1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng đại mỗ

73 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 345 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó nhiệm vụ đặt ra cho các doanh nghiệp là phải làm thế nào để huy động kịp thời vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất n

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu.

Vốn là yếu tố rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiền đề để các doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh Do đó nhiệm vụ đặt ra cho các doanh nghiệp là phải làm thế nào để huy động kịp thời vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp

Vốn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định

và vốn lưu động Trong đó vốn lưu động là loại vốn linh hoạt, được ví như dòng máu luôn vận động tuần hoàn nuôi sống doanh nghiệp bởi đặc điểm luôn vận động tuần hoàn liên tục gắn với chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy mà quản lý vốn lưu động được xem là một trong những công tác quản lý quan trọng hàng đầu trong quản lý tài chính doanh nghiệp Đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi nước ta trở thành thành viên của

tổ chức thương mại quốc tế WTO, hội nhập và phát triển cùng nền kinh tế khu vực và thế giới Điều này đồng nghĩa với việc sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhiều doanh nghiệp sử dụng vốn không có hiệu quả đã buộc phải giải thể hoặc phá sản Vì vậy để đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động thông qua các chính sách tín dụng, quản lý tiền mặt và dự trữ hành tồn kho

Trong thời gian thực tập ở công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ, em nhận thấy một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của công ty hiện nay là nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng vốn lưu động, cùng với xuất phát

từ thực tế tầm quan trọng của công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động của

Trang 2

các doanh nghiệp em chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ”

2 Mục tiêu nghiên cứu.

- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ

- Chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động tại công ty

- Đưa ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đề tài của em tập trung nghiên cứu chung về công tác tổ chức quản lý và

sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Thu thập số liệu: từ bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính, sổ cái một số tài khoản, tài liệu sách báo có liên quan…

- Phương pháp so sánh: xác định mức độ thay đổi, biến động ở mức tuyệt đối, tương đối cùng xu hướng của các chỉ tiêu phân tích

- Phương pháp mô tả: dùng các bảng biểu để mô tả chỉ tiêu cần thiết cho việc phân tích

5 Kết cấu luận văn.

Phần mở đầu

Phần nội dung: gồm 3 chương

- Chương 1: Lý luận chung về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

- Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ

Trang 3

- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và

sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ

Phần kết luận

Do trình độ lý luận còn hạn chế, thời gian thực tập có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo – tiến sĩ Vũ Văn Ninh, cùng tập thể cán bộ công nhân viên phòng tài chính kế toán, các phòng ban có liên quan của công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Hà Nội, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Nguyễn Văn Lâm

Trang 4

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Vốn lưu động và nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.1.1 Vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.1.1.1 Khái niệm vốn lưu động

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Khác với tư liệu lao động, các đối tượng lao động ( nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm

Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi

là các tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.Trong các doanh nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông

- Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại nguyên, nhiên, vật liệu; phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang… đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc sản xuất, chế biến

- Tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, các khoản phải thu, các khoản tạm ứng, đầu tư ngắn hạn chứng khoán…

Trong quá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu động sản xuất và các tài sản lưu động lưu thông luôn thay thế chỗ cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi

Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định

Do đó, để hình thành nên các tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một

Trang 5

số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó Số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

Như vậy, vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước để hình thành tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện được thường xuyên, liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh

1.1.1.2 Đặc điểm của vốn lưu động

Vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên vận động, chuyển hóa lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau

- Đối với doanh nghiệp sản xuất: vốn lưu động từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hóa, khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền

- Đối với doanh nghiệp thương mại: sự vận động của vốn lưu động nhanh hơn từ hình thái vốn bằng tiền chuyển sang hình thái hàng hóa

và cuối cùng chuyển về hình thái tiền

Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng, nên sự tuần hoàn của vốn lưu động cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại

có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động

Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi các đặc điểm của tài sản lưu động nên vốn lưu động của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:

- Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện

- Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh

Trang 6

- Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.

1.1.2 Phân loại vốn lưu động.

Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau Thông thường có những cách phân loại sau đây:

1.1.2.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện và tính thanh khoản

Theo cách phân loại này thì vốn lưu động có thể chia thành hai loại:

- Vốn về hàng tồn kho: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm…

- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn…

Cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý đánh giá được mức tồn kho

dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

1.1.2.2 Phân loại theo vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh

Theo cách phân loại này thì vốn lưu động của doanh nghiệp được chia thành ba loại:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản nguyên nhiên liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các chi phí chờ kết chuyển

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành phẩm; vốn bằng tiền ( kể cả vàng, bạc, đá quý…); các khoản đầu tư ngắn hạn ( đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…); các

Trang 7

khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán ( các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…)

Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bổ của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.Từ đó có biện pháp điều chỉnh vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất

1.1.3 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng tới kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.1.3.1 Kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp

Kết cấu vốn lưu động phản ánh thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp

Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng khác nhau Việc phân tích kết cấu vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp thấy được tình hình phân bổ vốn lưu động trong các khâu và tỷ trọng các khoản vốn trong các giai đoạn luân chuyển Từ đó các định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Mặt khác thông qua sự thay đổi về kết cấu vốn lưu động qua các thời

kỳ sẽ thấy được sự thay đổi trong phương hướng sản xuất của doanh nghiệp

và những biến đổi tích cực hay hạn chế về chất lượng công tác quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp

1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng tới kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp có nhiều loại, có thể chia làm ba nhóm chính:

- Các nhân tố về mặt sản xuất như: quy mô sản xuất, đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất của doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất

- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách của doanh nghiệp tới nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao

Trang 8

hàng và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư được cung cấp.

- Các nhân tố về mặt thanh toán như: phương thức thanh toán được lựa chọn theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành

kỷ luật thanh toán giữa các doanh nghiệp

1.1.4 Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.1.4.1 Dựa theo quan hệ sở hữu về vốn

Dựa theo quan hệ sở hữu về vốn thì vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn:

- Vốn chủ sở hữu: là phần vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối, định đoạt, bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và số vốn bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp

- Nợ phải trả: là số vốn doanh nghiệp có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian sử dụng nhất định

Để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, thông thường doanh nghiệp sẽ sử dụng phối hợp cả hai nguồn này Tùy vào đặc điểm ngành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà người quản lý sẽ lựa chọn một kết cấu nguồn vốn sao cho có hiệu quả nhất

1.1.4.2 Dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn

Theo tiêu thức này thì vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn:

- Nguồn vốn lưu động thường xuyên: đây là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình thành nên tài sản lưu động thường xuyên cần thiết trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay trung và dài hạn

Nguồn vốn lưu động thường xuyên = tài sản lưu động – tổng nợ ngắn hạn

Trang 9

- Nguồn vốn lưu động tạm thời: đây là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn dưới một năm, chủ yếu nhằm đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, các khoản nợ ngắn hạn khác.

1.1.5 Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.1.5.1 Nhu cầu vốn lưu động và các yếu tố ảnh hưởng

* Nhu cầu vốn lưu động:

Hoạt động của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên liện tục tạo thành chu

kỳ kinh doanh.Chu kỳ kinh doanh của một doanh nghiệp là khoảng thời gian trung bình cần thiết để thực hiện việc mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất ra sản phẩm và bán sản phẩm thu được tiền bán hàng Người ta chia chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp ra thành ba giai đoạn:

- Giai đoạn một: mua sắm và dự trữ vật tư

Ở giai đoạn này hoạt động của doanh nghiệp phát sinh luồng vật tư đi vào doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp trả tiền ngay sẽ phát sinh luồng tiền gắn liền

và ngược chiều với luồng vật tư đi vào Nếu doanh nghiệp thực hiện tín dụng của nhà cung ứng sẽ làm phát sinh khoản nợ phải trả nhà cung cấp

- Giai đoạn hai: sản xuất

Ở giai đoạn này vật tư được xuất dần ra để sử dụng và chuyển sang hình thái sản phẩm dở dang và thành phẩm Để thực hiện quá trình sản xuất doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn lưu động nhất định

- Giai đoạn ba: bán sản phẩm và thu tiền bán hàng

Nếu doanh nghiệp bán hàng và thu tiền ngay thì liền sau khi xuất giao hàng, doanh nghiệp nhận được tiền bán hàng và số vốn doanh nghiệp ứng ra

đã được thu hồi để tiếp tục được sử dụng vào chu kỳ kinh doanh tiếp theo Nếu doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng thì sản phẩm, hàng hóa đã được

Trang 10

xuất giao nhưng sau một thời gian nhất định doanh nghiệp mới thu được tiền,

từ đó hình thành khoản nợ phải thu từ khách hàng, khi đó doanh nghiệp đã cung cấp một khoản vốn cho người mua và chỉ khi nào thu được tiền mới thu hồi được số vốn ứng ra

Như vậy, trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp phát sinh nhu cầu vốn lưu động Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là thể hiện số vốn tiền tệ cần thiết doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho và khoản tiền cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng tín dụng của nhà cung cấp, có thể được xác định theo công thức sau:

Khoản phải thu từ khách hàng -

Khoản phải trả nhà cung cấp và các khoản nợ có tính chất chu kỳ

* Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là một đại lượng không cố định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó, cần chú ý đến một số yếu tố chủ yếu sau:

- Những yếu tố về đặc điểm, tính chất của ngành nghề kinh doanh như: chu kỳ kinh doanh, quy mô kinh doanh, tính chất thời vụ trong công việc kinh doanh, những thay đổi về kỹ thuật công nghệ sản xuất…Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến số vốn lưu động mà doanh nghiệp phải ứng ra và thời gian ứng vốn

- Những yếu tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm như: khoảng cách giữa doanh nghiệp với các nhà cung cấp vật tư hàng hóa, với thị

Trang 11

trường tiêu thụ; sự biến động về giá cả các loại vật tư, hàng hóa mà doanh nghiệp sử dụng; điều kiện và phương tiện vận tải…

- Chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, tín dụng và tổ chức thanh toán: chính sách về tiêu thụ sản phẩm và tín dụng của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến kỳ hạn thanh toán, quy mô các khoản phải thu Việc tổ chức tiêu thụ và thực hiện các thủ tục thanh toán và tổ chức thanh toán thu tiền bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

1.1.5.2 Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết của doanh nghiệp

Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp.Hiện nay có hai phương pháp chủ yếu: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp

a) Phương pháp trực tiếp:

- Nội dung: căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng vốn lưu động doanh nghiệp phải ứng ra để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên

- Trình tự thực hiện:

+ Xác định nhu cầu vốn lưu động dự trữ hàng tồn kho cần thiết: trên

cơ sở xác định nhu cầu vốn lưu động để dự trữ về nguyên vật liệu chính, vật

tư khác, sản phẩm dở dang, chi phí trả trước và thành phẩm, tổng hợp lại sẽ xác định được tổng mức dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp

+ Dự kiến các khoản phải thu:

Npt = Kpt x Sd

trong đó:

Npt: nợ phải thu dự kiến kỳ kế hoạch

Kpt: thời hạn trung bình cho khách hàng nợ

Trang 12

Sd: doanh thu bán hàng bình quân 1 ngày kỳ kế hoạch

+ Dự kiến các khoản phải trả:

Trên cơ sở tính toán nhu cầu vốn dự trữ hàng tồn kho, dự kiến khoản phải thu và khoản phải trả, có thể xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết năm kế hoạch của doanh nghiệp theo công thức đã nêu ở phần 1.1.5.1

b) Phương pháp gián tiếp:

Phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn Ở đây có thể chia làm hai trường hợp:

- Trường hợp thứ nhất: dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành để xác định nhu cầu vốn cho doanh nghiệp mình

Việc xác định nhu cầu vốn theo cách này là dựa vào hệ số vốn lưu động tính theo doanh thu được rút từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành.Trên cơ sở đó xem xét quy mô kinh doanh dự kiến theo doanh thu của doanh nghiệp mình để tính ra nhu cầu vốn lưu động cần thiết

Phương pháp này tương đối đơn giản, tuy nhiên mức độ chính xác bị hạn chế Nó thích hợp với việc xác định nhu cầu vốn lưu động khi thành lập doanh nghiệp với quy mô nhỏ

- Trường hợp thứ hai: dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở thời kỳ vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu chuẩn về vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo

Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành nhu cầu vốn lưu động gồm: hàng tồn kho, nợ phải thu từ khách hàng và nợ phải trả nhà cung cấp ( số nợ phải trả phát sinh có tính chất chu kỳ ) với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu

Nợ phải trả Kỳ Giá trị nguyên vật liệu hoặc hàng hoá nhà = trả tiền x mua vào bình quân một ngày trong cung cấp trung bình kỳ kế hoạch (loại mua chịu)

Trang 13

vốn lưu động tính theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này để xác định nhu cầu vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo.

1.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.

Hiệu quả là một khái niệm được đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau Theo cách chung nhất thì hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó Kết quả có thể đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau như: kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường… còn chi phí có thể là tiền vốn, nhân công, thời gian

Với các doanh nghiệp, hiệu quả thường được đánh giá ở góc độ kinh tế

Đó là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, là sự so sánh giữa doanh thu, lợi nhuận với chi phí hoặc số vốn lưu động đã bỏ ra để đạt được mức doanh thu, lợi nhuận đó.Nếu chi phí bỏ ra càng ít mà kết quả đạt được nhiều thì có nghĩa là đạt hiệu quả cao và ngược lại Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu là làm cho đồng vốn sinh lời tối đa

1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

* Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Việc sử dụng hợp lý vốn lưu động biểu hiện ở tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cao hay thấp

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể được đo bằng hai chỉ tiêu:

- Số lần luân chuyển vốn lưu động: phản ánh số vòng quay của vốn lưu động thực hiện trong một kỳ nhất định, thường là một năm

Công thức xác định:

Số lần luân chuyển VLĐ =

Trang 14

- Kỳ luân chuyển vốn lưu động: phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động.

Công thức xác định:

Kỳ luân chuyển VLĐ =

Số lần luân chuyển vốn lưu động càng cao thì kỳ luân chuyển vốn lưu động càng được rút ngắn và chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao

* Mức tiết kiệm vốn lưu động

Nhờ tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được một lượng vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong

kỳ này so với kỳ trước Số vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động được xác định qua công thức:

Vtk(+/–) = x ( K1 – K0 )

trong đó:

Vtk : Mức tiết kiệm vốn lưu động

M1 : Tổng mức luân chuyển kỳ kế hoạch

K1, K0 : Kỳ luân chuyển VLĐ kỳ kế hoạch và kỳ báo cáo

Trang 15

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế ( sau thuế ) Chỉ tiêu này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =

- Vòng quay các khoản phải thu: phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp.Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy tốc

độ thu hồi các khoản phải thu càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn

và ngược lại

Công thức xác định:

Số vòng quay các khoản phải thu =

- Kỳ thu tiền trung bình: chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để thu các khoản phải thu.Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền càng nhỏ và ngược lại

Công thức xác định:

Kỳ thu tiền trung bình =

Trang 16

1.2.2 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng hợp những cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật về tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý doanh nghiệp nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển Chất lượng sản xuất cao sẽ thu được nhiều lãi, hoàn vốn nhanh

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm vốn, giảm được một số lượng vốn lưu động nhất định

mà vẫn đảm bảo được khối lượng sản xuất kinh doanh như cũ Doanh nghiệp

có thể mở rộng quy mô kinh doanh, tăng doanh thu mà không phải tăng vốn lưu động Hoặc doanh nghiệp có thể phải tăng vốn lưu động nhưng tốc độ tăng vốn lưu động nhỏ hơn tốc độ tăng doanh thu Như vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động có ý nghĩa trong việc góp phần làm giảm chi phí lưu thông, chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Sử dụng hiệu quả vốn lưu động sẽ mang lại hiệu quả kinh tế không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho toàn xã hội Doanh nghiệp có đủ điều kiện trang trải chi phí, hạ giá thành sản phẩm, thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ sản phẩm

sẽ tạo được chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế và hoàn thành nghĩa vụ đóng góp cho Ngân sách Nhà nước

1.3 Phương hướng, biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.3.1 Những nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.

Việc tổ chức và sử dụng vốn để sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau Để phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế những nhân tố tiêu cực thì các nhà quản trị phải nắm bắt được

Trang 17

các nhân tố tác động đó Các nhân tố này có thể chia thành hai nhóm chủ yếu sau:

• Những nhân tố khách quan:

- Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp: mỗi ngành nghề kinh doanh khác nhau có những đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật khác nhau, do đó có ảnh hưởng tới quy mô và cơ cấu vốn lưu động trong tổng vốn kinh doanh, từ đó ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp

- Cơ chế quản lý và các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước: nếu các chính sách của nhà nước tạo cho doanh nghiệp một môi trường đầu tư thuận lợi và ổn định thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển và hiệu quả kinh doanh sẽ cao

- Sự biến động của nền kinh tế: do ảnh hưởng của lạm phát và suy thoái kinh tế, sức mua của đồng tiền bị giảm sút, cùng với sự tăng giá của các loại vật tư hàng hóa Vì vậy vốn đầu tư của doanh nghiệp có thể bị mất dần do tốc

độ trượt giá của đồng tiền

- Những rủi ro bất thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh như: xuất hiện thêm đối thủ cạnh tranh, thị trường tiêu thụ không ổn định, thị hiếu tiêu dùng thay đổi… Ngoài ra doanh nghiệp còn gặp phải những rủi ro do thiên tai gây ra như: lũ lụt,hỏa hoạn…mà doanh nghiệp khó có thể lường trước được

- Sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ: nếu doanh nghiệp bắt kịp những tiến bộ khoa học công nghệ, đầu tư ứng dụng trong sản xuất, trong quản lý kịp thời sẽ nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn

• Những nhân tố chủ quan:

Đây là những nhân tố có tính chất quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn cũng như vốn lưu động trong doanh nghiệp

Trang 18

- Do xác định nhu cầu vốn lưu động thiếu chính xác, dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh Từ đó ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.Nếu thiếu vốn sẽ gây gián đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh, còn thừa vốn sẽ gây ứ đọng vốn, do đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

- Do cơ cấu đầu tư không hợp lý: điều này sẽ dẫn tới tình trạng ở một số

bộ phận thì thừa vốn không phát huy hết tác dụng, trong khi đó ở một số khâu lại thiếu vốn, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động

- Do lựa chọn phương án đầu tư không phù hợp với đặc điểm tình hình của doanh nghiệp

- Do sử dụng vốn lưu động lãng phí, nhất là trong quá trình mua sắm Việc mua các loại vật tư không phù hợp với quy trình sản xuất, không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, trong quá trình sử dụng lại không tận dụng hết phế phẩm, phế liệu… cũng có tác động đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động

- Do trình độ quản lý của doanh nghiệp còn yếu kém, hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ kéo dài làm vốn lưu động bị thâm hụt dần dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động giảm

1.3.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.

Nhằm cung ứng đầy đủ kịp thời vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, các doanh nghiệp cần thực hiện một số giải pháp sau:

- Một là: Xác định một cách hợp lý nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó lập kế hoạch tổ chức huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn lưu động, không để xảy ra tình trạng thiếu vốn dẫn đến tình trạng gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải đi vay ngoài gấp với mức lãi suất cao làm tăng giá thành, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu thừa vốn, doanh nghiệp cần có biện pháp xử lý linh

Trang 19

hoạt như: đầu tư mở rộng kinh doanh hoặc cho vay nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn, tránh tình trạng để vốn" chết", không sinh lời.

- Hai là: Quản trị tốt vốn bằng tiền Doanh nghiệp cần quản lý tốt vốn bằng tiền để có thể chủ động mua sắm vật tư hàng hoá, chi trả chi phí cho hoạt động bình thường và đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp Từ đó, doanh nghiệp có thể nắm bắt được những cơ hội đầu tư tốt, cũng như ứng phó với những rủi ro bất thường Để làm được điều đó, nhất thiết các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình kế hoạch tài chính nhằm đáp ứng kịp thời khả năng thanh toán tại mọi thời điểm

- Ba là: Quản lý tốt các hoạt động thanh toán.Với tư cách là khách hàng, doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác thanh toán những khoản nợ để đảm bảo uy tín cho doanh nghiệp Với tư cách là chủ nợ, doanh nghiệp phải đưa ra các chính sách tín dụng, lập kế hoạch và kiểm soát các khoản nợ phải thu Để kiểm soát các khoản này cần phân loại và theo dõi số dư nợ của từng nhóm khách hàng, đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn Doanh nghiệp cần chủ động phòng ngừa rủi ro bằng việc mua bảo hiểm và lập quỹ dự phòng tài chính

- Bốn là: Quản lý tốt về vốn tồn kho dự trữ Thực hiện dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý, tránh tình trạng gián đoạn sản xuất, tình trạng thiếu sản phẩm hàng hoá để đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng thời sử dụng hợp lý, tiết kiệm vốn lưu động, giảm tới mức tối đa vốn lưu động trong khâu dự trữ.Doanh nghiệp cần lựa chọn một mô hình quản lý hàng tồn kho phù hợp với đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh của mình Ngoài ra doanh nghiệp có thể lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, mua bảo hiểm hàng hóa để phòng ngừa rủi ro

- Năm là: Áp dụng đồng bộ các biện pháp để rút ngắn chu kỳ sản xuất như: cải tiến máy móc thiết bị phù hợp với điều kiện kinh doanh, giảm thời gian chờ đợi giữa các quy trình công nghệ sản xuất, giảm thời gian ngừng việc do các nguyên nhân khác nhau, tìm biện pháp rút ngắn thời gian sản xuất đồng thời tổ chức tốt quá trình lao động, thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm góp

Trang 20

phần vào việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong từng khâu lưu thông.

- Sáu là: Tăng cường phát huy chức năng giám đốc tài chính trong việc sử dụng vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng ở tất cả các khâu từ

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ XÂY DỰNG ĐẠI MỖ

2.1 Khái quát chung về công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.

Tên công ty: Công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ

Trang 21

Tên giao dịch: DAI MO CONSTRUCTION MACHINERY JOINT STOCK COMPANY.

Tên viết tắt: COMA6

Địa chỉ: Xã Tây Mỗ - Huyện Từ Liêm – Thành phố Hà Nội

ĐT: 84.4 3834 9985 / Fax: 84.4 3839 0169

Email: contact@coma6.com.vn

Website: coma6.com.vn

Công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ được bộ xây dựng thành lập năm

1966 lấy tên là nhà máy kiến trúc xây dựng Đại Mỗ thuộc liên hiệp các xí nghiệp cơ khí và xây dựng – Bộ xây dựng

Là doanh nghiệp nhà nước được bộ xây dựng quyết định thành lập theo quyết định số 167A/BXD – TCLD ngày 05 tháng 05 năm 1993 quy định chức năng , nhiệm vụ, cơ cấu và tổ chức , được lập lại trên cơ sở sắp xếp lại và được đổi tên theo quyết định số 405/BXD – TCLD ngày 10 tháng 04 năm

1996 của bộ xây dựng lấy tên là công ty cơ khí xây dựng Đại Mỗ trực thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng – Bộ xây dựng Thực hiện chủ trương chung của thủ tướng chính phủ về việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước , hiện nay công ty cơ khí xây dựng Đại Mỗ đã chính thức chuyển thành công ty

cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ theo quyết định số 1764/QD – BXD ngày 15 tháng 09 năm 2005 của Bộ xây dựng

Trong hơn 40 năm xây dựng , trưởng thành và phát triển , từ năm 1997 đến nay công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ - COMA6 ( Doanh nghiệp nhà nước hạng 1 – Bộ xây dựng xếp loại ) được các đối tác bạn hàng tín nhiệm ,

uy tín của công ty trên thị trường xây dựng và lĩnh vực gia công chế tạo lắp đặt các cấu kiện thép cho công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp ngày càng được nâng cao

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ kinh doanh.

Trang 22

Công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ là một doanh nghiệp nhà nước, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ vể tài chính và chịu sự quản lý của Tổng công ty cơ khí xây dựng như một đơn vị thành viên.

Các ngành nghề kinh doanh của công ty là:

- Sản xuất, kinh doanh thiết bị máy móc cho ngành xây dựng, vật liệu xây dựng và công trình đô thị

- Chế tạo, lắp đặt kết cấu kim loại, cấu kiện bê tông đúc sẵn

- Lắp đặt máy móc thiết bị cơ, điện, nước vệ sinh công nghiệp và công trình đô thị

- Tư vấn, lập dự án, thi công xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật

đô thị, công nghiệp, dân dụng giao thông thủy lợi bến cảng

- Các công trình đường dây điện, trạm biến áp điện ( không bao gồm dịch vụ thiết kế công trình )

- Nhận gia công chế tạo, lắp dựng, mạ nhúng kẽm, sơn tĩnh điện các sản phẩm cơ khí, các lọai cột điện, cột vi ba

- Kinh doanh và phát triển nhà và hạ tầng kỹ thuật đô thị

- Sản xuất chế tạo lắp đặt máy móc thiết bị và các sản phẩm cơ khí

- Xây dựng dân dụng và công nghiệp

- Kinh doanh bất động sản

Trang 23

2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

* Chính sách quản lý kinh tế, kỹ thuật, tài chính áp dụng

Hệ thống quản lý tại công ty áp dụng theo mô hình tổ chức trực tuyến – chức năng Đây là mô hình tổ chức có hiệu quả cao và được áp dụng rộng rãi Theo mô hình này, những người lãnh đạo sẽ nhận được sự giúp đỡ của các phòng ban chức năng để chuẩn bị các quyết định, đồng thời hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quyết định

Môi trường kinh doanh luôn luôn biến đổi, tạo ra nhiều thách thức mới cùng với những cơ hội cho sự phát triển Vì vậy với một công ty nói chung và công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ nói riêng thì chiến lược kinh doanh

là rất quan trọng Chiến lược kinh doanh của công ty là tiếp thu, chuyển giao khoa học kỹ thuật hiện đại trong nước và trên thế giới; tìm kiếm mở rộng thị trường bằng cách hạ thấp chi phí giảm giá thành sản phẩm tăng sức cạnh tranh trên thị trường; đồng thời công ty cũng chú trọng vào công tác quản lý

và đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ, công nhân viên, cố gắng phát huy khả năng sáng tạo và làm chủ của công nhân đặc biệt trong điều kiện công ty vừa mới cổ phần hoá được ít lâu

Năng lực tài chính vững mạnh cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển vững mạnh của công ty, vì vậy công ty luôn cố gắng tự chủ

về tài chính Do vậy, khi tham gia các công trình, dự án công ty có thể ứng trước một phần vốn để chế tạo, xây dựng nhằm đảm bảo các yêu cầu về tiến

độ, chất lượng cũng như các yêu cầu kỹ thuật theo thiết kế của chủ đầu tư Cùng với Tổng công ty Cơ khí xây dựng và các thành viên khác trong Tổng công ty, Công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ đã thực hiện hệ thống chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001: 2000, được BVQI cấp chứng chỉ ngày 4 tháng 6 năm 2004 Để đạt được và phát huy thành công đã đạt được là sự cố gắng lớn của cán bộ công nhân viên tại công

Trang 24

ty Bên cạnh đó là chính sách khuyến khích lao động sản xuất, thưởng phạt phân minh.

* Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm

Công nghệ sản xuất các sản phẩm được mô tả khái quát theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm

Nhiệm vụ cụ thể của mỗi giai đoạn công nghệ:

 Tiếp nhận dự án sản xuất: Có ba hình thức tiếp nhận dự án sản xuất là:

Dự án sản xuất

Các tổ sản xuất (Tổ tiện, tổ phay, tổ sơn, tổ vận chuyển, tổ vệ sinh,

tổ lắp ráp,…

Kiểm tra sản phẩm

Tổng Công ty

Phòng kỹ thuật

Khách hàng (Chủ

dự án)

nghiệp

Hoàn thiện sản phẩm

Trang 25

-Tổng Công ty Cơ khí xây dựng (COMA) sẽ nhận các dự án sau đó đưa xuống cho công ty sau đó công ty lại đưa xuống các xí nghiệp.

-Công ty tiếp nhận các dự án từ khách hàng sau đó đưa xuống cho các xí nghiệp sản xuất

-Các xí nghiệp tự nhận các dự án sản xuất sản phẩm thông qua các cuộc đấu thầu

 Thiết kế công trình: Bộ phận kỹ thuật của các xí nghiệp kết hợp với nhân viên kỹ thuật của phòng kỹ thuật của công ty sẽ chịu trách nhiệm thiết

kế các bộ phận của sản phẩm như: kết cấu thép của các cột, cấu trúc của giàn giáo, cấu trúc các bậc thang… Dựa trên định mức nguyên vật liệu theo quy định, bộ phận kỹ thuật xây dựng nhu cầu cần vật tư để sử dụng

 Giai đoạn sản xuất: Sau khi bộ phận kỹ thuật thiết kế các kết cấu thép dưới dạng các bản vẽ kỹ thuật, các tổ sản xuất sẽ tiến hành gia công

-Thép ống, tôn, sắt tròn các cỡ được đưa vào tổ tạo phôi để cưa và cắt theo kích thước của bản vẽ

- Tổ vận chuyển vận chuyển phôi sang tổ tiện phay để tiện răng kích tăng

và phay cung các đầu ống

- Các chi tiết còn lại được vận chuyển về tổ nguội, tổ hàn, các tổ cơ khí, tổ sơn để sơn, …

-Cuối cùng là lắp ráp thành sản phẩm

 Kiểm tra sản phẩm: Bộ phận kỹ thuật của xí nghiệp kết hợp với nhân viên kỹ thuật của phòng kỹ thuật sẽ thường xuyên theo dõi quá trình tiến hành sản xuất của công nhân Kiểm tra chất lượng công việc theo các công đoạn ở các tổ theo thiết kế, định mức nguyên vật liệu

 Hoàn thiện sản phẩm: kết hợp với những yêu cầu của khách hàng ( chủ

dự án), nhân viên kỹ thuật sẽ kiểm tra và chỉ đạo công nhân hoàn thiện sản phẩm Sản phẩm sau khi kiểm tra, đánh giá đạt yêu cầu theo thiết kế sẽ được bàn giao cho khách hàng hoặc các chủ dự án

Trang 26

2.1.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế toán của công ty.

• Bộ máy quản lý: cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty có thể khái

quát theo sơ đồ sau ( sơ đồ 2 ):

Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận:

- Đại hội đồng cổ đông: Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được

quyền chào bán của từng loại; Quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại

cổ phần; Bầu, miễm nhiệm, bãi nhiệm thành viên hội đồng quản trị và thành viên ban kiểm soát; Thông qua báo cáo tài chính hàng năm và các quyền và nhiệm vụ khác theo luật định

- Hội đồng quản trị: Quyết định chiến lược phát triển của Công ty; Kiến

nghị loại cổ phần và số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; Quyết định phương án đầu tư; Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; …

Mặc khác Hội đồng quản trị bầu ra chủ tịch hội đồng quản trị Tại Công

ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ thì chủ tịch hội đồng quản trị đồng thời là Tổng giám đốc, có nhiệm vụ là lập chương trình, kế hoạch hoạt động của hội đồng quản trị, chuẩn bị chương trình các nội dung, tài liệu phục vụ cho cuộc họp hội đồng quản trị

- Ban kiểm soát:Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành

hoạt động kinh doanh,trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính; kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động khi xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị, theo yêu cầu của cổ đông, nhóm cổ đông; Báo cáo Đại hội đồng cổ đông về tính chính xác, trung thực, hợp pháp của việc ghi chép, lưu giữ chứng từ và lập sổ kế toán, báo cáo tài chính, các báo cáo khác của Công ty

- Ban giám đốc gồm: 1 Tổng giám đốc và 2 Phó tổng giám đốc.

Trang 27

+ Tổng giám đốc: Là người điều hành mọi hoạt động hàng ngày của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.

+ Phó tổng giám đốc kinh doanh: Chịu trách nhiệm cho hoạt động kinh doanh, dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm, hợp tác liên doanh, liên kết sản xuất với các đơn vị bạn

+ Phó tổng giám đốc kỹ thuật: Phụ trách công tác kỹ thuật, công nghệ, chỉ đạo công tác quản lý thiết bị, thiết kế chế tạo sản phẩm

- Khối văn phòng gồm: 4 phòng ban với 40 nhân viên.

+ Phòng kinh doanh: lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trung hạn và dài hạn; ký kết các hợp đồng kinh tế; Lập hồ sơ dự thầu các công trình; Quản

lý, bảo quản xuất, nhập vật tư, dụng cụ, phụ tùng, thành phẩm, bán thành phẩm, theo đúng chế độ quy định

+ Phòng Kỹ thuật và quản lý dự án: tính toán thiết kế sản phẩm; Giám sát về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình sản xuất; Kiểm tra chất lượng sản phẩm, công trình trước khi xuất xưởng…

+ Phòng tài chính, kế toán: xây dựng kế hoạch tài chính tháng, quý, năm; Đề xuất các biện pháp điều hành vốn, trích lập các quỹ; Thực hiện chế

độ tài chính kế toán, thống kê theo đúng chế độ quy định; Thanh toán lương cho CBCNV hàng tháng; Tổ chức xét duyệt quyết toán quý, năm

+ Phòng Tổ chức - Hành chính: Quản lý tổ chức nhân sự lao động, tiền lương; Lập kế hoạch bố trí lao động, đề bạt cán bộ, tuyển dụng lao động

- Bộ phận sản xuất: gồm 300 công nhân trực tiếp sản xuất, 4 quản đốc xí

nghiệp và 4 xí nghiệp sản xuất

Trang 28

Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ.

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC SẢN XUẤT

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC KINH DOANH

HỘI ĐỒNG QUẢN

TRỊ

BAN KIỂM SOÁT

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

XN LẮP MÁY ĐIỆN NƯỚC & XÂY DỰNG

XN CHẾ TẠO THIẾT

BỊ VÀ GIA CÔNG

CƠ KHÍ

XN KẾT CẤU THÉP

PHÒNG TÀI CHÍNH KẾTOÁN

PHÒNG KINH DOANH

PHÒNG KỸ THUẬT &

QLDA

TỔNG GIÁM ĐỐC

Trang 29

• Bộ máy kế toán:

Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình kế toán tập trung, hay còn gọi là mô hình kế toán một cấp Theo hình thức này sẽ chỉ có một phòng kế toán trung tâm, tất cả công việc kế toán như thu thập, phân loại và kiểm tra chứng từ, định khoản kế toán, ghi sổ tổng hợp chi tiết, tính giá thành, lập báo cáo, thông tin kinh tế đều được thực hiện tập trung ở phòng kế toán Các bộ phận trực thuộc chỉ tổ chức ghi chép ban đầu và một số ghi chép trung gian cần thiết phục vụ cho lãnh đạo của đơn vị Phòng kế toán của công ty phải thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ thu nhận, ghi sổ, xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo phân tích và tổng hợp của các bộ phận

Mô hình tổ chức kế toán của công ty được tổ chức theo sơ đồ sau đây:

Sơ đồ 3: Sơ đồ bộ máy kế toán của công ty

Kế toán tàisản

Thủ quỹ

Kếtoán tiêu thụ

và lập BCTC

Kếtoán tiền lương

Kế toántập hợp

CP vàtính giá thành

Kế toán vật tư

Phó phòng ( kế toán tổng hợp)

Trang 30

Nhiệm vụ của từng kế toán viên:

- Kế toán trưởng - kế toán giá thành: Chịu trách nhiệm chung về tổ chức

và điều hành mọi công việc trong phòng và những công việc chung có tính chất toàn công ty, theo dõi và chỉ đạo trực tiếp bộ phận thanh toán tiền mặt và tiền quỹ ngân hàng, xem xét những vấn đề về chế độ kế toán tài chính, báo cáo quyết toán, xây dựng kế hoạch tài chính, là tham mưu cho tổng giám đốc

về các vấn đề liên quan đến tài chính

- Phó phòng - kế toán tổng hợp: Chịu trách nhiệm trực tiếp về nghiệp vụ, tổng hợp ghi sổ cái, lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và làm các công việc báo cáo tài chính theo đúng chế độ tài chính của nhà nước

- Kế toán ngân hàng: Mở sổ theo dõi, kiểm tra đối chiếu các khoản tiền

về, tiền gửi vào Ngân hàng Theo dõi các khế ước tại các ngân hàng, hạch toán các khoản lãi và chi phí tiền gửi và tiền vay

- Kế toán tài sản cố định: Theo dõi, hạch toán chi tiết và tổng hợp sự biến động về TCSĐ, khấu hao TSCĐ, sửa chữa TSCĐ

- Kế toán tiền lương: Theo dõi tình hình thanh toán các khoản tiền lương, tiền thưởng, tiền công, BHXH, BHYT cho CBCNV hàng tháng

- Kế toán vật tư: Hạch toán chi phí, tổng hợp nhập - xuất - tồn nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, hạch toán chi phí hàng mua, bán, chi phí quản lý xí nghiệp và các khoản tạm ứng, công nợ

- Kế toán chi phí và tính giá thành: Tập hợp các loại chi phí và tính giá thành các công trình hoàn thành đồng thời chịu trách nhiệm hạch toán kế toán xây dựng cơ bản trong nội bộ công ty và các công trình thi công lắp đặt

- Thủ quỹ: Chịu trách nhiệm về chi, thu tiền mặt, báo báo tồn quỹ hàng ngày và nộp vào ngân hàng; đồng thời kiêm luôn phần kế toán thuế như tính các khoản thuế, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước

Trang 31

2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm gần đây.

Trong những năm gần đây, hoạt động trong nền kinh tế thị trường với những chính sách mở cửa của nhà nước, công ty cơ khí xây dựng Đại Mỗ đã gặp phải rất nhiều khó khăn cũng như sự cạnh tranh gay gắt, khốc liệt và những tác động từ bên ngoài Những thành tựu mà công ty đạt được trong những năm qua là sự nỗ lực cố gắng của toàn thể cán bộ công nhân viên của công ty Kết quả đó được thể hiện trong bảng 1

Qua bảng 1 ta thấy: hoạt động kinh doanh của công ty đã có nhiều thay đổi tích cực: vốn kinh doanh tăng lên chứng tỏ quy mô sản xuất kinh doanh của công ty đã được mở rộng, doanh thu, lợi nhuận sau thuế và các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời như ROA, ROE, hệ số lãi ròng đều tăng lên, đặc biệt là

tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu ( ROE ) tăng khá cao Vòng quay tổng vốn

là khá thấp, tuy có dấu hiệu tăng lên nhưng mức tăng ko nhiều, điều này một phần cũng là do đặc điểm của ngành xây dựng có chu kì sản xuất dài nên vòng quay vốn thấp Như vậy có thể thấy tình hình sản xuất kinh doanh của công ty đang tiến triển tốt, đạt được những kết quả khả quan, hiệu quả sử dụng vốn dần được nâng cao

Hệ số nợ của công ty khá cao, có sự biến động nhưng vẫn xoay quanh mức trên 60% Điều này cho thấy mức độ tự chủ về tài chính của công ty là thấp, công ty phụ thuộc tài chính đối với bên ngoài và các rủi ro tài chính tiềm ẩn

có thể ảnh hưởng đến công ty tại bất cứ thời điểm nào Tuy nhiên, với hệ số

nợ lớn như vậy mà ROE của công ty lại tăng lên khá cao cho thấy công ty đang sử dụng đòn bẩy tài chính có hiệu quả, lợi nhuận của công ty được gia tăng

Thu nhập bình quân người lao động tăng lên, mức thu nhập bình quân năm

2011 là 3.200.000 đồng/người/tháng, đảm bảo cho người lao động có cuộc

Trang 32

sống ổn định, đời sống ngày càng được cải thiện, khích lệ tinh thần làm việc của họ, tạo động lực phát triển chung toàn công ty.

Trang 33

2.2 Tình hình tổ chức và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ.

2.2.1 Thuận lợi và khó khăn của công ty trong những năm gần đây.

* Thuận lợi:

- Hơn 40 năm hoạt động, công ty đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đã cung cấp nhiều sản phẩm có chất lượng cao, có uy tín và được bạn hành tin cậy Công ty đã xây dựng được cho mình những mối quan hệ tốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thương hiệu của công ty đã và đang có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước

- Nội bộ công ty vững mạnh, có sự đoàn kết nhất trí vì sự nghiệp phát triển của công ty Công ty có một đội ngũ nhân viên quản lý có chuyên môn cao, lực lượng lao động lành nghề, năng động

- Công ty là đơn vị trực thuộc bộ xây dựng vì vậy công ty luôn được sự quan tâm chỉ đạo tận tình từ phía bộ, cũng như sự giúp đỡ từ các công ty thành viên thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng

- Hiện nay nhà nước đang có những chính sách khuyến khích đầu tư đã giúp cho công ty có điều kiện triển khai được nhiều dự án đầu tư Mặt khác do chủ chương khuyến khích đầu tư của chính phủ và việc cải tiến thủ tục vay vốn đã tạo điều kiện cho công ty trong việc huy động vốn

* Khó khăn:

- Khó khăn lớn nhất của công ty chính là khó khăn về vốn sản xuất kinh doanh Hiện nay nhu cầu vốn của công ty rất lớn mà vốn tự có lại không nhiều, công ty phải tài trợ phần lớn từ các khoản nợ ngắn hạn, từ đó làm tăng rủi ro của công ty, giảm hiệu quả sử dụng vốn của công ty

- Do hoạt động trong cơ chế thị trường nên công ty phải đối mặt với sự cạnh tranh gây gắt của nhiều doanh nghiệp khác trong ngành cơ khí xây dựng

Trang 34

Bên cạnh đó công ty sản xuất chủ yếu theo đơn đặt hàng nên quy mô sản xuất còn chưa ổn định, năng suất lao động chưa cao.

- Quá trình quyết toán hợp đồng còn kéo dài, số vốn bị chiếm dụng nhiều, vòng quay vốn chậm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của công ty

2.2.2 Nguồn vốn kinh doanh và vốn lưu động của công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ.

2.2.2.1 Vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh của công ty Trước khi xem xét tình hình sử dụng vốn lưu động của công ty ta cần xem xét kết cấu vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh của công ty

Từ đó thấy được tỷ trọng của từng loại vốn trong tổng vốn và sự biến động của chúng để thấy được chính sách tài trợ của công ty

* Cơ cấu tài sản của công ty:

Nhìn vào cơ cấu tài sản của công ty ( Bảng 2 ) ta thấy:

Tổng tài sản của công ty tính đến cuối năm 2011 là 63.781.256 nghìn đồng tăng 23.135.340 nghìn đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 56,92% so với đầu năm Đây là một tỷ lệ tăng không nhỏ cho thấy trong năm công ty đã đẩy mạnh đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh Trong đó tài sản lưu động

là 50.399.345 nghìn đồng, tăng 103,09% so với đầu năm và chiếm tỷ trọng cao: 79,02% trong tổng tài sản; tài sản dài hạn là 13.381.911 nghìn đồng, giảm 15,46% so với đầu năm và chiếm tỷ trọng là 20,98% trong tổng tài sản

Tỷ trọng giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn chênh lệch nhau khá lớn, khoảng cách chênh lệch tăng dần về cuối năm 2011, trong đó tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản của công ty Điều này có thể giải thích là

do đặc điểm của ngành xây dựng là thời gian thi công kéo dài, sản phẩm của công ty được sử dụng trong suốt thời gian thi công của công trình và chỉ được thanh toán khi công trình hoàn thành, do vậy công ty phải đầu tư nhiều vào tài sản ngắn hạn tồn tại dưới dạng các khoản phải thu và hàng tồn kho

Trang 35

Với cơ cấu tài sản như trên công ty có thể đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tài sản ngắn hạn đáp ứng đủ cho nhu cầu kinh doanh, tài sản dài hạn nếu được đầu tư hợp lý, trang bị khoa học kỹ thuật tiên tiến đảm bảo cho việc thiết kế, chế tạo các sản phẩm cơ khí một cách thuận lợi sẽ làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng phát triển.

* Cơ cấu nguồn vốn của công ty:

Cùng với việc tìm hiểu cơ cấu tài sản để thấy được tình hình tổ chức và sử dụng vốn kinh doanh ta cần tìm hiểu thêm về cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ( Bảng 3 ) Qua bảng 3 ta thấy: Nguồn vốn chủ sở hữu cuối năm 2011 là 20.211.816 nghìn đồng, chiếm tỷ trọng 31,69% trong tổng nguồn vốn Trong khi đó nợ phải trả là 43.569.440 nghìn đồng, chiếm tỷ trọng 68,31% trong tổng nguồn vốn So với đầu năm, vốn chủ sở hữu tăng 3.051.373 ngìn đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 17,78%, tuy nhiên về mặt tỷ trọng trong tổng nguồn vốn thì vốn chủ sở hữu đã giảm 10,53% so với đầu năm ( đầu năm là 42,22%, cuối năm là 31,69% ) Nguyên nhân của sự giảm tỷ trọng của vốn chủ sở hữu là do trong năm 2011 nhu cầu tăng vốn cho sản xuất kinh doanh của công ty là rất lớn trong khi vốn chủ sở hữu không đáp ứng được nên công ty phải đi vay và chiếm dụng vốn của các

tổ chức khác Chính vì vậy mà nợ phải trả của công ty cuối năm 2011 đã tăng 20.083.967 nghìn đồng, tương ứng với tỉ lệ tăng là 85,5% so với đầu năm Tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu nhỏ hơn nhiều so với tốc độ tăng của nợ phải trả Điều này đã dẫn tới hệ số nợ của công ty ngày càng tăng ( hệ số nợ đầu năm 2011 là 0,5778 và đến cuối năm là 0,6831 ), cho thấy rủi ro tài chính

và sự phụ thuộc về mặt tài chính đối với bên ngoài của công ty tăng dần về cuối năm Công ty đang sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức độ khá cao, điều này giúp cho công ty tiết kiệm được một khoản thuế, giảm chi phí sử dụng

Trang 36

vốn và là nhân tố thúc đẩy quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công

ty Đặc biệt nếu công ty sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả cao thì với mức

độ sử dụng đòn bẩy tài chính ở công ty sẽ làm khuyếch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu ( ROE )

Trong nợ phải trả thì chiếm phần lớn là nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn cuối năm 2011 là 43.485.075 nghìn đồng, tăng 20.352.607 nghìn đồng ( tăng 87,98% ) so với đầu năm, trong khi nợ dài hạn cuối năm chỉ là 84.365 nghìn đồng, giảm 268.640 nghìn đồng ( giảm 76,1% )

Tóm lại, nguồn vốn kinh doanh của công ty chủ yếu được hình thành từ nguồn vốn nợ phải trả ( khoảng 68% ), trong đó chủ yếu là nợ ngắn hạn Ngược lại vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ và tỷ trọng này lại giảm về cuối năm Điều này cho thấy công ty đang thiếu vốn sản xuất kinh doanh Đây là khó khăn của công ty trong quá trình phát triển nhưng cũng là động lực thúc đẩy công ty phải nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.2.2.2.2 Thực tế xác định nhu cầu vốn lưu động của công ty năm 2011

Công ty tiến hành xác định nhu cầu vốn lưu động năm 2011 theo phương pháp gián tiếp Công ty đã dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động năm 2010 để xác định nhu cầu vốn lưu động cho năm 2011 Cụ thể là:

- Trong năm 2010, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty là 55.412.326 nghìn đồng Theo kế hoạch dự tính trong năm 2011, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng 25% Như vậy doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ dự kiến năm 2011 của công ty là: 55.412.326 x 1,25 = 69.265.407 nghìn đồng

- Trong năm 2010, vòng quay vốn lưu động của công ty là 1,77 vòng/năm

Do đặc điểm riêng của ngành xây dựng thường có thời gian thi công dài nên vòng quay vốn lưu động thường là thấp, căn cứ vào vòng quay vốn lưu động của công ty các năm trước và năm 2010, công ty đã đặt mục tiêu vòng quay vốn lưu động năm 2011 cũng đạt như năm 2010 là 1,77 vòng/năm

Ngày đăng: 16/04/2016, 23:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm. - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng đại mỗ
Sơ đồ 1 Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm (Trang 24)
Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ. - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng đại mỗ
Sơ đồ 2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty cổ phần cơ khí xây dựng Đại Mỗ (Trang 28)
Sơ đồ 3: Sơ đồ bộ máy kế toán của công ty. - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng đại mỗ
Sơ đồ 3 Sơ đồ bộ máy kế toán của công ty (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w