đánh giá được tầm quan trọng của nguồn khách đối với kinh doanh du lịch, và việc nghiên cứu khách du lịch và những đặc điểm của nó là một tất yếu đối với tất cả các doanh nghiệp du lịch
Trang 1lời nói đầu
“du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng quan trọng của đời sống hiện tại
du lịch ngày nay đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội và phát triển với tốc độ ngày càng tăng
công nghiệp du lịch đã và đang được các nước trên thế giới coi như “con gà đẻ trứng vàng” là ngành “công nghiệp không khói” hay là “ngòi nổ để phát triển kinh tế” đây là sự khẳng định chung của các nhà kinh tế trên toàn cầu đối với sự đóng góp đáng kể của ngành kinh doanh du lịch trong quá trình phát triển nền kinh tế thế giới
du lịch là một sinh hoạt đã có từ lâu, nhưng chỉ mới phát triển nhanh và rầm rộ trong vòng 40 năm qua nó đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung của tất cả các quốc gia và đem lại hiệu quả kinh tế rất cao nếu so sánh với các ngành kinh tế khác thì du lịch là một trong những ngành đem lại nguồn ngoại tệ đáng
kể cho đất nước, góp phần thúc đẩy và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế xã hội khác phát triển, tạo thêm công ăn việc làm cho một lực lượng nhàn rỗi trong xã hội
việt nam là một bộ phận của thế giới, cho nên chịu sự ảnh hưởng của xu hướng phát triển kinh tế trên toàn cầu chính vì vậy việt nam cũng xem du lịch như một ngành kinh tế quan trọng, thông qua du lịch làm đòn bẩy cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác
tuy nhiên sự tồn tại và phát triển của du lịch lại phụ thuộc và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong đó có nhân tố nguồn khách đây là nhân tố rất quan trọng (mang tính sống còn) đối với hoạt động kinh doanh du lịch không có khách thì hoạt động kinh doanh du lịch trở nên vô nghĩa
trong hoạt động kinh doanh du lịch, thì hoạt động kinh doanh khách sạn chiếm một tỷ lệ lớn đây là mảng quan trọng trong kinh doanh du lịch, bởi vì ăn ngủ là những nhu cầu thiết yếu của mỗi con người để duy trì cuộc sống tuy không phải là mục đích
Trang 2của chuyến đi, nhưng chất lượng của nó lại ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của cả chuyến đi du lịch.
vì vậy hoạt động kinh doanh khách sạn cũng chịu ảnh hưởng của nguồn khách khách hàng rất có ý nghĩa trong sự tồn tại và phát triển của một khách sạn đánh giá được tầm quan trọng của nguồn khách đối với kinh doanh du lịch, và việc nghiên cứu khách du lịch và những đặc điểm của nó là một tất yếu đối với tất cả các doanh nghiệp
du lịch nói chung và doanh nghiệp khách sạn nói riêng trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá nguồn khách của doanh nghiệp, có thể đưa ra các giải pháp hữu hiệu để thu hút khách
qua đó em quyết định chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp “khách hàng và các biện pháp thu hút khách hàng ở khách sạn hải dung”
qua đề tài tôi muốn tìm hiểu về thị trường khách của khách sạn hải dung từ đó đưa ra các biện pháp thu hút khách của khách sạn
đối tượng nghiên cứu của đề tài đó là khách hàng khả năng thu hút khách của khách sạn hải dung
trong đề tài tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
- phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
- phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- phưong pháp thống kê toà án
đề tài của tôi chỉ giới hạn trong phạm vi một doanh nghiệp đó là khách sạn hải dung
với đề tài này em muốn tìm hiểu thị trường khách của khách sạn, các biện pháp
mà doanh nghiệp đã áp dụng trong việc khai thác các nguồn khách và đưa ra một số các đề xuất nhằm hoàn thiện các biện pháp thu hút khách hàng, với hy vọng được góp
Trang 3một phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách sạn trong tương lai.
kết cấu của bài viết gồm các phần chính sau:
chương 1: khách hàng và các biện pháp thu hút khách hàng trong kinh doanh khách sạn.
chương 2: thực trạng thu hút khách của khách sạn hải dung.
chương 3: một số giải pháp nhằm hoàn thiện thu hút khách.
tôi xin chân thành cảm ơn tiến sĩ bùi xuân nhàn, trưởng khoa khách sạn-du lịch trường đại học thương mại, ban lãnh đạo và các cán bộ công nhân viên khách sạn hải dung đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này
Trang 4
chương 1 khách hàng và các biện pháp thu hút khách hàng trong kinh doanh khách
sạn 1.1 một số khái niệm về khách du lịch
1.1.1 du lịch
mặc dù ngành du lịch ra đời muộn hơn so với các ngành khác nhưng nhu cầu
về du lịch đã có từ rất lâu từ thời cổ đại, tại các nước ai cập cổ đại, hy lạp, la mã… đã xuất hiện du lịch như du lịch công vụ phái viên các hoàng đế, du lịch tôn giáo là các cuộc hành hương, du lịch chữa bệnh của các nhà quý tộc con người luôn luôn tìm hiểu thế giới bên ngoài, đến những nơi, những vùng mà mình chưa đặt chân đến xã hội càng phát triển thì nhu cầu du lịch ngày càng tăng, ước muốn của con người là vô cùng chẳng hạn muốn đi xa để nâng cao tầm hiểu biết, hay muốn được thưởng thức, chiêm ngưỡng những cảnh quan, danh lam thắng cảnh, đi nghỉ ngơi, chữa bệnh, tìm hiểu về lịch sử văn hoá
các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật càng tạo điều kiện tích cực hơn nữa cho việc phát triển ngành du lịch như sự phát triển của lĩnh vực giao thông vận tải làm cho điều kiện đi lại của con người được thuận tiện hơn
vậy du lịch là gì ? đây quả là một phạm trù trìu tượng có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch
- trên góc độ khách du lịch : du lịch là việc tiêu dùng trực tiếp các dịch vụ hàng hoá gắn liền với cuộc hành trình và lưu trú của con người ngoài nơi ở thường xuyên với các mục đích khác nhau
- đứng trên góc độ nhà kinh doanh du lịch : du lịch là việc sản xuất bán và trao cho khách những dịch vụ hàng hoá của các doanh nghiệp nhằm đảm bảo việc
Trang 5sinh môi trường đồng thời du lịch là tập hợp của những mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong cuộc hành trình và lơu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc cư trú đó không trở thành nơi cư trú thường xuyên và không chính đáng đến hoạt động kinh doanh kiếm lời
1.1.2 thị trường khách sạn:
mỗi ngành kinh doanh có một thị trường và tuỳ theo lĩnh vực kinh doanh mà có tên gọi khác nhau, thị trường hàng tiêu dùng, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường người lao động… vậy ngàmh kinh doanh khách sạn cũng có thị trường riêng đó là thị trường khách sạn
vậy thị trường khách sạn là gì? thị trường nói chung là nơi diễn ra như vậy thị trường khách sạn là nơi diễn ra việc mua bán các sản phẩm của khách sạn
sản phẩm của khách sạn bao gồm
+ các loại đồ ăn, thức uống và các dịch vụ bổ sung gắn liền với nó
+ dịch vụ lưu trú
+ các dịch vụ giải trí ở trong và ngoài nơi lưu trú
+ các dịch vụ bổ sung: giặt là, mua vé, cắt tóc,massage, thông tin liên lạc…tuy nhiên chức năng chủ yếu của khách sạn là kinh doanh lưu trú không có dịch
vụ lưu trú thì không thể coi là khách sạn nói tóm lại khách sạn có hai chức năng kinh doanh cơ bản: lưu trú và ăn uống ngoài ra còn có các dịch vụ bổ sung
từ cơ sở lý luận trên ta có thể thấy được sản phẩm trong kinh doanh khách sạn
so với các sản phẩm khác cho nên người ta gọi nó là sản phẩm có tính đặc thù tính đặc thù này thể hiện ở chỗ:
- sản phẩm của khách sạn chủ yếu là dịch vụ, nó không tồn tại dưới dạng vật thể để khách hàng có thể kiểm tra, giám sát
Trang 6- sản phẩm của khách sạn chủ yếu là cố định ở một nơi, con người tiêu dùng thì sau khi mua, đến đó để thưởng thức sản phẩm.
- sản phẩm của khách sạn thường ở xa nơi thường trú của khách, cho nên cần có một hệ thống phân phối trung gian như văn phòng, đại lý
- sự thay đổi về tỷ giá tiền tệ, tình hình chính trị, trật tự an ninh, sự khó dễ
và thủ tục xuất nhập cảnh, về hải quan cũng ảnh hưởng tới nhu cầu của khách về tiêu dùng sản phẩm của khách sạn
như vậy có thể kết luận: thị trường khách sạn là một bộ phận của thị trường
du lịch đặt trong tổng thể kinh doanh du lịch, kinh doanh khách sạn là công đoạn phục vụ khách du lịch để họ hoàn thành chương trình du lịch đã lựa chọn
trên góc độ tổng thể chúng ta hiểu thị trường du lịch là: tập hợp nhu cầu về sản xuất du lịch và toàn bộ cung đáp ứng nhu cầu đó và mối quan hệ giữa chúng trên góc độ là một đơn vị kinh doanh thì thị trường du lịch-khách sạn là tập hợp nhóm khách hàng đang có mong muốn, nguyện vọng về sức mua sản phẩm du lịch nhưng chưa được đáp ứng
1.1.3 khách du lịch
để ngành du lịch hoạt động và phát triển cần phải có khách bởi vì có khách ngành du lịch mới bán được sản phẩm của mình, còn không có khách thì hoạt động du lịch sẽ trở nên vô nghĩa đứng trên góc độ thị trường thì cầu du lịch chính
là các khách du lịch, còn cung du lịch chính là các nhà kinh doanh du lịch, cung cấp sản phẩm cho khách du lịch vậy khách du lịch là gì? họ có những nhu cầu gì?
có rất nhiều khái niệm khác nhau về khách du lịch
- nhà kinh tế học người áo- lozep stemoler định nghĩa “khách du lịch là những hành khách đặc biệt, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên, để thoả mãn những nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi những mục đích kinh tế”
Trang 7- nhà kinh tế người anh- oligilvi lại khẳng định: để khách hàng du lịch phải
có ít nhất hai điều kiện
+ phải đi xa nhà dưới thời gian là 1 năm
+ ở đó phải tiêu tiền mà mình kiếm dưdợc ở nơi khác
khách du lịch bao gồm khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa
theo định nghĩa của hội nghị quốc tế về du lịch ở hà lan 1989: “khách du lịch quốc tế là những người đi hoặc sẽ đi tham quan một đất nước khác, với các mục đích khác nhau trong khoảng thời gian nhiều nhất là ba tháng” nếu trên ba tháng, phải được cấp giấy phép gia hạn sau khi kết thúc thời gian tham quan, lưu trú, du khách bắt buộc phải rời khỏi đất nước đó để đi đến nước khác hoặc trở về
còn nhà kinh tế học người anh- morool cho rằng, để trở thành khách du lịch quốc tế phải đảm bảo ba điều kiện sau:
+ đến một nước khác với các nguyên nhân khác nhau
+ đến đó không phải để cư trú hoặc để hoạt động kinh doanh
+ ở đó phải tiêu tiền mà mình kiếm được ở nơi khác
do vậy, những gnười được coi là khách du lịch quốc tế bao gồm:
+ những người đi vì lý do sức khoẻ, giải trí
+ những người đi để tham gia các hội nghị, hội thảo, thế vận hội
+ những người tham gia các buổi hành trình trên biển dài ngày và những người không được coi là khách du lịch quốc tế gồm:
+ những người sang nước khác không theo hợp đồng có tính chất dài ngày
+ những người nhập cư trở lại
Trang 8+ những cư dân vùng biên giới và những người cư trú ở một nước, làm việc ở nước khác.
+ học sinh, sinh viên học ở các trường nội trú
những người đi qua một đất nước khác nhưng không dừng chân cho dù quá 24 giờ
khách du lịch nội địa là những người đi xa nhà với khoảng cách ít nhất là 50 dặm vì các lý do khác nhau trừ khả năng thay đổi chỗ làm việc trong khoảng thời gian cùng ngày hoặc qua đêm
những người không được coi là khách du lịch nội địa gồm:
+ nhân viên làm việc trên các phương tiện vận chuyển dân dụng
+ những người thay đổi địa điểm làm việc
+ học sinh, sinh viên ở nội trú
nhu cầu, động cơ, mục đích du lịch của khách rất đa dạng và phong phú, nghiên cứu những yếu tố này là biện pháp tốt nhất để khai thác có hiệu quả nguồn khách
có thể hiểu nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt được hình thành và phát triển trên nền tảng của những nhu cầu tự nhiên và xã hội nhu cầu du lịch có liên hệ chặt chẽ với nhóm nhu cầu tinh thần của con người và là kết quả của lực lượng sản xuất và trình độ sản xuất nhu cầu đi du lịch của con người phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố cảnh quan thiên nhiên, chế độ chính trị, pháp luật, kinh tế, mốt,…
con người đi du lịch, do nhiều nguyên nhân khác nhau:
- do sự căng thẳng về tâm lý
- do môi trường xung quanh bị ô nhiễm
- do cuộc sống lao động, sinh hoạt lặp đi, lặp lại thường xuyên
Trang 9- do sự lây lan tâm lý
nhu cầu của khách du lịch rất đa dạng và phong phú, nó phụ thuộc rất nhiều yếu tố: độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá, nghề nghiệp trong một chuyến đi du lịch,
du khách
thường đòi hỏi các cơ sở du lịch phải đáp ứng đầy đủ 3 nhóm nhu cầu chính
- nhu cầu thiết yếu: là loại nhu cầu ,vậy các đều kiền thiết yếucủa con người :ăn, ngủ đi lại …mặc dù nhu cầu này không có tính quyết địnhmục đích của chuyến đi,, nhưng đây là nhu cầu cơ bản của con người không thể thiếu được
- nhu cầu đặc tưng :
- nhu cầu này co vị trí quyết định đến mục đích của của chuyến đi, đó là nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, thăm quan các công trình kiến trúc, di tích lịch sử văn hoá, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên
- nhu cầu bổ sung
- đây là loại hinh nhu cầu thứ yếu như giặt, là, cắt tóc, massage, thu đổi ngoại tệ …
*tóm lại: nhu cầu của khách du lịch là rất đa dạng, để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu đó, một hệ thống đặc biệt được hình thành các trung tâm, vui chơi, giải trí, nhà hàng, các tuyến, điểm du lịch chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình phục vụ khách
1.2- tầm quan trọng của khách đối với kinh doanh du lịch và kinh doanh khách sạn.
hàng hoá được sản xuất ra để bán cho những người cần tiêu dùng một doanh nghiệp càng có nhiều khách mua sản phẩm của mình thì hoạt động sản xuất kinh
Trang 10doanh sẽ không ngừng phát triển còn nếu sản phẩm sản xuất ra không có ai mua thì dẫn đến hoạt động ngừng trệ, thậm trí phá sản
điều này chứng tỏ rằng khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất kinh doanh trong cơ chế bao cấp, người ta xem nhẹ vị trí của người mua, còn trong cơ chế thị trường các nhà kinh doanh lại đặt khách hàng lên vị trí hàng đầu “ khách hàng là thượng đế “ do đó họ sản xuất và bán cái khách hàng cần, chứ khoong phải sản xuất và bán cái mà doanh nghiệp có
chính vì vậy ngành kinh doanh du lịch nói chung và ngành kinh doanh khách sạn nói riêng cũng đã xác định đủ được vị trí của khách hàng các doanh nghiệp du lịch cung cấp các sản phẩm du lịch , còn khách du lịch có nhu cầu sử dụng và tiêu dùng vì vậy khách du lịch và các mối quan hệ mật thiết với nhau, thiếu các khách sạn, các điểm du lịch thì chuyến đi của khách trở nên vô nghĩa, ngược lại các điểm
du lịch sẽ trở nên như thế nào nếu không có khách đến không có khách thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đã bị ngừng trệ.vì vậy khách có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
việc nghiên cứu những nhu cầu và sở thích củab khách là một yếu tất yếu đối với moị đơn vị kinh doanh du lịch trên cơ sở nghiên cứu đó, các doanh nghiệp sẽ đưa
ra các snr phẩmdu lịch phù hợp với mọi đối tượng khách
do việc đánh giá đúng vị trí của khách, mà các doanh nghiẹp du lịch cố gắng tìm ra mọi biện pháp nhằm thu hút thật nhiều khách
1.3- các biện pháp thu hút khách của khách sạn
1.3.1- những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách của một khách sạn có rất nhiều nhân tố, trong đó có nhân tố ảnh hưởng, có tính quyết định là.
1.3.1.1- tài nguyên du lịch :
Trang 11tài nguyên du lịch là đối tượng quan tâm hàng đầu của khách du lịch, đặc biệt là khách đi nghỉ ngơi, thăm quan dưỡng bệnh, tìm hiểu văn hoá sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch, đồng thời tạo nên sức hấp dẫn của các cơ sở kinh doanh đối với các khách sạn nằm trong thành phố thì yếu tố quyết định là vị trí của khách sạn, môi trường và bầu không khí xung quanh thông thường khách du lịch, đặc biệt là khách công vụ , họ thường chọn khách sạn gần nơi làm việc yên tĩnh, thuận lợi cho việc đi lại, thoáng mát không khí trong lành tuy nhiên điều đó tuỳ thuộcb vào độ tuổi, nghề nghiệp, sở thích ,mà khách du lịch có những lựa chọn khácc nhau
1.3.1.2-chất lượng phục vụ.
có thể nói chất lượng phục vụ là nhân tố có tính chất quyết định tới việc thoả mãn nhu cầu của khách, tạo nên uy tín và địa vị của doanh nghiệp chính vì vậy chất lượng phục vụ được coi là tiêu chuẩn để đánh giá hoạt động kinh doanh và là thước đo
để phân hạng của khách sạn chất lượng phục vụ được thể hiện ở số lượng chủng loại
và chất lượng các hàng hoá và dịch vụ, ở điều kiện và phương tiện phục vụ, đầy đủ, tiện nghi, đồng bộ an toàn, hiện đại và cuối cùng là thể hiện ở phương thức phục vụ
- số lượng, chủng loại , và chất lượng hàng hoá dịch vụ:
xu hướng phát triển ngày nay là các khách sạn phấn đấu để đạt được mục tiêu phongb phú về số lượng, đa dạng về chủng loại, chất lượng hàng cao đáp ứng nhu cầu
đa dạng và cao cấp của khách mặt khác có cơ hội cho khách hàng có cơ hội lựa chọn đồng thời các khách sạn cũng không ngừng tăng các dịch vụ bổ xung, phù hợp với mục đích, động cơ đi du lịch và đòi hỏi của khách trên cơ sở đó làm thoả mãn nhu cầu của khách, tăng doanh thu và thu hút ngày càng nhiều khách đến với khách sạn
như chúng ta đã biết, nhu cầu của khách du lịch rất đa dạng, để đáp ứng đầy
đủ những nhu cầu đó thì đòi hỏi một khách sạn không chỉ cung cấp dịch vụ ưan ngủ
mà còn mở thêm các dịch vụ khác: thể thao, vui chơi giải trí, tắm bơi…tuy nhiên để
Trang 12hấp dẫn khách, ngoài sự đa dạng của các dịch vụ, còn phải có sự đồng bộ của các dịch
vụ đó sự đồng bộ ở đây có nghĩa là các dịch đó phải đầy đủ, cân đối, khép kín trong các khâu phục vụ của khách, chất lượng phục vụ tương xứng với nhau và tương xứng với giá cả của từng khâu dịch vụ
- cơ sở vật chất kỹ thuật :
hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng, nó là nền tảng là tiền
đề cho quá trình hoạt động kinh doanh của khách sạn đlà tính độc đáo về kiến trúc của khách sạn, sự bố trí sắp xếp của các bộ phận sự thuận tiện, đi lại ở các khu vực,
sự bài , sắp xếp các trang thiết bị trong khách sạn tát cả các trang thiết bị phải được hoàn thiện một cách đồng bộ, bố trí sắp xếp sao tạo cảm giác thoả mái, ấm áp làm cho khách cảm thấy đang sống ở nhà mình, đồng tời luôn chú ý cho khách vấn đề an toàn khi sử dụng
- phương thức phục vụ thể hiện ở 3 mặt sau :
+ quy trình phục vụ hợp lý, thuận tiện :
trong khách sạn, việc phục vụ khách giữa các khâu phải được tổ chức sao cho hợp lý, tránh chồng chéo lẫn nhau các yêu cầu của khách phải được đáp ớng nhanh gọn, đạt chất lượng và giảm đến mức thấp nhất sự phiền hà đối với khách muốn vậy phải đảm bảo sự hợp tác nhịp nhàng , ăn khớp giữa các khâu dịch vụ, đảm bảo tính đồng bộ và tổng hợp cao trong quá trình phục vụ khách
+ công nghệ phục vụ hiện đại :
trình độ tay nghề của người nhân viên phục vụ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phục vụ do phải phục vụ nhiều loại khách khác nhau nên đòi hỏi người phục
vụ phải có chuyên môn vững vàng, tổng hợp hình thức phục vụ phải đa dạng, phù hợp với đặc điểm tâm lý phức tạp của khách như phức tạp của khách như đặc điểm về dân tộc , độ tuổi , nghề nghiệp …
Trang 13muốn làm tốt điều này, các khách sạn cần có sự phân công lao động khoa học,
đi sau vào chuyên môn hoá ngành nghề, đảm bao mõi nhân viên phải làm giỏi một nghề và làm đạt yêu cầu ở vị trí và các khâu dịch vụ khác
+ tinh thần thái độ phục vụ tốt:
việc phục vụ khách luôn đòi hỏi chất lượng phục vụ cao, ngoài quy trình và công nghệ hiện đại còn đòi hỏi tinh thần phục vụ của các nhân viên nhiệt tình, chu đáo vưan minh lịch sự đối với tất cả các loai khách, tránh hiện tượng phân biệt đối xử vì vậy yêu cầu đội ngũ nhân viên phải yêu nghề , phẩm chất đạo đức tốt , phải được đào tạo một cách toàn diện cả về chuyên môn , kỹ thuật giao tiếp và kiến thức vưan hoá xã hội
1.3.1.3- giá cả hàng hoá_dịch vụ :
trong du lịch giá cả hàng hoá là nhân tố tác động lên khối lượng và cơ cấu của cầu du lịch thông thường khi giá cả giảm thì nhu cầu tăng đặc biệt là đối với du lịch đại chúng, sự tác động của giá cả là rõ nét nhất giá cả hàng hoá còn ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu của khách du lịch vì vậy việc định giá cho sản phẩm rất quan trọng nó còn tác động đến khả năng thu hút khách nếu định giá cao thì sẽ không có ai mua còn nếu định giá thấp thì đôi khi khách còn cho rằng chất lượng của hàng hoá thấp, kém do đó nhà kinh doanh phải có biện pháp thích hợp trong việc định ra mức giá, làm sao vẫn thu hút được khách và đảm bảo hoạt động kinh doanhcủa cơ sở ,sự hấp dẫn của giá cả trong việc thu hút khách không chỉ ở mức giá mà còn sử dụng chính sách chênh lệch giá ,chính sách giá phân biệt
giá phân biệt gồm các loại giá :phân biệt thoe thời gian phân biệt theo địa điểm, phân biệt theo chất lượng và phân biệt theo đối tượng khách
Trang 14nói tóm lại ,ảnh hưởng tới khả nang thu hút khách của khách sạn có nhiều nhân tố,mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này không giống nhau mà tuỳ thuôc vào nhu cầu mục đích chuyến đi của khách
1.3.2- các biện pháp marketinh thu hút khách
trên cơ sở đánh giá sự tác động của các nhân tố đến việc thu hút khách của khách sạn và vai trò của khách sạn trong việc kinh doanh du lịch
những nhà quản lý doanh nghiệp dều tìm những biện pháp làm giả mức độ ảnh hưởng và tăng khả năng cạnh tranh ,thu hút thật nhiều khách tuỳ theo diều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà mỗi khách sạn có những biện pháp riêng, song nhìn chung có một số biện pháp marketinh giông nhau đó là :
1.3.2.1-nâng cao chất lưọng phục vụ
chất lượng phục vụ có ảnh hưởng lớn đén việc thu hút khách du lịch cơ sở kinh doanh có chất lượng càng cao thì thu hút được nhiều khách chất lượng phục vụ đứng trên góc độ doanh nghiệp là mức độ phục vụ tối thiểu đối với khách hàng mục tiêu mà khách sạn đã lựa chọn
chất lượng phục vụ tốt tạo điều kiện nâng cao uy tín vơi khách hàng,tăng khả năng cạnh tranh của cơ sở trên thị trường ngày nay cạnh tranh giữa các khách sạn chủ yếu là chất lượng phục vụ nâng cao chất lượng phục vụ nâng cao chất lượng phục vụ đồng nghĩa với việc tăng số lượng, chủng loại và chất lượng hàng hoá dịch vụ, hiện đại hoá sơ sở vật chất kỹ thuật , nâng cao tay nghề và chất lượng lao động của đội ngũ nhân viên phục vụ trong khạch sạn
trên cơ sở nhu cầu, sở thích của khách mà mà khách sạn có thể đa dạng hoá các loại sản phẩm và dịch vụ ,tăng số lượng các sản phẩm đặc biệt hoạc sản phẩm có chất lượng cao tiến hành hoàn thiện, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật ,tạo điều kiên tốt cho hoạt động kinh doanh còn về đội ngũ lao động hầu hết nhân viên trong khách sạn đều
Trang 15dược tuyển chọn ban đầu và đều đã được tuyển chọn ban đầu và đều đã được đào tạo, nên thường trình độ tay nghề đảm bảo tuy nhiên do thời gian lao động kéo dài, nhiều khi không có ngày nghỉ, họ phải thường xuyên tiếp xúc với các đối tượng khách khác nhau nên họ chịu sức ép rất nhiều về mặt tâm lý.do đó mà đôi lúc chất lượng phục vụ
bị giảm sút ảnh hưởng đến kinh doanh của khách sạn chính vì vậy các khách sạn đều
có những chính sách , biện pháp khuyến khích họ làm việc với lòng yêu nghề , bằng
sự quan tâm đầy đủ và thường xuyên đối với đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ công nhân của mình
1.3.2.2- áp dụng chính sách giá
trong kinh doanh du lịch, giá cả hàng hoá dịch vụ ngoài sự chi phối bởi quy luật giá trị , còn chịu sự tác động của một số nhân tố khác như tài nguyên du lịch , chất lượng phục vụ ,uy tín về danh tiêng của doanh nghiệp trên thị trường
những nơi có tài nguyên du lịch độc đáo ,thu hút được nhiều khách thì giá cả dịch vụ hàng hoá bán ra cao hơn với nơi khác chất lượng phục vụ tốt đưa ra mức giá cao uy tín và địa vị của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ tới giá cả
1.3.2.3-đẩy mạnh hoạ động tuyên truyền quảng cáo
quảng cáo là một phương tiện quan trọng để thu hút khách du lịch đó là quá trình truyền tin tới khách hàng , đưa ra những thông tin thuyết phục lôi kéo sự chú ý của khách ,thúc đẩy sự quan tâm ,mong muốn đi đến quyết định tiêu dùng sản phẩm của khách sạn
quảng cáo trong khách sạn nhằm giới thiệu cho khách: vị tri , quy mô ,kiểu loại thứ hạng ,các hàng hoá dịch vụ mà khách sạn có khả năng đáp ứng
hoạt động quảng cáo là cần thiết ,nó bất nguồn từ đặc điểm của người tiêu đùng
và tính cạnh tranh của thị trường chúng ta biết rằng tiêu dùng du lịch có sự tách rời về mặt không gian người tiêu dùng phải di chuyển đến nơi có sản phẩm du lịch ,do vậy
Trang 16thông qua quảng cáo khách có nắm được những thông tin về sản phẩm mà họ có nhu cầu cần mua
trong khách sạn tiêu thụ các dịch vụ là chủ yếu cho nên quảng cáo phải sử dụng phương tiện khác nhau để giải thích ,mô tả ,trình bày làm cho khách có cái nhìn đúng
về dịnh vụ và tiến tới tiêu dùng
quảng cáo trong khách sạn phải đảm bảo các nguyên tác về tính trung thực ,tinh nghệ thuật ,tính liên tục ,tính hiệu quả và các yêu cầu chính trị
có rất nhiều nhân tố tác động đến quảng cáo như khả năng tài chính quy mô ,uy tín của doanh nghiệp ,tiến bộ của khoa học kỹ thuật và các chính sách của nhà nước
do xác định được vị trí quan trọng của quảng cáo trong việc thu hút khách và khách sạn đã sử dụng các phưong tiện quảng cáo khác nhau ,tuỳ theo diều kiện cụ thể của từng cơ sở.chẳng hạn quảng cáo qua tập gấp áp phích ,báo chí, sách quảng cáo ,truyền thanh và truyền hình
1.3.2.4-mở rộng mối quan hệ với các tổ chức:
đây là hình thức không kém phần quan trọng trong việcthu hút khách đến với khách sạn hầu hết các cơ sơ đều có mối quan hệ với các tổ chức kinh tế , các đại lý
du lịch ,các hãng gửi khách các mối quan hệ đó thường được thể hiện quan các hợp đồng gửi khách dài hạn
thông qua mối quan hệ này thì khách sạn sẽ có nguồn khách ổn định ,để cho mối quan hệ này nâu dài và bền vững thì phải có chinh sách khuyến khích những người gửi khách ,có thể nói biện pháp mà mọi cơ sở sử dụng đó là tiền hoa hồng ,mỗi
cơ sở áp dụng nhiều tỉ lệ khác nhau 5%, 10% hoạc 15% mối quan hệ giữa người gửi, khách và khách sạn còn phụ thuộc vào chất lượng phục vụ của cơ sở ,giá cả của hàng hoá và dịch vụ
Trang 17trên đây là cơ sở lý luận chung về dịch cụ và các biện pháp marketinh thu hút khách đã được nhiều khách sạn áp dụng.
Trang 18
chương 2 thực trạng thu hút khách của khách sạn hải dung
2.1- giới thiệu sơ lược về khách sạn hải dung.
2.1.1-quá trình hình thành và phát triển
khách sạn hải dung là một đơi vị trực thuộc của công ty tnhh thuơng mại và dịch vụ kim hải, kinh doanh theo mô hình doanh nghiệp tư nhân trong quá trình hình thành và phát triển đã có những giai đoạn thăng trầm của công ty nhưng do kinh nghiệm dày dạn của các nhà lãnh đạo cộng với sự thay đổi kịp thời để thích nghi với môi trường kinh doanh công ty tnhh thương mại & dịch vụ kim hải ngày càng mở rộng về quy mô cũng như hình thức kinh doanh của mình nhờ đó khách sạn hải dung
đã được hình thành và phát triển từ tháng 7 năm 2002 cho tới bây giờ
2.1.2- trình độ và điều kiện sản xuất kinh doanh
2.1.2.2- cơ cấu tổ chức quản lý bộ máy khách sạn
do khách sạn hải dung được tách từ một công ty mẹ là công ty tnhh tm &dv kim hải nên cũng giống như công ty và doanh nghiệp khác khách sạn được xây dựng theo mô hình trực tuyến chức năng giám đốc công ty tnhh tm&dv kim hải sẽ lắm
Trang 19toàn quyền quyết định cũng giống như chịu trách nhiệm toàn phần về những quyết định của mình đối với khách sạn hải dung.
mọi ý kiến quyết định của ban giám đốc truyền tới cho giám đốc điều hành cho các tổ trưởng , tổ trưởng phổ biến lại cho các nhân viên nhờ đó mà giám đốc thường xuyên được sự giúp đỡ trợ giúp của các phòng ban chức năng để chuẩn bị ra quyết định hướng dẫn và tổ chức thực hiện quyết định các hoạt động đều thống nhất theo đường lối, chủ trương cụ thể do ban lãnh đạo đề ra giám đốc vạch ra các mục tiêu kinh doanh phương hướng phát triển khách sạn thống nhất quy hoạch tổ chức kỹ lưỡng hoạt động quản lý kinh doanh lấy du khách làm trọng tâm , lấy chất lượng làm hàng đầu các hoạt động đều thống nhất theo đường lối chủ trương cụ thể do ban lãnh đạo đề ra cụ thể là thực hiện các kế hoạch và nhiệm vụ của công ty tnhh tm&dv kim hải và giám đốc điều hành khách sạn hải dung giao cho có thể nói bộ máy tổ chức lãnh đạo trở nên gọn nhẹ hơn không qua nhiều cấp trung gian đảm bảo được tính thống nhất trong việc tổ chức, phục vụ khách sạn đồng thời công tác quản lý của ban lãnh dạo cũng dễ dàng và sâu sát hơn
mối quan hệ này được thể hiện qua sơ đồ sau:
sơ đồ 2.1: cơ cấu tổ chức của khách sạn hải dung
2.1.2.3- cơ sở vật chất kỹ thuật khách sạn
khách sạn hải dung là khách sạn kinh doanh gồm có 15 phòng ban, khách sạn đạt tiêu chuẩn đạt 2 sao có 2 phòng ban chuyên dùng để kinh doanh lưu trú và kinh doanh văn phòng cho thuê cung cấp các dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế
với nguồn nhân lực vẫn còn hạn chế, chỉ có 20 lao động phục vụ kinh doanh lưu trú, ăn uống và dịch vụ bổ xung khác khách sạn luôn chú trọng công tác đào tạo,
t ng giám ổ đốc ctytnhhtm&dv kim h iả
bu ng ồ
Trang 20bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ nhân viên khuyến khích công nhân tự học với nhiều chế độ, với chính sách ưu đãi để nâng cao tay nghề xu hướng trẻ hoá đội ngũ đã đang được áp dụng nhất là đội ngũ lãnh đạo đang được hinh thành một cách rõ nét tại khách sạn hải dung thể hiện rõ sự nhanh nhạy trong cơ chế thị trường, áp dụng sáng tạo các kiến thức về quản trị hiện đại và thực tế khách sạn nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất khách sạn hải dung đã coi văn minh phục vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ là biện pháp chủ đạo trong chiến lược kinh doanh, trong việc hoàn thành kế hoạch của minh bên cạnh đó khách sạn còn chú ý đến khai thác nét đẹp bản sắc văn hoá và tạo ra sự độc đáo trong phong cách phục vụ riêng của minh.
kết quả của việc phân tích tiềm năng khách sạn hải dung là yêú tố tác động đến công tác xây dựng kế hoạch chi tiêu, góp phần hoàn thiện hơn nữa công tác xây dựng, kinh doanh tại khách sạn hải dung
2.2- đặc điểm thị trường khách của khách sạn hải dung
để có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh khốc liệt như ngày nay
2.2.1.1-thị trường khách sạn việt nam:
với điều kiện vật chất kỹ truật trong giai đoạn đầu phát triển, cơ sở hạ tầng du lịch chưa phát triển cùng với một số điều kiện khách quan như dịch vụ sars, chiến tranh khủng bố trong những năm gần đây lượng khách du lịch vào việt nam và lưu
Trang 21trú tại khách sạn là chưa nhiều, cho nên việc cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, cũng như chất lượng phục vụ vẫn là vấn đề sống còn của tất cả cả các khách sạn trên việt nam nói chung.
2.21.2- thị trường khách sạn hà nội.
khách sản hải dung có một thuận lợi là khách sạn được xây dựng ngay trên lãnh thổ thủ đô hà nội, là nơi hội tụ trung tâm văn hoá, chính trị kinh tế chính cũng những thuận lợi đó cũng là vấn đề chịu sức ép lớn của khách sạn vì là trung tâm văn hoá chính trị thì mọi hoạt động cạnh tranh lại càng khốc liệt hơn trong môi trường kinh doanh khốc liệt đó cộng với sự đòi hỏi về nhu cầu ngày một cao lên thì hạn chế của các doanh nghiệp kinh doanh ở lĩnh vực khách sạn nói chung lại càng trở nên rõ nét sự thiếu vốn đầu tư kinh nghiệm quản lý cùng các bí quyết kỹ thuật về khách sạn trong du lịch
2.2.2- đặc điểm về nguồn khách tại khách sạn hải dung
( nguồn: cơ cấu khách sạn theo phạm vi lãnh thổ )
qua bảng số liệu trên ta thấy số lượng khách đến khách sạn đều đã tăng lên trong 2 năm 2002-2003 nhưng ta cũng thấy rõ sự tăng lên đó không đáng kể số lượt đến kháh sạn vào năm 2003 tăng so với năm 2002 là 29 khách số lượt khách du lịch nội địa đến khách sạn cũng tăng từ 66 đến 69 lượt khách do đó ta có thể thấy rằng khách sạn hải dung đã ưu tiên hơn cho việc đón khách quốc tế (mục tiêu của khách
Trang 22sạn là đón khách quốc tế ) để đạt được mục tiêu nêu này cần phải đưa ra những sản phẩm riêng có mang bản sắc riêng có của khách sạn mình đồng thời cũng phải cải tiến không ngừng chất lượng cũng như số lượng phục vụ khách sao cho ngày càng chu đáo hơn từ đó có thể thu hút được số đông khách quốc tế và giúp họ chi tiêu được một cách tối đa mà hợp lý nguồn ngoại tệ họ mang theo.
khách sạn nào cũng vậy sự quan tâm hàng đầu của họ là nguồn khách lượng khách đến khách sạn nó liên quan đến vấn đề sống còn của khách sạn, nên nó rất được ban lãnh đạo khách sạn quan tâm và chú ý mục tiêu của nhà quản lý khách sạn là ưu tiên đón khách quốc tế nhưng họ cũng cần phải nhận thức được ra rằng khách sạn của mình kinh doanh sẽ hợp với loại khách nào, đối tượng khách hàng chủ yếu đến với khách sạn là khách trung quốc, nhật , hàn quốc, úc, nga ….nhưng trong các đối tượng khách này tjhì khách nào thường xuyên và chiếm tỉ trọng lớn trong số lượng khách quay trở lại khách sạn thì đã được khách sạn hải dung tận dụng rất tốt và ban lãnh đạo khách sạn còn có những biện pháp thúc đẩy cho chu kỳ đó diễn ra ngày một dày đặc hơn
2.2.3- nhận xét chung về đặc điểm thị trường khách của khách sạn hải dung.
trên cơ sở phân tích về đặc điểm thị trường khách của khách sạn hải dung có thể đưa ra một số nhận xét sau
- nguồn khách của khách sạn tương đói đa dạng bao gồm cả khách quốc tế
và khách nội địa
- nguồn khách chủ yếu là khách công vụ và khách thăm quan do đó mà sự biến động khách trong các năm, các tháng là không lớn vì vậy mọi hoạt động kinh doanh của khách sạn ít chịu ảnh hưởng của nhân tố thời vụ