Bài tiểu luận phân tích chuyên sâu về tình hình đói nghèo của Việt Nam từ những năm 1986 đến 2015 Khắc họa những khó khăn trong suốt hơn 25 năm cùng với những thành tựu Việt Nam đạt được trong công cuộc xóa đói giảm nghèo Đánh giá toàn diện và so sánh với các quốc gia khác trên thế giới thông qua các tiêu chuẩn quốc tế như HPI hay phương pháp tiếp cận của Chính phủ và Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội Những vấn đề còn tồn tại trong hành trình giảm nghèo Khó khăn đang phảit đương đầu trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng Nguồn: bài tiểu luận được thực hiện bới nhóm sinh viên khoa Thương Mại Quốc Tế, khóa 51, Trường Đại học Ngoại Thương, thuộc bộ môn kinh tế phát triển
Trang 1KINH TẾ PHÁT TRIỂN Chủ đề:
THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA
VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY, THÁCH THỨC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NHÓM 6 MỤC LỤC
Trang 2BẢNG SỐ LIỆU
Trang 3Nghèo đói luôn là một vấn đề nóng hổi, thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội.Nghèo đói đi liền với bệnh tật, ô nhiễm môi trường, hạn chế về mặt nhận thức, … Do đó,một quốc gia muốn xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững thì nhiệm vụ hàng đầu làphải giải quyết được tình trạng nghèo đói đang diễn ra ở quốc gia đó Để giải quyết tìnhtrạng nghèo đói đang hàng ngày hàng giờ diễn ra ở khắp các châu lục trên thế giới, nhiều
tổ chức Phi Chính Phủ (World Bank, United Nations, UNESCO, …) và nhiều quốc gia
đã, đang và sẽ có các chương trình, các Nghị quyết hỗ trợ, giúp người nghèo có nhà ở, trợcấp bảo hiểm y tế, cho vay vốn làm ăn, … nhằm hướng đến một cuộc sống mới tốt hơn,không còn nghèo đói, thiếu thốn và bệnh tật
Thực tế cho thấy, không thể phủ nhận rằng Việt Nam là một nước nghèo Theo tiêuchuẩn quốc gia, tỷ lệ nghèo đói của nước ta giảm từ 30,01% năm 1992 xuống 11% năm
2000 Tuy quy mô nghèo đói có giảm qua các năm, nhưng số hộ tái nghèo bình quân hàngnăm vẫn rất lớn (trung bình hàng năm khoảng 50.000 hộ) Vậy làm sao để đẩy lùi đượctình trạng đói nghèo và tái nghèo? Để giải quyết được điều này, trước hết phải hiểu đượcbản chất và các nguyên nhân dẫn tới nghèo đói, từ đó mới có thể đưa ra các chính sách,biện pháp xóa đói giảm nghèo hiệu quả nhất Với mong muốn làm sáng tỏ câu hỏi này,
nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng đói nghèo và công cuộc xóa đói giảm nghèo của việt nam từ năm 1986 đến nay, thách thức và đề xuất giải pháp ”.
Trong khuôn khổ giới hạn về thời gian nghiên cứu, bài tiểu luận không thể tránhkhỏi thiếu xót Chúng em hy vọng sẽ nhận được những góp ý của Thầy giáo và các bạn đềbài tiểu luận của nhóm em thêm phong phú và hoàn chỉnh hơn Chúng em xin trân trọngcảm ơn!
Trang 4NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
1 TỔNG QUAN VỀ ĐÓI NGHÈO
Quan niệm về nghèo đói thay đổi theo thời gian khác nhau
- Trước đây, một người được xét vào dạng nghèo đói nếu có mức thu nhập thấp Xã
hội coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của một người Quan niệmnày giúp ta dễ dàng xác định số người nghèo theo dạng chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo.Nhưng thực tế, việc xác định đói nghèo chỉ dựa vào thu nhập không hoàn toàn chính xác.Thu nhập không phản ánh hết được các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho ta biếtmức độ khốn khổ và cơ cực của những người nghèo Do đó, quan niệm này còn rất hạnchế
- Ngày nay, quan niệm về đói nghèo đã được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau,
được hiểu sâu hơn và rộng hơn, cụ thể như sau:
+ Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á –Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan, các quốc gia đã thống nhất cho rằng:
Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu
cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận.
Khái niệm nghèo đói này gồm 3 khía cạnh:
• Nhu cầu cơ bản của con người: ăn ở, mặc, y tế, giáo dục, giao tiếp xã hội, văn hóa, đi lại
• Thay đổi theo thời gian: khi kinh tế phát triển thì nhu cầu của con người cũng thay đổitheo xu hướng cao hơn
• Thay đổi theo không gian: không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, nó phụ
thuộc vào sự phát triển KT-XH và các yếu tố văn hóa của từng quốc gia, từng vùng
Chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt ai nghèo, ai không nghèo từ đó có chính sách biện pháp trợ giúp phù hợp và đúng đối tượng.
Trang 5+ Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen,
Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại".
+ Trong Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói, năm 2000,
WB thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về đói nghèo: Đói nghèo "không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế" Báo cáo đã mở
rộng quan niệm về đói nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ gặp rủi ro của
người nghèo Báo cáo nêu bật "nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường" Báo cáo chỉ ra "người nghèo đặc
biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của
họ Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không
có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó"
2.ĐO LƯỜNG NGHÈO ĐÓI QUA THƯỚC ĐO CHUẨN NGHÈO VÀ HPI
Việc sử dụng liên tục hai hệ thống riêng biệt để đo lường và theo dõi nghèo đói tạo
ra những đánh giá rất khác nhau về nghèo đói, đôi khi gây ra phức tạp cho việc đối thoạigiữa cộng đồng tài trợ phát triển và các nhà nghiên cứu trong nước (những người thường
sử dụng cách tiếp cận của TCTK-NHTG) với chính phủ (có xu hướng sử dụng cách tiếpcận chính thức của Bộ LĐ-TB-XH) Mặc dù các xu hướng diễn biến nghèo đói của hai hệthống theo dõi này là tương tự nhau - cả hai hệ thống này đều cho thấy tiến triển vượt bậcđạt được - song tỷ lệ nghèo đói lại rất khác nhau, điều này phản ánh những khác biệt trongphương pháp tiếp cận cũng như những khác biệt về mục đích sử dụng Các khó khăn về
Trang 6nguồn lực đã làm hạn chế đến phương pháp tiếp cận và các chuẩn nghèo chính thức củaViệt Nam; các chuẩn nghèo này được điều chỉnh năm năm một lần trong quá trình xâydựng KHPTKTXH và giúp Việt Nam hướng các nguồn lực công khan hiếm cho nhữngđối tượng có nhu cầu nhất Ngược lại, các chuẩn nghèo của TCTK-NHTG lại độc lập vớicác cân nhắc về ngân sách và được sử dụng chỉ để theo dõi biến động nghèo đói theo thờigian.
2.1.1 Đánh giá dựa theophương pháp tiếp cận chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê
và Ngân hàng Thế giới
Chuẩn nghèo của TCTK-NHTG được xây dựng có sử dụng một phương pháp chuẩn
về Chi phí cho những Nhu cầu Cơ bản trên cơ sở tham chiếu đến rổ hàng lương thực tếcủa các hộ nghèo tính theo calo (2.100 kcal/ người/ ngày) cộng với một phần phân bổ củanhu cầu hàng phi lương thực thiết yếu dựa trên xu hướng tiêu dùng của người nghèo.Chuẩn nghèo TCTK-NHTG được giữ cố định theo sức mua thực tế từ cuối thập kỷ
1990, và được tính theo mức tiêu dùng bình quân đầu người vốn được đo lường trongnhững đợt Khảo sát Mức sống Dân cư của Việt Nam (VHLSS) để xác định được nhữngbiến động nghèo đói qua thời gian tại cấp khu vực, tại nông thôn/thành thị và trên cảnước Chuẩn nghèo TCTK-NHTG được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và trên diễn đànquốc tế để theo dõi biến động nghèo đói từ năm 1998
2.1.1.1 Tỷ lệ nghèo về lương thực thực phẩm :Là số tiền cần thiết để mua được một
số lương thực hàng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tối thiểu Đây là mức chuẩnnghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người/tháng
Bảng 1: Mức chuẩn nghèo về lương thực của Việt Nam giai đoạn 1994 – 2008
Trang 72004 163.000 124.000
(Nguồn: World Bank)
Như vậy các mức chuẩn nghèo thay đổi theo thời gian tuỳ thuộc vào tình hình pháttriển kinh tế của quốc gia theo từng giai đoạn
Bảng 2: Tỷ lệ nghèo về lương thực của Việt Nam giai đoạn 1993 – 2004
(Nguồn: Báo cáo phát triển Việt Nam, Điều tra mức sống hộ gia đình, TCTK, 2004)
Đối với tỷ lệ nghèo lương thực, ta thấy một diện mạo đói nghèo đối lập: tỷ lệ nghèolương thực toàn quốcnói chung ở mức thấp Nguyên nhân: do các chương trình về lươngthực thực phẩm và chính sách bảo đảm an ninh lương thực của chính phủ được thực hiệntốt Sản xuất nông nghiệp có những bước phát triển nhanh, tổng khối lượng lương thựcgia tăng dần và có sự tích luỹ theo từng năm cùng với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên đãđược hạn chế, khiến lượng lương thực bình quân đầu người tăng đều, kéo theo tỷ lệ nghèo
về lương thực giảm nhanh chóng
2.1.1.2 Tỷ lệ nghèo chung:Gồm cả nghèo về lương thực thực phẩm và nghèo về phi
Trang 8Cả nước 58,1 37,4 28,9 24,1 15,5 14,2 13,5 12,6
Nông thôn 66,4 45,5 35,6 21,2 18,0 16,1 17,4 15,9
(Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Ngân hàng Thế giới (2011))
Tỷ lệ nghèo chung của Việt Nam theo chuẩn quốc tế đã giảm mạnh trong hơn một
thập kỷ qua, từ 58% năm 1993 xuống 37,4% vào năm 1998; 28,9% năm 2002 và 24,1%năm 2004 Đến năm 2011 chỉ còn 12.6 %
Tỷ lệ nghèo chung tại khu vực nông thôn tuy giảm dần theo từng năm nhưng vẫncao hơn tỷ lệ nghèo tại khu vực thành thị, và cao hơn so với tỷ lệ nghèo chung của cảnước (trừ năm 2004).Năm 2002, tỷ lệ nghèo ở nông thôn cao gấp 5 lần thành thị - khoảngchênh lệch lớn nhất giữa 2 vùng Trong khi đó, năm 2006, con số này là 2,33 lần - khoảngchênh lệch nhỏ nhất giữa 2 vùng
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho thấytrong vòng 15 năm từ 1992 đến 2007, tỉ
lệ nghèo đói của Việt Nam đã giảm từ 60% xuống còn dưới 20% Tỉ lệ thu nhập thực sự
đã tăng lên 7,3%/năm trong vòng 10 năm từ 1997 đến 2007.Tình trạng nghèo đói ở ViệtNam xảy ra chủ yếu ở khu vực nông thôn và tiến độ xoá đói giảm nghèo cho các dân tộcthiểu số diễn ra còn rất chậm Các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 13% số dân nhưng chiếmđến 39% số người nghèo
Theo vùng:
Bảng 4: Tỷ lệ nghèo chung theo vùng của Việt Nam giai đoạn 1993 – 2011
(Đơn vị: %dân số)
1993 1998 2002 2004 2006 2008 2010 2011 Đồng bằng sông
Trung du và miền
núi phía Bắc 74,5 64,5 47,9 29,4 27,5 25,1 29,4 26,7
Trang 9Các khu vực có tỷ lệ nghèo thấp nhất cũng là những khu vực có các vùng kinh tếtrọng điểm, các nguồn lực chủ yếu được đầu tư vào phát triển công nghiệp và các ngànhcông nghiệp là mũi nhọn của kinh tế, đó là vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Châu thổSông Hồng.
2.1.2 Đánh giá dựa theo phương pháp tiếp cận của Chính phủ và Bộ Lao động,Thương binh vàXã hội
Bộ Lao động Thương binh Xã hội được Chính phủ chỉ định là cơ quan chịu tráchnhiệm chính về các chính sách và chương trình giảm nghèo của Việt Nam Bộ LĐ-TB-
XH có nhiệm vụ đề xuất các chuẩn nghèo chính thức cho khu vực nông thôn và thành thịvào đầu của mỗi Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm (KH PTKT-XH) và xác định
tỷ lệ nghèo của giai đoạn ban đầu Thông qua sử dụng các chuẩn nghèo chính thức, BộLĐ-TB-XH chịu trách nhiệm đánh giá những thay đổi về nghèo đói và cập nhật hàng nămdanh sách chính thức về các hộ nghèo, và sử dụng kết hợp phương thức "đi từ dưới lêntrên” gồm các cuộc khảo sát tại địa phương và các cuộc tham vấn tại làng xã để xác định
số người nghèo tại cấp địa phương (cấp xã) Các số liệu xác định về số người nghèo tạicấp địa phương này sau đó được tổng hợp lại để ước tính tỷ lệ nghèo cho cấp tỉnh và cấpquốc gia Tiến độ giảm nghèo được đánh giá dựa trên các mục tiêu giảm nghèo đề ratrong KH PTKT-XH Các chuẩn nghèo của Bộ LĐ-TB-XH ban đầu được quy đổi ra thóc,nhưng từ năm 2005 được tính theo phương pháp tiếp cận dựa vào Chi phí cho những Nhucầu Cơ bản (CBN) mà vốn tương tự với cách tiếp cận thứ hai (được nêu dưới đây) của
Trang 10Tổng cục Thống kê (TCTK) Các chuẩn nghèo chính thức không được điều chỉnh theomức lạm phát, nhưng được xác định lại giá trị thực năm năm một lần Bộ LĐ-TB-XH sửdụng cách thức tiếp cận này để xác định việc phân bổ ngân sách và đề ra điều kiện ápdụng cho các chương trình giảm nghèo mục tiêu (ví dụ như Chương trình Mục tiêu Quốcgia về Giảm Nghèo Bền vững/NTP-SPR, Chương trình 30a).
2.1.2.1 Giai đoạn 1990- 2000:
Bảng 5: Quy định mức chuẩn nghèo chính phủ giai đoạn 1990 - 2000
(Đơn vị: đồng/người/tháng)
(Nguồn: Justino and Litchfield, 2002)
Bảng 6: Bảng thống kê tỷ lệ người nghèo giai đoạn 1992 - 1998
Trang 11Tây nguyên Trung bộ 70,0 52,4 -25,1
(Nguồn: Justino and Litchfield, 2002)
Đây là thời kì bước đầu đổi mới nên chính sách nhà nước vẫn đạt hiệu quả kém: saukhi thống nhất đất nước việc áp dụng chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo côngthương nghiệp và chính sách tiền lương đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốmyếu của Việt Nam, làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nôngthôn cũng như thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700%/năm Vì vậy, tỉ lệ nghèogiai đoạn này vẫn còn rất cao.Tuy nhiên nước ta đã có nhiều chuyển biến tốt trong côngcuộc xóa đói giảm nghèo, giai đoạn 1997 - 1998 so với các năm trước, tỉ lệ nghèo tốithiểu trên 20% có nơi giảm tận trên 70% như Đông Nam Bộ
Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị lao động,không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính sách quản lý bằng hộkhấu đã dùng biện pháp hành chính đế ngăn cản nông dân di cư, nhập cư vào thành phố
Trang 12Dẫn đến tỉ lệ người nghèo khu vực nông thôn, hay các vùng như vùng núi phía bắc, tâynguyên còn rất cao.
Xét theo thành phần dân tộc, so với các dân tộc khác,các dân tộc thiểu số vẫnchiếm tỷ lệ nghèo đói cao nhất cả nước.Tốc độ giảm nghèo của các dân tộc này cũng rấtchậm Điều này được lý giải là do sự chênh lệch về trình độ sản xuất, tri thức và hạn chế
về không gian cư trú của các cộng đồng dân tộc thiểu số với người Kinh và người Hoa
Họ sống xa các trung tâm văn hoá – kinh tế - chính trị nên rất khó có điều kiện học hỏitiếp thu các tri thức kinh nghiệm đồng thời cơ sở hạ tầng và giao thông liên lạc thời điểmnày vẫn là rất khó khăn
2.1.2.2 Giai đoạn 2001 - 2005
Bảng 7: Quy định mức chuẩn nghèo chính phủ giai đoạn 2001 - 2005
(Đơn vị: đồng/người/tháng)
(Nguồn: Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27/9/2001)
Bảng 8: Bảng thống kê tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005
Trang 13Theo vùng
Cũng trong năm này,tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 13% (tương đương 2,4 triệuhộ), giảm gần 2% so với năm 2007, 1,7 triệu lao động được tạo việc làm, tỷ lệ thất nghiệpthành thị giảm còn dưới 5,1% Tuy nhiên, cả nước vẫn còn khoảng trên 50 huyện có tỷ lệ
hộ nghèo trên 50%, gần 30 huyện trên 60%, 10 huyện trên 70% và 1 huyện có trên 80%
số hộ nghèo
Theo chuẩn trên, đầu năm 2001, Việt Nam có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm tỉ
lệ 17,2% Tuy nhiên, theo nhận xét của một số chuyên gia quốc tế thì chuẩn về hộ nghèocủa nước ta thấp hơn so với tình hình thực tế, chỉ ngang bằng một số nước trong khu vực,thấp hơn Trung Quốc, Thái Lan…Chính phủ lựa chọn chuẩn nghèo thấp trong giai đoạnnày là nhằm tập trung nguồn lựccho đối tượng nghèo nhất nhằm giải quyết nhu cầu ăn vàmặc; còn về y tế, giáo dụcnhà nước có thể áp dụng chính sách trợ giúp
Tỉ lệ hộ nghèo khu vực thành thị và vùng Đông Nam bộ đã giảm xuống dưới mộtcon số Có sự gia tăng về tỉ lệ hộ nghèo giai đoạn 2002 2004 được lý giải một phần bởi sự
di cư dân từ nông thông sang thành thị ở giai đoạn này
Trang 15tế cuộc sống còn rất nhiều khó khăn Vì vậy, theo xu hướng hội nhập khu vực, từ năm
2006 chính phủ đã áp dụng chuẩn nghèo mới Chuẩn nghèo này tính trên cơ sở bảo đảmmỗi người có khả năng chi trả để tiêu thụ đủ 2100 kcal/ngày, đồng thời có tính đến nhucầu phi lương thực, thực phẩm (mặc, y tế, giáo dục, nhà ở, văn hóa, đi lại, giao tiếp xãhội) Ước tính nhu cầu phi lương thực, thực phẩm chiếm khoảng 40% tổng giá trị chi tiêu.Nhìn vào bảng trên ta có thấy, chuẩn nghèo ở nông thôn đã tăng lên200.000đ/người/tháng và ở thành thị cũng tăng lên từ 260.000đ/người/tháng Như vậy,nếu so sánh với giai đoạn 2001 – 2005 thì quy định chuẩn nghèo của giai đoạn 2006 –
2010 đã tăng lên khoảng 100.000đ/người/tháng
Theo Tổng cục Thống kê ước tính, đến đầu năm 2006, Việt Nam không còn tìnhtrạng nghèo cùng cực nữa Toàn quốc còn khoảng 4,6 triệu hộ nghèo (chiếm 26-27% tổng
số hộ trong cả nước), trong đó ở thành thị có 500.000 hộ (chiếm 12% số hộ ở thành thị)
và ở nông thôn có 4,1 triệu hộ (chiếm 31% số hộ)
Việc áp dụng chuẩn nghèo mới phù hợp với thu nhập và mức sống của dân cư nóichung và của nhóm hộ nghèo nhất nói riêng, đồng thời đã tính đến các yếu tố thu nhập,chi tiêu thực tế, tốc độ tăng trưởng và lạm phát
Tăng trưởng kinh tế cao và khá ổn định(GDP 2006-2007: 8,34%, 2008-2010:6,14%) là tiền đề quan trọng để nhà nước chi ngân sách cho các chương trình xã hội đặcbiệt là xóa đói giảm nghèo Nhìn tổng thể về tỉ lệ hộ nghèo, đã có sự giảm bớt so với giaiđoạn trước Tuy không có nhiều biến chuyển quá mạnh nhưng nhìn chung đã không cònvùng hay khu vực nào có tỉ lệ hộ nghèo rất cao
Theo quyết định số 07/2006/QD-TTg ngày 10/01/2006 của thủ tướng chính phủ phêduyệt chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dântộc và miên núi giai đoạn 2006-2010, nước ta căn bản đã giảm được hộ nghèo 1 cáchđáng kể
2.1.2.4 Giai đoạn 2011 – 2014
Bảng 11: Quy định mức chuẩn nghèo chính phủ giai đoạn 2011 - 2015
(Đơn vị: đồng/người/tháng)
Trang 16Khu vực Chuẩn nghèo
Trang 17Theo số liệu của Ban chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo cả nướcgiảm từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 12.6% (2011) và 11.1% (2012).
Năm 2012, trên cả nước, tỷ lệ số hộ nghèo cao nhất tập trung ở khu vực miền núiphía Bắc với trên 23.8%,Tây Nguyên Trung bộ 17.8% Khu vực Đông Nam Bộ chỉ cókhoảng 1,3% hộ nghèo
Theo kết quả điều tra rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2013 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, cả nước còn 1.797.889 hộ nghèo (7,8%), Tổng số hộ cận nghèo
-là 1.443.183 hộ (6.32%), giảm 0,25% so với năm 2012 (Nguồn: Chinhphu.vn)
2.2 Chỉ số đói nghèo tổng hợp HPI
Công thức tính HPI – 1(Human Poverty Index-1): áp dụng cho các nước đang pháttriển
Trong đó:
• là tỷ lệ không được sống (% những người thọ dưới 40 tuổi)
• là tỷ lệ không được đi học (% những người lớn khồn biết chữ)
• là tỷ lệ không có dự trữ kinh tế (% những người không được sử dụng nướcsạch và tỷ lệ trẻ em thiếu cân (tính trung bình cộng))
Bảng 13: Chỉ số HPI của Việt Namgiai đoạn 1997-2009
Xếp hạng theo
HPI
Chỉ số HPI – 1
Không thọ quá 40 tuổi (%)
Người mù chữ (từ 15 tuổi trở lên)
Không được sử dụng các nguồn nước sạch
Không được dùng các dịch vụ
y tế (%)
Trẻ em dưới
5 tuổi suy dinh dưỡn
g (%)
Số dân sống dưới ngưỡng nghèo (%)
Trang 18Năm Xếp
hạng
Xếp hạng
Giá trị (%)
$1/
ngày
Ngưỡng nghèo quốc gia