Văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng, luôn có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống con người cũng như trong bản sắc của mỗi dân tộc. Văn hóa không chỉ làm nên sự khác biệt, tính đặc thù của mỗi dân tộc mà qua đó làm cho đời sống nói chung thêm phong phú, đa dạng, giúp cho con người vun đắp lòng tự hào đối với bản sắc của dân tộc mình. Di sản văn hóa Việt Nam kết tinh trí tuệ, tình cảm, truyền thống của các thế hệ. Mặc dù phải trải qua biết bao biến cố của lịch sử, bị mất mát, hủy hoại bởi chiến tranh và điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, nhưng kho tàng di sản văn hóa ấy vẫn vô cùng phong phú và đa dạng, đang và sẽ là bệ đỡ tinh thần cho dân tộc vững vàng trong quá trình phát triển và hội nhập toàn diện với cộng đồng quốc tế. Di sản văn hóa rất dễ bị mai một và luôn tiềm ẩn nguy cơ biến mất nhanh chóng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay công cuộc đổi mới toàn diện, hội nhập sâu rộng với thế giới đã tác động sâu sắc đến di sản văn hóa dân tộc. Bởi vậy, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc trong sự phát triển toàn diện đất nước, làm cho di sản văn hóa tiếp tục tỏa sáng trong giao lưu, hội nhập là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Trang 1MỞ ĐẦU
Văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng, luôn có vị trí, vai trò quan trọngtrong đời sống con người cũng như trong bản sắc của mỗi dân tộc Văn hóa không chỉlàm nên sự khác biệt, tính đặc thù của mỗi dân tộc mà qua đó làm cho đời sống nóichung thêm phong phú, đa dạng, giúp cho con người vun đắp lòng tự hào đối với bảnsắc của dân tộc mình
Di sản văn hóa Việt Nam kết tinh trí tuệ, tình cảm, truyền thống của các thế hệ.Mặc dù phải trải qua biết bao biến cố của lịch sử, bị mất mát, hủy hoại bởi chiếntranh và điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, nhưng kho tàng di sản văn hóa ấy vẫn
vô cùng phong phú và đa dạng, đang và sẽ là bệ đỡ tinh thần cho dân tộc vững vàngtrong quá trình phát triển và hội nhập toàn diện với cộng đồng quốc tế
Di sản văn hóa rất dễ bị mai một và luôn tiềm ẩn nguy cơ biến mất nhanhchóng Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay công cuộc đổi mới toàn diện, hội nhập sâurộng với thế giới đã tác động sâu sắc đến di sản văn hóa dân tộc Bởi vậy, bảo tồn,phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc trong sự phát triển toàn diện đất nước, làmcho di sản văn hóa tiếp tục tỏa sáng trong giao lưu, hội nhập là nhiệm vụ quan trọng,
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Những thách thức đó đã được Đảng ta sớm nhận định, cụ thể nhất là Hội nghịlần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Đảng ta đã ra một nghị quyếtriêng về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dântộc, đồng thời đề ra 10 nhiệm vụ thực hiện, trong đó có nhiệm vụ bảo tồn, phát huy
và phát triển vǎn hóa các dân tộc thiểu số
Không nằm ngoài nhiệm vụ đó, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tự hào là địaphương đang lưu giữ một kho tàng lớn về di sản văn hóa với nhiều loại hình văn hóavật thể và phi vật thể, đặc biệt là ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số 19 dân tộcthiểu số từ khắp mọi miền đất nước đến đây hội tụ tạo nên sự phong phú, đa dạngtrong đời sống văn hóa vùng đất mới Sông Hinh
Sau gần 30 năm xây dựng và phát triển, huyện Sông Hinh đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng
Trang 2Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao Nhiều di sảnvăn hóa vật thể và phi vật thể được gìn giữ, phát huy Tuy vậy, cũng như các địaphương khác, những tác động mặt trái của cơ chế thị trường, sự bùng nổ của cácphương tiện thông tin nhất là Internet, vấn đề lợi dụng dân tộc và tôn giáo của các thếlực thù địch nhằm phá hoại nền văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số, nên đã nảysinh lối sống thực dụng, hướng ngoại, phủ nhận vănhoá dân tộc trong một bộ phậnngười đồng bào dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, những hạn chế kéo dài trong công tácbảo tồn, phát huy di sản văn hóa chưa được khắc phục triệt để, nhiều di sản văn hóacủa đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh đang có nguy cơ bị mai một, thấttruyền, hoặc biến dạng, pha tạp Các nghệ nhân hiểu biết về các loại hình văn hóangày càng ít, trong khi đó thế hệ trẻ thờ ơ, thiếu sự quan tâm với các hoạt động vănhóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc mình.
Những lý do trên đặt ra nhiệm vụ cấp thiết trong việc bảo tồn, phát huy di sảnvăn hoá các dân tộc thiểu số địa bàn huyện Sông Hinh Là một phóng viên của ĐàiTT-TH huyện, được giao phụ trách công tác tuyên truyền lĩnh vực văn hóa, tôi thấyrằng bảo tồn phát huy di sản văn hóa dân tộc thiểu số không những góp phần thựchiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị tại địa phương, mà còn có ý nghĩa đặc biệt quantrọng vào việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc, góp phần thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh” Vì vậy, tôi đã chọn chủ đề“Bảo tồn và phát huy di sản văn hóacác dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh, thực trạng và giải pháp” làm đề
tài tốt nghiệp khóa Trung cấp LLCT-HC K63 huyện Sông Hinh 2012-2014
Trang 3Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY
DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Theo quan điểm của UNESCO,văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể nhữngnét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xãhội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và vănchương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giátrị, những tập tục và tín ngưỡng
Theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh,“vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ các sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [1].
Trong cuốn giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam, nhà ngôn ngữ học Trần Ngọc
Thêm định nghĩa văn hoá: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”[2].
1.1.2 Khái niệm di sản văn hoá
Di sản văn hoá là toàn bộ những sản phẩm, những giá trị vật chất và tinh thầncủa dân tộc đã sáng tạo, để lại, lưu giữ và trao truyền nhiều thế hệ
Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác
định: “di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể,
là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[3].
1.1.3 Phân loại di sản văn hoá
Trang 4Theo quan niệm của UNESCO, di sản văn hóa bao gồm hai loại:
Di sản “văn hóa vật thể” được hiểu là những sản phẩm văn hóa có thể “sờ thấyđược” Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vậtthể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểudáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định Di sản văn hóa vật thể được tạotác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt Di sản văn hóa vậtthể luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động củacon người thời đại sau Di sản văn hóa vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạnghoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc
Di sản văn hóa phi vật thể là dạng thức tồn tại của văn hóa không phải chủ yếudưới dạng vật thể có hình khối trong không gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trínhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người và thông qua các hoạtđộng sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra Đặc trưng rõnhất của văn hóa phi vật thể là nó luôn tiềm ẩn trong tâm thức của một cộng đồng xãhội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động của con người Văn hóa phi vật thểđược lưu giữ trong thế giới tinh thần của con người và thông qua các hình thức diễnxướng, nó được bộc lộ sinh động trong tư cách một hiện tượng văn hóa
Cũng giống như di sản văn hóa vật thể, các hiện tượng văn hóa phi vật thểcũng có thể bị mai một, biến dạng, hoặc mất đi vĩnh viễn bởi thử thách của thời gian,bởi sự vô ý thức của con người Trên cơ sở đồng thuận với quan niệm của UNESCO,Luật Di sản văn hoá của Việt Nam phân loại di sản văn hóa như sau:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức
về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh,
Trang 5di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ( ) Giá trị đặc biệt quý hiếm của bảo vật quốc gia được thể hiện bằng các tiêu chí sau đây:
a) Hiện vật nguyên gốc, độc bản;
b) Hình thức độc đáo;
c) Có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện:
- Là vật chứng của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất.
- Là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng - nhân văn, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại;
- Là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định;
d) Được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận sau khi có ý kiến của thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia”[4].
Có thể nói, di sản văn hóa phi vật thể luôn sống trong tâm trí con người, đồnghành cùng con người, được con người nắm giữ các tri thức về nó để trình diễn các kỹnăng thực hành biểu hiện giá trị của nó Di sản văn hóa vật thể tồn tại trong tri giác,được nhận biết thông qua các giác quan của con người, trong sự thừa nhận của mộtcộng đồng xã hội kéo dài theo thời gian lịch sử xã hội
1.1.4 Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Trước hết là quan điểm bảo tồn di sản văn hóa Theo từ điển Tiếng Việt: “bảotồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sángtác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thứcvốn có của nó Bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóa hay biếnthái Đối tượng bảo tồn phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực đượcthừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi
Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”) là tiến hành điều tra sưu tầm,thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học
Trang 6nghiêm túc chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình(video), băng tiếng (audio), ảnh.v.v Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này
có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”): Tức là bảo tồn cáchiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ, cộng đồngkhông những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn lànơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong xã hộitheo thời gian Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng,nương náu trong tiếng nói, trong các hình thức diễn xướng, trong các nghi lễ, nghithức, quy ước dân gian
Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của con người màchúng ta thường mệnh danh họ là những nghệ nhân, do đó xã hội cần thừa nhận cáctài năng dân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để trong hoàncảnh có thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát huy được khả năng của họ trongquá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa ra đời Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã rất quantâm đến giữ gìn di sản văn hóa dân tộc Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đãlập tức ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam
Công cuộc đổi mới với những thay đổi sâu sắc nhất bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế,
ở đó, thay vì nền kinh tế quan liêu, bao cấp, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thựchiện phát triển nền kinh tế thị trường - nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, cónhiều thành phần tham gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để có những thay đổimang tính chất cách mạng trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và vănhóa, Đảng
và Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chủ trương, định hướng, luật, chính sách;những văn bản có tác động sâu sắc đến quá trình giữ gìn bảo vệ và phát triển của disản văn hóa
Trang 7Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâmđến việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Trong điều 30, Hiếnpháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định rõ rằng: “Nhà
nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân.
Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hóa phản động, đồitrụy; bài trừ mê tín, hủ tục”[5].
Tháng 11/1993, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII họp Hội nghị lầnthứ IV đã dành riêng một Nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ trongnhững năm trước mắt Trong sáu định hướng về công tác tư tưởng, có một địnhhướng lớn là phát triển văn hóa với hai nội dung cơ bản là phát huy bản sắc văn hóadân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Trong đó, bản sắc văn hóa dân tộc
được xác định "bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của các cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước"[6]; “Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc
tế, tiếp thu chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời, trong phong tục tập quán, lề thói cũ”[7]; “Di sản văn hóalà tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”[8]
Trên tinh thần Nghị quyết Trung ương V khóa VIII, hàng loạt các giải phápxây dựng và phát triển văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho người dân đã ra đời.Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998, của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ươngĐảng về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; Chỉ thị
số 14/1998/TC-TTg ngày 28/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện nếpsống văn minh trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ hội
Trang 8Ngày 19/01/1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 25/TTg về một sốchính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, trong đó xácđịnh việc phát triển văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt Nam là trách nhiệm, nghĩa vụcủa toàn dân, Nhà nước tạo điều kiện, xây dựng cơ sở hạ tầng và trang bị phương tiệncho việc phát triển văn hóa nghệ thuật mang bản sắc dân tộc Quyết định cũng chỉ racũng chính sách cụ thể như đầu tư cho việc sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn, bảo quản lâudài, phổ biến văn học dân gian, các điệu múa, các làn điện âm nhạc của các dân tộc,giữ gìn các nghề thủ công truyền thống, các loại nhạc dân tộc, đồng thời khen thưởngnhững người có công trong việc sưu tầm và bảo tồn giá trị văn hóadân tộc.
Tại văn bản số 4739/KG-TW ngày 26/8/1994, Thủ tướng Chính phủ đã chophép Bộ VHTT triển khai Chương trình Mục tiêu Quốc gia Đây là sự thể hiện một
sự đầu tư đúng hướng, trên cơ sở các định hướng chính sách đúng đắn của Đảng
và Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa
Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày14/6/2001, có hiệu lực từ ngày 01/01/2002 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ vàphát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam Với các điều khoản cụ thể, rõ ràng hơn sovới các văn bản dưới luật khác, phạm vi điều chỉnh của bộ luật trên giờ đây đã baogồm cả văn hóa phi vật thể và văn hóavật thể, quy định cụ thể việc kiểm kê, sưu tầmvốn văn hóa truyền thống của người Việt và các tộc người thiểu số; bảo tồn các làngnghề truyền thống, các tri thức về y, nghệ sĩ bậc thầy trong các ngành, nghề truyềnthống Luật Di sản văn hóa cũng có những quy định về quản lý bảo vệ và phát huygiá trị của các di sản văn hóa và trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp ngânsách cho hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa
1.3 Sự cần thiết phải bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong giai đoạn hiện nay
Từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.Sau hơn 25 năm đổi mới, Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩalịch sử Kinh tế tăng trưởng theo hướng đi lên, đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân được cải thiện một bước đáng kể
Trang 9Bối cảnh toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa quốc tế hiện nay đã tác động mạnh
mẽ đến vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Bên cạnh nhận thức của Đảng,Nhà nước và nhân dân đối với di sản văn hóa ngày một nâng lên, trân trọng di sảnvăn hóa là “tài sản vô giá” của dân tộc thì quá trình đổi mới toàn diện đất nước, pháttriển nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tác độngnhiều chiều đến vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Bên cạnh những tác độngtích cực, quá trình đổi mới toàn diện với mặt trái của kinh tế thị trường đang khiếnnhiều di sản đang dần bị mai một
Xu thế toàn cầu hoá hiện nay tạo không gian văn hoá ngày càng được mở rộng,
sự giao lưu giữa các quốc gia, dân tộc cũng không ngừng được tăng cường Các giátrị văn hoá của nhân loại được chuyển tải qua các phương tiện thông tin đã góp phầnđáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của nhân dân Tuy nhiên, mặt trái
đã tác động xấu tới văn hoá truyền thống Việt Nam với những biểu hiện như “đồngvăn hóa”, “xâm lăng văn hóa” làm phai mờ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu “diễn biến hòabình”, “bạo loạn lật đổ” với các chiêu bài tự do, tôn giáo, lợi dụng vùng dân tộc thiểu
số, vùng sâu vùng xa để lôi kéo, kích động, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc,
xa rời truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Văn hóa dân tộc hiển thị trong hệ thống di sản văn hóa, tiềm ẩn những giá trịtinh thần to lớn của dân tộc, có tác dụng hình thành phẩm chất, tư tưởng và tính cáchcủa con người, điều chỉnh hành vi xã hội của con người Bảo tồn và phát huy di sảnvăn hóa là phương thức có hiệu quả nhất để giữ gìn những giá trị văn hóa cổ truyềntrong sự nghiệp xây dựng kiến thiến đất nước, vững vàng trong giao lưu hội nhậpquốc tế, đồng thời sẽ tạo điều kiện thuận lợi, có tác dụng tích cực trong việc thực hiệnphát triển kinh tế, xã hội
Tóm lại, di sản văn hóa Việt Nam là kết tinh trí tuệ, tình cảm, truyền thống củacác thế hệ Di sản văn hóa với tư cách là nguồn lực quan trọng đóng góp trực tiếp vào
sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước Vì vậy di sản văn hóa cần đượcbảo tồn, kế thừa và phát huy một cách đúng đắn, khoa học, hợp lý
Trang 10Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÔNG HINH GIAI ĐOẠN 2009-2014
2.1 Đặc điểm kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh.
2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên, xã hội của huyện Sông Hinh.
Huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên được thành lập vào ngày 25/02/1985 với diệntích tự nhiên là 885km2 , là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam Tỉnh Phú Yên, cáctrung tâm tỉnh Phú Yên 60km Phía Bắc giáp huyện Sơn Hòa, phía Nam giáp huyệnNinh Hòa và huyện Vạn Ninh (tỉnh Khánh Hòa), phía Đông giáp huyện Krông Năng,huyện Mđrắc tỉnh Đăk Lăk
Dân số 52.118 người; gồm 10 xã, 01 thị trấn (thị trấn Hai Riêng, xã Ea Bia, EaTrol, Ea Bá, Ea Bar, Ea Lâm, Ea Ly, Đức Bình Đông, Đức Bình Tây, Sơn Giang và
xã Sông Hinh), với 83 thôn, buôn, khu phố; trong đó có 07 xã đặc biệt khó khăn; 11thôn, buôn đặc biệt khó khăn các xã khu vực I, II thuộc diện đầu tư của Chương trình
135 giai đoạn III
2.1.2 Đặc điểm, tình hình đồng bào các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn huyện Sông Hinh:
Đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh sống với nhau theo dòng họ,hình thành nên các buôn, làng và cũng có sự đan xen với người Kinh ở tất cả các xã,thị trấn Trước đây ở Sông Hinh chủ yếu là dân tộc Êđê, Ba Na và một ít người dântộc Chăm Hroi Từ năm 1993 đến nay, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước đi xây dựng vùng kinh tế mới nên đồng bào từ các tỉnh phía Bắc và từ đồngbằng đến Sông Hinh để lập nghiệp, đã hình thành nên cộng đồng các dân tộc ở huyệnSông Hinh rất đa dạng và phong phú Đến nay toàn huyện có 20 dân tộc, trong đó có
19 dân tộc thiểu số với dân số 21.274 người, chiếm 41,5% dân số toàn huyện Trongđó: Êđê 14.451 người chiếm 27,73%; Ba Na 1.119 người, chiếm 2,15%; Chăm Hroi
244 người, chiếm 0,49%; Gia Rai 53 người, chiếm 0,1%; Nùng 2.078 người, chiếm3,73%; Tày 2.002 người, chiếm 3,84%; Sán Dìu 46 người, chiếm 0,09%; người Hoa
Trang 1111 người, chiếm 0,01%; Dao 1.014 người, chiếm 1,95%; Mường 122 người, chiếm0,23%; Sán Chay 15 người, chiếm 0,01%; Thái 26 người, chiếm 0,04%; Xơ Đăng 11người, chiếm 0,01 %; Khơ me 17 người, chiếm 0,02%; Hê rê 13 người chiếm 0,01%;Chu Ru 1 người, chiếm 0,008%; Cơ Ho 2 người, chiếm tỷ lệ 0,009 %; Thổ 5 người,chiếm 0,01 %; Mông 44 người, chiếm tỷ lệ 0,1 % Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóariêng, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam tiên tiếnđậm đà bản sắc dân tộc.
Phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số gắn bó với nông nghiệp, nương rẫy.Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2014 đạt 14 triệu đồng/năm Tỷ lệ hộ nghèotoàn huyện 41,87%, tỷ lệ hộ cận nghèo: 17,38%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu
số chiếm 58,5%, tỷ lệ hộ cận nghèo dân tộc thiểu số chiếm 31,53% so với hộ nghèotoàn huyện
2.1.3 Kết quả thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Sông Hinh giai đoạn 2009-2014.
Thành tựu
Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước nên đời sống củađồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Phú Yên nói chung, huyện Sông Hinh nói riêng đã vàđang được thay đổi đáng kể trên các lĩnh vực của đời sống, xã hội; các dân tộc luônchung sức, chung lòng, tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước, tôn trọng,giúp đỡ nhau xây dựng quê hương giàu đẹp, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa
Về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân.
- Trên lĩnh vực nông, lâm nghiệp: đã hình thành được các vùng chuyên canhcây lương thực, các vùng trồng cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày có giá trị kinh tếcao, gắn với các nhà máy chế biến Đồng bào ứng dụng các tiến bộ khoa học – kỹthuật vào sản xuất, nên năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi tăng nhanh Tổngdiện tích gieo trồng năm 2013 là 21.861 ha, tăng 21,1%, so với năm 2009, trong đólúa nước là 3.509 ha, tăng 24,7% (diện tích do đồng bào dân tộc thiểu số sản xuấtchiến 75%); với năng suất ổng định 50 tạ/ha/vụ cao hơn năng suất lúa rẫy 4 lần, đã
Trang 12làm thay đổi tập quán canh tác, góp phần quan trọng đưa sản lượng lương thực hàngnăm đạt từ 18.500 tấn đến 20.573 tấn (năm 2013),bảo đảm an ninh lương thực tạichỗ.
Trong những năm gần đây với lợi thế về đất đai mầu mỡ, nhiều vùng cây côngnghiệp từng bước được quy hoạch và phát triển với các loại cây trồng như: cà phê,cây cao su; cây công nghiệp ngắn ngày như sắn, cây mía cung cấp nguyên liệu ổnđịnh cho các nhà máy hoạt động, hầu hết các loại cây trồng đều được thay thế giốngmới có năng suất, chất lượng cao; mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm chođời sống đồng bào ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn miều núi khôngngừng được khởi sắc
Tiếp tục quan tâm đầu tư phát triển chất lượng đàn bò, tính đến nay tổng đàn
bò của huyện là 20.000 con, trong đó tỷ lệ bò lai 27,88% tổng đàn Mục tiêu bảo vệ
và phát triển rừng đã nâng tỷ lệ độ che phủ rừng lên 42,55%, tăng 2,8% so năm 2009
- Kết quả thực hiện các chương trình, dự án: Trong giai đoạn 2009 – 2014:Tổng nguồn vốn đầu tư: 54.922 triệu đồng, qua đó, đường giao thông nông thôn, xóanhà tạm, sửa chửa, chỉnh trang nhà ở và phát triển sản xuất mạng lưới điện quốc gia;
hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung… đã được xây dựng và đưa vào sử dụng, hoạtđộng có hiệu quả, từng bước đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của nhân dân, góp phầnphát triển kinh tế - xã hội, làm cho bộ mặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số thay đổi rõnét Bên cạnh đó, thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ như: hỗ trợ tiền trực tiếp cho16.164 lượt hộ nghèo; hỗ trợ tiền cho học sinh nghèo: Tổng kinh phí thực hiện: 1.185triệu đồng; Hỗ trợ học sinh, sinh viên theo Nghị định 49/NĐ-CP, tổng kinh phí thựchiện: 8.082 triệu đồng cấp cho 21.570 lượt học sinh, sinh viên Cấp báo miễn phíphục vụ nhu cầu thông tin của đồng bào dân tộc Thông qua Phòng giao dịch Ngânhàng Chính sách xã hội huyện đã cho 16.235 lượt hộ vay vốn ưu đãi, tổng doanh sốcho vay 191.563 triệu đồng Đồng bào dân tộc thiểu số rất phấn khởi, tích cực, hănghái trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộcsống
Thực hiện Chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu sốtheo quyết định 18/2011/QĐ-TTg: Hiện toàn huyện có 52 người là những vị có uy
Trang 13tín, tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số trong đó: Người Dân tộc Ê đê có 35người, Dân tộc Ba Na có 05 người, Tày có 07 Người, Nùng có 02 Người, Dao 02người, Chăm 01 người Trong những năm qua Huyện đã thực hiện tốt chủ trương,quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người uy tín trong đồng bàodân tộc Các chế độ, chính sách đối với người có uy tín bước đầu đã đem lại nhữngkết quả nhất định, góp phần củng cố niềm tin của người có uy tín đối với Đảng, Nhànước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Phát triển văn hóa – xã hội.
+ Về giáo dục và đào tạo: Chất lượng giáo dục - đào tạo vùng dân tộc, miềnnúi ngày càng đi vào chiều sâu Trẻ em đến trường đúng độ tuổi Huyện được côngnhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở và 11/11 xã, thị trấn đạt chuẩnquốc gia về phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi Các trường phổ thông dân tộcnội trú, bán trú ở huyện tiếp tục phát huy vai trò đào tạo, bồi dưỡng con em đồng bàocác dân tộc thiểu số Hàng năm đã lựa chọn đưa hàng chục con em người dân tộcthiểu số đi học các lớp cử tuyển hệ Cao đẳng, Đại học và nhiều học sinh học tại cáctrường Trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề của tỉnh, để tạo nguồn cán bộ cho
12 bác sĩ là người đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó đã tạo điều kiện thuận lợi choviệc chăm sóc sức khỏe bước đầu cho nhân dân ngay tại cơ sở
- Về văn hóa, thông tin: đến nay 100% địa bàn dân cư được phủ sóng Đài phátthanh và truyền hình Các di sản văn hóa của đồng bào dân tộc được bảo tồn, phụcdựng Các cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, thôn buôn văn hóa và phongtrào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư trở thành phòng trào toàn dân vàtác động sâu sắc đến các hoạt động đời sống xã hội, đến nay, toàn huyện có 12.065
hộ gia đình văn hóa, 46/83 thôn, buôn, khu phố văn hóa và 48/83 thôn, buôn, khu phố
Trang 14có nhà sinh hoạt cộng đồng được xây dựng kiên cố Hệ thống thông tin liên lạc điệnthoại cố định và điện thoại di động đã phủ ở 11 xã, thị trấn đáp ứng nhu cầu của nhândân.
Về tôn giáo, tín ngưỡng, tổ chức hội đoàn.
Hiện nay trên địa bàn huyện có 03 tôn giáo chính đó là Phật giáo, Công giáo và
Tin lành; Tổng số 909 hộ, 4.094 khẩu, chiếm tỉ lệ 8,61% dân số toàn huyện Công tácquản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo được tăng cường, dần đi vào nềnnếp, tạo điều kiện thuận lợi để chức sắc, nhà tu hành và đồng bào tín đồ các tôn giáosinh hoạt, bầy tỏ niềm tin tôn giáo “sống tốt đời, đẹp đạo” và ngày càng tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dântộc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước
Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc.
Song song với đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, huyện tập trung chỉ đạo củng
cố, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trongtình hình mới Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia hội đồng nhân dân, ủy ban nhândân các cấp đạt 32,14% Hiện nay, hầu hết thôn, buôn và trường học trên địa bàn đều
có Chi bộ đảng Việc phát triển đảng viên, đoàn viên, hội viên, cán bộ thôn, buôn,khu phố tại địa phương được thực hiện khá tốt; tổng số đảng viên là người dân tộcthiểu số là 676 người, chiếm 34,21% so với tổng số đảng viên toàn huyện Nhìnchung đa số các đảng viên, đoàn viên, hội viên là người dân tộc đều gắn kết với cáchoạt động của ban ngành, đoàn thể và ý thức trách nhiệm trong mọi sinh hoạt, tổ chứcphân công
Công tác cán bộ đối với người dân tộc thiểu số được chú ý đúng mức, chọnnhững đảng viên có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực công tác để đảm nhận cácchức danh chủ chốt, như Bí thư hoặc Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch hoặc Phó chủ tịchhội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ở các xã, thị trấn; thường xuyên quan tâm côngtác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số Đến nay,đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đang công tác ở các cơ quan Đảng, nhà nước và cácđoàn thể từ huyện đến xã có 116/396 cán bộ, chiếm 29,29% Trong đó cán bộ có trình
độ cấp III có 116 đồng chí; về chuyên môn: đại học có 40 đồng chí, cao đẳng có 01
Trang 15và trung cấp chuyên môn, nghiệp vụ có 74 đồng chí, chưa qua đào tạo 01 đồng chí.
Lý luận chính trị: cao cấp 10 đồng chí, trung cấp 56 đồng chí và Sơ cấp 29 đồng chí;
có 83/83 thôn, buôn, khu phố có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị đạt tỷ lệ100%
Đảm bảo an ninh- quốc phòng.
Phối hợp chặt chẽ với Mặt trận và các Hội, Đoàn thể trong công tác tuyêntruyền, vận động các tầng lớp nhân dân nâng cao cảnh giác cách mạng, góp phần đấutranh làm thất bại âm mưu "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch; tiếp tụckiện toàn củng cố các tổ chức quần chúng làm công tác an ninh trật tự ở cơ sở Quantâm xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc;
tổ chức triển khai và thực hiện tốt Pháp lệnh Dân quân tự vệ, Pháp lệnh lực lượng dự
bị động viên
Hạn chế, khó khăn
Nhưng kết quả nêu trên là điều kiện thuận lợi, tác động tích cực đến công tácbảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tuynhiên, bên cạnh những thuận lợi, công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dântộc thiểu số huyện Sông Hinh vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đó là:
- Địa bàn rộng, đa sắc tộc, trong khi đó mặc dù đội ngũ cán bộ làm công tácvăn hóa nói chung, công tác bảo tồn nói riêng đã qua đào tạo nhưng thực tế vẫn cònhạn chế về năng lực
- Kinh phí đầu tư cho công tác bảo tồn di sản văn hóa hết sức hạn hẹp, chưa đápứng được nhu cầu kinh phí cho hoạt động Trong khi đó một bộ phận lớn người dân tộcthiểu số còn khó khăn về kinh tế, chưa có điều kiện bảo tồn, phát huy các di sản vănhóa của mình
- Nhận thức của một bộ phận không nhỏ người dân trong vùng đồng bào dân tộcthiểu số về di sản văn hóa và ý thức bảo vệ di sản đó còn thấp, chưa nhận thấy đượcgiá trị to lớn của di sản văn hóa đối với quá trình sinh tồn của con người vì thế ý thứcbảo vệ và giữ gìn chưa cao dẫn đến tình trạng mai một
- Các thế lực thù địch âm mưu lợi dụng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùngkhó khăn huyện Sông Hinh chống phá Đảng, Nhà nước, kích động gây mất trật tự địa
Trang 16phương, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở buôn làng, lôi kéo bà con buôn làng
xa dần bản sắc văn hóa tốt đẹp truyền thống của mình
Có thể khẳng định, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đồng bào các dân tộcthiểu số là một trong những vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
và coi đó là nội dung quan trọng thực hiện chính sách dân tộc Tăng cường công táclãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dântộc thiểu số ở Sông Hinh là góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đảng trong việcxây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
Huyện Sông Hinh có 19 dân tộc thiểu số cùng sinh sống, mỗi dân tộc có mộtsắc thái khác nhau, nhưng luôn hòa quyện tạo lên cộng đồng văn hóa đặc sắc củahuyện miền núi Sông Hinh Tuy nhiên, đời sống kinh tế- xã hội của đồng bào các dântộc thiểu số huyện Sông Hinh vẫn còn nhiều khó khăn, nhiều di sản văn hóa đang cónguy cơ mai một, khó phục hồi Vì vậy, nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và pháthuy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh là góp phần xây dựngnền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, đẩy lùi các hủ tục lạc hậu, mê tín dịđoan, củng cố tinh thần đoàn kết, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phầnthúc đẩy xã hội phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
2.2 Công tác bảo tồn di sản văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Sông Hinh giai đoạn 2009-2014.
2.2.1 Kết quả khảo sát di sản văn hóa các dân tộc thiểu số địa bàn huyện Sông Hinh hiện nay.
Văn hóa vật thể
- Di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh: 09 di tích.
+ Di tích lịch sử văn hóa có 02 di tích: Miếu Tuy Bình, Mộ Ông thuộcthôn An Hòa, xã Đức Bình Tây
+ Di tích lịch sử cách mạng có 01 di tích: Đồn Tuy Bình xã Đức BìnhTây
+ Di tích lịch sử chiến tranh có 01 di tích: Lô cốt ngụy quyền thuộc thônĐồng Phú, xã Đức Bình Tây
Trang 17+ Di tích khảo cổ có 03 di tích: Tiền cổ và phế tích Tháp Chàm thuộcthôn Hà Giang, xã Sơn Giang; Phát hiện mộ chum và các công cụ sản xuất củangười Nguyên Thủy ở khu vực buôn Suối Mây, thị trấn Hai Riêng.
+ Danh lam thắng cảnh có 04 hồ thủy điện: Hồ Thủy điện Sông Hinh,
hồ thủy điện Sông Ba Hạ, hồ thủy điện Krông Năng, hồ trung tâm Thị TrấnHai Riêng Ngoài ra, còn nhiều sông, suối, thác ghềnh có cảnh quan đẹp,hùng vĩ
- Cồng chinh: 555 bộ: Bộ 05 cái: 14 bộ ( thiếu 01 cồng); Bộ 06 cái : 350 bộ;
Bộ 08 cái : 183 bộ; Bộ 09 cái: 08 bộ; Trống: 07 cái; Chinh lớn (chinh sal): 51 cái;Cồng lớn ( Plao): 01 cái; Aráp : 12 bộ ( hư 01 bộ)- Ngoài ra còn có các vật dụngphục vụ sản xuất và sinh hoạt, các loại nhạc cụ dân gian
- Kiến trúc nhà ở: Bao gồm nhà truyền thống, nhà nửa truyền thống, nhà nửahiện đại (khoảng hơn 3.000 nhà, chủ yếu là nhà sàn dài của người Ê Đê, Ba Na, nhàsàn của người Dao, người Tày còn rất ít)
- Trang phục truyền thống các dân tộc, đồ dùng trong sinh hoạt, công cụ laođộng (đang mai một)
Văn hóa phi vật thể.
Có các loại hình văn hóa: Tín ngưỡng, Ngữ văn dân gian, Tập quán xã hội, Lễhội truyền thống, Tri thức dân gian, Nghề thủ công truyền thống, Nghệ thuật trìnhdiễn, với tổng cộng khoảng 60 di sản các loại Tuy nhiên hiện nay chỉ còn vài di sảntồn tại hoạt động thường xuyên như: cúng mừng tuổi, lễ bỏ mả, diễn tấu cồngchiêng ; một số di sản hoạt động nhưng hạn chế như: dệt thổ cẩm, đan lát, ủ rượuché, cúng về nhà mới, cúng mừng lúa mới Phần lớn còn lại đang đứng trước nguy
cơ mai một, thất truyền
- Nghệ nhân: Bao gồm các nghệ nhân đan lát, nghệ nhân làm nhà ở, nhà mồ,đẽo tượng, Kuts, Klao, nghệ nhân dệt vải, nghệ nhân kể sử thi… với khoảng 600người
2.2.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Sông Hinh giai đoạn 2009-2014.
Trang 18- Đã tiến hành đồng bộ thực hiện các cuộc khảo sát, thống kê về bảo tồn vănhóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn huyện.
- Tổ chức 01 lớp tập huấn về công tác điều tra, công tác quản lý di sản văn hóacho cán bộ làm công tác văn hóa và Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân phụ trách công tác
văn hóa ở 11/11 xã, thị trấn.
- Tổ chức 01 lớp truyền dạy đánh cồng chiêng, aráp từ các nghệ nhân cho cácthanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tổ chức được 5 lần liên hoan văn hóacồng chiêng tại huyện
- Tổ chức sưu tầm, bảo tồn, lưu giữ được một số di sản, cụ thể:
01 cây; Đinh guh: 01 cây; Đinh năm: 01 cây
+ Đồ dùng sinh hoạt của người Ê đê: 03 cái bầu đựng nước uống của người Êđê; 02 ché rượu cần;
+ Công cụ lao động: Trất sẩy gạo: 02 cái; Cối giã gạo: 01 cái; Gùi lớn: 01 cái;Gùi nhỏ: 01 cái; Nỏ: 01 cái
+ Trang phục (Ê Đê): Áo nữ: 01 chiếc; Váy: 01 chiếc; Mũ: 01 cái; Áo nam: 01chiếc; Quần nam: 01 chiếc
Về văn hóa phi vật thể
+ Phối hợp phục dựng lễ hội đâm trâu của người Ê đê M’dhur
+ Tổ chức liên hoan dân ca nhạc cụ dân tộc huyện Sông Hinh năm 2011
+ Đã thu âm 03 trường ca và 09 truyện cổ tích; được ghi thành 20 đĩa CD(chuẩn bị thành lập hội đồng nghiệm thu), gồm:
Trường ca: Ka Đăm Di chặt đọt mây; Sing Ngã lạc rừng; Ka Đăm Dang
tuốt lúa