1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một vài suy nghĩ về phương pháp dạy thơ hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ Văn THCS

33 1,2K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 278 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay việc dạy văn chương nói chung và dạy thơ hiện đại Việt nam nói riêng chưa thực sự lôi cuốn được học sinh. Nhiều giờ học còn nhàm chán vì lối dạy học máy móc, học sinh chưa thực sự chủ động, tích cực khám phá tri thức, đôi khi trở lại thói quen dạy thơ theo kiểu thầy giảng, trò nghe và ghi chép thụ động. Nhiều khi giáo viên còn chưa chủ động tổ chức cho học sinh học tập sáng tạo vì không định hướng được nội dung khai thác, khả năng cảm thụ thơ của một số giáo viên còn hạn chế vì thơ luôn hàm súc, cô đọng nên khó khám phá triệt để những tình cảm sâu kín của tác giả. Giáo viên vẫn còn thói quen nói nhiều, chưa xác định rõ những gì các em cần mà còn ham giảng hết những điều mình biết nên bài học chưa có trọng tâm, chính bởi vậy học sinh chưa được tham gia tìm hiểu tác phẩm một cách thấu đáo và chưa kích thích tư duy học tập của các em.Vì vậy, để giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm thơ Việt Nam hiện đại đạt kết quả tốt, đồng thời để rèn luyện kĩ năng đọc và phân tích tác phẩm thơ hiện đại cho học sinh, giúp các em hiểu kĩ, hiểu sâu hơn về đời sống của đất nước, con người Việt Nam với những phong cách khác nhau của nhiều tác giả nên tôi chọn đề tài “Một vài suy nghĩ về phương pháp dạy thơ hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở.”

Trang 1

phòng giáo dục và đào tạo vĩnh tờng

Trờng trung học cơ sở Thổ Tang

BÁO CÁO CHUYấN ĐỀ

Tờn chuyờn đề:

Một vài suy nghĩ về phương phỏp dạy thơ hiện đại Việt Nam trong chương trỡnh Ngữ Văn THCS

Mụn: Ngữ Văn

Tổ bộ mụn: Khoa học xó hội

Người thực hiện: Nguyễn Thị Lan Hương.

Trang 2

A PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ………

1 Lí do chọn đề tài………

1.1 Cơ sở lí luận………

1.2 Cơ sở thực tiễn………

2 Mục đích nghiên cứu………

3 Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu………

3.1 Đối tượng nghiên cứu………

3.2 Phạm vi nghiên cứu………

3.3 Thời gian nghiên cứu………

4 Phương pháp nghiên cứu………

PHẦN II: NỘI DUNG………

1 Đặc trưng của thơ ………

2 Một số yếu tố hình thức nghệ thuật cần chú ý khi phân tích thơ…

2.1 Nhịp thơ………

2.2.Vần thơ………

2.3 Từ ngữ, hình ảnh và các biện pháp tu từ………

2.4 Không gian và thời gian trong thơ ………

3 Đặc trưng của thơ hiện đại Việt Nam………

4 Thực trạng của việc dạy - học thơ trong nhà trường THCS ………

4.1.Thực trạng………

4.2 Nguyên nhân………

4.2.1 Về phụ huynh học sinh………

4.2.2 Về phía giáo viên………

4.2.3 Về phía học sinh………

5 Một số phương pháp dạy tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam………

5.1 Phương pháp đọc………

5.2 Phương pháp gợi tìm ………

5.3 Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề ……… …

5.4 Phương pháp bình giảng ……… …

4 4 4 4 5 5 5 5 5 5 6 6 6 6 8 9 11 12 14 14 14 14 14 15 15 16 18 19 21

Trang 3

5.5 Phương pháp nghiên cứu……….

5.6 Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học………

6 Kết quả thực hiện………

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……….

1.Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

2 Kiến nghị

2.1.Đối với các cơ quan chức năng

2.2.Đối với giáo viên

2.3 Đối với phụ huynh học sinh

Tài liệu tham khảo

22 23 25 26 26 27 27 28 28 29

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Cơ sở lí luận

Trang 4

Xã hội ngày càng phát triển, con người ở mỗi quốc gia có sự hội nhập với thếgiới ngày càng cao Thực tế ấy đòi hỏi phải có sự đổi mới về giáo dục - đào tạonhằm đáp ứng những yêu cầu của thời đại Ngữ văn là một môn học quan trọngtrong nhà trường vì học văn là học làm người Qua mỗi giờ học văn các emđược bồi đắp dần những tình cảm cao đẹp, nhận ra những giá trị chân chính củacuộc sống, có lối sống lành mạnh và biết cư xử nhân văn hơn Hơn nữa, học văngiúp các em được rèn các kĩ năng nghe, đọc, nói, viết Tiếng Việt thành thạo Từ

đó vận dụng để học tốt hơn những môn học khác, giúp các em biết tư duy vàgiao tiếp dễ dàng hơn

Hiện nay, môn Ngữ Văn có nhiều đổi mới trong cách tìm hiểu tác phẩm Thơ

ca nói chung và thơ hiện đại Việt Nam nói riêng là một bộ phận nằm trong mônNgữ văn nên cũng cần có sự đổi mới về phương pháp dạy học để phù hợp vớinhững thay đổi chung của bộ môn

Thơ hiện đại Việt Nam từ 1945 đến nay có những đặc thù riêng nên khi giảngdạy phải có những phương pháp phù hợp nhằm giúp các em tiếp nhận nội dungbài học hiệu quả nhất và đạt được mục đích giáo dục đã đặt ra

1.2.Cơ sở thực tiễn.

Hiện nay việc dạy văn chương nói chung và dạy thơ hiện đại Việt nam nóiriêng chưa thực sự lôi cuốn được học sinh Nhiều giờ học còn nhàm chán vì lốidạy học máy móc, học sinh chưa thực sự chủ động, tích cực khám phá tri thức,đôi khi trở lại thói quen dạy thơ theo kiểu thầy giảng, trò nghe và ghi chép thụđộng Nhiều khi giáo viên còn chưa chủ động tổ chức cho học sinh học tập sángtạo vì không định hướng được nội dung khai thác, khả năng cảm thụ thơ của một

số giáo viên còn hạn chế vì thơ luôn hàm súc, cô đọng nên khó khám phá triệt đểnhững tình cảm sâu kín của tác giả

Giáo viên vẫn còn thói quen nói nhiều, chưa xác định rõ những gì các emcần mà còn ham giảng hết những điều mình biết nên bài học chưa có trọng tâm,

Trang 5

chính bởi vậy học sinh chưa được tham gia tìm hiểu tác phẩm một cách thấu đáo

và chưa kích thích tư duy học tập của các em

Vì vậy, để giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm thơ Việt Nam hiện đạiđạt kết quả tốt, đồng thời để rèn luyện kĩ năng đọc và phân tích tác phẩm thơhiện đại cho học sinh, giúp các em hiểu kĩ, hiểu sâu hơn về đời sống của đấtnước, con người Việt Nam với những phong cách khác nhau của nhiều tác giả

nên tôi chọn đề tài “Một vài suy nghĩ về phương pháp dạy thơ hiện đại Việt

Nam trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở.”

2 Mục đích nghiên cứu.

Thông qua đề tài góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ dạy Ngữvăn, giúp học sinh có lòng say mê và yêu thích môn học hơn, đồng thời giúpgiáo viên có một số nhận thức đúng đắn khi giảng dạy về thơ hiện đại Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu.

- Học sinh Trường THCS Thổ Tang – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc

- Nghiên cứu một số phương pháp giảng dạy thơ hiện đại Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu.

- Chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn THCS

- Phương pháp dạy học Ngữ Văn là một vấn đề lớn, trong bài viết chỉ dừng lại ởmột vài suy nghĩ về phần thơ hiện đại Việt Nam

3.3 Thời gian nghiên cứu:

Chuyên đề được thực hiện trong năm học 2014- 2015; 2015- 2016

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 6

Nhà thơ Sóng Hồng viết: “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại mộtcách cao đẹp Thơ không chỉ nói lên tình cảm riêng của nhà thơ mà nhiều khithông qua tình cảm đó nói lên niềm hi vọng của cả nhân dân, những ước mơ củanhân dân, vẽ lên những nhịp đập của trái tim quần chúng và xu thế chung củalịch sử loài người…”

Thơ là một hình thái nghệ thuật đặc biệt Hệ thống cảm xúc, tâm trạng vàcách thể hiện tình cảm, cảm xúc được xem như là đặc trưng nổi bật của thơ trữtình Trong các tác phẩm thuộc các thể loại như văn xuôi tự sự, kịch…cũng cócảm xúc, tâm trạng, nhưng cách thể hiện rất khác so với thơ trữ tình Cảm xúccủa các tác giả trong các thể loại văn học kể trên là thứ cảm xúc được bộc lộgián tiếp thông qua hệ thống hình tượng nhân vật, các sự kiện xã hội và diễnbiến của câu chuyện Trái lại trong thơ trữ tình, tác giả bộc lộ trực tiếp cảm xúccủa mình

Đọc tác phẩm thơ trước hết chúng ta tiếp xúc với những hình thức thể hiện

cụ thể của ngôn từ nghệ thuật Đó là những dấu câu và cách ngắt nhịp, là vầnđiệu, âm hưởng và nhạc tính, là từ ngữ và hình ảnh, là các biện pháp tu từ…Phân tích, cảm thụ thơ không được thoát li văn bản mà phải bám sát các hìnhthức biểu hiện trên của ngôn từ nghệ thuật, chỉ ra vai trò và ý nghĩa tác dụng củachúng trong việc thể hiện nội dung

2 Một số yếu tố hình thức nghệ thuật cần chú ý khi phân tích thơ

2.1 Nhịp thơ

Nhịp điệu có vai trò ý nghĩa đặc biệt quan trọng với thơ trữ tình Nó giúp nhàthơ nâng cao khả năng biểu cảm cảm xúc Phân tích thơ trữ tình không thểkhông chú ý phân tích nhịp điệu Để xác định được nhịp điệu của từng bài thơ,ngoài việc đọc từng câu thơ cho ngân vang âm điệu và làm bừng sáng hình ảnhthơ, việc nắm được đặc điểm chung về nhịp điệu của từng thể loại cũng là điềurất cần thiết Thường thường nhịp điệu của thơ lục bát uyển chuyển mềm mại,thanh thoát, nhịp của thơ tự do hiện đại, phóng khoáng, phong phú Trong thơtrữ tình cùng với dấu câu thì cách ngắt nhịp cần được xem là một từ đa nghĩa,

Trang 7

một từ đặc biệt trong vốn ngụn ngữ chung của nhõn loại Chỳng ta đều biết rằngtrong những tỡnh huống giao tiếp thụng thường của cuộc sống, im lặng lắm khilại núi được nhiều: Khi căm thự tột đỉnh, lỳc xao xuyến bõng khuõng, khi cụ đơnbuồn bó, lỳc xỳc động dõng trào Những cung bậc tỡnh cảm này nhiều khi khụngthể mụ tả được bằng chữ nghĩa Sự ngắt nhịp là một trong những phương tiệnhữu hiệu để thể hiện “sự im lặng khụng lời”, tạo nờn “ý tại ngụn ngoại”, tớnhhàm nghĩa và gợi ra những điều mà từ khụng núi hết Tõm trạng nhà thơ chiphối trực tiếp cỏch tổ chức, vận hành nhịp điệu của bài thơ Với bài thơ “Mùaxuân nho nhỏ” của Thanh Hải thì không chỉ hay về ý mà còn hay về nhạc điệu.Câu thơ năm tiếng xen kẽ nhịp 2/3,3/2 linh hoạt Không đều đều 3/2 nh hátgiặm, cũng không đều đặn 2/3 nh thơ ngũ ngôn cổ điển mà tạo nhịp điệu tơi vui:

Mọc giữa dòng sông xanh

Một bông hoa tím biếc

Ơi !con chim chiền chiệnHót chi mà vang trờiTừng giọt long lanh rơiTôi đa tay tôi hứng

Bài thơ có nhịp đi hành khúc, là hành khúc của mùa xuân, của cuộc đờingời nghệ sĩ cách mạng muốn hòa nhập vào mùa xuân bất tận của đất nớc Đoạnthơ đẹp nh bức tranh Có sắc xuân, tình xuân và có cả khúc nhạc mùa xuân Códòng sông, có hoa cỏ, có bầu trời, có chim hót và có con ngời - nhân vật trungtâm của bức tranh Bức tranh xuân vừa đẹp, vui, vừa thơ mộng và đầy sức sống…

Túm lại, khi tiếp xỳc tỏc phẩm thơ cần lưu ý đến dấu cõu và cỏch ngắtnhịp của tỏc giả cú gỡ đặc biệt Làm như thế, trước hết là để đọc cho đỳng, chodiễn cảm và sau đú hóy phõn tớch, chỉ ra ý nghĩa tỏc dụng của hỡnh thức ấy trongviệc biểu hiện nội dung

2.2 Vần thơ

Tiếng Việt rất giàu nhạc tớnh Hệ thống vần điệu và thanh điệu là nhữngyếu tố cơ bản tạo nờn nhạc tớnh của tiếng việt núi chung và ngụn từ văn học núiriờng, nhất là thơ Vần hiểu một cỏch đơn giản là một õm khụng cú thanh điệu

do õm hoặc nguyờn õm kết hợp với phụ õm tạo nờn Gieo vần trong thơ là sự lặp

Trang 8

lại các vần hoặc những vần nghe giống nhau giữa các tiếng ở những vị trí nhấtđịnh Đó là sự phối hợp âm thanh trong từng câu và trong cả bài, là sự cộnghưởng của các âm có cùng một vần và cùng thanh bằng hoặc thanh trắc

Căn cứ vào cấu trúc âm thanh người ta chia thành vần chính và vần thông.Vần chính là vần có âm gièng nhau Vần thông là vần có âm na ná như nhau.Căn cứ vào vị trí các tiếng hiệp vần với nhau, người ta chia thành vần lưng vàvần chân Vần lưng là lối gieo vần đứng giữa câu Vần chân là lối hiệp vần ởcuối câu Ngoài ra còn chia thành các loại: vần liền, vần cách, vần hỗn hợp Mộttrong những tác dụng quan trọng của vần là tạo nên âm hưởng vang ngân trongthơ, từ đó mà diễn đạt và thể hiện nội dung

Bên cạnh vần điệu, tiếng Việt còn rất giàu thanh điệu Với 6 thanh chúng

ta có thể nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói tạo sự lên bổng xuống trầm Nhìnchung những vần bằng thường diễn tả sự nhẹ nhàng, bâng khuâng, chơi vơi, cònvần trắc thường diễn tả sự trúc trắc, nặng nề, khó khăn, vấp váp Về nguyên tắcbình thường trong các câu thơ những vần bằng trắc đan xen nhau Nhưng khi mô

tả khắc sâu một ấn tượng, một cảm xúc, một tâm trạng theo một cung bậc tìnhcảm nào đó các nhà thơ thường sử dụng liên tiếp một loại vần:

Mùa xuân ta xin hátCâu Nam ai, Nam bìnhNước non ngàn dặm mìnhNước non ngàn dặm tình

(Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải)

Cả khổ thơ cuối có nhiều vần bằng tạo sự ngân vang trong âm hưởng củamột khúc ca trữ tình sâu lắng Cảm xúc như được trải dài mênh mang Nhà thơmuốn hát vang lên khúc hát Nam ai, Nam bình quen thuộc của xứ Huế mộng mơ

để hòa nhập cùng dòng chảy âm thanh rộn rã, tưng bừng của mùa xuân Các vần

bằng liên tiếp bình ,mình, tình như muốn thể hiện cái chất âm nhạc dân ca nhịp

nhàng Đó chính là cái hồn của âm nhạc dân gian xứ Huế Đó là âm thanh mùaxuân đất nước muôn đời vẫn trẻ trung, vấn vít, xao xuyến lòng người Tác gỉả

Trang 9

như sống mãi với cuộc đời, với Huế quê hương trong tiếng phách tiền âm vang

ấy

Tạo nên nhạc tính của thơ không chỉ có vần và thanh điệu mà ngay cả các

âm trong mỗi tiếng cũng có những giá trị nhất định Theo Đinh Trọng Lạc: âm

“I” gợi sự ngân dài: “Đi ta đi khai phá rừng hoang” ( Tố Hữu)

Âm “a” gợi sự tươi vui :“ Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” ( Phạm Tiến Duật)

2.3 Từ ngữ, hình ảnh và các biện pháp tu từ:

Đây là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của hình thức chất liệu ngôn từ.Bởi vì mọi nội dung cần thể hiện của tác phẩm văn học không thể có cách nàokhác là nhờ vào hệ thống từ ngữ này Các phương tiện như dấu câu, nhịp điệu,ngữ âm ở trên cũng chỉ có ý nghĩa khi nằm trong một văn bản mà từ ngữ là nềntảng Muốn nói đến nỗi lòng của mình, tình cảm và tư tưởng của mình nhà thơcũng phải thông qua từ ngữ “ Văn học là nghệ thuật cuả ngôn từ” chính là nhưvậy Do tầm quan trọng ấy mà người ta coi lao động của nhà thơ là thứ “ laođộng chữ nghĩa” Vì thế khi phân tích thơ phải nắm vững nghĩa của từ và suynghĩ “ tại sao tác giả dùng từ này mà không dùng từ khác ?” và chú ý đến phântích các hình ảnh Cách thể hiện của văn thơ là cách nói bằng hình ảnh

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

(Nói với con - Y Phương)

Những hình ảnh đó gợi tả em bé ngây thơ, đang tập đi, tập nói trong vòngtay, trong tình yêu thương, chăm sóc, nâng niu của cha mẹ, trong gia đình.Không khí cái gia đình nhỏ này thật ấm áp, êm đềm, quấn quýt Cha mẹ luônluôn nâng niu, đón chờ, chăm chút từng bước đi, từng nụ cười, từng tiếng nóicủa con Gia đình chính là cái nôi êm, cái tổ ấm để con sống, lớn khôn và trưởng

Trang 10

thành trong bình yên và tình yêu niềm mơ ước của cha mẹ Bên cha, bên mẹ:Cha chờ, mẹ đón Thật hạnh phúc biết bao !

Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc cũng được các nhà thơ sử dụng hiệu quả trongviệc miêu tả, ví như trong bài “Viếng lăng Bác” nhà thơ Viễn Phương viết:

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

Hình ảnh hàng tre xanh mang tính chất tượng trưng, giàu ý nghĩa liêntưởng sâu sắc: Đó là sức sống mạnh mẽ, bất diệt, dẻo dai của con người ViệtNam Đồng thời, màu tre xanh thân thuộc của làng quê Việt Nam luôn luôn gắn

bó với tâm hồn của Bác …Hình ảnh cây tre trong lời thơ của Viễn Phương cònbiểu thị niềm tự hào dân tộc, làm cho chúng ta cảm nhận sâu sắc về phẩm chấtcao quý của Bác Hồ cũng như của con người Việt Nam trong bốn nghìn nămlịch sử Hình ảnh “Hàng tre xanh xanh ” biểu thị cho đất nước Việt Nam tươiđẹp mà Bác là linh hồn, là đại diện cho đất nước ấy

Ngôn ngữ văn học là loại ngôn ngữ được chắt lọc từ đời thường, đượcgọt giũa sửa sang làm cho nó giàu đẹp hơn Các biện pháp tu từ chính là nhữngphương tiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ trang điểm cho ngôn từ văn học

Có nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, điệp ngữ, so sánh TheoĐinh Trọng Lạc có tới 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng việt Tất cảnhững cách ấy đều nhằm mục đích giúp nhà thơ có nhiều cách diễn đạt hay hơn,đẹp hơn, phong phú hơn và do vậy đạt hiệu quả cao hơn

Tác giả Phạm Tiến Duật viết trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”:

Không có kính, rồi xe không có đènKhông có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Các biện pháp như: điệp từ “không có” đã làm cho giọng thơ, ý thơ trở nênmạnh mẽ, hào hùng Không có nhưng lại có tất cả, quyết tâm chiến đấu và chíkhí anh hùng của người lính không có bom đạn nào của quân thù có thể lay

Trang 11

chuyển được “Trỏi tim” trong thơ Phạm Tiến Duật là một hỡnh ảnh hoỏn dụ,tuy khụng mới mẻ nhưng đầy ý vị : “trỏi tim cầm lỏi”, trỏi tim rực lửa, sẵn sàngchiến đấu, hi sinh vỡ sự nghiệp thống nhất tổ quốc Đoạn thơ thể hiện rất thực,rất hay cỏch sống, cỏch nghĩ, cỏch cảm của những người chiến sĩ lỏi xe trờn conđường mũn Hồ Chớ Minh thời đỏnh Mĩ Tinh thần chiến đấu ngoan cường và ýchớ quyết tõm giải phúng miền Nam của người lớnh tỏa sỏng vần thơ

2.4 Không gian và thời gian trong thơ

Không gian trong thơ là nơi tác giả - cái tôi trữ tình hoặc nhân vật trữ tìnhxuất hiện để thổ lộ tấm lòng của mình trớc mọi ngời và đất trời

Trong tiếng Việt có rất nhiều từ ngữ để nhà văn thể hiện không gian Trớchết là hệ thống từ chỉ vị trí và tính chất nh: trên, dới, trong, ngoài, mênh mông,bát ngát, thăm thẳm, mịt mù…

Không gian thờng gắn với các địa điểm chỉ nơi chốn nh: cây đa, bến nớc,con đò, mái đình, núi cao, rừng thẳm, biển sâu, trời rộng, sông dài…

Đi liền với không gian nghệ thuật là thời gian nghệ thuật, bởi vì một hành

động bao giờ cũng diễn ra ở một địa điểm vào một thời gian nhất định Khi nhàthơ viết: “ hôm qua, hôm nay, ngày mai, dạo ấy” thì không nên cố tìm xem đó

là thời điểm cụ thể nào trong cuộc đời Nếu nh Viễn Phơng viết:

“ Mai về miền Nam thơng trào nớc mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng BácMuốn làm đóa hoa tỏa hơng đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.”

(Viếng lăng Bác )

thì rõ ràng không cần biết “ mai” là ngày nào, tháng nào mà chỉ biết tác giả luluyến không muốn rời xa Bác, tình cảm xúc động của nhà thơ bỗng nổi sóng,dâng trào, không thể kìm nén dòng nuớc mắt tràn đầy Từ đó bật ra nguyện vọngmãnh liệt thể hiện qua điệp ngữ “ muốn làm” Tất cả nguyện ớc đều hớng vềBác, muốn gần Bác mãi mãi, muốn làm Bác vui, muốn canh giấc ngủ của Người

Thời gian nghệ thuật cũng mang tính tợng trng Khi nhắc tới “ ngày mai”thờng là tợng trng cho tơng lai “Hoàng hôn, chiều tà” thờng tợng trng cho sự tànlụi, sự kết thúc buồn bã… ngược lại “bình minh, rạng đông” thờng tợng trng chocái đang lên, rạng rỡ, tơi sáng

Khi Huy Cận viết trong bài “Đoàn thuyền đánh cá”:

Trang 12

“ Câu hát căng buồn với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi Niềm vui của ngời dân chài hòa nhập với thiên nhiên, một rạng đông đẹp tơi, một ngày vui mới bắt đầu Cảnh tợng tráng lệ, nhịp điệu cuộc sống khẩn trơng vôcùng Câu thơ vừa tả cảnh biển, vừa tả cảnh đợc mùa cá Không gian tráng lệ tràn ngập niềm vui Một rạng đông trên biển và một rạng đông trong lòng ngời vì

“ đất nở hoa” và “ biển đang hát”…

Không gian và thời gian có rất nhiều cách thức biểu hiện khác nhau Đấychính là chỗ để các nhà thơ thể hiện sự sáng tạo và những cách cảm nhận độc

đáo riêng biệt trong tác phẩm của mình

3 Đặc trưng của thơ hiện đại Việt Nam

Khỏc với thơ trung đại Việt Nam cú vần, luật và những quy định nghiờmngặt, thơ hiện đại Việt Nam cú phần tự do hơn về loại thể, cõu chữ Nhỡn chung thơ hiện đại Việt Nam là lóng mạn, trẻ trung, thể hiện lũng yờu quờ hương, đấtnước tha thiết đem lại những rung động lớn qua những bức tranh về đất nướcđẹp đẽ, về con người cần cự, dũng cảm, giàu tỡnh yờu thương trong cuộc sốnglao động và chiến đấu để xõy dựng và bảo vệ Tổ Quốc

Thơ hiện đại Việt Nam thể hiện những tỡnh cảm phong phỳ, muụn hỡnhnhiều vẻ Đú là lũng yờu đời, yờu cuộc sống, tỡnh yờu đất nước, tỡnh yờu tuổitrẻ…Cỏc nhà thơ cú ý thức thể hiện được cỏi tụi cỏ thể và cú cỏi nhỡn về thiờnnhiờn, con người khỏc với cỏc nhà thơ trung đại Họ mạnh dạn hơn, phúngkhoỏng hơn, dỏm đem những điều bỡnh thường của cuộc sống vào thơ và thổivào đú chất thơ, tạo nờn những cảm nhận mới mẻ

Về nghệ thuật, phong cỏch của cỏc tỏc giả, ngụn ngữ thơ…cú sự kết hợp hàihũa giữa cổ điển và hiện đại, song thơ hiện đại thường cú kết cấu đa dạng, mới

mẻ, giọng điệu hấp dẫn, phong phỳ

Trong chương trỡnh Ngữ văn THCS cú một số tỏc phẩm thơ hiện đại như:

“Lượm”(Tố Hữu),“ Tiếng gà trưa’’(Xuõn Quỳnh),“Đồng chớ”(Chớnh Hữu),

“Bếp lửa”(Bằng Việt), “Bài thơ về tiểu đội xe khụng kớnh” (Phạm Tiến Duật),

Trang 13

“Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” (Nguyễn Khoa Điềm), “Đoànthuyền đánh cá”(Huy Cận ) “Viếng lăng Bác”(Viễn Phương), “Sang thu” (HữuThỉnh), “Ánh trăng”(Nguyễn Duy), “Mùa xuân nho nhỏ” (Thanh Hải), “Nói vớicon”(Y Phương), “Con Cò” (Chế Lan Viên)… Đa số là các tác phẩm được bốtrí dạy trong chương trình Ngữ văn 9

Về hình thức: Đều là thơ tự do không theo vần luật cố định, gồm thơ 5 chữ,thơ 7 chữ hoặc số chữ trong bài không cố định

Về nội dung: Đề cập tới nhiều khía cạnh tình cảm của đời sống như: Tình

bà cháu, tình cha con, tình mẹ con, tình đồng chí đồng đội, tình cảm với lãnh tụ,tình cảm với thiên nhiên, đất nước, với cuộc sống lao động mới, ước nguyệncống hiến, lòng son sắt thủy chung …

4 Thực trạng của việc dạy - học thơ trong nhà trường THCS hiện nay 4.1 Thực trạng:

Hiện nay, với cách suy nghĩ thực dụng của nhiều phụ huynh nên môn Ngữvăn không được coi trọng, điều đó khiến nhiều em học sinh không thích học vàkhông đầu tư nhiều thời gian, tâm sức cho môn học Chính bởi vậy, trong giờhọc các em thờ ơ, không chú ý nghe giảng, không tư duy nhiều về bài học Đặcbiệt là về thơ, do sự chắt lọc, dồn nén câu chữ cô đọng, hàm súc nên học sinhkhó tiếp cận hơn so với truyện, thậm chí các em không thuộc thơ và chưa cảmnhận hết cái đẹp, cái hay ẩn chứa sau câu chữ

Ở nhà hầu như các em không đọc văn bản, không soạn bài và làm bài tập

mà giáo viên giao cho hoặc nếu có làm thì chỉ để đối phó với sự kiểm tra củathầy cô Các em không có mục đích để phấn đấu, không có hứng thú học vănnên ngại làm những đề bài thầy cô giáo giao Giờ kiểm tra thì sao chép từ cáccuốn sách làm văn mẫu, không chủ động, tích cực học tập Học nhiều bài thơ rất

Trang 14

hay trong chương trình nhưng nhiều em chưa thuộc hoặc nhớ lơ mơ, khôngchính xác nên viết những câu buồn cười, vô nghĩa.

4.2 Nguyên nhân:

4.2.1 Về phụ huynh học sinh:

Nhiều phụ huynh học sinh không thích cho con em mình học nhiều về mônNgữ văn vì họ cho rằng ít phục vụ vào việc chọn trường học trong tương lai, họcxong lại khó kiếm việc làm, đồng thời cho rằng Ngữ văn là môn học thuộc lòng,kém thông minh nên họ đã có những định hướng cho con mình đầu tư thời gianvào học các môn khác, thậm chí có những em say mê với môn văn nhưng vì áplực từ phía cha mẹ nên phải theo học những môn mà mình không yêu thích

4.2.2 Về phía giáo viên:

Một số giáo viên không có tâm huyết thực sự với bộ môn do Ngữ vănkhông được các phụ huynh và học sinh coi trọng nên chưa có ý thức đầu tưnhiều công sức vào giờ dạy, chưa trau dồi và tự bồi dưỡng thường xuyên vềchuyên môn nên không khơi dậy được niềm say mê môn học cho học sinh đồngthời chưa hướng dẫn cụ thể phương pháp học tập bộ môn hiệu quả cho học sinh

4.2.3 Về phía học sinh:

Các em còn phụ thuộc vào sự định hướng của cha mẹ trong việc đầu tư thờigian, công sức vào môn học nào là chính, đa số các em chưa ý thức được mụcđích học tập và năng lực của mình với từng môn học nên chưa phát huy đượckhả năng của mình Giờ Văn các em còn học chiếu lệ, thụ động, chưa thực sựtích cực nên chất lượng môn học chưa cao

5 Một số phương pháp dạy tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam

Việc dạy văn học nói chung và dạy thơ nói riêng là giúp học sinh tự khámphá cái hay, cái đẹp, phát hiện ra những giá trị của tác phẩm Thấy được những

tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm trong đó và hình thành nhân cách chohọc sinh Vì vậy khi dạy thơ cần phải lựa chọn các phương pháp thích hợp Bởimỗi phương pháp bao giờ cũng có hai mặt: Tích cực và hạn chế Mỗi phươngpháp chỉ phù hợp với một số nội dung nào đó Trong thực tế dạy học gồm nhiều

Trang 15

phương pháp, mỗi phương pháp đều có một thế mạnh được sử dụng hợp lí nêncần phải có sự lựa chọn phương pháp thích hợp Cơ sở của sự lựa chọn là căn cứvào nội dung bài giảng, căn cứ vào đối tượng người học và căn cứ vào hoàncảnh tổ chức lớp học.

Phân tích thơ trữ tình thực chất là chỉ ra tiếng lòng sâu thẳm của chính nhàthơ Nhưng tiếng lòng ấy lại được thể hiện rất cô đọng và hàm xúc bằng mộthình thức nghệ thuật độc đáo - nghệ thuật ngôn từ Tiếp xúc với một bài thơ trữtình trước hết là tiếp xúc với các hình thức nghệ thuật ngôn từ này Nhà thơ gửilòng mình qua những con chữ, trong những con chữ và các hình thức biểu đạtđộc đáo khác Như thế, phân tích thơ trước hết phải xuất phát từ chính các hìnhthức nghệ thuật ngôn từ mà chỉ ra vai trò và tác dụng của chúng trong việc thểhiện tình cảm, thái độ của nhà thơ

Để phân tích thơ trữ tình có cơ sở khoa học, có sức thuyết phục cần đến rất nhiều phương pháp, nhưng trước hết cần nắm được một số hình thức nghệthuật ngôn từ mà các nhà thơ thường vận dụng để xây dựng nên tác phẩm củamình Đây chính là cơ sở đáng tin cậy nhất để người đọc mở ra được cánh cửatâm hồn của mỗi nhà thơ ở mỗi bài thơ

Sau đây là một số phương pháp thường được vận dụng:

5.1 Phương pháp đọc:

“Đọc là cửa ngõ để bước vào khám phá tác phẩm” Trong hệ thống cácphương pháp giảng dạy văn học nói chung và dạy thơ hiện đại nói riêng thì họcđọc là phương pháp quan trọng vì đó là con đường để đến với tác phẩm thực sự,

là con đường duy nhất để khám phá thế giới nghệ thuật ngôn từ, một thế giớiđầy màu sắc, âm thanh nhưng lại được biểu hiện ở một số vật liệu là ngôn ngữ.Chỉ có làm sống lại lớp vỏ âm thanh và lớp hình thức tác phẩm thì mới có thể

đi sâu vào tác phẩm Vì vậy giáo viên hướng dẫn học sinh đọc nhiều lần ở nhà:Đọc để hiểu, đọc thuộc lòng, đọc để mọi người cùng hiểu, đọc có mục đích cụthể Đến lớp giáo viên khuyến khích học sinh đọc thuộc lòng và đọc diễn cảmbài thơ để khơi dậy ngôn ngữ nghệ thuật trong bài, làm hiện hữu hình tượng trữ

Trang 16

tỡnh Như vậy giỳp cỏc em đến với tỏc phẩm, tiếp nhận tỏc phẩm sõu hơn, hệthống hơn Trỏnh được cỏch tiếp cận tỏc phẩm một cỏch bập bừm, cõu được cõuchăng và khụng khơi dậy được cảm xỳc về tỏc phẩm

Với thơ trung đại hay thơ lục bỏt, ấn định về số chữ, số câu thì nhịp điệucũng đợc ấn định 2/2/3, 4/3…Nhưng với thơ tự do, số câu số chữ không ấn định

mà câu dài câu ngắn đan xen ta phải tìm ra nhịp đọc để làm cho “vang nhạc sánghình” Lúc đầu ta cảm giác đọc rất trúc trắc nhng sau đọc đúng nhịp sẽ thấy hay

và dễ thuộc Bởi thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc nên dễ đi vào lòng ng ời.Trước tiờn phải đọc đỳng rồi đọc diễn cảm, đọc sỏng tạo Cú thể sử dụngphương tiện nghe nhỡn, cho học sinh tiếp xỳc với những giọng ngõm hay bài hỏt

đó phổ nhạc từ thơ Một giọng đọc diễn cảm cú thể gõy nhiều hứng thỳ và tưởngtượng cho học sinh

Để đảm bảo đọc cho đúng giáo viên cần đọc mẫu để học sinh học tập

Vớ dụ: Khi dạy bài thơ “Lượm” của Tố Hữu những đoạn thơ đầu phải đọc vớigiọng vui tươi làm toỏt lờn sự hồn nhiờn, nhớ nhảnh của chỳ bộ liờn lạc nhỏ tuổithật đỏng yờu:

Chỳ bộ loắt choắt Cỏi xắc xinh xinh Cỏi chõn thoăn thoắt Cỏi đầu nghờnh nghờnhNhưng ở đoạn cuối, mặc dự vẫn là những cõu thơ trờn được nhắc lại theo cấutrỳc đầu - cuối tương ứng song cần đọc với giọng chựng xuống, trầm buồn nhưmuốn khắc sõu trong lũng người đọc về sự bất tử của Lượm – người chiến sĩcỏch mạng nhỏ tuổi…

Hoặc: Khi dạy bài “Khỳc hỏt ru những em bộ lớn trờn lưng mẹ” của NguyễnKhoa Điềm, giỏo viờn hướng dẫn học sinh đọc với nhịp đều đặn, nhẹ nhàng, dỡudặt mang õm điệu của lời ru làm toỏt lờn tỡnh cảm của người mẹ Tà ễi:

Em cu Tai /ngủ trờn lưng mẹ ơi

Ngày đăng: 16/04/2016, 20:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nhiều tác giả.(2005).Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sách giáo khoa lớp 9 Vụ Giáo dục Trung học - Bộ Giáo dục và đào tạo, Hà Nội Khác
2. Phan Trọng Luận (1992) Cảm thụ văn học, dạy văn học . NXB GD Khác
3. Vũ Quần Phương (2001) Thơ với lời bình. NXB GD Khác
4. Nguyễn Viết Chữ (2001) Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
5. Trần Đình Sử (1997) Những thế giới nghệ thuật thơ NXB GD Khác
6. Bộ Sách giáo khoa , Sách giáo viên Ngữ Văn lớp 6,7,8,9 – NXB GD Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w