Trong tư tưởng chính trị - xã hội, Mạnh Tử đề cao đường lối nhân nghĩa, đề cao vai trò của người dân trong xã hội và vạch rõ ranhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi người đổi với đất nước.. Và đ
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRỊNH THỊ THU HẰNG
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ VÀ Ý
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN HÙNG HẬU
HÀ NỘI 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG ĐỂ HÌNH
THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ
1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội để hình thành tư tưởng chính trị-xã hội của Mạnh Tử1.2 Tiền đề tư tưởng để hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử
Chương 2: NỘI DUNG CHÍNH TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
CỦA MẠNH TỬ
2.1 Đường lối "nhân chính" của Mạnh Tử
2.2 Tư tưởng "dân bản" của Mạnh Tử
Chương 3: Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ ĐỐI
VỚI NƯƠC TA HIỆN NAY
3.1 Đánh giá mặt tích cực và hạn chế của tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử
3.2 Tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử đối với nước ta hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo ra đời ở Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc do Khổng Tử sánglập ra và Mạnh Tử phát triển được gọi là Nho giáo Khổng - Mạnh Khổng Tử được coi
là ông tổ của Nho giáo còn Mạnh Tử là người đã kế thừa và phát triển xuất sắc tư tưởngcủa Khổng Tử Đề cập tới vấn đề này, nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc làTrương Đại Niên đã nói: “Trong lịch sử học thuật Trung Quốc, nhà tư tưởng cỏ ảnhhưởng lớn nhất phải kể đến Khổng Tử, sau đó đến Mạnh Tử” Nhưng “Nếu như không
có Mạnh Tử, tư tưởng Khổng Tử cũng không thể thịnh hành như thế Vì thế, người đờisau gọi hệ thống tư tưởng Khổng Tử là đạo Khổng - Mạnh cũng chính là sự thể hiện vaitrò hiển hách của Mạnh Tử” [42, tr.158]
Có rất nhiều ý kiến cho rằng, Nho giáo thực chất là một học thuyết chính trị-xãhội của giai cấp cầm quyền Chính vì vậy, phần chủ đạo trong tư tưởng triết học củaMạnh Tử cũng là tư tưởng chính trị - xã hội Trong tư tưởng chính trị - xã hội, Mạnh
Tử đề cao đường lối nhân nghĩa, đề cao vai trò của người dân trong xã hội và vạch rõ ranhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi người đổi với đất nước Điều này được thể hiện ở một
hệ thống các phạm trù như “dân vi bản”, “nhân nghĩa”, “vương đạo”, “bá đạo”, “tuthân”, “nhân, lễ, nghĩa, trí” rất sâu sắc của Mạnh Tử
Tư tường chính trị - xã hội của Mạnh Từ được truyền vào nước ta hàng ngàn nămnay Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam, đặcbiệt từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp thu
và sử dụng tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử làm hệ tư tưởng và công cụ trị nước,đào tạo ra những con người phù hợp với yêu cầu và mục đích của giai cấp phong kiếnthống trị Từ nửa cuối thế kỷ XIX trở lại đây, mặc dù cái bệ đỡ của Nho giáo nói chung
và của tư tưởng Mạnh Từ nói riêng là chế độ phong kiến không còn nữa nhưng một sốnội dung của tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử vẫn còn ảnh hưởng ở một số lĩnhvực trong đời sống xã hội ở nước ta
Hiện nay, chủ trương “lấy dân làm gốc” “con người là trung tâm” đều có liên quanđến tư tưởng “nhân chính” và “dân vi quý - xã tắc thứ chi - quân vi khinh” của Mạnh
Tử Tư tưởng chính trị-xã hội của Manh Tử có ý nghĩa to lớn để chúng ta tiếp thu xâydụng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 4Theo chu kỳ, nền kinh tế thế giới cứ một giai đọan nào đó lại diễn ra một cuộckhủng hoảng Hậu quả của các cuộc khủng hoảng kinh tế đã kéo theo nhiều vấn đề xãhội phức tạp khác Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra năm 2008 bắtđầu ở các nước phương Tây và nó có ảnh hưởng tói toàn cầu Nhiều ý kiến cho rằng,một trong những nguyên nhân làm cho phương Tây, những quốc gia đầu tiên rơi vàocuộc khủng hoảng kinh tế đó là ở các nước đó đang mất cân bằng giữa kinh tế và đạođức Trong khi đó chúng ta biết rằng, sự cân bằng giữa kinh tế và đạo đức cùng lý tưởngsống là một trong những tiền đề vô cùng quan trọng để thiết lập một xã hội phát triểnhài hoà và bền vững.
Nhưng cũng sau cuộc khủng hoảng này Trung Quốc đã vươn lên trở thành cườngquốc kinh tế đứng thứ hai thế giới Singapo cũng là quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng củaNho giáo Giải thích về nguyên nhân làm cho Singapo phát triển như ngày hôm nay,cựu thủ tướng Lý Quang Diệu đã thừa nhận một trong những động lực làm cho Singapophát triển đó chính là Nho giáo Qua đây chúng ta thấy Nho giáo nói chung và tư tưởngcủa Mạnh Tử nói riêng đã có nhiều ảnh hưởng nhất định trong sự phát triển của một sốnước Châu Á Sự vận dụng sáng tạo tư tưởng chính trị - xã hội của Nho giáo nói chung
và của Mạnh Tử nói riêng ở các quốc gia trên là những bài học vô cùng quý báu màchúng ta phải tham khảo
Xã hội Việt Nam hiện đại đang đặt ra nhiều vấn đề chúng ta phải giải quyết Quátrình toàn cầu hoá một mặt đã và đang làm cho nền kinh tế nước ta phát triển, mặt khácquá trình nó cũng đang đặt ra nhiều nguy cơ thách thức trong đó có sự khủng hoảng đạođức của một bộ phận không nhỏ của người Việt Nam Ở nước ta, nếu biết kế thừa cóchọn lọc những tinh hoa vân hóa nhân loại trong đó có tư tưởng chính trị-xã hội củaMạnh Tử thì sẽ phần nào khắc phục được những thiếu sót trên Nhận thức được tầmquan trọng của tinh hoa văn hoá truyền thống đổi với sự phát ừiển của xã hội Việt Namhiện đại, tại Đại hội lần thứ X (2006), Đảng ta đã xác định: “Tiếp tục phát triển sâurộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấmsâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [23, tr.106] Theo chủ trương đó thì nhiệm vụkhai thác và làm giàu thêm những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và nhân loạitrong xã hội hiện đại, trong đó có Nho giáo la một trong những nhiệm vụ hết sức quan
Trang 5trọng Hiện nay, trước những biến động hết sức phức tạp của đời sống xã hội, một sốnhà nghiên cứu có xu hướng trở lại vấn đề Nho giáo trên tinh thần gợi đục khơi trongnhằm phát huy những giá trị tích cực của Nho giáo Đã có nhiều công trình nghiên cứu
sự ảnh hưỏng của tư tưởng chính tri- xã hội của Mạnh Tử ở Việt Nam Tuy nhiên, donhững điều kiện khác nhau, các công trình đó chưa cho chúng ta một cái nhìn khái quáttrên bình diện triết học tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử và đặc biệt là ảnh hưởngcủa nó đối với xã hội Việt Nam hiện nay Và đó cũng chính là lý do mà tác giả chọn vấn
đề “Tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử và ý nghĩa của nó đối với nước ta hiện nay”
làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu Nho giáo nóichung và tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử nói riêng Chúng tôi có thể khái quátmột số thành quả nghiên cứu sau:
Các công trình nghiên cứu về Mạnh Tử nói riêng có: Nho giáo của Trần Trọng
Kim, Khổng học đăng của Phan Bội Châu, Khổng giáo phê bình tiểu luận của Đào DuyAnh Các công trình này đã phản ánh những quan điểm cơ bản của Mạnh Tử về chínhtrị, xã hội, về triết học, về nhân sinh quan Tuy nhiên, ở các tác phẩm này, các tác giả đãthể hiện những thái độ cực đoan về Nho giáo, hoặc phủ nhận hoàn toàn những giá trịtích cực của Nho giáo, hoặc là muốn làm sống lại những giá trị của Nho giáo Tác phẩm
Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm đã có cái nhìn biện chứng về Nho giáo, theo ông,
Nho giáo có cả mặt tích cực và hạn chế
Mặc dù những công trình trên đây vẫn mang tính chất chủ quan của người nghiêncứu nhưng chúng ta không thể phủ nhận những giá trị của các công trình này Tuynhiên, các công trình trên vẫn chưa trình bày đầy đủ về các phạm trù, nội dung của Nhogiáo và của Mạnh Tử
Những tác phẩm nghiên cứu Manh Tử gồm có: Mạnh Tử linh hồn của nhà Nho củaNhà Xuất Bản Đồng Nai, Những câu nói bất hủ của Mạnh Tử của Đỗ Anh Thơ, Mạnh Tử
tư tưởng và sách lược của Trí Tuệ, Mạnh Tử của Nguyễn Hiến Lê Các công trình này đã
trình bày những luận điểm chính trong tư tưởng của Mạnh Tử Tuy nhiên, phần trìnhbày còn chưa đầy đủ, ở một vài chỗ trong những tác phẩm này còn thể hiện tính chủquan của tác giả khi bàn về những câu nói của Mạnh Tử
Trang 6Bên canh những công trình trên còn có các bài báo khác như: Quan niệm của Nho
giáo về xã hội lý tưởng của Nguyễn Thanh Bình đăng trên tạp chí Triết học, (số 3) năm
2001, Những điểm tương đồng và dị biệt trong học thuyết “tỉnh người” của Nguyễn ThanhBình đăng trên tạp chí Triết học, (số 9) năm 2002 Tuy nhiên, các bài viết này cũng mớichỉ đề cập và đánh giá một cách khái quát nhất từng nội dung cụ thể của Nho giáo chứchưa đề cập hoàn toàn tới tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử Bên cạnh đó còn cócác bài báo khác như Mạnh Tử quan niệm về nhân nghĩa của Hoàng Ngọc Yến đăng trêntạp chí Tia sáng, Từ tư tưởng nhân nghĩa đến đường lổi“nhân chính” trong học thuyết
chỉnh trị - xã hội của Mạnh Tử của Bùi Xuân Thanh đăng trên chí Triết học, (số 2) năm
2008 Hai bài báo này chủ yếu đề cập tới tư tường nhân nghĩa của Mạnh Tử nhưngchưa đầy đủ
Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tư tưởng Mạnh Tử đổi với lịch sử nước ta thờiphong kiến có các công trình sau: Lịch sử tư tưởng Việt Nam do Nguyễn Tài Thư chủbiên, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thể kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, tập Icủa Trần Văn Giàu Nho học và Nho học ở Việt Nam của Nguyễn Tài Thư, Nho học ở
Việt Nam - Giáo dục và thi cử của Nguyễn Thế Long, Học thuyết chính trị- xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thể kỷ XI đến nửa đầu thế kỳ XIX) củaNguyễn Thanh Bình, Đặc điểm của Nho Việt của Nguyễn Hùng Hậu đăng trên tạp chí
Triết học, (số 5) năm 1998 Các công trình này phần này đã trình bày được sự ảnh
hưởng của của Nho giáo nói chung và tư tưởng của Mạnh Tử ở Việt Nam trong thời kỳphong kiến
Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Nho giáo và tư tưởng chính tri- xã hội I của Mạnh
Tử ở nước ta thời kỳ hiện đại có các công trình sau: Tư tưởng Nho giáo về gia đình và việc xây dụng gia đình mới ở Việt Nam hiện nay của Minh Anh đăng trên tạp chí Triết học, Khai thác các giá trị của truyền thống Nho học phục vụ sự phát triển của đất nước trong điều kiện toàn cầu hoá của Nguyễn Trọng Chuẩn đăng trên tạp chí Triết học Nghiên cứu Nho giáo trong bối cảnh khu vực và thời đại của Phan Văn Các, Đạo đức Nho giáo với việc rèn luyện và nâng cao phẩm chất đạo đức cộng sản, của Nguyễn Thanh Bình, đăng trên tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, (số 4) năm 2000, Nho giáo với vấn để phát triển kinh
tế Việt Nam trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội của Nguyễn Thanh Bình.
Các công trình trên đã nghiên cứu một cách khái lược về ý nghĩa của Nho giáo và
Trang 7tư tưởng của Mạnh Tử đối với việc hoàn thiện đạo đức của con người Việt Nam hiệnnay Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của tư tưởng của Mạnh: Tử về đường lối đức trị đối vớingười cầm quyền, về vấn đề tu thân rèn luyện đạo đức của con người hiện nay như thếnào là những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Do vậy, việc nghiên cứu tư tưởng chínhtrị- xã hội của Mạnh Tử và ý nghĩa của nó trong việc hoàn thiện đạo đức con ngườiđáp ứng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay của đất nước là một việc làmcần thiết.
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Đề tài tập trung làm rõ tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử và ý
nghĩa của nó đối với nước ta hiện nay
- Nhiệm vụ của đề tài là:
+ Phân tích và khái quát cơ sở kinh tế- xã hội và tiền đề tư tưởng để hình thành nên
tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử
+ Phân tích và khái quát những nội dung chính trong tư tưởng chính trị- xã hội củaMạnh Tử
+ Làm rõ ý nghĩa của những tư tưởng đó đối với nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử và ý nghĩa của nó
đối với nước ta hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng chính trị- xã hội của Manh Tử và ý nghĩa của nó
đối với nước ta hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá, lịch sử Luận văn sửdụng phương pháp luận biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin trong nghiên cứu
xã hội, con người và nghiên cứu lịch sử triết học
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng một sổ phương pháp nghiên cứu cụthể: Phân tích- tổng hợp; lôgíc- lịch sử; đổi chiếu- so sánh
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ và hệ thống hoá những nội dung chính trong tư tưởng
Trang 8chính tri- xã hội của Mạnh Tử và ý nghĩa của nó đối với nước ta hiện nay.
Luận văn cỏ thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu Nho giáonói chung và tư tưởng của Mạnh Tử nói riêng, đặc biệt là ý nghĩa của nó đối với ViệtNam hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phân mờ đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phân nội dung củaluận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Chương 1: Cơ sở kinh tế- xã hội và tiền đề tư tưởng để hình thành nên tư tưởngchính trị- xã hội của Mạnh Tử
Chương 2: Những nội dung chính trong tư tưởng chính trị- xã hội của I Mạnh Tử Chương 3: Ý nghĩa của tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử đối với nước ta
hiện nay
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ KINH TẾ- XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG
ĐỂ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ
Mạnh Tử (371- 289 TCN) tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư Ông là người nướcChâu, sát nước Lỗ (nay là huyện Châu thuộc tỉnh Sơn Đông Trung Quốc)
Mạnh Tử được sinh ra trong một gia đình quý tộc sa sút vào thời Chiến Quốc, ôngthuộc dòng dõi quý tộc Nhưng tới đời ông cha, chi của ông sa sút nên tuy là quý tộc
mà sống như bình dân Ông mồ côi cha, tuy nhiên ông lại được sự vỗ về, quan tâm của
mẹ Mẹ của Manh Tử là người phụ nữ hiểu biết lễ nghĩa, hiền từ và nhân ái Bà dồn hếtlòng vào việc chăm sóc Mạnh Tử và mong Mạnh Tử học hành thành đạt Điển tích cóghi Mạnh mẫu đã ba lần chuyển nhà để Mạnh Tử được ở trong môi trường xã hội tốtnhất cho việc học tập, tu dưỡng Thời niên thiếu, Mạnh Tử làm môn sinh của Tử Dư,tức là Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử Vì vậy, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các
tư tưởng Khổng giáo
Sống trong thời Chiến Quốc, là giai đoạn xã hội loạn lạc, Mạnh Tử đi chu du khắpnơi đem học thuyết của mình để khuyến cáo các vua chư hầu, nhằm định yên thiên hạ,thống nhất quốc gia về một mối Đến đâu ông cũng giảng đạo lý cho các bậc cầmquyền để giúp họ có phương pháp trị nước hiệu quả mà nhân đạo, nhân chính
Tuy nhiên, trong bối cảnh “Thiên hạ đang lo hợp tung, liên hoành, lấy việc đánhnhau làm giỏi Thế mà Mạnh Tử lại nói đạo đức của các đời Đường, Ngu, Tam đại”[66, tr.433], do vậy, các vua chư hầu không sử dụng học thuyết của ông Cuối cùng ôngđành lui về ở ẩn ở nước Lỗ và noi gương Không Tử, ông mở trường dạy học truyền bá
tư tưởng của mình
Về cuối đời, ông dạy học và viết sách, sách Mạnh Tử của ông là một trong nhữngcuốn sách quan trọng của Nho giáo Chính vì vậy, chúng tôi tìm hiểu nội dung tư tưởngchính trị- xã hội của Mạnh Tử thông qua cuốn sách Mạnh Tử Nhận xét về tầm quantrọng của sách Mạnh Tử trong đường học vấn của Nho giáo thì sách Mạnh Tử rất có giátrị Theo như Trình Y Xuyên đời nhà Tống nói: “Kẻ đi học nên lấy sách Luận ngữ và
sách Mạnh Tử làm cốt Đã biết được hai bộ sách ấy, thì không cần phải học năm Kinhcũng rõ được đạo của thánh hiền” [42, tr.264] Trong hàng ngũ Nho gia, ông được coi
Trang 10là Á thánh chỉ đứng sau Khổng Tử.
Theo nguyên lý cơ bản của triết học macxít, giữa tư tưởng và các điều kiện kinh
tế-xã hội luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy, với tính cách là một hìnhthái ý thức xã hội, triết học trong quá trình hình thành và phát triển luôn chịu sự chiphối, ảnh hưởng sâu sắc của những điều kiện lịch sử kinh tế- xã hội nhất định Lịch sửtriết học hàng ngàn năm của nhân loại, từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây đã chứng minhrằng không có một học thuyết, trường phái triết học nào nảy sinh trên mảnh đất trốngkhông, mà đều hình thành, phát triển trên những nền tảng, điều kiện kinh tế, chính trị,văn hoá xã hội nhất định Đó là sản phẩm của lịch sử, của dân tộc và của thời đại, đồngthời cũng là tấm gương phản chiếu sâu sắc đến đời sống muôn vẻ của lịch sử, dân tộc vàcủa thời đại đó C.Mác đã từng viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất,
họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế, quý giá và vôhình được tập trung lại trong tư tưởng triết học” [46, tr.156] Nhiều nhà nghiên cứu nổitiếng của Trung Quốc cũng đã khẳng định: “phàm đã gọi là một học thuyết quyết khôngthể là một cái gì đó từ trên trời rơi xuống Nếu nghiên cứu tỉ mỉ hơn chúng ta tất sẽ tìm
ra được nhiều nguyên nhân đã xảy ra trước và hậu quả về sau của nó” [42, tr.12] “Nhà
tư tưởng thường chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh sống Cảnh trí chung quanh khiến chonhà tư tưởng có ý thức về cuộc sống theo một lối nào đó, và triết học của nhà tư tưởng,
do đó, sẽ có những điểm nhấn mạnh hay không đề cập tới, làm thành những nét đặc biệtcủa một triết học” [42, tr 12]
Qua các nhận định trên, chúng ta thấy tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tửkhông phải là sản phẩm của sự tư biện thuần tuý của tư duy Nó không ra đời từ mảnhđất trống không mà nó được hình thành, phản ánh bối cảnh kinh tế- xã hội Trung Quốcđấy biến động thời Xuân Thu- Chiến Quốc Chính vì vậy, để có cái nhìn đúng đắn nộidung tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử thì chúng ta phải đi phân tích căn nguyêncủa vấn đề này, tức là phải phân tích cơ sở kinh tế- xã hội và tiền đề tư tưởng cho việchình thành tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử
1.1 CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẺ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH
TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ
Trong lịch sử Trung Quốc thời kỳ cổ đại, Xuân Thu- Chiến Quốc được coi là thời
Trang 11TCN đến thế kỷ III ITCN Xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc đánh dấubước chuyển từ việc sử dụng đồ đồng sang sử dụng đồ sắt và việc dùng bò làm sức kéotrở thành phổ biến, sắt là một phát hiện của dân tộc Di, một tộc người ở về phía Đôngcủa dân tộc Hoa Người Hoa Hạ kế thừa được công nghệ đúc sắt của người Di đã chếtạo ra nhiều công cụ lao động bằng sắt Sự ra đời của đồ sắt có thể coi như một cuộccách mạng trong công cụ sản xuất Nó trở thành động lực manh mẽ thúc đẩy nền kinh tế
cổ đại Trung Quốc phát triển trên nhiều lĩnh vực nhất là nông nghiệp - là ngành kinh tếgiữ vai trò đặc biệt quan trọng, lâu đời trong đời sống xã hội Trung Quốc Ngoài ra,việc sử dụng công cụ bằng sắt là chủ yếu trong quá trình sản xuất đã đem lại sự pháttriển manh mẽ của nền sản xuất thủ công nghiệp
Trên cơ sở phát triển thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước,tiền tệ đã xuất hiện, trở thành vật trung gian trong trao đổi, mua bán Đây là thời kỳkhởi sắc của nền kinh tế thương nghiệp Ở Trung Quốc, đã xuất hiện nhiều thành thịbuôn bán nhộn nhịp ở các nước Hàn- Tề- Tần - Sở
Thành thị đã có một cơ sở kinh tế tương đối độc lập, từng bước tách ra khỏi chế độthị tộc của giai cấp quý tộc thành thị Thành thị của quý tộc là những đem vị khu vựckinh tế của tầng lớp địa chủ mới lên Kinh Thi gọi đó là hiện tượng hai đô thị sánh nhautrong nước Sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong xã hội một tầnglớp thương nhân giàu có và danh tiếng như Phạm Lãi, Huyền Cao (nước Trịnh), Tửcống (vốn là học trò của Khổng Tử) Tầng lớp này do nắm trong tay kinh tế nên ngàycàng có thế lực và tham vọng về quyền lực chính trị, đe doạ đến quyền lực của giai cấpquý tộc cũ Họ ngày càng có thế lực, nhiều người kết giao với chư hầu, công khanh đạiphu, có nhiều ảnh hưởng đối với đời sống chính trị đương thời
Sự biến động trong lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng, tác động to lớn đến sự biến đổitrong kết cấu giai tầng của xã hội, kéo theo các biến động khác về lĩnh vưc chính tri- xãhội Ngoài tầng lớp thương nhân đã đề cập, nhiều giai tầng mới cũng xuất hiện trong
đó nổi bật là giai cấp địa chủ ngày càng giàu có và lấn át giai cấp thị tộc cũ Mặt khác,
do nhân dân được tự do khai khẩn ruộng đất (đặc biệt là ở nước Tần) nên một số bìnhdân đã trở thành phú gia, trở nên giàu có, mà khi địa vị đã thay đổi sẽ dẫn đến sự thayđổi về quyền lợi Mâu thuẫn chính nổi bật trong thời kỳ này là mâu thuẫn giữa tầng lớpđịa chủ với giai cấp quý tộc thị tộc, giữa bộ phận bảo thủ và bộ phận cấp tiến ngay
Trang 12trong lòng giai cấp quý tộc, giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân vớigiai cấp quý tộc thị tộc Chu, giữa nông dân công xã thuộc các bộ tộc bị người Chu nôdịch với nhà Chu và tầng lớp địa chủ mới lên đang ra sức bóc lột, tận dụng sức lao độngcủa họ Đó chính là những mâu thuẫn của thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi xoá bỏ chế độ nô
lệ thị tộc, thiết lập chế độ xã hội mới - xã hội phong kiến
Tất cả những điều trên đã làm xuất hiện một cục diện mới trong xã hội Trung Quốcthời Xuân Thu- Chiến Quốc Vai trò của nhà Chu không còn được như trước nữa,thiên tử nhà Chu chỉ là vua bù nhìn, thể chế chính trị nhà Chu bị rệu rã Chế độ giatrưởng (tông pháp) duy trì sự ổn định của xã hội Tây Chu suốt 300 năm, đến thời kỳnày không còn đủ mạnh để thống tri và trấn áp các nước chư hầu Do ruộng đất từchỗ “Dưới gầm ười này không nơi nào không phải là đất của nhà vua” [39, tr.1132]dần trở thành tài sản riêng của giai cấp địa chủ mới lên đã dẫn đến sự sa sút về địa vịkinh tế của giai cấp quý tộc thị tộc Chu, và đưa đến hệ quả tất yếu là sự mất dần địa
vị kinh tế, chính trị của giai cấp này Ngôi thiên tử của nhà Chu chỉ còn là hình thức,các nước chư hầu không tuân lệnh, không chịu cống nạp, không thuần phục nhà Chunữa Các trật tự lễ nghĩa cùa nhà Chu không còn được coi trọng Đến thời ChiếnQuốc thì nhà Chu hoàn toàn mất hết quyền lực
Các nước chư hầu của nhà Chu không chịu phục tùng vương mệnh, khôngchịu cổng nạp mà mang quân thôn tính lẫn nhau, tự xưng là bá Xuân I Thu - ChiếnQuốc là thời kỳ “vương đạo suy vi”, “bá đạo” nổi lên lấn át “vương đạo” Mặt khác,chiến tranh kéo dài liên miên giữa các nước chư hầu đã làm cho đời sống nhân dâncàng ngày càng thêm khổ cực, trật tự xã hội bị rối loạn, lễ nghĩa nhà Chu bị phá hoại
Sự tranh giành quyền lực khiến người ta không còn coi trọng nhân nghĩa nên cảnh tôigiết vua, con hại cha thường xuyên xảy ra trong xã hội đương thời Thực trạng xã hội
ấy cùng với nạn “tiếm ngôi việt vị” và tình trạng các vua chư hầu tự ý phá bỏ chế độtriều cống chứng tỏ lễ nghĩa nhà Chu đã bị băng hoại, kỷ cương phép nước đã bị lu mờ
và luân thường đạo lý đã bị đảo lộn
Tất cả tình hình trên đây là sự phải ánh một thời kỳ lịch sử, mà ở đó xã hội đangdiễn ra quá trình đấu tranh hết sức gay go và phức tạp giữa cái cũ chưa mất hẳn và cáimới đang manh nha Đó là quá trình tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ đan xen với quátrình phong kiến hoá Vì vậy, có thể nói, thời Xuân Thu là thời kỳ quá độ từ chế độ nô
Trang 13lệ gia trưởng theo kiểu phương Đông sang chế độ phong kiến tập quyền Trong thời kỳquá độ ấy, xã hội Trung Quốc đang rất cần tìm ra một hướng đi mới để thu về mộtmối, kết thúc cục diện phân tranh, và chính điều đó đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều đạo
lý xử thế, nhiều dòng tư tưởng khác nhau trong đó có Nho gia
Tần nằm về phía tây, đất đai cũng rất rộng, chỉ kém Sở (nhất là sau khi nghe lời
Tư Mã Thác; Tần Huệ Vương đem quân chiếm được đất Ba Thục) Tuy đất đai gồmnhiều rừng núi, dân chúng cũng còn bán khai, nhưng được lợi thế là có cửa Hà Cốc,một hẻm núi rất hiểm trở, và khi đóng lại thi quân địch dù có thiên binh vạn mã cũngkhông qua được, thành thử Tần không bị các nước ở phía đông (Hàn, Ngụy, Tổng )tấn công, có thể yên ổn tổ chức sự cai trị, khai khẩn đất đai, trữ lương, luyện binh đểchờ thời Nhất là từ năm 362 TCN, Tần Hiếu Công dùng Thương Ưởng, áp dụng biếnpháp của Thương ưởng thì Tần càng mau mạnh Thương Ưởng đặt ra pháp lệnh rấtcông bình, vô tư; phạt thì không kiêng kẻ có uy quyền lớn, thưởng thì không vì tìnhriêng
Không chỉ cố vấn về pháp luật, Thương Ưởng còn giúp nhà Tần đề ra nhữngchính sách khuyến nông, chính sách thuế khóa hiệu quả Điều này đã giúp cho nướcTần trở thành nước hùng mạnh nhất ữong các nước
Dùng biến pháp mười sáu năm, Tần đã mạnh lên rất nhiều Năm 343 TCN, HiếuCông xưng bá, nhiều chư hầu bắt đàu thấy nguy cơ Năm 333 TCN, Yên, Triệu, Hà,Ngụy, Tề, Sở theo mưu kể của Tô Tần, hợp tung để chống Tần, nhưng chỉ được mộtnăm phe hợp tung tan, Tần càng đắc thế Năm 325 TCN, Tần xưng vương Năm 311TCN, Trương Nghi đề xướng thuyết liên hoành, liên kết các nước từ đông sang tây vàđứng về phe Tần để phá các nước khác, và lần lần nhờ tướng Bạch Khởi, Tần thắngđược Ngụy, Hàn, hạ được Sở, uy hiếp được Tề, diệt được Triệu, chiếm được Chu Năm
256 TCN, nhà Chu dâng đất cho Tần Từ đó, nhà Tần thôn tính lần lượt các nước khác
và thống nhất Trung Quốc năm 221-TCN
Thời Chiến Quốc, chiến tranh không còn giữ cái luật “quân tử”- không giết kẻ như ta thường thấy ở thời Xuân Thu, mà có tính cách dã man, rừng rú: tàn phá cho thậtnhiều, đổ máu cho thật nhiều, chiếm đất bắt dân lành làm nô lệ, còn lính địch thì giếthàng ngàn, hàng vạn Dân chủng bị nạn chiến tranh bất tuyệt, già nửa phải đi lính, còn
bại-kẻ ở nhà thì phải nộp thuế gần hết phần hoa lợi Các vua chúa, đại thần, hầu hết đều
Trang 14truỵ lạc, sống cực kì xa hoa trên xương máu của dân Những bức tường do những quốcgia xây dựng nên để ngăn chặn các bộ lạc du mục phía Bắc và ngăn chặn lẫn nhau làtiền thân của Vạn lý trường thành sau này Nói về sự tàn khốc của chiến tranh, Chiến quốc sách chỉ rõ: “Càng tới gần mãn cục thì chiến tranh càng khốc liệt mà tình cảnh
càng bi đát: có nước bắt lính tới một phần năm dân số, ông già bảy chục tuổi cũng phảitòng quân, có nước thu thuế của dân tới hai phần ba huê lợi mới đủ nuôi quân đội” [41,tr.9] Phẫn uất trước cảnh tính mạng của con người bị coi rẻ do cuộc chiến gây ra, Mạnh
Tử viết: “Đánh nhau giành đất, giết người thây chết đầy đồng, đánh nhau tranh thành,giết người thây chết đầy thành” [48, tr.26-27] Mặt khác, chiến tranh và sự phát triểncủa kinh tế hàng hoá đã thực sự làm tan rã công xã nông thôn Công xã nông thôn tan rãcùng với việc mua bán ruộng đất tự do đã mở đường cho sự tập trung ruộng đất vàotrong tay số ít lãnh chúa, địa chủ giàu có Đa số nông dân nghèo mất hết ruộng đất phải
đi cày thuê, cuốc mướn để kiếm sống, từ đó xuất hiện sự bóc lột bằng phát canh thu một trong những biểu hiện của quan hệ sản xuất phong kiến Trong bối cảnh lịch sử ấy,lòng người cũng thay đổi Người ta chỉ đuổi theo tư dục mà bỏ hết nhân nghĩa Chính vìvậy, Mạnh Tử đã từng nhận xét rằng: “Hiện nay, lòng dạ người đã bị cỏ lâu (các tư dục)
tô-bế tắc hết rồi” [48, tr.266-267] Tất cả tình hình đó đã đẩy mâu thuẫn xã hội tới điểm
đỉnh, đưa chế độ chiếm hữu nô lệ đến những giờ phút cuối cùng
Chính trong thời đại lịch sử với những biến đổi toàn diện về các mặt kinh
tế, chính trị, xã hội như vậy đã dẫn đến sự thay đổi cơ bản về tư tưởng, Chiếnquốc là một: thời đại loạn, nhưng cũng là thời tư tưởng Chiến quốc phát triểnmạnh; Người đời sau gọi đây là thời kỳ “Bách gia tranh minh”- trăm hoa đua nở,trăm nhà lên tiếng
Chính trong quá trình "tranh mionh" đẻ ra những nhà tư tưởng vĩ đại,hình thành nên những hệ thống triết học khá hoàn chỉnh mà những tư tưởng cơbản của nó còn tồn tại và ảnh hường sau đó trong lịch sử tư tưởng Trung Quốccho tới các thời đại sau này
Tuy nhiên, điều đó cũng có nghĩa quá trình “tranh minh” giữa các nhà tư tưởng đó
không đưa đến một quan điểm chung thống nhất, một câu trả lời nhất quán chocâu hỏi lớn của lịch sử Trong cùng một cơ sở hiện thực xã hội, với cùng mộtmục đích, nhưng do khác nhau về địa vị lợi ích giai cấp, khác nhau trong cách
Trang 15đánh giá, nhìn nhận về thực trạng xã hội, về nguyên nhân của tình trạng loạn lạccũng như về đạo đức nhân sinh mà các nhà tư tưởng đã đề xuất những phương án
cải cách xã hội không giống nhau Chính trong quá trình đó đã xuất hiện nhiều nhà tư
tưởng vĩ đại hình thành nên những trường phái triết học như Nho gia, Đạo gia,Pháp gia, Mặc gia
Trừ ở nước Tần ra thì ở các nước khác ngôn luận được hoàn toàn tự do Các vuakhông nghi kị, mà còn tôn trọng kẻ Nho sĩ, mời họ làm cố vấn, tuy không theo chínhsách của Khổng gia, nhưng đãi họ rất hậu; còn hạng biện sĩ như Tô Tần, Trương Nghị,Phạm Tuy, Công Tôn Diễn thì một bước lên chức trưởng quốc, Có một điều chúng talần biết là thời Chiến Quốc có một điểm tiến bộ hơn thời Xuân Thu Nếu như ờ thời XuânThu, chỉ cỏ tầng lớp quý tộc được đề cao thì ở thời Chiến Quốc vì tranh đấu để tồn tại,các vua chư hầu phải dùng những người tài giỏi về chính trị, ngoại giao, kinh tế, võtrang ở bất kỳ trong giai cấp nào Chính vì vậy, địa vị của kẻ sĩ được thăng tiến, địa vịcủa hàng quý tộc giảm dần, các giai cấp được tương đối bình đẳng về pháp luật Điềunày đã hình thành nên những quan niệm của Mạnh Tử về cách đổi xử của nhà vua vớiquân thần
Trong lịch sử Trung Quốc thời cổ đại, Chiến Quốc là thời kỳ diễn ranhững biến chuyển mạnh mẽ sâu sắc về mọi mặt mà tiền đề của sự biếnchuyển ấy đã được tạo ra từ giai đoạn Xuân Thu Ngoài vấn đề kinh tế pháttriển thì ở thời kỳ này, văn hoá, học thuật (các ngành thiên văn học, y học,toán học, nông học, sinh vật học, văn học, sử học, triết học) cũng đã đạt đượcnhững bước phát triển mới và có nhiều thành tựu lớn lao
Những tri thức khoa học đó đã góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất xãhội phát triển và góp phần phát triển trình độ nhận thức Đó chính là cơ sở chothế giới quan triết học nảy nở, phát triển và để lịch sử đào tạo ra những nhà tưtưởng lớn của mình
1.2 TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG ĐỂ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
-XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ
Không có một học thuyết nào được ra đời trên mảnh đất trống không
mà sự ra đời của nó là sự kế thừa những tư tường triết học trước đó Tư tưởngMạnh Tử ra đời cũng không nằm ngoài quy luật này Chúng ta không thể giải
Trang 16thích chính xác thực chất và nội dung tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tửnếu chỉ dựa vào bối cảnh kinh tế- xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu- ChiếnQuốc mà không chú ý đến việc Mạnh Tử tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và pháttriển tư tưởng của các phái Nho giáo, Đạo giáo, Mặc gia một cách sâu sắc.
* Thứ nhất là phái Nho giáo Mạnh Tử kế thừa nhiều tư tưởng của Nho giáo, đặc
biệt là tư tưởng đức trị và học thuyết tính người của Nho giáo
Thuyết tính thiện- cơ sở lý luận trực tiếp cho tư tướng chính trị- xã hội của MạnhTử
Tìm hiểu quan điểm của Mạnh Tử về tính người là rất quan trọng vì đây là nềntảng xây dựng nên các quan điểm khác của Mạnh Tử
Tính người là một vấn đề quan trọng được Nho giáo đề cập nhiều trong lịch sửtriết học Trung Quốc Đây được coi là vấn đề trung tâm của Nho giáo, là nền tảng đểgiải quyết các vấn đề khác Nguyễn Đăng Thục cho rằng vấn đề này là “vấn đề trọngđại trong triết học phương Đông” [6, tr.22]
Vấn đề tính người được đặt ra và giải quyết trên các nội dung cơ bản sau: Bảntính của con người là gì? Do đâu mà có? Chúng ta có thể cải tạo được tính người haykhông? Và cải tạo vấn đề này nhằm mục đích gì?
Trong cuốn sách Trung dung, Khổng đã đưa ra một nguyên lý cơ bản về tínhngười: “Mệnh Trời ban cho gọi là tính, noi theo tính gọi là đạo, tu theo đạo gọi là giáo”[33, tr.85] Từ mệnh đề này, phần lớn các nhà Nho đều cho rằng “tính” của con người
có nguồn gốc từ trời, là nguyên lý tự nhiên mà trời phú cho con người và con ngườibẩm thụ lấy Theo đó, tính là cái bẩm sinh ban đầu, là cái nguyên sơ mà con người cóđược nhờ trời Như vậy, tính của con người là thiện hay ác là phụ thuộc chủ yếu vào sự
tu dưỡng, giáo dục của con người
Khổng Tử là người đầu tiên đưa ra quan niệm về “tính người” Quan niệm tính ngườicủa ông là tư tưởng có tính chất nền móng ban đầu cho các nhà Nho về sau, trong đó cóMạnh Tử kế thừa và phát triển Khi nói đến “tính người”, Khổng Tử cho rằng: “Bảntính người ta gần giống nhau, thói quen khiến xa nhau” [33, tr.614] Rõ ràng, theoKhổng Tử tính của con người khi mới sinh ra là hoàn toàn ngây thơ, trong trắng, tựnhiên, chưa bị thay đổi bởi ngoại cảnh và các yếu tố xã hội Và cái bản tính ấy do bẩm
Trang 17thụ được ở trời, cho nên mọi người đều có cùng bản tính này Đặc biệt, ông khẳng địnhrằng, cái bản tính ban đầu ấy của con người có thể bị biến đổi bởi các điều kiện, yếu tốngoại cảnh, bởi sự tu dưõng đạo đức của con người Điểm đáng lưu ý trong quan niệm
về tính người của Khổng Tử là ông đã nhìn thấy phần nào sự thật về quan hệ giữa conngười với xã hội Theo ông, con người ta không thể vượt qua cái “tập”- đó chính là sựtác động của tập quán, hoàn cảnh sống, điều kiện sống và nói rộng ra là sự chi phối củađiều kiện lịch sử cùng vói nhân sinh quan của mình Luận điểm “tính tương cận dã, tậptương viễn dã” của ông đã cho thấy sự cần thiết phải lập đạo cho con người, bởi lẽ conngười có tính do trời phú nhưng không phải ai cũng giữ được Khi người ta theo đuổidục vọng, sống phóng túng thì tính không khỏi rơi vào tình trạng bất biến Trong hoàncảnh ấy con ngưòi sẽ đánh mất đức nhân và trở thành vô đạo Con người vô đạo sẽ dẫnđến cả nước vô đạo, từ đó kéo theo cả thiên hạ vô đạo Chính vì vậy, phải lập đạo chomọi người hữu đạo, cả nước hữu đạo và cả thiên hạ hữu đạo
Như vậy, mặc dù Khổng Tử chưa luận bàn, giảng giải gì nhiều về vấn đề tínhngười nhưng quan niệm về tính của ông là tư tưởng cơ bản, đặt nền tảng ban đầu để từ
đó các nhà Nho về sau kế thừa, phát triển
Từ thời Chiến Quốc trở về sau, xã hội có nhiều biến loạn, lúc đó vấn đề tính ngườimới thực sự được các nhà Nho quan tâm với nhiều quan niệm khác nhau Sự khác nhaunày là do điều kiện lịch sử và nhu cầu cai trị của giai cấp phong kiến thống trị quy định
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, “bản tính con người là gì?” Cáo Tử cho rằng: “Bảntính người ta như nước chảy, khơi sang Đông thì sang Đông, khơi sang Tây thì sangTây Bản tính người ta không phân biệt thiện với bất thiện, cũng như nước chẳng phânbiệt Đông, Tây vậy” [33, tr.l 193] Như vậy, ở đây Cáo Tử cho rằng tính người khôngthiện, không ác
Trong sách Mạnh Tử, Mạnh Tử bàn nhiều về thuyết tính thiện ở chương Cáo Tử
Để trả lời câu hỏi “bản tính con người là gì?”, Mạnh Tử xuất phát từ những giá trị cótính xã hội và thiên về đạo đức nên khẳng định bản tính của con người là thiện Ôngnói: “Nước đúng là không phân biệt Đông Tây, nhưng há không phân biệt cao thấp haysao? Bản tính người ta vốn thiện, cũng như nước phải chảy xuống thấp vậy Người tachẳng ai là bất thiện, như nước luôn luôn chảy xuống thấp vậy” [33, tr.1193] Trongchương Cáo Tử, Mạnh Tử đã rất nhiều lần phê phán quan điểm “tính vô thiện, vô bất
Trang 18thiện” của Cáo Tử Ông nói: “Bản tính của mọi sinh vật đều gọi là tính cả thì tính củacon chó cũng như tính của con bò, tính của con bò cũng như tính của người ta, chứ gì?”[33, tr.l 195] Chúng ta thấy rằng, Mạnh Tử đã kịch liệt phê phán quan điểm tính khôngthiện không ác của Cáo Tử bằng những ngôn từ rất sắc sảo và với thái độ khắt khe.Giải thích vì sao tính người là thiện thì theo Mạnh Tử cứ theo cái bản năng củangười ta, thì ai cũng có thể làm lành, cho nên nói là thiện Nếu có điều gì bất thiện thìkhông phải là cái tội ở cái bản năng của người ta Vì ông đưa ra hình ảnh minh hoạ, đó
là đứa trẻ khi mới sinh ra vốn đã sẵn có tình cảm quyến luyến với cha mẹ, lòng yêu mếnanh chị em của mình, ai cũng động lòng thương xót và muốn cứu đứa trẻ khi nhìn thấy
nó sắp té xuống nước Và từ đây mở rộng ra, theo Mạnh Tử, ai cũng có Tứ đoan hay Tứthiện tâm Ông nói rằng: “Lòng trắc ẩn ai ai cũng có, lòng tu ố ai ai cũng có, lòng cungkính ai ai cũng có, lòng thị phi ai ai cũng có Lòng trắc ẩn là đầu mối của nhân, lòng tu
ố là đầu mối của nghĩa, lòng cung kính là đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trívậy Nhân, nghĩa, lễ, trí chẳng phải ở ngoài đổ khuôn vào ta, mà ta có sẵn cả, chẳng quakhông nghĩ tới mà thôi” [33, tr.1205] Rõ ràng, theo quan niệm của ông thì nhân, nghĩa,
lễ, trí của con người là các đức khi con người sinh ra đã có sẵn rồi
Như vậy, ở đây Mạnh Tử khẳng định bản tính con người là thiện và cái thiện là dotrời phú cho con người, nó thuộc về bản năng con người, sinh ra con người đã có sẵn.Bàn về tính người là gì, ngoài thuyết tính thiện của Mạnh Tử ra thì thời kỳ ChiếnQuốc còn xuất hiện thuyết tính ác của Tuân Tử
Trong sách Nho giáo của Trần Trọng Kim có nói rằng, sau Mạnh Tử độ bốn mươinăm có Tuân Tử là đại biểu nổi tiếng về học thuật Nho giáo Theo Tuân Tử: “tính củangười là ác, những điều thiện là người đặt ra” [38, tr.305] Tuân Tử viện các lẽ để báccái thuyết tính thiện của Mạnh Tử Theo ông, vì cái tính vốn ác nên thánh nhân mới đặt
ra nhân nghĩa lễ phép để kiểu sức cho cái tính thiện, chứ nếu tính con người là thiện thìcòn cần gì đến bậc thánh bậc vương và nhân nghĩa lễ phép làm gì nữa Ông cho rằng,
có thể giáo dục giáo hoá để thay đổi bản tính ác của con người vì “Tính là cái ta khôngthể làm ra được, nhưng có thể hoá đi được Tính là không phải tự nhiên ra có được,nhưng có thể làm cho có được Chú ý làm lụng, tập thành thói quen để hoá cái tính”[38, tr.308] Lý do Tuân Tử khẳng định và bảo vệ thuyết tính ác là vì Tuân Tử sinh sauMạnh Tử và khi đó xã hội Chiến Quốc đã rối ren và loạn lạc hơn
Trang 19Vậy, bản tính của con người có bị thay đổi không? Mạnh Tử cho rằng có: Bản tínhcủa con người là thiện, nhưng hoàn cảnh làm cho bản tính đó thay đổi Manh Tử lấy ví
dụ chứng minh rằng: “Những năm no đủ, bọn con em phần lớn hiền lành, những nămđói kém, bọn con em phần lớn hung bạo Chẳng phải tại trời phú cho tính chất khácnhau như thế Chỉ tại hoàn cảnh nhấn chìm con tim mới ra như vậy” [33, tr.1209] Conngười sở dĩ thành bất thiện là do hoàn cảnh tác động làm cho cái tâm tính bị lu mờ hoặcsai lệch tính thiện của con người làm cho con người không còn phân biệt phải trái, thiệnác
Hoàn cảnh làm cho bản tính của con người thay đổi nhưng con người lại có thể cải tạobản tính đó để đưa nó thành thiện, Mạnh Tử cho rằng: “nếu khéo bồi dưỡng, vật nàocũng sinh trưởng, nếu mất bồi dưỡng vật nào cũng tiêu ma” [33, tr.1214] Ở đây, chúng
ta nhận thấy Mạnh Tử đề cao việc giáo dục giáo hoá, bồi dưỡng đạo đức của con người
để con người từ cái mầm thiện vươn tới cái chí thiện để sánh ngang với trời đất TheoMạnh Tử, để đạt tới cái chí thiện đó thì con người phải tồn tâm, dưỡng tính, phát huyhết bản thân
Mục đích của việc cải tạo tính người là nhờ có việc cải tạo tính người mà conngười có thể nhận biết được tính, nhận biết được tính thì có thể nhận biết được trời đất
vì cái lý của muôn vật đều có đủ noi tâm tính mình Nhờ có giáo dục mà con người trởnên tốt đẹp hơn, đưa con người trờ thành bậc quân tử, đưa xã hội từ “vô đạo” thành
“hữu đạo”
Tuy nhiên, trong quan niệm về tính thiện của Mạnh Tử ít nhiều bộc lộ lập trườnggiai cấp khi ông cho rằng: một mặt, tính thiện là điểm chung, vốn có của tất cả mọingười, mặt khác ông lại cho rằng, chỉ có bậc quân tử mới giữ được tính thiện ấy cònbậc thứ dân hay tiểu nhân thường bị dục vọng, ngoại cảnh che lấp, cho nên ngay từ đầu,cái bản tính thiện do trời phú ấy dễ bị đánh mất Đó là điểm khác nhau giữa người quân
tử và kẻ tiểu nhân Sở dĩ có điều này là do ông muốn bảo vệ lập trường giai cấp củamình để duy trì trật tự xã hội cũ Vì thực chất của việc nghiên cứu bản tính con ngườicủa các triết gia, trường phái là nhằm hoàn thiện, xây dựng mẫu người có đủ khả năngđưa đời sống chính trị- xã hội vào trật tự, kỷ cương, nền nếp theo ý đồ của giai cấpmình Đề cập tới vấn đề này, Nguyễn Tài Thư có viết: Vấn đề con người trong các họcthuyết cổ đại Trung Quốc thực chất là vấn đề khả năng hoạt động chính trị- xã hội và
Trang 20phẩm chất chính trị- xã hội của con người thống trị Lý luận về vấn đề đó là nhữngquan niệm sao cho kẻ thống trị giành được chính quyền và giữ được chính quyền, saocho xã hội được yên ổn và mọi người trong đó được sống thư thả theo khuôn khổ của
tự nhiên của con người để lý giải bản tính vốn có của con người Rõ ràng, các ông chưanhận thức được rằng, bản chất, bản tính của con người là sự thống nhất không thể táchrời giữa cái sinh vật và cái xã hội Chính sự khác nhau và hạn chế cơ bản này đã dẫn tới
sự đối lập giữa “thuyết tính thiện” và “thuyết tính ác” trong Nho giáo
Mặc dù vậy, sự lý giải về bản tính con người của Tuân Tử và Mạnh Tử trái ngượcnhau nhưng đó không phải là sự đối lập nhau hoàn toàn Cả hai đều thống nhất ở chỗ
là, có thể nhờ giáo dục, giáo hoá để hướng con người ta hướng tới điều thiện QuangĐạm nhận xét rằng: “Trong học thuyết tính người, hai thầy Mạnh và Tuân chỉ khácnhau ở khía cạnh nhận xét và trình bầy chứ không hoàn toàn là quan điểm của hai cánhân riêng lẻ nào đó, mà là những quan điểm phản ánh trạng thái đầy mâu thuẫn của hệ
tư tưởng xã hội nước Trung Hoa cổ đại thời Xuân Thu - Chiến Quốc suốt trên dưới haithế kỷ trong hoàn cảnh thiên hạ vô đạo” [24, tr.26] Mặt khác, các ông đều giống nhau
ở luận điểm cho rằng, hoàn cảnh xã hội làm thay đổi bản tính con người và có thể giáodục, giáo hoá làm cho bản tính con người trở nên tốt hơn
Như vậy, khẳng định bản tính người là thiện, Mạnh Tử đã đặt người thống trị vàngười bị trị ở quan hệ bình đẳng nhận thấy họ đều có tính thiện phổ biến Thánh nhâncũng như người dân, người dân có thể tu dưỡng đạo đức để trở thành các bậc Thánhnhân Đây là tư tưởng rất mới, rất nhân đạo, nhân ái của Manh Tử so với xã hội TrungQuốc thời Chiến Quốc lúc bấy giờ
Chính học thuyết tính thiện là nền tảng, là cơ sở lý luận cho rất nhiều các họcthuyết khác của Mạnh Tử
Tư tưởng đức trị của Khổng Tử- tiền đề lý luận của tư tưởng chính trị- xã hội
Trang 21của Mạnh Tử Tư tưởng đức trị là những quan niệm về đường lối trị nước, quản lý xã hội
dựa trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức Đó là hệ thống những nguyên tắc quy phạm đạođức để điều chỉnh hành vi của con người trong các quan hệ xã hội, nhằm đảm bảo sự thốngnhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng
Đức trị phản ánh nhu cầu lợi ích xã hội của giai cấp thống trị, được biểu hiệndưới hình thức những quy định và những đánh giá trên cơ sở xác lập những giá trị luân
lý, được mọi người thừa nhận và chấp hành một cách tự giác Nó được củng cổ bằngnhững tấm gương đạo đức
Khổng Tử, tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni (551-479 TCN), sinh ra ởnước Lỗ, trong một gia đình quý tộc nhỏ đang sa sút Thời đó quê hương ông là nơi bảotồn được nhiều di sản văn hoá cũ của nhà Tây Chu Khổng Tử là một trong nhữngngười đầu tiên đề ra tư tưởng đức trị Ông rất coi trọng việc nhà cầm quyền sử dụngđức để làm chính trị Trong sách Luận ngữ đã rất nhiều lần Ông đề cao vai trò của đứctrị Khổng Tử còn khẳng định rằng, đạo đức là biện pháp hiệu quả nhất để thu phụcnhân tâm, nhân lực trong việc đường lối trị nước vì Khổng Tử nói: “Lấy đức để làmviệc chính trị cũng ví như ngôi sao Bắc Đẩu, ở yên vị mà các ngôi sao khác đều chầuvề” [33, tr.214]
Khổng Tử và Mạnh Tử đều coi đạo đức, lễ giáo có vai trò quyết định trong việcduy trì quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị và củng cố chế độ phong kiến, trongviệc quản lý xã hội Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử nói: “Dùng chính lệnh để dẫn dắtdân, dùng hình pháp để giữ trật tự, dân tránh khỏi tội nhưng chưa biết hổ thẹn Dùngđức để dẫn dắt, dùng lễ để giữ gìn trật tự, dân biết hổ thẹn mà tiến tới chỗ tốt lành” [33,tr.215] Qua đây chúng ta thấy, Khổng Tử rất đặc biệt đề cao vai trò của đức trị- coi đó
là cách trị nước tốt nhất Đứng trước bối cảnh thực tiễn của một thời đại mà “Vương đạosuy vi”, “bá đạo” nổi lên lấp át “vương đạo” của nhà Chu, trật tự, lễ nghĩa của nhà Chu
bị đảo lộn, Khổng Tử than rằng” “vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, chakhông phải đạo cha, con không phải đạo con” [33, tr.483] Trong lập trường của bộ phậncấp tiến trong giai cấp quý tộc nhà Chu, ông chủ trương lập lại trật tự của nhà Chu vớimột nội dung mới, phù hợp với hiện thực khi đó mà ông cho là “khuôn mẫu”, “lýtưởng”
Tư tưởng đức trị- của Khổng Tử là sự kế thừa tư tưởng của Vân Vương, Chu Công,
Trang 22là sự phát huy tư tưởng của thời kỳ Tây Chu để mong lập lại kỷ cương mà khi đó nhàChu đã làm cho nó trở nên suy đồi Để thực hiện lý tưởng chính tri đó của mình, ông đãxây dựng nên học thuyết về Nhân- Lễ- Chính danh Đây chính là nguồn gốc lý luận trựctiếp của triết học Mạnh Tử nói chung và tư tưởng chính trị- xã hội của ông nói riêng.Trước hiện thực xã hội thời nhà Chu bị đảo lộn, Khổng Tử cho rằng nguyên nhâncủa tình trạng đó là do tình trạng “danh không chính”, “ngôn không thuận”- nghĩa làtình trạng “loạn danh” Xuất phát từ đó ông chủ trương thiết lập lại trật tự xã hội, duy trì
kỷ cương phép nước theo đường lối “nhân trị” và đưa ra chủ nghĩa “chính danh địnhphận”
Khổng Tử là người đầu tiên đặt ra chính danh Ông yêu cầu phải đặt đúng tên sựvật và gọi sự vật bằng đúng tên của nó sao cho danh phải đúng với thực chất của sự vật.Trong tư tưởng đức trị, chính danh là yêu cầu mỗi người cần phải có một phẩm chấttương xứng với địa vị xã hội của mình và phải suy nghĩ, hành động đúng với địa vị ấy,không được tranh giành địa vị và bổn phận của người khác, giai cấp khác Nếu khôngchính danh xã hội sẽ loạn
Trên cơ sở xác định loạn danh là nguồn gốc của sự loạn lạc, phân tranh trong xã hộiTrung Quốc đương thời, Khổng Tử chủ trương chính danh để đưa xã hội từ loạn tớithịnh trị nên khi Tử Lộ hỏi về việc trị nước thì ông trả lời: ‘Tất phải chính danh chứ gì”[33, tr.498] Chính danh là yếu tố vô cùng quan trọng đối với nhà cầm quyền vì “danhkhông chính thì lời nói chẳng thuận, lời nói không thuận thì việc chẳng nên, việc khôngnên thì lễ nhạc chẳng hung vượng, lễ nhạc không hưng vượng thì hình phạt chẳngtrúng, hình phạt không trúng ắt dân không biết xử trí ra sao” [33, tr.499] Do vậy,
“người quân tử đã nêu được tên gọi ắt nói ra được lời, đã nói được ra lời ắt là làm được.Đối với lời nói ra, người quân tử không bao giờ cẩu thả vậy” [33, tr.499]
Trong thuyết chính danh, Khổng Tử phân chia xã hội thành năm mối quan hệ cơbản: vua- tôi, cha- con, chồng- vợ, anh- em, bạn- bè Tiêu chuẩn riêng cho từng đốitượng trong các mối quan hệ đó mặc dù không giống nhau nhưng nó đều thể hiện sựtôn ti, phép tắc, là tiêu chuẩn của đạo làm người Điểm đặc sắc trong quan điểm về mốiquan hệ vua- tôi là, Khổng Tử phản đối việc duy trì ngôi vua theo huyết thống Tưtưởng ấy chứng tỏ đã có lúc Khổng Tử đã vượt qua lập trường giai cấp, không coi trọngđẳng cấp xuất thân của kẻ cầm quyền mà chỉ chú trọng đến tài đức của họ Theo ông,
Trang 23có ba điều nhà cầm quyền phải thực hiện là đảm bảo lương thực cho dân no ấm, xâydựng được lực lượng quân sự hùng mạnh để bảo vệ dân và phải được lòng tin với dân.Trong ba điều ấy thì yếu tố dân tin là quan trọng nhất Như vậy, có thể nói, Khổng Tử
là người đầu tiên đã đột phá vào tập quán truyền thống trong việc lựa chọn nhà cầmquyền của xã hội trước đó và đương thời Ông luôn luôn đề cao tài đức của kẻ cai trị,quan tâm đến việc khơi dậy và phát huy những đức tính tốt đẹp ở con người và mongmuốn dùng đức để thu phục nhân tâm
Chính vì thế, để thực hiện chính danh Khổng Tử kiên trì theo quan điểm sử dụngđạo đức làm công cụ Nội dung công cụ đạo đức ông đưa ra bao gồm nhân, trí, dũng.Trong đó nhân đã bao gồm cả lễ, nghĩa, trung, trí, tín Nhân đứng đầu trong các điềuthiện, là rộng nhất của đạo làm người
Nhân theo Khổng Tử có rất nhiều nghĩa Khi trả lời thế nào là nhân, ông đã tuỳ vào
trình độ học vấn và tư cách của từng người mà trả lời có khác nhau Phàn Trì hỏi vềnhân, Không Tử trả lời: “Đó là người biết yêu người” [33, tr.493] Nhân là “làm nhân
là khắc kỷ, phục lễ” [33, tr.513] Khi Trọng Cung hỏi về điều nhân, ông trả lời nhưsau: “Điều gì mình gì mình không muốn, chớ thi hành cho người khác” [33, tr.473].Khi Tử Trương hỏi Khổng Tử về việc thi hành nhân chính, Khổng Tử nói rằng: “Cóthể làm được năm điều (đối với mọi người) trong thiên hạ, là thi hành nhân chínhvậy Khổng Tử nói: “Đó là: Cung kính, khoan dung, thành tín, cần mẫn và có ơn huệ
1 Cung kính thì không khinh nhờn, 2 Khoan dung thì được lòng mọi người, 3 Thànhtín thì được người tín nhiệm, 4 Cần mẫn thì nên công, 5 Có ơn huệ thì dễ sai khiếnngười” [33, tr.619] Tựu chung lại, nhân là những điều đối với mình và đối với người,nên nhân có thể hiểu là cách cư xử với mình và cách cư xử với người rất hợp tính hợp
lý Như Khổng Tử đã nói trong chương Lý nhân của sách Luận ngữ: “Chỉ có ngườinhân mới biết yêu người, biết ghét người (một cách chính đáng” [33, tr.267]
Đối lập với nhân là bất nhân Khổng Tử phân biệt rõ người có nhân và kẻ bấtnhân Người có nhân luôn luôn có tình cảm chân thật, biết hiếu đễ và trung thứ còn kẻbất nhân là đầy mưu mô, khôn khéo, không có tình cảm thật thà chất phác Bất nhân sẽtất yếu dẫn đến bất trung, hay làm hại tổn người khác Từ đó cho thấy, nhân là gốc lớncủa đạo làm người, nhờ đó mà mỗi người biết được phải trái, đúng sai Do đó, lời nói,hành vi của mỗi người phải phù hợp với đạo nhân, lấy nhân làm gốc Khổng Tử nói:
Trang 24“Quân tử từ bỏ đạo nhân, ôi, sao mà nên danh? Quân tử không bao giờ trái với đạonhân, dù chỉ trong khoảng một bữa ăn Lúc vội vàng cũng vậy, lúc khốn đốn cũng vậy”[33, tr.268].
Vói Khổng Tử, đứng trên phương diện nhân cách thì nhân là đạo đức riêng của conngười, còn đứng trên phương diện thực tiễn thì nhân lại trở thành nguyên tắc luân lýnên ông rất đề cao vai trò của đức nhân trong việc tri quốc, bình thiên hạ Theo ông,đức nhân phải là cái đích tu dưỡng của kẻ cai trị Nó cần thiết hơn tất cả những gì cầnthiết khác, bởi lẽ đối với nhà cầm quyên, đức nhân như một thành trì để giữ gìn và bảo
vệ những gì mà họ đã đạt được Để đạt được đức nhân để chính danh Ông nhấn mạnhvai trò của trí Khổng Tử cho rằng, người có nhân không thể thiếu trí, trí là sự sángsuốt, minh mẫn để phân biệt, đánh giá con người và tình huống nhằm xác định cáchứng xử cho phải đạo Trả lời Phàn Trì ông nói trí là: “Đó là người biết người” [33tr.493] Khi nhìn thấy người ngã xuống giếng, kẻ có trí là kẻ biết tìm cách cứu ngườichứ không phải là kẻ liều chết cứu người, hy sinh vô ích
Trí theo quan niệm của Khổng Tử, một mặt là tri thức bẩm sinh của mỗi người
do trời phú, mặt khác nó còn là kết quả của quá trình học tập trong đời sống Khổng Tửrất đề cao việc học, và bản thân ông cũng cố gắng trở thành một nhà giáo dục Tưtưởng học làm quan của ông một mặt thể hiện lập trường giai cấp, nhưng mặt khác nólại động viên con người dám đi vào đời sống xã hội, đứng ra đảm nhận việc nước, việcdân Những luận điểm “hữu giáo vô loại”, khuyên học trò tự tin ở mình, tìm cách xoá
bỏ sự thụ động của người tiếp thu tri thúc, ứng dụng việc học vào cuộc sống mà ôngđưa ra trong đường lối giáo dục, sau này vẫn được các nhà Nho trong đó có Mạnh Tử
kế thừa và phát triển
Phạm trù Dũng của Khổng Tử không chỉ có ý nghĩa về mặt thể lực mà còn có ýnghĩa về mặt tinh thần Dũng là lòng can đảm: “Người trí chẳng nghi hoặc, người nhânchẳng lo âu, người dũng chẳng sợ hãi” [33, tr.418] Lòng can đảm không có nghĩa là sựliều chết, do đó dũng gắn liền vói trí Khổng Tử nói: “cương dũng mà thiếu trí thì loạn”[33, tr.375]
Những tư tưởng trên đây cho thấy Khổng Tử luôn luôn chủ trương lấy đạo đứclàm gốc trong việc tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Đối với ông, khi nhà cầm quyền biếtmang đức nhân làm chính trị, quần chúng nhân dân sẽ cảm phục, tin theo Khi ấy họ
Trang 25ngồi yên mà được cả thiên hạ Chính trị là một công việc đầy phức tạp Từ Khổng Tửtrở về nước vấn đề chính trị thường tách rời đạo đức Sự áp đặt của kẻ cai trị thườnggây ra sự phản kháng của nhân dân, từ đó sinh ra loạn lạc Khổng Tử nhận thấy nướcloạn, lòng dân không yên chẳng qua do vua không ra vua, tôi không ta tôi, cha không racha, con không ra con Chính vì vậy, ông khuyên Tề Cảnh Công: “quân quân, thầnthần, phụ phụ, tử tử” Để làm được điều đó ông đòi hỏi người làm chính trị phải là tấmgương sáng về đạo đức cho dân, họ phải tu thân, không được lười biếng, phải có tấmlòng trung thực trong cách đối xử và trong công việc Như vậy, trong nghĩ của ông,việc làm chính trị cốt ở bản thân mình.
Mặt khác, trong chính trị, Khổng Tử rất coi trọng giáo hoá dân, đề cao nhân tài,tài lại không tách rời với đức Khi kẻ tài đức chấp chính họ sẽ biết lo cho dân về kinh
tế, quốc phòng và biết cai trị bằng đắc nhân tâm Chính những tư tưởng ấy của ông đãđặt nền móng tư tưởng dân bản trong đường lối chính trị của Mạnh Tử sau này
Từ đường lối chính trị trên đây của Khổng Tử, chúng ta nhận thấy Khổng Tửchính là người đặt nền móng cho tư tưởng đức trị Tư tưởng ấy của ông thể hiện tập
trung ở những luận điểm: lấy đạo đức dẫn dắt nhân dân, hướng dẫn dân làm giàu kết
hợp với giáo hoá dân và coi trọng dân sinh
Kế thừa tư tưởng chính danh của Khổng Tử, khi đưa ra mối quan hệ giữa ngườivới người trong xã hội, Mạnh Tử cũng yêu cầu con người trong xã hội phải danh chínhngôn thuận, ứng xứ đúng với địa vị danh phận của mình Như trong chương Đằng VănCông, Mạnh Tử nói: “Thánh nhân dạy dân biết các giềng mối của con người: giữa chacon có tình thân ái, giữa vua tôi có nghĩa vụ, vợ chồng có phân biệt, anh em có thứ tự,bạn bè có chữ tín” [33, tr.949] Như vậy, con người phải nắm vững danh phận của mìnhvới người khác trong xã hội để mà hành xử sao cho phù hợp
Mạnh Từ sống sau Khổng Tử hơn một trăm năm Thời đại của ông hỗn loạn hơnđời Khổng Tử cả về phương diện xã hội lẫn tư tưởng Trong khi các triết gia đương thờiđang cố gắng tìm ra hướng đi mới trong việc bình ổn xã hội thì Mạnh Tử vẫn trungthành vói đường lối đức trị trên đây của thầy mình Toàn bộ tư tưởng chính trị- xã hộicủa Mạnh Tử được ông xây dựng trên nền tảng là tư tưởng đức trị của Khổng Tử nên
có thể nói, tư tưởng đức trị Khổng Tử đưa ra từ thời đại Xuân Thu chính là nguồn gốc
lý luận trực tiếp cho tư tưởng chính trị- xã hội của ông
Trang 26* Thứ hai, Manh Tử chịu ảnh hưởng của phái Mặc gia.
Mặc Tử (480- 420 TCN) là người sáng lập ra phái Mặc gia Mặc Tử đề cao đức kiêm ái,coi mọi người như mình, phải yêu thương giúp đỡ mọi người như người thân của mình,như bản thân mình Nếu ai cũng theo đạo kiêm ái được thì thiên hạ sẽ trị, sẽ không còn
sự tranh cướp lẫn nhau Bên cạnh đó, Mặc Tử còn đề cao tư tưởng thượng đồng và phi công Thượng đồng là cái gì trên cho là phải thì ở dưới cũng phải nhận là phải, cái gì
người trên cho ra trái thì người dưới cũng phải nhận là trái Tư tưởng phi công là khôngthích chiến tranh, chém giết lẫn nhau Thời Chiến Quốc bấy giờ, vua chúa các nước đều
để chí vào sự doanh tư, mưu lợi, không ai nghĩ đến sự cứu dân, ai cũng chỉ lo việc tranhquyền cướp nước, gây ra chiến tranh, làm cho thiên hạ thật là khổ sở Chịu ảnh hưởng
tư tưởng phi công của Mặc gia, Mạnh Tử hết sức công kích chiến tranh và những người
vị danh, vị lợi mà làm hại dân Công kích chiến tranh, thì Mạnh Tử nói: “Có kẻ khoerằng: “Tôi giỏi bày trận, tôi chiến đấu giỏi” Đó là tội rất lớn vậy” [33, tr.1340] Nhưvậy, đứng trên lập trường chủ trương ôn hoà, ông không ủng hộ chiến tranh của nhàcầm quyền
Mạnh Tử ủng hộ thuyết phi công của Mặc Tử nhưng lại đả kích tư tưởng thượngđồng vì theo ông trong xã hội người cầm quyền phải lắng nghe ý kiến của dân, “dân viquý” còn “quân vi khinh” Ngoài ra, Mạnh Tử còn đả kích tư tưởng Kiêm ái của Mặcgia Theo ông, chủ nghĩa Kiêm ái của Mặc gia là không hợp nhân tình, là coi cha mẹngười như cha mẹ mình, tức là không có cha Trong mắt không có vua, trong mắtkhông có cha mẹ, thế thì thành cầm thú rồi
Mạnh Tử đề cao quan hệ thân tình, theo ông, đối đãi người nhà và người ngoài phảikhác nhau Trong chương Ly lâu, tập hạ, ông nói: “Nếu có người trong nhà đánh nhau,
ta dù có liều mình xông vào cứu họ, cũng là chuyện nên làm Nếu ngoài đường đangđánh nhau, cũng liều mình đi cứu, đó chính là người hồ đồ” [33, ừ 132] Tuy nhiên,nói như vậy không có nghĩa là Mạnh Tử là người ích kỷ, chỉ biết đến người thân màkhông biết đến người khác, không biết đến đồng loại vì phương châm của ông làthương yêu người thân, nhân ái với mọi người, yêu quý vạn vật, ông nói: “Người quân
tử đối với loài vật thì yêu quý, nhưng không có lòng nhân, đối với người thì nhân hậu
mà không yêu người thân rồi mới nhân hậu với người, …” [33, tr.1334]
Sở dĩ Mạnh Từ đề cao quan hệ thân thuộc, tình yêu thương gia đỉnh và người
Trang 27thđn bởi vì ông thấm nhuần quan điểm của Nho giâo “tề gia, trị quốc, binh thiín hạ”Gốc của nước lă nhă, trị gia tốt lă tiền thđn của trị quốc tốt, nhưng yíu người thđn, tônkính bề trín vốn lă nguyín tắc của trị gia Theo Mạnh Tử trị quốc cũng phải noi theonguyín tắc của trị gia vì quốc gia chính lă một đoăn thể do vô số gia đình hợp thănh.
* Thứ ba, Mạnh Tử chịu ảnh hưởng của phâi Dương Chu.
Tư tưởng củaa phải Dương Chu họ lă phong phú vă đa dạng nhưng đều đồng nhấtvới nhau ở một điểm lă, lợi ích cao nhất của câ nhđn lă gì, vă lăm thế năo để đạt tới lợiích cho câ nhđn, tức lă họ chủ trương vị ngê Mạnh Tử đê phí phân tính cực đoan củaMặc Tử vă Dương Chu Trong chương Tận lầm, tập thượng, Mạnh Tử nói: “Dương Tửchủ trương thuyết “vị ngê”- nhổ một sợi lông mă lăm lợi được cho thiín hạ cũngkhông nín lăm Mặc Tử theo thuyết "kiím âi”- dẫu phải sứt trân, mòn gót mă lămđược lợi cho thiín hạ cùng nín lăm Tử Mạc theo thuyết chấp trung Chấp trung thigần với đạo, Nhưng chấp trung mă không quyền biến thì cũng như chấp nhất vậy, điềuđâng ghĩt ở tinh chấp nhất lă lăm hại đạo Được một điều thì hại trăm điều”
Vă theo Mạnh Tử, đời nay suy đồi, đạo mờ tối, những tă thuyết, hănh động bạongược nổi lín Những chuyện bề tôi giết vua, con giết cha lă do bị ảnh hưởng một phầnbởi những học thuyết năy Chính vì điều năy nín Mạnh Tử rất lo lắng muốn bảo vệ họcthuyết của Nho giâo, phản đối học thuyết củaa Dương Chu vă Mặc Tử Trong khi nóichuyện với Công Đô Tử, Mạnh Tử nóí rằng: Thânh vương chẳng dấy lín, câc vua chư
hầu buông thả, những kỉ sĩ ẩn dật tha hồ băn ngang nói dọc Lời lẽ của Dương Chu, Mặc
Định trăn ngập thiín hạ Những lời của thiín hạ ngăy nay không theo họ Dương thìcũng theo họ Mặc Dương thì chủ trương thuyết vị ngê, ấy lă kẻ không vua, Mặc thị níuthuyết kiím âi, ấy lă kẻ không cha Không cha, không vua lă cầm thú vậy [33, tr.1002]
* Thứ tư, Mạnh Tử chịu ảnh hưởng của phâi Đạo gia.
Lêo Tử được coi lă một trong những người sâng lập ra Đạo giâo Sử sâch ghi lại lẵng sống cùng thời với Khổng Tử Trong tư tưởng triết học của mình, Lêo Tử đê đưa raphạm trù Đạo Có nhiều câch lý giải khâc nhau về “Đạo” nhưng nhìn chung đều thốngnhất ở luận điểm, theo Lêo Tử, “Đạo” lă “tính quy luật của tự nhiín”, lă “thực thể” tinhthần tuyệt đối sinh ra vạn vật, con người hănh động cũng đều phải theo “Đạo” Mạnh
Tử cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng “Đạo” của Lêo Tử, sau năy ông phât triển thănhthuyết “thiín mệnh”
Trang 28Tuy nhiên, về mặt chính trị- xã hội thì Lão Tử lại chủ trương “vô vi” xa rời chínhtrị, trốn tránh hiện thực Ông nói, “Chính phủ yên tĩnh vô vi, thì nhân dân sẽ biến rachất phác; chính phủ tích cực làm việc thì nhân dân sẽ có tai họa” [78, tr.45] hoặc
“thánh nhân vô vi, do đó, họ sẽ không bị thất bại; cái gì cũng không có, do đó, họkhông mất gì cả” [78, tr.45] Ngoài ra, Lão Tử còn phủ định vai trò của tri thức vàkhuyên con người nên trở về với trạng thái tự nhiên chất phác của con trẻ, cần “vôdanh”
Về điều trên, Mạnh Tử phê phán Lão Tử Theo Mạnh Tử, con người cần phải tudưỡng rèn luyện không ngừng để trở thành người quân tử, trở thành Thánh nhân Ngoài
ra, trước tình cảnh xã hội biến loạn như thời Chiến Quốc thì người quân tử nên tudưỡng rèn luyện, tham gia vào công việc chính trị, giúp vua trị nước an dân
* Thứ năm, Mạnh Tử chịu ảnh hưởng của phái Pháp gia.
Cuối thời Chiến Quốc là giai đoạn hình thành quan hệ sản xuất phong kiến Giai cấpđịa chủ đã giành được vai trò chủ đạo ở cơ sở hạ tầng của xã hội, nhiệm vụ còn lại của
họ là lật đổ kiến trúc thượng tầng, hoàn thành quá trình phong kiến hỏa Giai cấp địachủ muốn dùng bạo lực nhanh chóng kết thúc cục diện phân tán, các chư hầu thôn tínhlẫn nhau để thống nhất đất nước, quyền lực tập trung một mối, trật tự phải được sắp xếplại, sức lao động cần phải được bảo vệ Pháp gia coi trọng việc dùng hình pháp đểtrừng trị kẻ có tội Pháp luật phải được thi hành rộng rãi, nghiêm minh, có như vậy thì
xã hội mới trở nên thanh bình được Tư tưởng của Pháp gia là phản ánh tư tưởng, ý chícủa giai cấp địa chủ vào cuối thời Chiến Quốc
Như đã nói ở trên, chính cách dùng biến pháp cùa Thương Ưởng, coi trọng việcthi hành luật pháp công minh nên nhà Tần dưới sự giúp đở cố vẩn của Thương Ưởng
đã nhanh chỏng lớn mạnh vượt trội so với các nước trong khu vực Điều này cũng ảnhhưởng tới Mạnh Tử
Theo Mạnh Tử, pháp luật cũng có vai trò quan trọng trong xã hội Ông cũng yêucầu pháp luật phải nghiêm minh, không được vì tình riêng Trong chương Tận tâm, tậpthượng, khi trả lời học trò Đào Ứng về mối quan hệ giữa tình cảm và pháp luật thì mộtmặt Mạnh Tử thể hiện sự coi trọng đạo đức là nhiệm vụ hàng đầu của vua, nhưng mặtkhác, Mạnh Tử cũng không thể phủ nhận tính trọng yếu của pháp luật Vua đã khôngthể vì tình ruột thịt mà không coi trọng pháp luật, lại không thể dùng pháp luật để làm
Trang 29tổn hại đến tình ruột thịt Ông ta chỉ còn cách duy nhất là vứt bỏ ngôi vua, như vậy, vừabảo vệ được nhân luân, lại không đến nỗi công nhiên coi thường pháp luật Cho nên,người làm vua nên giải quyết ôn hòa cả hai mặt đạo đức và pháp luật vì theo Manh Tử:
“Chỉ có lòng thiện thì không đủ cai trị dân, chỉ có luật pháp thì không đủ thi hành” [33,
tr 1015] Rõ ràng, ở đây Mạnh Từ đã đề cao việc kết hợp cả đạo đức và pháp luật, vềđiều này, ông đã tiến xa hơn các nhà Nho trước đó, hầu hết họ đều đề cao và tuyệt đốihóa phương pháp đức trị, chưa đánh giá đúng đắn vai trò của pháp trị
Xuân Thu- Chiến Quốc là thời kỳ đánh dấu sự nở rộ và phát triển của các họcthuyết Nho giáo, Mặc giáo, Đạo giáo, Pháp gia Mạnh Tử sinh vào cuối thời Chiến Quốcnên những học thuyết này ít nhiều đều ảnh hưởng tới tư tưởng của Mạnh Tử Và chínhnhững học thuyết là tiền đề tư tưởng hình thành nên tư tưởng của Mạnh Tử về tất cả cácvấn đề trong cuộc sống
chính trị- xã hội của Mạnh Tử cũng thế, nó xuất hiện không phải một cách ngẫu nhiên
và cũng không phải do ý muốn chủ quan của Mạnh Tử mà từ yêu cầu của xã hội TrungQuốc thời Xuân Thu- Chiến Quốc Xuân Thu- Chiến Quốc được coi là một trongnhững thời kỳ có nhiều biến động rối ren nhất trong lịch sử Trung Quốc Thời kỳ này
đánh dấu sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và sự xuất hiện của chế độ nhà nước phong
kiến Địa vị của nhà Chu bị suy tàn, các nước chư hầu nổi lên lấn áp nhà Chu Mặtkhác, chiến tranh kéo dài liên miên giữa các nước chư hầu đã làm cho đời sống nhândân càng ngày càng thêm khổ cực, trật tự xã hội bị rối loạn, lễ nghĩa nhà Chu bị phá hoại
Đặc biệt là thời kỳ Chiến Quốc đã diễn ra rất nhiều cuộc chiến tranh Thực tiễn xã
hội ấy đã đặt ra vấn đổ cấp bách đòi hỏi lịch sử phải giải quyết: đó là làm sao
để xây dựng xã hội đương thời trở thành xã hội lý tưởng, thái bình thịnh trị? Điều
Trang 30này đã kích thích các bậc tài sĩ đương thời quan tâm lý giải Họ tranh luận, phê phán
lẫn nhau về biện pháp khắc phục tình trạng vô đạo của xã hội đương thời vàkiến tạo xã hội tương lai Chiến Quốc là một thời đại loạn, nhưng cũng là thời
tư tưởng Trung Quốc phát triển mạnh, như đang lên men Người đời sau gọi đây
là thời kỳ “Bách gia tranh minh”- trăm hoa đua nở, trăm nhà lên tiếng
Thứ hai, tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử được hình thành còn là sự kế
thừa các tư tưởng trước đó Mạnh Tử đã tiếp thu có phê phán một số tư tưởng của các
phái Nho giáo, Đạo gia, Pháp gia, Mặc gia Đặc biệt tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh
Tử làm cụ thể hơn đường lối nhân chính, đã kế thừa rất nhiều tư tưởng đức trị củaKhổng Tử, đó chính là học thuyết nhân của Khổng Tử Tuy nhiên, ở Khổng Tử ông mới
chỉ dừng lại ở luận điểm dùng đức để trị người còn ở Mạnh Tử đã phát triển hay nói
cách khác là mở rộng, cụ thể hơn đường lối đức trị của Khổng Tử thành đường lốinhân chính
Thứ ba, tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử còn được ông xây dựng trực tiếp
trên nền tảng của thuyết tính thiện là quan điểm khá đặc sắc của ông về đạo đức nhân
sinh Theo Mạnh Tử, con người sinh ra ai cũng mang tính thiện, ai cũng có lòng yêu
thương con người Bốn đức nhân, lễ, nghĩa, trí đều là bản tính sẵn có của con người,dẩu thuộc về lương tâm với tính thiện là một Khi lương tâm thất lạc thì phải biết tìmlại nó Với Mạnh Tử, việc tồn tâm, dưỡng tính trước hết là do chính bản thân mình nênquá trình làm cho thiên hạ trở về có đạo phải là quá trình thức tỉnh lương tâm mỗingười bằng sự giáo huấn tư tưởng, tuyên truyền đạo lý Chính vì thế, cách tốt nhất đểđưa con người vào nề nếp kỷ cương là sử dụng đạo đức nhân nghĩa chứ không phảidùng hình pháp Từ đó cho thấy, đường lối “nhân chính” trong tư tưởng chính trị- xãhội của Mạnh Tử là hệ quả tất yếu của quan niệm về bản tính thiện của con người củaông Thuyết tính thiện mà ông xây dựng trên cơ sở kế thừa quan niệm về tâm tính củacác nhà tư tưởng trước đó chính là cơ sở lý luận góp phần giải thích tại sao Mạnh Tử lạiphản đối hình pháp và chủ trương dùng nhân nghĩa trong công việc trị nước của nhà cầmquyền
Trang 31Chương 2 NỘI DUNG CHÍNH TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
CỦA MẠNH TỬ
2.1 ĐƯỜNG LỐI "NHÂN CHÍNH" CỦA MẠNH TỬ
Có thể nói, điểm đặc sắc nhất trong tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử là tưtưởng “nhân chính”, tức là làm chính trị bằng “nhân nghĩa” Trên cơ sở kế thừa và cảibiến các phạm trù đạo đức của Khổng Tử, Mạnh Tử đã đặc biệt đề cao vai trò củanghĩa, kết hợp nhân với nghĩa thành phạm trù nhân nghĩa Xuất phát từ đó, ông vậndụng nhân nghĩa vào công việc chính tri của nhà cầm quyền hình thành nên tư tưởngnhân chính với những nội dung cơ bản: đề cao vai trò của đường lối nhân chính, xâydựng đường lối nhân nghĩa, cách ứng xử của vua và bề tôi, hoàn thiện đạo đức của vuaquan, sự khác nhau giữa vương đạo và bá đạo Tư tưởng ấy chính là tâm điểm của toàn
bộ triết học Mạnh Tử nói chung và tư tưởng chính trị- xã hội của ông nói riêng
Khổng Tử chính là người đặt nền móng cho chủ trương chính trị ấy với quanđiểm “vi chính dĩ đức”, tức là lấy đức để làm chính trị Đến thời Chiến Quốc, xã hộiTrung Hoa chuyển biến mạnh mẽ từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến,Mạnh Tử đã kế thừa tư tưởng đức trị của Khổng Tử và cụ thể hoá tư tưởng ấy bằngđường lối “nhân chính” nhằm phản đối phương pháp “pháp trị” của giai cấp địa chủmới lên Vẫn trên nền tảng đức nhân của Khổng Tử nhưng Mạnh Tử chủ trương hiệnthực hoá đức nhân trong đời sống xã hội, đưa ra tư tưởng nhân nghĩa và vận dụng nhânnghĩa vào hiện thực xã hội thành nhân chính - làm chính trị được lấy đức “nhân” làmnền tảng
Xuất phát từ tình trạng xã hội phi nhân tính, rối ren đang chi phối đời sống xã hội
và sự nhìn nhận bản tính của con người trên phương diện đạo đức, đặc biệt là nhằm đưa
xã hội từ loạn đến trị và nhằm tạo ra mẫu người lý tưởng cần có của xã hội đó, Mạnh Tử
đề ra đường lối nhân chính để lãnh đạo xã hội Mạnh Tử coi đạo đức, lễ giáo có vai tròquyết định trong việc duy trì quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị và củng cố chế
độ phong kiến, trong việc quản lý xã hội Kế thừa những tư tưởng đức trị của Khổng Tử,trong sách Mạnh Tử, Mạnh Tử bàn rất nhiều vể vai trò của đạo đức trong việc trị nước.Nay nhà vua phát khởi chính sách tốt, thi hành nhân đức, sẽ khiến được các kẻ làm quankhắp thiên hạ đều muốn đứng nơi triều đình nhà vua, những người làm ruộng đều muốn
Trang 32canh tác nơi ruộng nhà vua, những nhà buôn đều muốn cất giữ hàng hóa noi chợ búanhà vua, những lữ hành đều muốn đi lại trên đường của nhà vua, rồi trong thiên hạnhững người oán ghét vua của mình sẽ tới tố cáo với nhà vua Được như thế thì ai màngăn cản nổi nhà vua dựng vương nghiệp [33, tr.755].
Khi trả lời Vạn Chương, ông cho rằng nước Tống suy yếu hơn thời trước bởi vì
không chịu thi hành chính sách vương chính còn “nếu chịu thi hành vương chính thì mọi
người trong bốn biển đều ngửng đầu trông ngóng muốn cho làm vua” [33, tr.987]
Mạnh Tử còn cho rằng, đạo đức và việc thi hành đạo đức còn là biện pháp tốt nhất đểloại trừ tình trạng phi đạo đức trong xã hội, là phương tiện để duy trì trật tự, kỷ cương
và sự ổn định của xã hội Sách Mạnh Tử có ghi lại việc Thuần Vu Khôn hỏi Mạnh Tử
về việc có biện pháp nào để cứu cho thiên hạ khỏi chìm đắm thì Mạnh Tử trả lời:
“Thiên hạ chìm đắm, phải cứu vớt bằng đạo lý Ông muốn dùng tay không để cứu vớtthiên hạ chăng?’ [33, tr.1045] Ở đây, Manh Tử đã nhấn mạnh và đề cao việc phảidùng đức để trị của người cầm quyền Ngoài ra, theo Mạnh Tử, điều đáng lo ngại cho
sự trường tồn của một quốc gia là con người không có đạo đức - không có đạo đức lànguy cơ mất nước rất cao Trong chương Ly Lâu, tập thượng, ông nói: “Thành quáchchẳng hoàn bị, binh giáp chẳng nhiều, chưa phải là tai họa cho đất nước, ruộng nươngchẳng mở mang, của cải chẳng tích tụ, cũng chưa nguy hại cho đất nước; nhưng ngườitrên không giữ lễ, người dưới không học hỏi, dân hung hăng dấy lên, thì nước mấtchưa biết ngày nào” [33, tr.1015] Vậy, trong vấn đề trị nước thì đạo đức của người dân
có vai trò quan trọng hơn tất cả các yếu tố khác Khẳng định điều này, mục đích củaMạnh Tử là nhằm đề cao phương pháp dùng đức để trị của người cầm quyền
Xuất phát từ chủ trương dùng nhân nghĩa trong chính trị, nhằm nhấn mạnh hơnnữa vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự tồn vong của một chế độ xã hội, Mạnh
Tử đưa ra tư tưởng lấy nhân làm trọng Tư tưởng này thể hiện rõ nét và sâu sắc đườnglối “nhân chính” trong tư tưởng chính trị- xã hội của ông Từ chỗ thấy được tầm quantrọng của ba yếu tố thiên, địa, nhân, Mạnh Tử nhấn manh tới yếu tố nhân hoà Theoông, nhân hoà là yếu tố quyết đinh sự thành công của nhà cầm quyền, bởi lẽ: “thờ trờichẳng bằng lợi đất; lợi đất chẳng bằng lòng người hoà hiệp” [47, tr.114-115] Với lậpluận ấy, Mạnh Tử muốn khuyến cáo các vua chư hầu: việc trị quốc bình thiên hạ cầnphải nhận được sự ủng hộ của đa số dân chúng Bờ cõi chắc chắn, núi non hiểm trở và
Trang 33vũ khí tốt mới chỉ là những điều kiện cần nhưng chưa đủ cho ông vua làm nên nghiệplớn Điều quan trọng nhất là phải có “lòng người hoà hiệp” Và, cố nhiên để lòng người
có thể hoà hiệp thì nhà cầm quyền cần phải tri nước theo “đạo chính nghĩa” hướng tớidân và vì dân
Mạnh Tử xuất phát từ thực tế các giai tầng trong xã hội và đã phân ra xã hội baogồm hai tầng lớp: lao lực và lao tâm Và ông cũng là một trong những người đầu tiênđưa ra và phân biệt lý giải hai đường lối trị nước là vương đạo và bá đạo một cách rõràng nhất
Trong đường lối “nhân chính”, Mạnh Tử cho rằng, nhà vua, nhà cầm quyền là nhữngngười thực hiện công việc lao tâm, họ sống dựa vào dân, vì dân là những người cungcấp vật chất cho nhà cầm quyền Nhưng đồng thời, nhà cầm quyền cũng là nhữngngười đóng vai trò quan trọng đối với sự an ninh của xã tắc vì họ nhà người làm nhiệm
vụ chèo lái, dẫn dắt dân chúng Mạnh Tử quan niệm, nhà vua, người cầm quyền lànhững người được hưởng mệnh Trời làm trách nhiệm là cha mẹ của dân, thay trời trịdân Quan niệm của Mạnh Tử về một ông vua, người cầm quyền có đạo đức biểu hiệntrong sự thống nhất giữa nội thánh và ngoại vương, giữa tri và hành Nội thánh là bảnthân mình phải có đầy đủ các đức tính cơ bản của bậc thánh như đức Nhân- tức là lòngthương người Hiếu đễ- tức là phải hiếu, kính cha mẹ, kính anh nhường em Trung thứ-tức là lòng trung hậu, hoà mục, khiêm tốn, không giả dối quanh co, trong công việcphải siêng năng, trọng nghĩa khinh lợi Nói tóm lại, nội thánh bao gồm năm đức tỉnh cơbản: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Ngoại vương là sự thể hiện, thi hành cái nội thánh ra bênngoài theo đường lối vương đạo để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, thực hiện đường lốichính trị vương đạo Trong mối quan hệ giữa nội thánh và ngoại vương thì nội thánh là
cơ sở bên trong của ngoại vương, là yếu tố quyết đinh ngoại vương; còn ngoại vươngchỉ là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội thánh, là hiện thực hoá cái nội thánh Theonghĩa này, tri là sự hiểu biết, là sự lĩnh hội cái đạo làm vua còn hành là đem cái sự hiểubiết ấy thi hành trong việc trị nước, trị dân Nội thánh ngoại vương là đối với bản thânthì tu dưỡng theo đạo đức thánh hiền, đối với bên ngoài thì thực hiện đường lối đức trị.Manh Tử đi chu du giảng về đạo trị nước cho các vua và đi đến đâu ông cũng raogiảng về đường lối trị nước nhân chính Mạnh Tử cho rằng ai có phẩm chất đạo đức tốtthì mới nên ở ngôi vị cao nhất Người cầm quyền mà ăn ở bất nhân, không có đạo đức
Trang 34thì chỉ gây đau khổ cho dân Trên cơ sở đó, Mạnh Tử đã phân biệt rõ vương đạo, báđạo.
Theo Mạnh Tử, bá đạo là chính sách cai trị chỉ dựa vào sức mạnh để bắt người ta quyphục Dùng sức mạnh để buộc người ta quy phục, là làm những điều bất thiện, nhữngđiều trái với lương tâm con người Người cầm quyền thi hành chính sách bá đạo thìkhông thể bắt tâm người ta quy phục Trái lại, vương đạo là chính sách cai trị dựa vàođạo đức đánh vào lương tâm con người, làm cho con người nhận thức được phải trái để
tự giác tuân theo Trong chương Công Tôn Sửu, tập thượng, Mạnh Tử nói: Dùng sứcmạnh chinh phục, giả làm nhân chính, đó là bá Muốn làm bá, tất phải cần một đấtnước rộng lớn Dùng đức để thi hành nhân chính, đó là vương Muốn là vương, khôngphải đợi có nước lớn Vua Thành Thang khởi từ một nước vuông bảy chục dặm, VănVương từ một nước vuông vức trăm dặm Dùng sức mạnh để chinh phục, người tachẳng tâm phục, mà chỉ vì không đủ sức (chống lại) thôi Dùng đức để chinh phục,người ta thật lòng vui vẻ, mà thành thật tin phục, như bảy mươi đệ tử tín phục Khổng
Tử vậy [33, tr.852]
Mạnh Tử yêu cầu người cầm quyền phải sử dụng đức nhân trong đường lối trịnước của mình Nhân chính còn thể hiện như một yêu cầu tất yếu trong việc thi hànhnhân chính Khi vua Lương Huệ Vương hỏi Mạnh Tử có cách gì làm lợi cho nước ôngkhông? Mạnh Tử đáp lại rằng: “Nhà vua hà tất nói tới lợi, chỉ nên nói tới nhân nghĩa
mà thôi” [33, tr.712] Hay ở chỗ khác, Mạnh Tử cũng đề cao vai trò của việc bao bọcdân trong việc dựng vương nghiệp của nhà vua, “Bao bọc dân để dựng vương nghiệp,thì không ai ngăn cản được” [33, tr.754]
Từ Khổng Tử trở về trước, hai chữ vương, bá chỉ có nghĩa là các mức độ củaquyền hành, không có ý nghĩa đạo đức, như vua nhà Chu gọi là vương, Tề Hoàn cônggọi là bá, vua các nước nhỏ hơn nữa gọi là chư hầu Mạnh Tử có lẽ là người đầu tiênphân biệt vương và bá về phương diện đạo đức, chứ không xét về phương diện thế lực.Trong việc thi hành đường lối vương đạo, Mạnh Tử khuyên nhà cầm quyền nếu muốnlàm cha mẹ dân thì phải hoà mình vào cuộc sống của dân chúng để thấu hiểu nỗi khổ
và đồng cảm với họ, không nên chỉ biết hưởng thụ, xa hoa mà để cho dân chúng đóikhổ Mạnh Tử nói: “Bếp nhà vua có thịt béo, tàu ngựa có ngựa mập, mà dân có sắc đói,ngoài đồng ruộng người chết đói nằm la liệt, như thế là xua thú ăn thịt người vậy! Loài
Trang 35thú ăn thịt lẫn nhau, người ta còn ghét, huống gì làm cha mẹ dân, coi việc hành chính,
mà không tránh khỏi việc xua thú ăn thịt người? Sao có thể làm cha mẹ dân được?”[33, tr.727] Ở chỗ khác, Mạnh Tử nói: “Nay nhà vua biết chung vui với dân, ắt dựngnên vương nghiệp vậy” [29, tr.765] Khi đưa ra một vấn đề gì, Mạnh Tử khuyên nhàvua cần lắng nghe sự đóng góp ý kiến của dân chúng, tức là nhà vua phải coi trọng ý
dân, lòng dân, “Những cận thần đều nói một người là nên giết, vua chớ nên nghe; các quan
đại phu đều nói là nên giết, cũng chớ nên nghe Người trong nước đều nói là nên giết,bấy giờ mới nên xem xét Thấy đúng là đáng giết, mới nên giết đi Vậy là dân đã giếtvậy Như thế mới đáng làm cha mẹ dân” [33, tr.794]
Thực hiện nhân chính là công việc của vua chúa nên trước hết vua chúa phải lànhững người có nhân đức Mạnh Tử cho rằng, khi vua chúa là kẻ bất nhân, họ sẽ khôngchịu nghe theo lẽ hay, lẽ phải Đối với cảnh nguy hiểm, họ vẫn cho là an ổn, đối vớiviệc tai hại, họ vẫn cho là tiện lợi Thật ra những kẻ bất nhân là những kẻ không tự biết rằng “họ thích những chuyện làm cho họ diệt vong” Chính vì thế: Kẻ bất nhân nếu ở
ngôi cao, chỉ cho khỏi gieo rắc những nết xấu của mình trong dân chúng Nếu bề trênchẳng nghe theo đạo lý mà xét nét, bề dưới chẳng theo pháp luật mà giữ gìn; trong triềuđình, người ta chẳng tưởng đạo nghĩa, ngoài châu quận, người ta chẳng tưởng pháp độ;quân tử có tri thức thì phạm tiết nghĩa, tiểu nhân vô học vấn thì phạm hình luật [48,tr.6-7], khi ấy quốc gia sẽ roi vào tình trạng nổi loạn
Vậy, vương đạo là cách thức cai trị gắn liền với đạo đức Hay nói cách khác, vương đạo
đó chính là đức trị của người cầm quyền Ở đây, Mạnh Tử cũng lấy dẫn chứng về báđạo và vương đạo Theo ông, sở đĩ các triều đại trong quá khứ được thiên hạ là nhờ biếtlàm nhân (đó là các trường hợp vua Vũ lập ra nhà Hạ, vua Thương lập ra nhà Thương
và vua Võ Vương dựng lên nhà Chu) Ngược lại, các triều đại mất thiên hạ là do đãthực hiện chính sách bất nhân, bá đạo (đó là các trường hợp vua Kiệt làm mất nhà Hạ,vua Trụ để mất nhà Thương, vua Lệ và vua Ư nhà Chu mất ngôi) Chính vì vậy, Mạnh
Tử đòi hòi các vua chư hầu phải trị nước theo đường lối nhân chính Đối vói ông, đó làcách duy nhất để đưa xã hội Trung Quốc đương thời ra khỏi cảnh loạn lạc, phân tranh
và đó cũng là phương pháp tốt nhất để một ông vua củng cố sự nghiệp
Trong học thuyết chính trị- xã hội, Mạnh Tử rất quan tâm tới việc dùng người củanhà vua Quan lại là những người giúp vua trị nước Trong số những người giúp vua trị
Trang 36nước, không phải ai cũng là kẻ quân tử Mạnh Tử cho rằng trong sổ các quan chức, cóhạng người chuyên thờ vua, và trong khi phục vụ vua, họ chỉ cố sức nịnh hót làm đẹplòng vua Có hạng quan chức an phận, thờ ơ trong công việc Có loại “thiên dân”- tức
là hạng người được trời ủng hộ và hiểu mệnh Trời- loại người này trước là làm quantạo thế hành đạo, sau đó mới chịu trách nhiệm mà thi hành đạo đức Loại quan chứccuối cùng, Mạnh Tử gọi là “Bậc thánh nhân”, tức là loại có chí lớn về đạo quân tử.Hạng người nay chuyên tu thân sửa mình làm gương cho thiên hạ
Trong bốn loại quan chức trên đây, Mạnh Tử đề cao loại quan chức cuối cùng
(bậc đại nhân) Ông đòi hỏi các quan khanh phải biết tu thân, sửa mình, dốc lòng vì việc nghĩa Theo ông: “Làm quan lớn ở tại triều đình, thế mà chẳng thi hành đạo lý để dạy
dân, giúp nước, đó là một điều sỉ nhục vậy” [48, tr 128-129] Thế nên, ông yêu cầu họphải can gián những lỗi lầm của vua, nếu can gián nhiều lần mà vua không nghe thìhãy trả lại chức vị cho vua Trong suy nghĩ của ông, người quân tử đứng ra thờ vua, cốtđưa vua mình lên đường đạo đức, chỉ để tâm về điều nhân mà thôi
Theo Mạnh Tử, ông vua nhân đức biết làm nhân chính, không chỉ là ông vua biếtthương dân mà còn biết sử dụng người hiền tài cho công cuộc trị nước của mình Ôngnói: “Vì thiên hạ mà quyết kiếm cho được người giúp mình trong công cuộc cai trị, đóxứng là nhân Bởi vậy, cho nên truyền ngôi cho người cai trị cai trị thì dể; mà vì thiên
hạ, quyết kiếm cho được người biết cai trị thì thật là khó” [47, tr 170-171] Ông cũngchỉ rõ “nếu bậc quốc trưởng; chẳng tín cậy những trang nhân đức và hiền tài, chẳnggiao trọng trách cho những vị ấy, thì vận nước trống không, chẳng ai nâng đỡ” [48,tr.260-261] Do đó, “Một nhà vua mà chẳng dùng người tài đức, ắt phải mất nước” [48,tr.192-193]
Sử dụng người tài đức là một phần của công việc trị nước, về mặt lý luận, đó
chính là nguyên tắc mà nhà cầm quyền phải tuân theo nếu không muốn mất nước Chính
vì thế, trong điển tích có ghi lại lời nói của Mạnh Tử với Tề Tuyên Vương: “Bậc quốcquân khi dùng trang hiền tài, dường như là sự bắt buộc, không thể thối thoái” [47,tr.60-61]
Làm thể nào để có thể sử dụng người tài đức trong công việc trị nước, Mạnh Tử chorằng, trước hết nhà cầm quyền phải thực sự ái mộ người tài đức, sau đó phải cụ thể hoá
sự ái mộ đó bằng những việc làm cụ thể Ông nói:"Như một vị vua có lòng ái mộ
Trang 37người hiền, nhưng chẳng chịu cử dùng, lại chẳng biệt cách cấp dưỡng, như vậy có thểgọi là ái mộ người hiên chăng?” [48, tr.130-131] Theo ông, đương thời các nhà vuachư hầu đề có đất đai bằng nhau, thế lực ngang nhau, nhưng không có vị vua nào vượtlên trên các vị vua khác để thống nhất thiên hạ, là do các vua không biết dùng người tàiđức Trái lại họ chỉ thích những hạng quan chức chỉ biết nghe theo giáo lệnh của mình.
Để sử dụng người tài đức, nhà cầm quyền phải tỏ rõ sự tôn trọng của mình và cư xửvới họ theo lễ Trong suy nghĩ của Mạnh Tử: “Những vị đế vương hiền đức đời xưa, vìhâm mộ điều thiện của các trang hiền sĩ, cho nên trong khi giao tiếp với các trang ấy,thường quên thế lực của mình Và các trang hiền sĩ đời xưa, lẽ nào riêng mình chẳngnhư vậy sao? Các trang ấy mải thoả thích với nền đạo của mình, bèn quên phứt thế lựccủa người Bởi thế, một vị vua thiên tử hoặc một vị vua chư hầu nếu cho trọn lễ, thìchẳng thường được gặp mặt các trang hiền sĩ” [48, tr.220-221] Xuất phát từ đó, Mạnh
Tử đòi hỏi nhà cầm quyền phải “thân hành viếng người hiền giả”; phải biết “quý trọngngười có đức, tôn sùng bậc sĩ phu tức là hạng có học thức, cất đặt người hiền lên địa vịxứng đáng, phong chức phận cho người tài năng; thừa lúc nước nhà được nhàn hạ, tháibình mà sửa sang hành chính và tư pháp” [47, tr.101]
Những quan điểm trên đây của Mạnh Tử cho thấy ông rất coi trọng người tàiđức Với ông, nhân tài là rường cột của quốc gia, là tài sản quý của đất nước, nên việc
sử dụng người tài đức là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của một chế độ xã hội.Cũng chính vì thế, sử dụng người tài đức đã trở thành một phần quan trọng trongphương pháp trị nước Có thể nói, vấn đề sử dụng, coi trọng người tài đức mà ông đềxuất với vua chúa thời đó đến nay vẫn là vấn đề mang tình thời sự Không phải mọinhà nước ở mọi quốc gia trên thế giới đều đã giải quyết vấn đề đó một cách thoả đáng
Để những người tài đức sẵn sàng cống hiến sức lực và trí tuệ của mình phục vụ đấtnước, phục vụ vua, tự vua phải “thân hành viếng nhà hiền giả”, nghĩa là phải thật lòngtôn trọng, và biết cách thu hút trọng dụng nhân tài theo lễ: “Nếu vua dùng hiệu lệnh đểtriệu quan đại phu mà với người giữ vườn thảo mộc, thì người giữa vườn thảo mộcđành chịu chết chứ chẳng dám đến Nếu vua dùng hiệu lệnh để vời quan sĩ mà đòi kẻbình dân, thì kẻ binh dân há dám đến sao? Huống chi vua dùng cách đòi người chẳngtài đức mà đòi trang tài đức, thì trang tài đức có chịu đến hay chăng?” [48, tr.136-137].Theo Mạnh Tử, nhà cầm quyền muốn sử dụng người tài đức mà không theo đạo lý, thì
Trang 38cũng giống như muốn người tài đức vào nhà mình, nhưng mình lại đóng cửa lại Ôngđặc biệt nhấn mạnh cách đối xử, lòng yêu mến và sự tôn trọng nhân tài của nhà cầmquyền Với ông, biết trọng dụng người tài đức là sự thể hiện nhân nghĩa và trí của kẻcai trị Bởi lẽ, khi ấy họ sẽ được nghe lời hay lẽ phải về công việc trị nước, giống nhưcây được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời Không biết trọng dụng người tài đức sẽ đưa tớihậu quả nhà cầm quyền không được nghe lời hay lẽ phải nên tất yếu đất nước trì trệkhông phát triển, thậm chí mất nước.
Với những kẻ tài đức, Mạnh Tử chủ trương phải tuỳ theo điều kiện và sự đối xửcủa nhà cầm quyền mà xác định nên làm quan hay không nên làm quan Vì kẻ quân tử
có thể khác nhau về phương diện hành động nhưng đều giống nhau ở điều nhân vàhướng tới điều nghĩa, nên khi vua nghênh tiếp kính cẩn và có lễ, tuyên bố sẽ làm theolời của mình thì nên nhậm chức vua ban Trong trường hợp vua không thi hành lời củamình tuy vẫn giữ lễ mạo thì nên từ quan
Mạnh Tử khuyên nhà cầm quyền phải tôn trọng đạo đúc, hoan nghênh đạo
lý-nghĩa là phải trọng hiền Trong suy nghĩ của ông, thi hành nhân chính không chỉ đơngiản là thương dân, đề cao vai trò của dân mà con là tìm cho được người hiền giúpmình trong việc trị nước Mạnh Tử cho rằng: “Vì thiên hạ mà quyết kiếm cho đượcngười giúp mình trong cuộc cai trị, đó xứng là nhân” [47, tr.170-171] Thực hiện huệ(đem của cải phân phát cho người) và thực hiện trung (dùng lễ thiện mà dạy cho người
ăn ở theo) dễ hơn thực hiện nhân Thực hiện được nhân mới chứng tỏ mình thực sự vìnước, vì dân Bởi lẽ khi ấy, bậc quốc trượng biết tôn kính người hiền, trọng dụng ngườigiỏi, đưa họ lên chức vị xứng đáng nên các nhà học thức trong thiên hạ vui lòng và sẽtận tâm vì nước
Không chỉ đề cập nhiều tới vấn đề sử dụng người hiền tài của nhà vua mà Mạnh Tử cònbàn luận cách hành xử của nhà vua đối với bề tôi như thế nào Trong đường lối nhân
chính, ông đề cập tới vấn đề mối quan hệ giữa vua và bề tôi một cách khá biện chứng.
Và trong chính thể quân chủ, tuy có vua có tôi, nhưng vua phải lấy lễ mà đãi bầy tôi, bề tôi phải lấy trung mà thờ vua, trên dưới đều có định phận rõ ràng Nếu vua mà vô lễ khinh bỉ
kẻ bề tôi, thì còn có gì là cái nghĩa vua tôi nữa Bởi thế Mạnh Tử khuyên Tề TuyênVương rằng: “Vua coi bề tôi như tay chân, thì bề tôi coi vua như gan ruột, vua coi bề tôinhư chó ngựa, thì bề tôi coi vua như kẻ qua đường, vua coi bề tôi như bùn rác, thì bề tôi
Trang 39coi vua như giặc thù” [33, tr.1062] Như vậy, chữ trung của người làm tôi cũng có cáigiới hạn rõ ràng, chứ không phải gặp thế nào cũng trung được.
Kẻ làm tôi giúp vua phải hết sức khiến vua theo cái đạo nhân nghĩa mà trị nướctrị dân, “Người quân tử thờ vua, chỉ cốt dẫn dắt vua của mình vào đường đạo lý, để tâmchí vào điều nhân mà thôi” [33, tr.1268] Người làm tôi là người phải biết khuyên vuathi hành đường lối nhân đạo, “Nhắc nhở vua nên làm những việc khó khăn là tôn trọngvua, bày tỏ điều thiện, ngăn lấp điều ác (trước mặt vua) là kính trọng vua, còn như nóirằng vua ta không làm nổi việc thiện đâu, chính là làm hại vua” [33, tr.1016] Ngoài ra,theo Mạnh Tử, người làm vua mà tàn ngược như vua Kiệt, vua Trụ thì người có nhân,
có đức, như vua Thang, vua Vũ, được quyền bỏ đi Người nhân đức trừ được kẻ tàn bạo
mà cứu dân thì không phải là người có tội Bởi vậy, khi nói chuyện với Tề TuyênVương về việc bề tôi có thể giết vua hay không, Mạnh Tử nói: “Kẻ làm hại điều nhângọi là tặc, kẻ làm hại điều nghĩa gọi là tàn Người tàn tặc chỉ là một kẻ thất phu Tôi cóthể nghe chuyện giết một kẻ thất phu tên Trụ, chứ chưa hề nghe chuyện giết vua baogiờ” [33, tr.796] Theo Mạnh Tử, việc phế bỏ ngôi vua có ba trường hợp: Trường hợpmột: Nếu như can gián nhiều lần, mà vua chẳng nghe, ắt quan khanh phải buộc lòng hộitriều đình và công tộc để tôn một người khác trong họ có tài hơn mà thay thế Trườnghợp thứ hai, là trường hợp của quan tể tướng Y Doãn nhiếp chính nhà Thương sau khivua băng hà Vì Thái Giáp- cháu nội của vua nội vua không biết tôn trọng nhân nghĩanên ông bèn dời Thái Giáp ra ở nơi khác Người hiền phải thờ vua hiền, nếu vua khônghiền, có thể phế bỏ vua nên trường hợp thứ ba là có thể lật ngôi vua, giết vua nếu vuaquá ác độc
Như vậy, dân có thể giết vua, làm cách mạng để lật đổ vua Khi bàn về mối quan hệgiữa vua- tôi thì Mạnh Tử đã tiến xa hơn Khổng Tử Khổng Tử mới chỉ đưa ra thuyếtchính danh (vua mà không ra vua, tàn bạo với dân thì không đáng gọi là vua), chứkhông nói đến việc có thể giết vua; ông viết bộ Xuân Thu cũng là để làm rõ cái nghĩachính danh Tư tưởng cách mạng của ông mới tiềm tàng, tới Mạnh Tử mới phát ramạnh mẽ, một phần vì thời đã đổi, từ Khổng Tử tới Mạnh Tử gần hai trăm năm, hạngvua không ra vua nhiều quá mà việc thì quân cũng đã quá thường Đây là một tư tưởngrất mới của Mạnh Tử khi đề cập tới vai trò và việc làm của bề tôi đối với vua mặc dùxét đến cùng mục đích của Nho giáo nói chung, của Mạnh Tử nói riêng là bảo vệ địa vị
Trang 40của giai cấp thống trị.
Rõ ràng, so với Nho giáo từ Đổng Trọng Thư trở về sau thì tư tưởng về mối quan
hệ vua- tôi của Mạnh Tử (mặc dù ra đời trước đó) mang tính nhân văn, nhân bản và hợp
lý hơn Vì từ thời Đổng Trọng Thư trở đi vương quyền được thần quyền hóa, vua đượccoi là thiên tử và được thay trời để trị dân Chính vì vậy, quyền uy của vua cũng làquyền uy của trời, mọi người phải phục tùng tuyệt đối vô điều kiện
Tóm lại, trong mối quan hệ vua- tôi, Mạnh Tử đề cao chữ trung Tuy nhiên chữtrung của Mạnh Tử không hà khắc mà được hiểu mềm dẻo hơn, chữ trung gắn liền vớichữ hiếu Bề tôi lấy đạo trung mà thờ vua cũng như lấy đạo hiếu để thờ cha mẹ Bậchiền thần phụng sự vua, từ khi tiếp nhận chức vị phải xem vua như cha mẹ của mình,xem nước là nhà, xem đồng liêu là anh em Như thế, bất cứ việc gì nếu có ích cho quốcgia, có lợi cho nhân dân, họ nhất định bất chấp khó khăn và gian khổ để hoàn thành đạonghĩa của họ Rõ ràng, ở đây phương châm của Mạnh Tử xem gia đình là một xã hộinhỏ, có làm tốt việc “trị gia” thì mới làm tốt việc “trị quốc” được
Trong đường lối nhân chính, Mạnh Tử rất quan tâm tới vấn đề tu dưỡng đạo đức củangười cầm quyền Theo ông nêu “Tự mình chẳng noi theo đạo lý, mình chẳng thể buộcngười phải ở theo đạo lý, cho đến vợ con mình cũng vậy Nếu mình sai khiến người tasai đạo nghĩa; người ta chẳng tuân theo cho đến vợ con mình cũng vậy nữa” [MT, hạ,tr.258-261] Theo đó, Vua phải là tấm gương sáng về đạo đức cho dân chúng noi theonên họ phải thấm nhuần đạo lý và cái đức của người cầm quyền là rất cần thiết chongười cai trị, nó ảnh hưởng tới vấn đề hưng vong, thịnh suy của xã tắc Như vậy, ngườicầm quyền không ngừng rèn luyện cái đức sáng của mình để cai trị thiên hạ, nhằm đemlại cuộc sống ấm no của dân chúng Chính vì vậy, người quân tử trị thiên hạ chẳng lolòng người không phục mà chỉ lo thân minh chẳng tu mà thôi Cũng giống như Khổng
Tử, Mạnh Tử rất tin ở sự hấp dẫn và sự tác động của đạo đức có thể làm thay đổi đượclòng người, có thể thu phục được dân tâm, về vấn đề này, Khổng Tử cũng đã nói: “Nếungười trên chuộng lễ, thì dân chẳng ai dám bất kính Người trên chuộng nghĩa, thì dânchẳng ai dám bất phục Người trên chuộng chữ tín, thì dân chẳng ai dám không thậtlòng Được như vậy dân bốn phương sẽ địu con mà theo về” còn tự mình không đúngđắn, thì dẫu ra lệnh, dân cũng không theo” [6, tr.69]
Ngoài ra, Mạnh Tử còn đưa thêm một trong những điều kiện để thực hiện đường