1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thuyết trình danh nhân văn hoá tỉnh Hải Dương

26 1,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 13,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân nhân văn hoá tỉnh Hải Dương như Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Tuệ Tĩnh ...Nhân nhân văn hoá tỉnh Hải Dương như Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Tuệ Tĩnh ...Nhân nhân văn hoá tỉnh Hải Dương như Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Tuệ Tĩnh ...Nhân nhân văn hoá tỉnh Hải Dương như Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Tuệ Tĩnh ...Nhân nhân văn hoá tỉnh Hải Dương như Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Tuệ Tĩnh ...Nhân nhân văn hoá tỉnh Hải Dương như Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Tuệ Tĩnh ...Nhân nhân văn hoá tỉnh Hải Dương như Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Tuệ Tĩnh ...Nhân nhân văn hoá tỉnh Hải Dương như Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Tuệ Tĩnh ...

Trang 1

Alpha team !!!

Trang 2

Chủ đề:

Danh nhân văn hoá, chính trị,

quân sự tỉnh Hải Dương

Trang 3

Tiêu biểu là làng Mộ Trạch( Bình Giang- Hải Dương)

là “ lò tiến sĩ xứ Đông”

Hãy cùng tìm hiểu về những con

người ưu tú này !!!

Trang 4

1 Mạc Đĩnh Chi

Trang 5

Mạc Đĩnh Chi Nhân danh văn hoá lỗi lạc thời nhà Trần

Mạc Đĩnh Chi

(1280-1346)

(1280-1346)

Trang 6

M c Đĩnh Chi quê làng Lan Khê, Nam ạ ở Sách, H i D ả ươ ng Là h u du c a M c ậ ệ ủ ạ

Hi n Tích, v quan n i ti ng th i Lý Nhân ể ị ổ ế ờ

Tông

T nh ông đã x u xí, dáng ng ừ ỏ ấ ườ i lo t ắ

cho t nh bé nh kh ắ ỏ ư ỉ

Nhưng bù lại , ông lại rất thông minh, sáng

dạ, lại ham học hỏi, ông thường đứng

ngoài lớp học nghe lén thầy dạy học rồi

vào rừng lấy cây que làm bút để viết chữ Nhà nghèo không có tiền mua dầu thắp, ông bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để học

bài.

Trang 7

* Năm Giáp Thìn, đời vua Trần Anh Tông, Mạc Đĩnh Chi đi thi, ông đã xuất sắc

đỗ đầu.

Nhưng khi yết kiến, vua Anh Tông thấy ông dung mạo xấu xí, tỏ ý không muốn dùng Ông đã viết bài phú nổi tiếng “ Ngọc Tỉnh Liên” ( sen trong giếng ngọc), vua đọc xong hiểu ra, bèn cho đỗ trạng nguyên và trọng dụng

ông.

Trang 8

Mạc Đĩnh Chi phục vụ triều đình qua 3 đời nhà Trần: Trần Anh Tông, Trần Minh

Tông và Trần Hiến Tông.

Thời Trần Hiến Tông ông đã làm đến

chức Tả bộc xạ (Thượng thư).

Mạc Đĩnh Chi đã có những đóng góp hết

sức to lớn cho nước nhà.

Trang 9

Danh xưng:

“ Lưỡng quốc trạng

nguyên”

Trang 10

Mạc Đĩnh Chi hai lần đi sứ sang Trung Quốc, với tài hùng biện và thơ phú của mình, ông đã áp đảo được triều đình

phương Bắc, khiến cho vua tôi triều

Nguyên phải nể phục.

Năm 1308, 30 năm sau chiến tranh chống

quân Nguyên lần 3 (1288), Mạc Đĩnh Chi dẫn

đoàn sứ sang triều Nguyên mừng Nguyên Vũ

Tông lên ngôi, sứ đoàn đã bị làm khó nhiều

lần nhưng với tài năng của mình, ông đã

vượt qua được tất cả thử thách của triều

Nguyên.

Bài thơ vịnh chiếc quạt xuất sắc khiến vua Nguyên phải đích thân viết cho ông bốn chữ “ Lưỡng quốc trạng

nguyên”

Trang 11

Hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi có người nổi bật, tài năng nhất

là Mạc Đăng Dung, người sáng lập ra triều Mạc khi nhà Lê

Sơ đã đổ nát

Mạc Đăng Dung là cháu 7 đời của Mạc Đĩnh Chi, khi lên ngôi ông đã truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Khiến Thuỷ Khâm

Ninh Văn Hoàng Đế

Ông nói về điều này: “ Không phải cứ con vua mới được

làm vua”

Trang 12

Mạc Đĩnh Chi là một danh nhân văn hoá nổi tiếng, là niềm tự hào của đất Hải

Trang 13

2 Nguyễn Trãi

Trang 14

Nguyễn Trãi, hiệu là Ức Trai Quê gốc ở Chí Linh, Hải

Dương, sau chuyển về Hà

Tây.

Cha ông là Nguyễn Phi Khanh, đỗ tiến sĩ thời Trần,

mẹ là Trần Thị Thái- con quan tể tướng Trần Nguyên

Đán.

Tuổi thơ ông chịu nhiều mất mát lớn: 5 tuổi chịu tang mẹ, 10 tuổi chịu tang

ông ngoại.

Năm 1400, Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh, hai cha con cùng ra làm quan cho nhà

Hồ

Trang 15

Năm 1407, giặc Minh cướp nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị bắt sang Trung Quốc Nguyễn Trãi chạy theo khóc rất lâu, cha ông bèn nói: “ Con phải trở về

mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì?”

Trang 16

Năm 1420, sau nhiều năm lưu lạc, Nguyễn Trãi vào Lỗi Giang yết kiến Bình Định Vương

Lê Lợi, dâng lên ông Bình Ngô sách, vạch ra

ba kế sách đánh quân Minh Lê Lợi thấy

người tài liền dùng làm

tham mưu

Cuối năm 1427, đầu

1428, khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng,

Nguyễn Trãi thừa lệnh

Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” , bản tuyên ngôn độc lập lần thứ

2 của nước ta, một áng hùng văn của

muôn đời

Trang 17

Năm 1439, triều đình ngày càng rối ren, gian thần lộng hành, trung thần bị sát hại, Nguyễn Trãi xin về

ở ẩn tại Côn Sơn

Năm 1440, Nguyễn Trãi được vua Lê Thái Tông mời ra giúp nước, ông lại hăng hái nhiệt tình ra

phò vua giúp đời.

Trang 18

Năm 1442, Nguyễn Trãi mắc án

oan Lệ Chi Viên, vụ thảm oan lớn

nhất trong lịch sử nước ta.

Bà Nguyễn Thị Lộ

Vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền

Đông Nguyễn Trãi đón vua ở

Côn Sơn Ngày 4-8 âm lịch, vua

về đến Lệ Chi Viên, theo vua có

người thiếp của Nguyễn Trãi là

Nguyễn Thị Lộ, được vua rất yêu

quý vì xinh đẹp, tài năng Ở Lệ

Chi Viên, vua thức suốt đêm với

bà rồi băng hà Nguyễn Thị Lộ bị

quy giết vua Triều đình bắt

Nguyễn Trãi chu di tam tộc.

Năm 1464, Lê Thánh Tông( con út của Lê Thái Tông) lên ngôi, ông đã minh oan cho

Nguyễn Trãi.

Trang 19

Nguyễn Trãi là một bậc anh hùng dân tộc, một

nhà văn hoá lớn

Năm 1980, UNESCO công nhận Nguyễn Trãi là danh nhân văn hoá thế giới Con người và tài năng của ông luôn được cả đất nước nhớ tới.

Không chỉ là một quân sư đại tài, ông

Trang 20

3 Tuệ Tĩnh

Trang 21

Danh y Tuệ Tĩnh

(1330-?)

Tuệ Tĩnh quê ở Cẩm Giàng, Hải Dương Ông được phong làm ông tổ của ngành dược Việt Nam, là vị thánh thuốc nam, người đi đầu trong

y dược học cổ

truyền

Trang 22

Tuệ Tĩnh là nhân vật đời Trần

Tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, hiệu Tráng Tử Vô Dật

Ông mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, được sư chùa Hải

Triều và Giao Thuỷ nhận nuôi

Năm 22 tuổi, ông đỗ Thái học sinh dưới triều Trần Dụ

Tông, nhưng không ra làm quan, ở lại chùa học làm

thuốc, chữa bệnh.

Năm 55 tuổi, với trí tuệ uyên bác, ông

Bị đem cống cho nhà Minh

Sang trung quốc ông vẫn làm thuốc

và được phong là Đại y Thiền sư.

Tuệ Tĩnh luôn xót thương cho số phận mình và luôn đau đáu nỗi niềm được trở về quê hương.

Tại triều Minh, trong lễ nhậm chức của mình ông đã bật khóc.

Ông qua đời tại Giang Nam Trung Quốc.

Trên bia mộ của ông cho đến tận bây giờ vẫn có dòng chữ: “ Về sau có ai bên nước sang,

nhớ cho hài cốt tôi về quê với.”

Năm 1690, tiến sĩ Nguyễn Danh Nho

đi xứ, cảm động trươc lời nhắn nhủ

của ông, tiến sĩ đã sao chép bia mộ

và tạc khắc bia đá mang về Hải Dương

bây giờ

Trang 23

Tấm bia tạc lại bia mộ

của Tuệ Tĩnh

Đền Bia- nơi lưu trữ tấm bia

và cũng là nơi thờ Tuệ Tĩnh

Trang 24

Danh y Tuệ Tĩnh đã có những đóng góp rất to

lớn cho nền y học nước nhà.

Câu nói nổi tiếng của ông “ Nam dược trị Nam nhân”

đã thể hiện đầy đủ quan niệm về mối quan hệ giữa

con người và môi trường xung quanh

Những năm còn ở trong nước, Tuệ Tĩnh đã chăm chú

nghề thuốc và viết ra bộ sách giá trị Nam dược thần

diệu và Hồng Nghĩa giác tư y

Tuệ Tĩnh đã không chỉ

dừng lại ở vị trí thầy thuốc

chữa bệnh, ông còn truyền

bá phương pháp vệ sinh, tổ

chức cơ sở khám chữa bệnh

tại chùa.

Có tài liệu cho biết, trong hơn

30 năm hoạt động ở nông

thôn, ông đã xây 24 ngôi

chùa, biến các chùa này

thành y xá chữa bệnh Ông

còn chữa bệnh cho cả gia

súc.

Trang 25

Học viện YDHCTVN, tên trước là Đại học Tuệ Tĩnh, nơi có tượng của vị thánh thuốc

Nam

Trang 26

- Hai anh em cùng đỗ Tiến sĩ thời Lý Mạc Hiển

Tích, Mạc Kiến Quang.

- Tiến sĩ Đoàn Như Hài

- Thần toán Vũ Hữu…

Ngày đăng: 16/04/2016, 10:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w