Khu vực mậu dịch tự do là một dạng thứ hai của hiệp định thương mại tự do, đó là một hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong đó các nước thành viên thỏathuận với nhau về việc giảm hoặc
Trang 1Những năm gần đây, hội nhập quốc tế đã trở thành ngôn từ khá thân quen với
hầu hết người Việt Nam.Trong công sở, nhà trường, ở quán nước trên hè phố,thậm chí cả ở thôn quê, người ta đều sử dụng nó một cách rất thông dụng.Tuyvậy, nhưng không phải ai cũng thực sự hiểu khái niệm này; đặc biệt, hiểu nómột cách đầy đủ và ngọn nghành thì chẳng có mấy người.Giới học thuật vànhững nhà hoạch định chính sách cũng còn hiểu rất khác nhau và vẫn tiếp tụctranh luận về nhiều khía cạnh của hội nhập quốc tế Trong bối cảnh nước tađang “tích cực, chủ động hội nhập quốc tế” theo tinh thần Nghị quyết Đại hộiĐảng lần thứ XI vừa qua, việc xác định đúng ý nghĩa, bản chất, nội hàm, xuhướng vận động cũng như hệ lụy của hội nhập quốc tế là rất cần thiết và có ýnghĩa quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, chính sách và các biện pháp
cụ thể của nước ta trong quá trình hội nhập
Chuyên đề này đề cập một số khía cạnh về lý luận và thực tiễn của khái niệmhội nhập quốc tế, tập trung vào vấn đề định nghĩa và xác định bản chất, nội
Trang 2hàm, các hình thức và tính chất của hội nhập quốc tế; phân tích tính tất yếu và
hệ lụy của hội nhập quốc tế như là một xu thế lớn của thế giới hiện đại
Chuyên đề tập trung phân tích những cơ hội và thách thức của Việt Nam trongtiến trình hội nhập quốc tế, phân tích tính tất yếu và hệ lụy của hội nhập quốc tếnhư là một xu thế lớn của thế giới hiện đại
- Phương pháp thống kê – tập hợp phân tích
- Phương pháp phân tích chi tiết
- Phương pháp chuyên gia tư vấn và hội thảo
- Phương pháp điều tra
Việc xác định đúng ý nghĩa, bản chất, nội hàm, xu hướng vận động cũng như
hệ lụy của hội nhập quốc tế là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việcxây dựng chiến lược, chính sách và các biện pháp cụ thể của nước ta trong quátrình hội nhập
Các thách thức và cơ hội của tiến trình hội nhập quốc tế về giáo dục đã đượcphân tích nhiều trong các diễn đàn, hội thảo và tài liệu nghiên cứu, quốc tếcũng như trong nước Vấn đề là từ những phân tích đó, mỗi quốc gia cần tìm racho mình các chính sách và chiến lược cần thiết để giáo dục đại học thực hiệnđược tốt nhất sứ mệnh của mình trong việc sản sinh, truyền bá và áp dụng trithức, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Trang 3ở châu Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trươngthúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh nguy
cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu Trên thực tế cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về kháiniệm “hội nhập quốc tế” Tựu chung, có ba cách tiếp cận chủ yếu sau:
Cách tiếp cận thứ nhất, thuộc về trường phái theo chủ nghĩa liên bang, cho
rằng hội nhập (integration) là một sản phẩm cuối cùng hơn là một quá trình.Sản phẩm đó là sự hình thành một Nhà nước liên bang kiểu như Hoa Kỳ hayThụy Sỹ Để đánh giá sự liên kết, những người theo trường phái này quan tâmchủ yếu tới các khía cạnh luật định và thể chế
Cách tiếp cận thứ hai, với Karl W Deutsch là trụ cột, xem hội nhập trước hết
là sự liên kết các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu như thươngmại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, văn hóa… từ đó hình thành dầncác cộng đồng an ninh (security community) Theo Deutsch, có hai loại cộngđồng an ninh: loại cộng đồng an ninh hợp nhất như kiểu Hoa Kỳ, và loại cộngđồng an ninh đa nguyên như kiểu Tây Âu Như vậy, cách tiếp cận thứ hai nàyxem xét hội nhập vừa là một quá trình vừa là một sản phẩm cuối cùng
Cách tiếp cận thứ ba xem xét hội nhập dưới góc độ là hiện tượng/hành vi các
nước mở rộng và làm sâu sắc hóa quan hệ hợp tác với nhau trên cơ sở phâncông lao động quốc tế có chủ đích, dựa vào lợi thế của mỗi nước và mục tiêutheo đuổi
Trang 4Cách tiếp cận thứ nhất có nhiều hạn chế vì nó không đặt hiện tượng hội nhậptrong quá trình phát triển mà chỉ nhìn nhận hiện tượng này (chủ yếu về khíacạnh luật định và thể chế) trong trạng thái tĩnh cuối cùng gắn với mô hình Nhànước liên bang.Cách tiếp cận này khó áp dụng để phân tích và giải thích thựctiễn của quá trình hội nhập diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhaunhư hiện nay trên thế giới.Không phải bất cứ sự hội nhập nào cũng dẫn đến mộtNhà nước liên bang Cách tiếp cận thứ hai có điểm mạnh là nhìn nhận hiệntượng hội nhập vừa trong quá trình tiến triển vừa trong trạng thái tĩnh cuốicùng, đồng thời đưa ra được những nội dung khá cụ thể và sát thực tiễn của quátrình hội nhập, góp phần phân tích và giải thích nhiều vấn đề của hiện tượngnày Cách tiếp cận thứ ba tập trung vào hành vi của hiện tượng, không quantâm xem xét góc độ thể chế cũng như kết quả cuối cùng của hội nhập, do vậy,thiếu tính toàn diện và hạn chế trong khả năng giải thích bản chất của quá trìnhhội nhập
Ở Việt Nam, thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng từkhoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN,tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc
tế khác Những năm gần đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí nói ngắngọn là “hội nhập”) được sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩarộng hơn hội nhập kinh tế quốc tế.Có một thực tiễn đáng lưu ý là trước khithuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” được đưa vào sử dụng, trong tiếng Việt đã
xuất hiện các cụm từ “liên kết kinh tế quốc tế” và “nhất thể hóa kinh tế quốc
tế” Cả ba thuật ngữ nàythực rađược sử dụngđể chỉ cùng một khái niệm mà
tiếng Anh gọi là “international economic integration”.Sự khác biệt giữa chúngchủ yếu là cách dùng với hàm ý chính trị và lịch sử khác nhau.Thuật ngữ “nhất
thể hóa kinh tế quốc tế” được sử dụng chủ yếu trong bối cảnh hợp tác giữa các
nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV)những năm 1970-1980
Trang 5Thuật ngữ “liên kết kinh tế quốc tế” được sử dụng khá nhiều khi nói về hiện
tượng phát triển các quan hệ kinh tế trên cơ sở tự do hóa mậu dịch giữa cácnước không phải là xã hội chủ nghĩa trong những thập niên sau Chiến tranh thếgiới II, đặc biệt là trong khuôn khổ các tổ chức kinh tế khu vực như Cộng đồngKinh tế châu Âu (EC), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội Mậu dịch tự do châu
Âu (EFTA), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Cộng đồng Caribê và Thịtrường chung (CARICOM), Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), v.v
Trong thực tiễn sử dụng ở Việt Nam hiện nay, các thuật ngữ “liên kết quốc tế”
và “hội nhập quốc tế” có thể thay thế nhau và hầu như không có sự khác biệt
về ý nghĩa
Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn không có một định nghĩa nào về khái niệm “hộinhập quốc tế” giành được sự nhất trí hoàn toàn trong giới học thuật và cả giớilàm chính sách ở Việt Nam Từ các định nghĩa khác nhau nổi lên hai cách hiểu
chính.Thứ nhất, cách hiểu hẹp coi “hội nhập quốc tế” là sự tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực.Thứ hai, cách hiểu rộng, coi “hội nhập quốc tế” là sự
mở cửa và tham gia vào mọi mặt của đời sống quốc tế, đối lập với tình trạngđóng cửa, cô lập hoặc ít giao lưu quốc tế Với tư duy theo cách này, không ítngười thậm chí đã đánh đồng hội nhập với hợp tác quốc tế Cả hai cách hiểutrên về khái niệm “hội nhập quốc tế” đều không đầy đủ và thiếu chính xác
Từ lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng ta cần xác định một cách tiếp cận phùhợp đối với khái niệm “hội nhập quốc tế” để làm nền tảng xây dựng chiến lượchội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn mới Cách tiếp cận phù hợpnhất là xem xét hội nhập như là một quá trình xã hội có nội hàm toàn diện và
thường xuyên vận động hướng tới mục tiêu nhất định Theo đó, hội nhập quốc
tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.
Như vậy, khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi ích
Trang 6hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau), hội nhập quốc tế vượt lên
trên sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia Nhìn ở góc độ thể chế, quá trình hội nhập hình
thành nên và củng cố các định chế/tổ chức quốc tế, thậm chí là các chủ thế mớicủa quan hệ quốc tế Những chủ thể quốc tế mới này có thể dưới dạng: Thỏathuận thương mại ưu đãi (PTA) hoặc là một tổ chức liên chính phủ (các thànhviên vẫn giữ chủ quyền quốc gia trong việc định đoạt chính sách, chẳng hạnnhư tổ chức Liên hiệp quốc, ASEAN…), Khu vực mậu dịch tự do (FTA) hoặc
là một tổ chức siêu quốc gia (các thành viên trao toàn bộ chủ quyền quốc giacho một cơ cấu siêu quốc gia, hình thái này có thể giống như mô hình nhà nướcliên bang, chẳng hạn như Hoa Kỳ, Canada…), Liên minh thuế quan (CU) hoặc
là một tổ chức lai ghép giữa hai hình thái trên (các thành viên trao một phầnchủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia và vẫn giữ một phần chủquyền cho riêng mình, chẳng hạn như trường hợp EU hiện nay)
Chủ thể của hội nhập quốc tế trước hết là các quốc gia, chủ thể chính của quan
hệ quốc tế có đủ thẩm quyền và năng lực đàm phán, ký kết và thực hiện cáccam kết quốc tế.Bên cạnh chủ thể chính này, các chủ thể khác cùng hợp thànhlực lượng tổng hợp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế,chính trị, an ninh-quốc phòng, văn hóa, giáo dục, xã hội, v.v.), nhưng cũng cóthể đồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất (tức là mức độ gắn kết),phạm vi (gồm địa lý, lĩnh vực/ngành) và hình thức (song phương, đa phương,khu vực, liên khu vực, toàn cầu) rất khác nhau
1.2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế
Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực vàthế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hìnhthức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực,
Trang 7nền kinh tế quốc gia tham gia một cách chủ động tích cực vào nền kinh tế thếgiới, tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, tổ chức tài chính quốc tế và cácliên kết kinh tế quốc tế khu vực và liên khu vực.
Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ Theo một số nhà kinh tế,tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành sáu mô hình cơ bản từ thấp đến caonhư sau:
a Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA):
Đây là cấp độ thấp nhất của liên kết kinh tế, theo đó các nước tham gia hiệpđịnh dành cho nhau những ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan đối với hànghóa của nhau, tạo thành các khu vực thương mại ưu đãi vùng (PreferentialTrade Area) Trong các thỏa thuận này, thuế quan và hàng rào phi thuế quan cóthể vẫn còn, nhưng thấp hơn so với hàng hóa có xuất xứ từ các quốc gia khôngtham gia hiệp định
Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảmthuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diệncắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm Hiệp định PTA của ASEAN (1977),Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) làcác ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất
b Hiệp định thương mại tự do:
Hiệp định thương mại tự do (Khu vực mậu dịch tự do – Free Trade Area (FTA)
là một Hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia Theo đó, các nước
sẽ tiến hành cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quantheo lộ trình, nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do
Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan
và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàngrào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trìchính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối Ví dụ: Khu vực mậudịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu
Trang 8vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Những năm gần đây, phần lớn các hiệpđịnh FTA mới có phạm vi lĩnh vực điều tiết rộng hơn nhiều Ngoài lĩnh vựchàng hóa, các hiệp định này còn có những quy định tự do hóa đối với nhiềulĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… Ví dụ:Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệp định Đối tác xuyênThái Bình dương (TPP- đang đàm phán)
Khu vực mậu dịch tự do là một dạng thứ hai của hiệp định thương mại tự do,
đó là một hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong đó các nước thành viên thỏathuận với nhau về việc giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháphạn chế về số lượng (hạn ngạch) cho toàn bộ hoặc gần như toàn bộ hàng hóa vàdịch vụ trao đổi mua bán với nhau, tiến tới hình thành một thị trường thốngnhất về hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên các nước thành viên vẫn giữ đượcquyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các ngoài khu vực Nói cáchkhác, những thành viên của FTA có thể duy trì những biện pháp thuế quanriêng và những hàng rào thương mại khác đối với các nước không tham gia vàokhu vực mậu dịch tự do Tuy nhiên, một số dòng thuế có thể được bãi bỏ chậmhơn, và người ta đưa các dòng thuế này vào “danh sách nhạy cảm”, một số ítdòng thuế không được bãi bỏ được liệt kê vào “danh sách loại trừ”
Hiệp định đối tác kinh tế là cấp độ hội nhập kinh tế sâu hơn hiệp định thươngmại tự do, theo nghĩa là ngoài việc tự do hóa thương mại hàng hóa thông quabãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan, còn bao gồm cả tự do hóa dịch vụ,bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử giữa các nước ký kết hiệp định Cácnước phát triển thường mong muốn ký loại hiệp định này vì nó cho phép quốcgia này thâm nhập toàn diện vào các thị trường của nước đối tác
c Liên minh thuế quan (CU):
Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nộikhối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bênngoài khối Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan.Việc thành lập liên minh thuế quan cho phép tránh được những
Trang 9phức tạp liên quan đến quy tắc xuất xứ, nhưng lại làm nảy sinh những khó khăntrong phối hợp chính sách giữa các nước thành viên.
d Thị trường chung (hay thị trường duy nhất):
Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nộikhối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên cònphải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác(vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối Ví dụ: Liênminh châu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trườngchung châu Âu) trước khi trở thành một liên minh kinh tế
e Liên minh kinh tế-tiền tệ:
Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một thị trườngchung/duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệchung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối) Vídụ: EU hiện nay
f Hội nhập toàn diện:
Là cấp độ hội nhập sâu nhất trên mọi lĩnh vực Ngoài việc tự do hóa thươngmại thông qua việc cắt giảm và loại bỏ hoàn toàn công cụ thuế và phi thuế cũngnhư là việc thực thi một chính sách tiền tệ, tài chính chung, các lĩnh vực khácnhư văn hóa, thậm chí cả về mặt chính trị cũng được điều chỉnh theo một cơchế riêng
Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất,phạm vi và hình thức khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bướchội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong nhữngđiều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn Cộng đồng Kinh tế châu Âu đãđồng thời thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quantrong những thập niên 60-70) Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọngcho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội
Trang 10nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như mộtđòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa.
1.2.2 Hội nhập chính trị
Hội nhập về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chế quyền lựctập thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi những mục tiêu nhất định vàhành xử phù hợp với các luật chơi chung Hội nhập chính trị thể hiện mức độliên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó họ chia sẻ với nhau về các giá trị cơbản (tư tưởng chính trị, ý thức hệ), mục tiêu, lợi ích, nguồn lực và đặc biệt làquyền lực Một quốc gia có thể tiến hành hội nhập chính trị quốc tế thông qua
ký hiệp ước với một hay một số quốc gia khác trên cơ sở thiết lập các mối liênkết quyền lực giữa họ (hiệp ước liên minh hay đồng minh) hoặc tham gia vàocác tổ chức chính trị khu vực (chẳng hạn như ASEAN, EU) hay một tổ chức cóquy mô toàn cầu (chẳng hạn như Liên Hiệp quốc)
Ở giai đoạn thấp của hội nhập chính trị, liên kết giữa các thành viên còn hạnchế và các thành viên vẫn cơ bản giữ thẩm quyền định đoạt chính sáchriêng.ASEAN hiện nay vẫn đang trong giai đoạn đầu quá trình hội nhập chínhtrị, nên vẫn còn tồn tại nhiều sự khác biệt và độ tin cậy giữa các thành viên cònhạn chế.Về mặt tổ chức quyền lực, ASEAN là một khuôn khổ liên chính phủ Hoàn tất xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột (Cộng đồng Chính trị-
An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội) sẽ giúp tăngcường quá trình hội nhập chính trị trong ASEAN, tạo điều kiện để ASEANbước tới một giai đoạn hội nhập cao hơn nữa
Giai đoạn hội nhập chính trị cao đòi hỏi sự tương đồng về thể chế chính trị và
độ tin cậy hoàn toàn của các thành viên.Về mặt tổ chức quyền lực, các thànhviên chỉ giữ lại một số thẩm quyền nhất định ở cấp quốc gia và trao các quyềnlực còn lại cho một cơ cấu siêu quốc gia.EU hiện nay là một mô hình hội nhậpchính trị cao
Thông thường hội nhập chính trị là bước đi sau cùng trên cơ sở các nước liên
Trang 11thành Liên bang Hoa Kỳ, Liên bang Canađa trước đây và EU hiện nay cơ bảntheo phương thức này Tuy nhiên, trong những bối cảnh nhất định, hội nhậptrong lĩnh vực chính trị có thể đi trước một bước để mở đường thúc đẩy hộinhập trong các lĩnh vực khác.Trường hợp ASEAN thể hiện khá đặc biệt sự kếthợp nhiều tiến trình hội nhập Trong suốt hơn 2 thập kỷ đầu tồn tại, ASEANchủ yếu là một cơ chế hợp tác khu vực về chính trị-ngoại giao nhằm đối phóvới những thách thức đối với an ninh quốc gia của các thành viên Một số họcgiả nhìn nhận ASEAN như là một định chế/chế độ quốc tế (internationalregime) về chính trị-an ninh ở khu vực Đông Nam Á Nói một cách khác, đây
là dạng thức ban đầu của hội nhập chính trị-an ninh Sau giai đoạn khởi đầuchủ yếu bằng hội nhập sơ khai về chính trị-an ninh, từ cuối thập niên 1970 trở
đi, ASEAN mới bắt đầu triển khai hợp tác về kinh tế và chỉ từ gần giữa thậpniên 1990, ASEAN mới thực sự bắt đầu tiến trình hội nhập kinh tế Hội nhậpvăn hóa-xã hội phải đợi đến khi ASEAN thông qua Hiến chương năm 2008mới được triển khai
1.2.3 Hội nhập an ninh-quốc phòng
Hội nhập về an ninh-quốc phòng là sự tham gia của quốc gia vào quá trình gắnkết họ với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh Điều nàyđòi hỏi các nước hội nhập phải tham gia vào các thỏa thuận song phương hay
đa phương về an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia sẻ và liên kết:mục tiêu chung, đối tượng/kẻ thù chung, tiến hành các hoạt động chung về đảmbảo an ninh-quốc phòng
Có nhiều kiểu liên kết an ninh-quốc phòng khác nhau, trong đó nổi lên nhữnghình thức chủ yếu được nhiều nước sử dụng như sau:
- Hiệp ước phòng thủ chung: Đây là hình thức khá phổ biến trong thời kỳ
Chiến tranh lạnh khi mà thế giới được cơ bản chia thành hai hệ thống (gọi là hệthống hai cực) giữa một bên là các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo
và bên kia là các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu Hàng loạt tổ chứcphòng thủ chung đã được hai phe lập ra để thực hiện các mục tiêu chính trị và
Trang 12an ninh-quốc phòng, chẳng hạn như Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương(NATO), Tổ chức Hiệp ước Trung tâm (CENTO), Tổ chức Hiệp ước ĐôngNam Á (SEATO), Hiệp ước Liên minh Úc-Niudilân-Mỹ (ANZUS), Tổ chứcHiệp ước Vác-xô-vi Nguyên tắc của các tổ chức phòng thủ chung là: (i) cácnước tham gia phải có chung kẻ thù bên ngoài, khi một nước nào đó tấn côngmột thành viên của khối thì nước đó được coi là kẻ thù của cả khối và tất cả cácthành viên cùng hành động chống lại kẻ thù đó; (ii) các thành viên có chínhsách phòng thủ chung; (iii) các thành viên cùng đóng góp lực lượng vũ trangtham gia vào lực lượng chung của khối đặt dưới một bộ chỉ huy chung
Đây là phương thức liên kết quân sự rất cao, đòi hỏi các thành viên phải đồng
về ý thức hệ và cùng chia sẻ cao về quan điểm, chính sách an ninh-quốc phòng,chiến lược quân sự và có trình độ phát triển kỹ thuật quân sự cũng như nănglực tác chiến không quá chênh lệch Phương thức liên kết này cũng đòi hỏi cácthành viên phải chấp nhận chịu sự hạn chế về chủ quyền quốc gia và trao mộtphần thẩm quyền quốc gia cho một cơ chế chung siêu quốc gia
- Hiệp ước liên minh quân sự song phương: Đây là hình thức cổ điển rất phổ
biến trong lịch sử quan hệ quốc tế xưa và nay Phần lớn, nếu như không nói làhầu hết, các nước đều có hiệp ước liên minh với một hoặc một số nước khác,trong đó có quy định về trợ giúp quân sự trong những tình huống cần thiết Mỹ
có hiệp ước liên minh quân sự song phương với Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan,Thái Lan và Philipin Việt Nam cũng đã có Hiệp ước liên minh với Liên Xô cũ,Lào và Cămpuchia
- Các dàn xếp an ninh tập thể: Đây là hình thức liên kết an ninh dựa trên
nguyên tắc các thành viên cam kết không tấn công nhau, nếu có một thành viên
vi phạm, sẽ dùng sức mạnh hợp tác của cả khối để ngăn chặn và giúp giải quyếtxung đột Hội quốc liên và sau này là Liên Hiệp quốc, Liên đoàn Ả-rập, Tổchức thống nhất châu Mỹ (OAS), Tổ chức Thống nhất châu phi (AU), Cộngđồng chính trị-an ninh mà ASEAN đang xây dựng là những mô hình cụ thể củaphương thức liên kết an ninh tập thể
Trang 13- Các dàn xếp về an ninh hợp tác: là phương thức liên kết an ninh-quốc phòng
lỏng lẻo hơn cả, dựa trên nguyên tắc lấy hợp tác trên các lĩnh vực, từ dễ đếnkhó, với các hình thức đa dạng như đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giaophòng ngừa… để xây dựng thói quen hợp tác và sự phụ thuộc, ràng buộc lẫnnhau, từ đó có thể hạn chế khả năng xảy ra xung đột giữa các thành viên.ASEAN và một loạt cơ chế khu vực liên quan như Hội nghị sau Hội nghị Bộtrưởng Ngoại giao (PMC), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộtrưởng quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòngASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị cấo cao Đông Á (EAS)… là những môhình cụ thể về dạng thức liên kết này
Nhìn chung, hội nhập trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng là tiến trình khó khănhơn cả, vì nó liên quan trực tiếp tới những vấn đề nhạy cảm nhất- cốt lõi tồn tạicủa quốc gia, đó là hòa bình, độc lập và chủ quyền
1.2.4 Hội nhập về văn hóa-xã hội
Hội nhập về văn hóa-xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa với các nướckhác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếp thu các giá trị vănhóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc; tham giavào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa-giáo dục và xã hội khu vực vàhợp tác chặt chẽ với các nước thành viên hướng tới xây dựng một cộng đồngvăn hóa-xã hội rộng lớn hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ, tham giaCộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN, UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệpđịnh song phương về hợp tác-phát triển văn hóa-giáo dục-xã hội với các nước Hội nhập văn hóa-xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sâu sắc quátrình hội nhập, thực sự gắn kết các nước với nhau bằng chất keo bền vững hơn
cả Quá trình này giúp các dân tộc ở các quốc gia khác nhau ngày càng gần gũi
và chia sẻ với nhau nhiều hơn về các giá trị, phương thức tư duy và hành động;tạo ra sự hài hòa và thống nhất ngày càng cao hơn giữa các chính sách xã hội củacác nước thành viên; đồng thời tạo điều kiện để người dân mỗi nước được thụhưởng tốt hơn các giá trị văn hóa của nhân loại, các phúc lợi xã hội đa dạng; đặc
Trang 14biệt, hình thành và củng cố tình cảm gắn bó thuộc về một cộng đồng chung rộnglớn hơn quốc gia của riêng mình (ý thức công dân khu vực/toàn cầu).
1.3.Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thời đại ngày nay
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động vàquan hệ giữa con người Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ
và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng.Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạothành xã hội và các quốc gia-dân tộc.Các quốc gia lại liên kết với nhau tạothành những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới
Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thịtrường quốc gia, hình thành thị trường khu vực và quốc tế thống nhất Đây làđộng lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hộinhập quốc tế nói chung
Từ sau Chiến tranh thế giới II, đặc biệt là từ khi chấm dứt Chiến tranh lạnh,cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất thế giới nhờ hàng loạttiến bộ nhanh chóng về khoa học-công nghệ, xu thế hòa bình-hợp tác, nỗ lực tự
do hóa-mở cửa của các nước đã thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế trên nhiềulĩnh vực, đặc biệt là trong kinh tế, phát triển rất nhanh và trở thành một xu thếlớn của quan hệ quốc tế hiện đại Quá trình này diễn ra trên nhiều cấp độ: songphương, đa phương, tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu.Mức độ hộinhập cũng ngày một sâu sắc hơn, bao quát toàn diện hơn.Hầu hết mọi nước trênthế giới đã và đang tích cực tham gia vào quá trình này
Trên cấp độ toàn cầu, ngay sau Chiến tranh thế giới II, Liên hiệp quốc và hàngloạt các tổ chức chuyên môn của Liên hiệp quốc, trong đó gồm nhiều thiết chếthuộc hệ thống Bretton Woods (đặc biệt là Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàngThế giới), ra đời với số lượng thành viên gia nhập ngày một nhiều hơn, baoquát hầu hết các nước trên thế giới Đây là một tổ chức hợp tác toàn diện, baoquát hầu hết mọi lĩnh vực và có quy mô toàn cầu Trong một số lĩnh vực, Liênhiệp quốc đã có sự phát triển vượt lên trên sự hợp tác thông thường và có thể
Trang 15vực nhân quyền, lĩnh vực tài chính) Trong lĩnh vực thương mại, tiến trình hộinhập toàn cầu được thúc đẩy với việc ra đời của một định chế đa phương đặcbiệt quan trọng, đó Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), sau
đó được nối tiếp bằng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) kể từ năm 1995.Hiện nay, 153 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham gia với tư cách thành viênchính thức của Tổ chức này, khoảng 30 quốc gia khác đang trong quá trình đàmphán gia nhập Trong hơn một thập kỷ qua, WTO đã phát triển mạnh mẽ hệthống “luật chơi” về thương mại quốc tế, bao quát hầu hết các lĩnh vực củaquan hệ kinh tế giữa các thành viên như hàng hóa, dich vụ, nông nghiệp, kiểmdịch động thực vật, dệt may, hàng rào kỹ thuật, đầu tư, sở hữu trí tuệ, chốngbán phá giá, trợ cấp và các biện pháp đối kháng, các biện pháp tự vệ, xác địnhgiá trị tính thuế hải quan, giám định hàng hóa, quy tắc xuất xứ, quy tắc và thủtục giải quyết tranh chấp… Các quy định cơ bản của WTO trở thành nền tảngcủa tất cả các thỏa thuận kinh tế khu vực hay song phương trên thế giới hiệnnay Vòng đàm phán Đô-ha, bắt đầu từ hơn mười năm trước, đang tiếp tục mởrộng và củng cố các quy định của WTO theo hướng tự do hóa hơn nữa
Ở cấp độ khu vực, quá trình hội nhập phát triển rất nhanh trong những thậpniên 1960 và 1970, đặc biệt “nở rộ” từ thập niên 1990 trở lại đây Hàng loạt tổchức/thể chế khu vực đã ra đời ở khắp các châu lục.Hầu như không một khuvực nào trên thế giới hiện nay không có các tổ chức/thể chế khu vực của riêngmình Các tổ chức/thể chế khu vực về chính trị-an ninh và đặc biệt là kinh tế,chiếm nhiều nhất Chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế, tính đến giữa tháng 5/2011
có 489 hiệp định về mậu dịch khu vực (RTAs) giữa các thành viên của WTO
đã được thông báo cho Ban Thư ký WTO, trong đó 90% là các thỏa thuận mậudịch tự do (FTAs) và 10% là các liên minh thuế quan (CU) Bên cạnh đó, có tớihàng trăm RTAs đang trong quá trình đàm phán hoặc chuẩn bị đàm phán.Nhiều tổ chức/thể chế liên kết kinh tế liên khu vực được hình thành, ví dụ nhưAPEC, ASEM, ASEAN với các đối tác ngoài khu vực chẳng hạn như Mỹ và
Trang 16EU (dưới dạng các PCA và FTA), EU với một số tổ chức/thể chế hoặc quốc gia
ở các khu vực khác, v.v…
Bên cạnh các cấp độ toàn cầu và khu vực, quá trình hội nhập giữa các nước cònđược điều tiết bởi các hiệp định liên kết song phương, dưới dạng hiệp ước liênminh (chính trị, an ninh, quốc phòng), hiệp định đối tác toàn diện, hiệp định đốitác chiến lược, hiệp định kinh tế-thương mại (BFTA, BCU…) Từ cuối thậpniên 1990 trở lại đây, xu hướng ký kết các hiệp định đối tác chiến lược và hiệpđịnh mậu dịch tự do (BFTA) phát triển đặc biệt mạnh mẽ Hầu hết các nướcđều đã ký hoặc đang trong quá trình đàm phán các BFTA Thậm chí, có nướchiện đã ký hoặc đàm phán tới hàng chục hiệp định BFTA (Singapore, Thái Lan,Nhật, Úc…) Điều này được lý giải chủ yếu bởi bế tắc của vòng đàm phánĐôha và những ưu thế của BFTA so với các hiệp định đa phương (dễ đàm phán
và nhanh đạt được hơn; việc thực hiện cũng thuận lợi hơn)
Về phạm vi lĩnh vực và mức độ hội nhập, xem xét các thỏa thuận liên kết khuvực và song phương trong thời gian gần đây, có thể thấy rất rõ rằng các lĩnhvực hội nhập ngày càng được mở rộng hơn Bên cạnh xu hướng đẩy mạnh hộinhập kinh tế, các nước cũng quan tâm thúc đẩy hội nhập trong các lĩnh vựckhác, đặc biệt là chính trị-an ninh và văn hóa-xã hội Tiến trình hội nhập toàndiện trong EU đã đạt đến mức cao, biến tổ chức này trở thành một thực thể gầngiống như một nhà nước liên bang ASEAN cũng đang tiến hành mở rộng vàlàm sâu sắc tiến trình hội nhập khu vực một cách toàn diện hơn thông qua xâydựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột Cộng đồng Chính trị-An ninh,Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội Hàng loạt các hiệp định đốitác toàn diện hay đối tác chiến lược song phương được ký kết gần đây bao quátkhá toàn diện các lĩnh vực hợp tác và liên kết giữa các bên Nếu chỉ xét riêng
về mặt kinh tế, thì các thỏa thuận gần đây, chẳng hạn như Hiệp định Mậu dịch
tự do ASEAN-Úc-Niudilân, Hiệp định Mậu dịch tự do Mỹ-Singapore, Hiệpđịnh Mậu dịch tự do Hàn Quốc-Singapore, Hiệp định Mậu dịch tự do Nhật-Singapore, chứa đựng hầu hết các lĩnh vực và do vậy vượt xa so với các hiệp
Trang 17định FTA truyền thống Nhìn chung, các hiệp định FTA mới toàn diện hơn vàbao hàm cả những lĩnh vực “nhạy cảm” (ví dụ như mua sắm chính phủ, cạnhtranh, lao động, môi trường, hàng rào kỹ thuật) thường không được đề cậptrong hầu hết các hiệp định FTA ký trước đây Bên cạnh đó, các hiệp định FTAmới đưa ra các quy định về tự do hóa triệt để hơn, thể hiện mức độ hội nhậpcao hơn Ví dụ, trong lĩnh vực hàng hóa, cắt giảm thuế quan mạnh hơn và sớmđưa về 0%, hạn chế tối đa số lượng các sản phẩm loại trừ.
Rõ ràng, hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn và một đặc trưng quantrọng của thế giới hiện nay Không ít người khẳng định rằng chúng ta đangsống trong thời đại toàn cầu hóa.Nói một cách khác, thời đại hội nhập toàncầu.Xu thế này chi phối toàn bộ quan hệ quốc tế và làm thay đổi to lớn cấu trúccủa hệ thống thế giới cũng như bản thân các chủ thể và mối quan hệ giữachúng
1.4 Lợi và bất lợi của hội nhập quốc tế
1.4.1 Lợi ích của hội nhập quốc tế:
Khẳng định hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế giới cũng đồng
thời chỉ ra con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước
trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế Sự lựa chọn tất
yếu này còn được quyết định bởi rất nhiều lợi ích mà hội nhập quốc tế tạo racho các nước.Những lợi ích chủ yếu của hội nhập quốc tế mà các nước có thểtận dụng được:
Thứ nhất, quá trình hội nhập giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại
và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triểnkinh tế-xã hội
Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải
thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnhtranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp; đồng thời, làm tăngkhả năng thu hút đầu tư vào nền kinh tế
Trang 18Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học
công nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục-đào tạo và nghiên cứu khoa học vớicác nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài vàchuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến
Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị
trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế
Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnhtranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơhội phát triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước
Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt
hơn tình hình và xu thế phát triển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sáchphát triển phù hợp cho đất nước và không bị lề hóa
Thứ bảy, hội nhập giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh
của thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội
Thứ tám, hội nhập tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện hướng tới
xây dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền
Thứ chín, hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp
trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế, cũng như khảnăng duy trì an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển
Thứ mười, hội nhập giúp duy trì hòa bình và ổn định khu vực và quốc tế để các
nước tập trung cho phát triển; đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực vànguồn lực của các nước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khuvực và thế giới
1.4.2 Bất lợi của hội nhập quốc tế:
Hội nhập không chỉ đưa lại những lợi ích, trái lại, nó cũng đặt các nước trướcnhiều bất lợi và thách thức, trong đó đặc biệt là:
Trang 19Một, hội nhập làm gia tăng cạnh tranh gay gắt khiến nhiều doanh nghiệp và
ngành kinh tế gặp khó khăn, thậm chí là phá sản, từ đó gây nhiều hậu quả vềmặt kinh tế-xã hội
Hai, hội nhập làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường
bên ngoài và, do vậy, khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến độngcủa thị trường quốc tế
Ba, hội nhập không phân phối công bằng lơi ích và rủi ro cho các nước và các
nhóm khác nhau trong xã hội, do vậy có nguy cơ làm tăng khoảng cách nghèo
giàu-Bốn, trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy
cơ chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi, do thiên hướng tập trung vào cácngàng sử dụng nhiều tài nguyên, nhiều sức lao động, nhưng có giá trị gia tăngthấp Do vậy, họ dễ có thể trở thành bãi rác thải công nghiệp và công nghệthấp, bị cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường
Năm, hội nhập có thể tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước
(theo quan niện truyền thống về độc lập, chủ quyền) và phức tạp đối với việcduy trì an ninh và ổn định ở các nước đang phát triển
Sáu, hội nhập có thể làm gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền
thống bị xói mòn trước sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài
Bảy, hội nhập có thể đặt các nước trước nguy cơ gia tăng của tình trạng khủng
bố quốc tế, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợppháp…
Như vậy, hội nhập đồng thời đưa lại cả lợi ích lẫn bất lợi đối với các nước.Tuynhiên, không phải cứ hội nhập là đương nhiên hưởng đầy đủ tất cả các lợi ích
và gánh mọi bất lợi như đã nêu trên Các lợi ích và bất lợi nhìn chung ở dạngtiềm năng và đối với mỗi nước một khác, do các nước không giống nhau vềđiều kiện, hoàn cảnh, trình độ phát triển… Việc khai thác được lợi ích đến đâu
và hạn chế các bất lợi, thách thức thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
Trang 20đặc biệt quan trọng là năng lực của mỗi nước, trước hết là chiến lược/chínhsách, biện pháp hội nhập và việc tổ chức thực hiện Thực tế, nhiều nước đã khaithác rất tốt các cơ hội và lợi ích của hội nhập để đạt được tăng trưởng và pháttriển kinh tế-xã hội cao, ổn định trong nhiều năm liên tục, nhanh chóng vươnlên hàng các nước công nghiệp mới và tạo dựng được vị thế quốc tế đáng nể,đồng thời xử lý khá thành công các bất lợi và thách thức của quá trình hội nhập,
đó là trường hợp Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Trung Quốc,Malaixia, Mêhicô, Braxin… Một số nước tuy vẫn gặt hái được nhiều lợi ích từhội nhập, song xử lý chưa tốt mặt trái của quá trình này, nên phải đối mặt vớinhiều khó khăn, thách thức lớn, có thể kể tới trường hợp Thái Lan, Phi-líp-pin,Inđônêxia, Việt Nam, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… Mặc dù vậy, suycho cùng lợi ích mà hầu hết các nước đã thu được trên thực tế từ quá trình hộinhập vẫn lớn hơn cái giá mà họ phải trả cho những tác động tiêu cực xét trênphương diện tăng trưởng và phát triển kinh tế Điều này giải thích tại sao hộinhập quốc tế trở thành lựa chọn chính sách của hầu hết các nước trên thế giớihiện nay
CHƯƠNG 2 HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 2.1 Quá trình hình thành chủ trương và những quan điểm cơ bản của Đảng ta về hội nhập quốc tế
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng
Ngay từ rất sớm, Đảng ta đã nhận thức rõ tầm quan trọng cũng như tính cấp thiếtcủa việc mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm đưa sự nghiệp phát triển đất nước hoàvào trào lưu phát triển chung của thế giới Trong quá trình lãnh đạo cách mạng,Đảng ta luôn chú trọng việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại,coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong đường lối quốc tế của mình
Trang 21Cũng chính vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc củanhân dân ta trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau đã luôn giành được sự đồngtình, ủng hộ, sự giúp đỡ rộng rãi của nhân dân tiến bộ trên thế giới
Tư tưởng mở cửa đối ngoại, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới của Đảng
đã được thể hiện rõ nét trong các văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước ViệtNam Dân chủ cộng hoà Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi Tổng Thư kýLiên hợp quốc (12/1946), đã long trọng tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng thực thichính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực” Đồng thời, Người khẳngđịnh: “Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà
kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộngcác cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốctế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo củaLiên hợp quốc”1 Đây là những tư tưởng quan trọng đặt cơ sở cho sự hình thànhchủ trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nóichung của nước ta sau này Song, trong hoàn cảnh của cuộc chiến tranh giảiphóng dân tộc, Việt Nam đã không thể thực hiện một cách đầy đủ công cuộc hộinhập quốc tế theo những tư tưởng nêu trên
Sau khi thống nhất đất nước, Đại hội IV của Đảng ta (1976) đã nhấn mạnh vaitrò quan trọng của kinh tế đối ngoại trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.Đại hội khẳng định phải kết hợp phát triển kinh tế trong nước với mở rộngquan hệ kinh tế với nước ngoài Theo đó, Việt Nam đã tích cực phát triển quan
hệ và tham gia vào các cơ chế hợp tác của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN)trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ kinh tế Sự phát triển quan hệ hợp táckinh tế với các nước XHCN mặc dù còn mang nặng tính bao cấp nhưng đãgóp phần rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội và bảo vệ
Tổ quốc Mặt khác, Việt Nam cũng từng bước cải thiện quan hệ hợp tác kinh
tế với nhiều nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) dựa trên nguyên tắc bình đẳngcùng có lợi Tuy nhiên, quá trình hợp tác quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ
Trang 22chiến tranh lạnh do chịu sự chi phối của cuộc đối đầu Đông - Tây, đặc biệt lànhân tố ý thức hệ tư tưởng, nên còn những hạn chế nhất định, chưa đạt tớihiệu quả như mong muốn
Bước vào thời kỳ đổi mới, đứng trước yêu cầu cấp bách phải nhanh chóngvượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, phá thế bao vây cấm vận của chủnghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực thù địch, đường lối mở rộng quan hệ đốingoại và hội nhập quốc tế, trước hết trong lĩnh vực kinh tế ngày càng được bổsung, hoàn thiện, đồng thời được thực hiện tích cực hơn
Đại hội VI của Đảng (1986) mở ra bước ngoặt trong tư duy và thực tiễn hộinhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta Đại hội chỉ rõ: “Muốn kết hợp sức mạnhcủa dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công laođộng quốc tế; trước hết và chủ yếu là với Liên Xô, Lào và Campuchia, với cácnước khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa; đồng thời tranh thủ mở mangquan hệ kinh tế và khoa học - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nướccông nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyêntắc bình đẳng cùng có lợi” Nghị quyết Đại hội cũng xác định nội dung chínhcủa chính sách kinh tế đối ngoại trước hết bao gồm: đẩy mạnh xuất nhập khẩu,tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn, khuyến khích đầu tư trực tiếp của nướcngoài Theo hướng này, Luật Đầu tư nước ngoài được thông qua (1987), tạokhuôn khổ pháp lý thuận lợi để mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, phục vụ pháttriển kinh tế, khai thác những tiềm năng nội lực của đất nước
Đại hội VII của Đảng (1991) tuyên bố đường lối đối ngoại rộng mở: “Việt Nammuốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoàbình, độc lập và phát triển”, mở ra bước đột phá trong quá trình hội nhập quốc
tế Đại hội xác định nguyên tắc cơ bản trong hội nhập kinh tế quốc tế là: “mởrộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắcgiữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi”2
Trang 23Chủ trương hội nhập quốc tế trước hết về kinh tế của Đảng tiếp tục được BanChấp hành Trung ương và Bộ Chính trị bổ sung, làm rõ và cụ thể hơn Nghịquyết của Hội nghị Trung ương Ba (khoá VII) ngày 29/6/1992 nhấn mạnh chủtrương mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, trong đó “cố gắng khai thôngquan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), mởrộng quan hệ với các tổ chức hợp tác khu vực, trước hết ở châu Á - Thái BìnhDương” Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 1005 CV/VPTW (22/11/1994)giao cho Chính phủ soạn thảo và gửi đơn xin gia nhập WTO Theo Quyết địnhcủa Bộ Chính trị (số 493 CV/VPTW ngày 14/6/1996), Việt Nam đã gửi đơn xingia nhập Diễn đàn APEC.
Đại hội VIII của Đảng (1996) trong khi nêu rõ đường lối đối ngoại: “Việt Nammuốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoàbình, độc lập và phát triển” đã đưa ra chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở”,
“đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Đại hội nhấn mạnhphải mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phươngvới các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập,chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộcủa nhau, bình đẳng cùng có lợi Tiếp đó, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số
01/NQ-TƯ (18/11/1996,) “Về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
5 năm 1996 - 2000”, xác định nhiệm vụ, phương hướng, giải pháp, cơ chế,
chính sách chủ yếu để phát triển kinh tế đối ngoại
Bước vào thế kỷ mới, Đại hội IX của Đảng khẳng định: "Thực hiện nhất quánđường lối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở đa phương hoá, đa dạng hoá các quan
hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trongcộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển"3 Đại hội xácđịnh độc lập tự chủ là cơ sở để thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đaphương hoá, đa dạng hoá, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam, không chỉ "sẵn sàng
là bạn" mà còn sẵn sàng “là đối tác tin cậy của các nước" và "chủ động hội
Trang 24nhập kinh tế quốc tế” Đây là sự phản ánh một nấc thang cao hơn trong nhậnthức và tư duy về đối ngoại nói chung và về hội nhập quốc tế nói riêng củaĐảng trong thời kỳ đổi mới Nhằm cụ thể hoá đường lối “Chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế”, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 07-NQ/TW (27/11/2001) vềhội nhập kinh tế quốc tế, trong đó làm rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nộidung và nhiệm vụ cụ thể của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế.
Chủ trương hội nhập quốc tế tiếp tục được hoàn thiện thêm tại Đại hội X củaĐảng (4/2006) Cùng với việc nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa các quan hệquốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, Đại hội khẳngđịnh quan điểm: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mởrộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại
hội nêu 5 bài học lớn, trong đó bài học thứ 3 là bài học về hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Theo đó, hội nhập kinh tế quốc
tế là yêu cầu khách quan; phải chủ động, có lộ trình với bước đi tích cực, vữngchắc, không do dự chần chừ, nhưng cũng không được nóng vội, giản đơn Đại hội XI của Đảng (2011) đánh dấu bước phát triển mới trong chủ trương hộinhập quốc tế với sự khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độclập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan
hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợiích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; làbạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế,góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hộitrên thế giới”4 Chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” được Đạihội nêu ra thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng Đây không chỉ là
sự chủ động, tích cực hội nhập riêng ở lĩnh vực kinh tế và một số lĩnh vực khác,
mà là sự tích cực mở rộng hội nhập với qui mô toàn diện, trên các lĩnh vực:kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh Bước phát triển nàytrong nhận thức và tư duy đối ngoại của Đảng, phản ánh những nhu cầu cấpthiết đối với sự nghiệp cách mạng nước ta trong bối cảnh quốc tế mới Trong
Trang 25quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thànhphần kinh tế, của toàn xã hội Đó là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh vàcạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo,khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đốitượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể Cần kết hợp chặt chẽ quá trình hộinhập quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, nhằm củng cố chủquyền và an ninh đất nước5
2.1.2 Những quan điểm cơ bản của Đảng về hội nhập quốc tế
Về mục tiêu của hội nhập quốc tế: Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để
tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài (ngoại lực) phục vụ sự nghiệp bảo
vệ, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tronglĩnh vực kinh tế, Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị nêu rõ mục tiêu: “mở rộng thịtrường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, thực hiện dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Quá trình hội nhập quốc tế trướchết là đáp ứng lợi ích phát triển của đất nước; mặt khác thông qua đó phát huyvai trò của nước ta trong quá trình hợp tác và phát triển khu vực và thế giới, đónggóp vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dânchủ và tiến bộ xã hội
Để hội nhập quốc tế một cách hiệu quả, Đảng ta xác định rõ nguyên tắc cơ bản
và bao trùm là bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, bảo
đảm vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Giữ vữngđộc lập tự chủ thể hiện trước hết trong quyết sách hội nhập nhằm khai thác tối
đa các lợi thế, đối phó thắng lợi với các thách thức đặt ra của quá trình hộinhập; chủ động lựa chọn các tổ chức tham gia, các đối tác và hình thức quan
hệ, thời điểm tham gia hội nhập, xây dựng lộ trình hội nhập hợp lý trongkhuôn khổ quy định chung; chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với mụctiêu và yêu cầu hội nhập đường lối và chính sách đối ngoại rộng mở luôn dựa
55 Xem: Những điểm mới và nội dung quan trọng trong Văn kiện Đại hội XI , Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt
Trang 26trên sự kiên trì giữ vững nguyên tắc đối ngoại cơ bản, bao trùm là vì hoà bình,độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội Trong phát triển quan hệ đối ngoại và
hội nhập quốc tế, Đảng ta còn nêu rõ 4 nguyên tắc cụ thể: Một là, tôn trọng
độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ
của nhau Hai là, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực Ba là, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình Bốn là, tôn
trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi
Về tư tưởng chỉ đạo hội nhập quốc tế: Xuất phát từ mục tiêu và lợi ích của hội
nhập quốc tế, Đảng ta đề ra tư tưởng chỉ đạo đối ngoại nói chung và hội nhậpquốc tế nói riêng Theo đó, trong hội nhập quốc tế phải giữ vững nguyên tắc vìđộc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội (CNXH), đồng thời phải rất sáng tạo,năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của ViệtNam, cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với từngđối tượng mà Việt Nam có quan hệ Đây chính là sự kế thừa và vận dụng sángtạo quan điểm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, vừa kiên định về nguyên tắc chiếnlược, vừa mềm dẻo, linh hoạt về sách lược trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối vớiviệc xử lý các vấn đề quốc tế của nước trong quá trình hội nhập Quán triệt sâusắc tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Việt Nam chú trọng mở rộng quan hệ quốc tế cảsong phương và đa phương nhưng có nguyên tắc, mà nguyên tắc cao nhất, đồngthời cũng là lợi ích dân tộc cao nhất, đó là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước
và phát triển theo định hướng XHCN Đại hội XI của Đảng chỉ rõ chủ động vàtích cực hội nhập quốc tế là vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam
xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp hoàbình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
Trong hội nhập quốc tế về kinh tế, Đảng ta xác định rõ 5quan điểm chỉ đạo, bao
gồm(6):
(6)(6)Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết của Bộ chính trị số 07/NQ-TƯ Về hội nhập kinh tế quốc tế,
Trang 27Một là: Phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm
độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh quốc gia,giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường
Hai là: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong quá trình hội
nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, củatoàn xã hội, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và cạnh
tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khônkhéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đốitượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng tư tưởng trìtrệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng
Bốn là: Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch
và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đápứng những quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia
Năm là: Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ
vững an ninh, quốc phòng, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnhgiác với những âm mưu thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ diễn biến hoàbình đối với nước ta
Về nội dung, hội nhập quốc tế là thúc đẩy phát triển quan hệ song phương và
đa phương với các nước trên thế giới, tham gia các tổ chức khu vực và thế giớitrong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, các phongtrào chính trị-xã hội nhằm đáp ứng lợi ích phát triển và nâng cao vị thế quốc
tế của nước ta Việt Nam Trong quá trình hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước
ta chú trọng những hướng hoạt động đối ngoại như: Tăng cường quan hệ vớicác nước láng giềng và các nước lớn; thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và cóhiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á - Thái Bình Dương; pháttriển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược Củng cốquan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc
Trang 28cầm quyền Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đaphương vì lợi ích quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luậtpháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp quốc Thực hiện tốt các công việc tại các
tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp quốc Tích cực hợp tác cùng các nước,các tổ chức khu vực và quốc tế đối phó với những thách thức an ninh phitruyền thống, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu Phát triển công tác đối ngoạinhân dân theo phương châm: “chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả”, tíchcực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới Tăng cường vậnđộng viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nướcngoài để phát triển kinh tế - xã hội Đẩy mạnh công tác văn hoá - thông tin đốingoại, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta vớinhân dân các nước Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền conngười, sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liênquan về vấn đề nhân quyền; song đồng thời cũng kiên quyết làm thất bại các
âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhânquyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, làm mất anninh và ổn định chính trị của nước ta
Phương châm cơ bản để tiến hành hội nhập quốc tế là bảo đảm nguyên tắc
cùng có lợi trong quan hệ song phương và đa phương Theo nguyên tắc này,một mặt không để thiệt hại đến lợi ích cần có và hợp lý mà ta được hưởng, mặtkhác phải chấp nhận một sự chia sẻ hợp lý lợi ích cho các đối tác tuỳ theo mức
độ đóng góp của các bên tham hợp tác Trong hợp tác liên kết và hội nhậpquốc tế cần giữ vững nguyên tắc vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyếtvừa mềm dẻo để đạt tới mục tiêu, bảo vệ được lợi ích chính đáng của đất nước;đồng thời phải luôn cảnh giác, không mơ hồ trước những âm mưu và thủ đoạnlợi dụng hợp tác quốc tế để can thiệp, áp đặt về chính trịvà thủ đoạn lợi dụnghợp tác quốc tế để can thiệp, áp đặt về chính trị
Trang 292.2 VẤN ĐỀ GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở NƯỚC TA
2.2.1 Nhận thức chung
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền độc lập dân tộc và sự phát triển theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa của nước ta luôn đứng trước thách thức của hàng loạtnhững nguy cơ rất tiềm tàng và đa dạng Những nguy cơ đó vừa mang tínhtruyền thống vừa phi truyền thống với những dạng thức mới, không chỉ xuất hiện
từ những diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, mà còn nảy sinh chính từtrong quá trình phát triển của đất nước Hiểm hoạ bên ngoài và nguy cơ bêntrong luôn tương tác với nhau và trong nhiều trường hợp chuyển hoá lẫn nhaumột cách rất phức tạp, nhạy cảm Nền tảng của độc lập dân tộc bị thách thức gaygắt trên cả hai phương diện: quyền tối cao trong việc tự định đoạt các vấn đềtrong nước và quyền được bình đẳng trong quan hệ quốc tế, cũng như quyền tựquyết định các vấn đề đối ngoại của quốc gia dân tộc Bởi vậy, để bảo vệ vữngchắc độc lập dân tộc, giữ vững định hướng XHCN cần phải có cách tiếp cận linhhoạt, đúng đắn, tìm ra hệ các giải pháp khả thi, vừa mang tính tổng thể, toàn diệnvừa mang tính cụ thể nhằm tăng cường “sức đề kháng quốc gia”, hoá giải thànhcông các nguy cơ trong tiến trình hội nhập quốc tế
Có thể thấy, vấn đề cơ bản nhất vừa có ý nghĩa trước mắt vừa mang tầm chiếnlược lâu dài đối với nước ta nhằm giữ vững độc lập, tự chủ và định hướngXHCN trong điều kiện hội nhập là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tậptrung mọi nỗ lực xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc gia Do đó, mọi chủtrương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, nhất thiết phải đượchoạch định trên cơ sở lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm ưu tiêu số 1, phải đặttrong mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa những yêu cầu cấp thiết bêntrong và tác động của bối cảnh bên ngoài Đồng thời, trong hoạch định và thựchiện chủ trương, đường lối chính sách trên các mặt phải thấy rõ mối quan hệbiện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa an ninh và phát triển, giữa
Trang 30độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế, lấy nhiệm vụ xây dựng kinh tế là trọng tâmhàng đầu, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ cao độ ngoại lực, kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại; coi thế và lực của đất nước là chỗ dựa vững chắcnhất cho tiến trình hội nhập
Để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nước ta cần chú trọng phát triểntrên cả hai phương diện: “sức mạnh cứng”, tức là thực lực mọi mặt trong nước
và “sức mạnh mềm” là ảnh hưởng trên trường quốc tế Đây thực chất là quátrình thực hiện thành công mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế - xã hội trong 5năm tới được Đại hội Đảng lần thứ XI xác định là: "Tiếp tục nâng cao năng lựclãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới;xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sứcmạnh đại đoàn kết dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đờisống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; tăngcường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại"7
Sức mạnh chính trị của nước ta là sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của khốiđại đoàn kết toàn dân tộc với hạt nhân lãnh đạo của Đảng Kinh nghiệm lịch sửcách mạng từng chứng tỏ, trong điều kiện nền tảng vật chất- kỹ thuật còn nhiềuhạn chế, nhưng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, dân tộc ta với tinh thần tựchủ, tự lực, tự cường, đã phát huy những ưu việt của thể chế chính trị, đoàn kếtthống nhất tạo nên nguồn sức mạnh to lớn, vượt qua những thử thách khắcnghiệt nhất, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và nhữngthành quả cách mạng đã giành được, tiếp tục kiên định mục tiêu đi lên xâydựng CNXH Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, bêncạnh việc tăng cường sức mạnh vật chất, kinh tế, thì việc tăng cường sức mạnhchính trị, củng cố sự đồng thuận xã hội, phát triển khối đoàn kết toàn dân tộcvẫn là một trong những nhân tố mang tính quyết định nhất đối với bảo vệ độclập, chủ quyền và định hướng XHCN ở nước ta Điều đó xét cho cùng lại phụ