩn cho phép xả vào nguồn ó thể là nguyênnhân của một số các bệnh nguy hiểm có thể gặp như bệnh ngoài
da, ung thư
Công nghệ dệt nhuộm gây ô nhiễm nặng đến môi trườngmột mặt do lượng chất rắn hoà tan rất lớn Mặt khác, khối lượngnước thải cũng lớn, bình quân các nhà máy mỗi ngày thải từ
1000 - 3000 m3 vào cống thải, kênh mương Với lưu lượng lớn,nước thải tích luỹ, tồn đọng gia tăng mức độ ô nhiễm Hơn nữa,chất lượng nước thường không ổn định, pH thay đổi liên tụcgây khó khăn cho sự thích nghi, sinh trưởng của thuỷ sinh vật.Một số kim loại nặng tồn tại dưới dạng phẩm nhuộm, các hoáchất phụ trợ cũng rất nguy hại, là độc tố tiêu diệt thuỷ sinh vật
và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người
2 Vấn đề ô nhiễm không khí và tiếng ồn
2.1 Các nguồn gây ra ô nhiễm không khí
Khí thải, bụi thải, nhiệt thải, tiếng ồn ngành dệt may chủyếu do các nguồn thải sau:
Từ các loại lò hơi: Hiện nay ngành dệt may thường sử
dụng các loại lò hơi được đốt từ nhiên liệu than, dầu FO, dầudiezen Khí thải của lò hơi phát thải qua ống khói vào môitrường và gây ra ô nhiễm môi trường xung quanh xí nghiệp.Các chất ô nhiễm chính là bụi (đốt than sản sinh ra nhiều bụi
Trang 39nhất) và các khí độc hại như SO2, NO2, CO, CO2 Những lò hơichạy bằng than chủ yếu tồn tại ở phía Bắc, còn ở phía Nam thìchủ yếu chạy bằng dầu FO và dầu DO Các nồi hơi, ở đây, cómột số nồi hơi sử dụng than và một số nồi hơi sử dụng dầu(thành phần S trong than khoảng 0,4% còn trong dầu khoảng3%).
Trang 40Bảng 7 : Lượng phát thải hàng năm của ngành dệt
( Nguồn Tổng công ty dệt may Việt Nam 2004 )
Các loại bụi bông, bụi vải, bụi bông xơ tổng hợp: phát
sinh trong quá trình công nghệ kéo sợi, dệt, may
Theo tính toán thống kê tại các xí nghiệp dệt
Lượng bụi bông sinh ra:
Trong phân xưởng kéo sợi: từ 1,5 - 2% so với tổng lượng
xơ bông đem đi kéo sợi
Trong phân xưởng dệt : từ 0,5 - 1% so với tổng lượng sợiđem đi dệt
Như vậy, với tổng sản lượng sợi 85.000 tấn/năm và các chỉtiêu sản phẩm như đã nêu , toàn Ngành dệt may của Việt Namhàng năm thải ra lượng bụi bông, sợi khoảng 850 tấn Đây lànguồn nguyên liệu cao cấp - tiềm năng cho sản xuất giấy ăn,khăn ăn cao cấp nếu có các biện pháp thu hồi và tái chế thíchhợp, phục vụ cho các nhà hàng dịch vụ ăn uống, khách sạn
Các hơi hóa chất: Các dung môi bốc hơi trong quá trình
tẩy, nhuộm Lượng hoá chất, thuốc nhuộm bị bốc hơi, thănghoa hay bay lên dưới dạng bụi nhỏ mà việc xác định liều lượngcủa chúng còn một số khó khăn