Trong quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT hiệnnay, đã thể hiện được sự tương tác trong dạy học, nhưng chưa rõ nét, hầu hết làtương tác một chiều giữa thầy – trò.. trong dạy học lý l
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Theo tinh thần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, Nghị quyết Đại hội XI
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Trong quá trình giáo dục phải kiên trì nguyên tắc lấy HS làm trung tâm Việc thay đổi phương pháp dạy và học là một công việc to lớn, khó khăn, phức tạp, tác động đến tất cả các khâu từ nội dung, chương trình, SGK, trình độ đào tạo, thi cử, đến đánh giá, kiểm định chất lượng Đây là công việc liên quan tới tất cả các bộ phận cấu thành của giáo dục nên cần
có sự đổi mới đồng bộ từ nội dung đến phương pháp để đạt được mục đích đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo”[98] Do đó, nhiệm vụ đặt ra đối với GV là
phải đổi mới PPDH, nhằm phát huy được tính tích cực học tập của HS, tăng cườngkhả năng tự học, tự khám phá, đáp ứng yêu cầu đào tạo con người mới như mục tiêugiáo dục đã đề ra Hơn nữa, cùng với đà phát triển không ngừng của nền kinh tế trithức, việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo càng cần phải đi vào chiều sâu
Trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thànhbằng những HĐ thuần tuý cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp giữa thầy vàtrò, trò và trò, tạo nên sự tương tác, mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên conđường đi tới những tri thức mới Thông qua sự tương tác, thảo luận, tranh luận tậpthể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ,các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biếtbản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới Bằng cách nói ra những điềuđang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra,thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhauchứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động; các em còn học được ở bạn tri thức, kĩnăng và còn được rèn luyện phong cách sống hòa nhập, biết lắng nghe, biết phêphán, biết tham gia
DHTT là một hướng đi mới trong đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay
Trong cuốn “Giáo dục – một kho báu tiềm ẩn” do Giắc Đờ-lo làm tổng chủ biên, tác
giả đã đưa ra nhận định đi vào thế kỷ mới quan hệ thày trò (phương pháp tương tác
Trang 2thày trò) giữ vai trò trung tâm trong nhà trường Vai trò của sự tương tác còn được
thể hiện trong tác phẩm “Dạy học và PPDH trong nhà trường”, tác giả Phan Trọng Ngọ đã ví tri thức được nảy sinh từ sự tương tác giống như “lửa không được phát sinh từ cái bùi nhùi hay từ các viên đá mà được nảy sinh khi các viên đá được cọ sát vào nhau”[61, tr 295] Khi viết lời tựa cho tác phẩm “Tiến tới một phương pháp SPTT” của hai tác giả Jean- Marc Denommé & Madeleine Roy, nhà khoa học Phạm Minh Hạc đã nhấn mạnh: “Sự tương tác hỗ trợ, cùng nhau hợp tác đi vào con đường tiếp thu, lĩnh hội các tri thức, kỹ năng, thái độ thành vốn sống, ăn nhập vào vốn kinh nghiệm của bản thân, tạo nên một tiềm năng và tiếp đó thành nhân cách, thành năng lực HĐ của từng người – thành người, làm người và ở đời.”[38, tr 12]
Trong quá trình dạy học hiện đại, quan hệ tương tác hết sức được xem trọng.Xét ở góc độ nào đó, nó phải được nhìn nhận như một nguyên tắc then chốt của dạyhọc hiện đại Tức là cho dù đối tượng dạy học là ai, nội dung dạy học là gì, thì đểdạy và học tốt được đều phải có sự tương tác tích cực giữa người học với các nhân
tố của quá trình dạy học Trong quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT hiệnnay, đã thể hiện được sự tương tác trong dạy học, nhưng chưa rõ nét, hầu hết làtương tác một chiều giữa thầy – trò Sự tác động qua lại giữa người học – môitrường còn mờ nhạt Vậy DHTT trong môn Toán có thể áp dụng một cách phù hợp
ở trường THPT của nước ta hiện nay không? Vai trò của người dạy, người học, môitrường trong DHTT như thế nào? Sử dụng các biện pháp nào để DHTT đạt hiệuquả? Đó còn là câu hỏi cần có lời giải đáp thỏa đáng
PT và BPT là một trong những nội dung cơ bản của chương trình Toán phổthông Đây cũng là một nội dung quan trọng nhằm rèn luyện trí tuệ cho HS Tìm cáccách giải khác nhau của một PT hay BPT sẽ giúp HS linh hoạt trong lựa chọnphương pháp giải các bài toán thuộc nội dung này Điều đó kích thích tư duy biệnchứng, tư duy sáng tạo cho các em Tuy nhiên, PT và BPT nếu đi sâu cũng là mộtnội dung khó, cần có PPDH thích hợp để đem lại hiệu quả cao Vận dụng DHTTtrong dạy học chủ đề PT và BPT có thể giúp HS tích cực hóa việc học của mình.Trong trào lưu đổi mới PPDH hiện nay, có nhiều PPDH tích cực đã được áp dụng
Trang 3trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông nhưng chưa có công trình nào nghiêncứu việc DHTT với chủ đề PT và BPT
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là : "DHTT trong môn Toán
ở trường THPT qua chủ đề PT và BPT” với mong muốn đưa đề tài nghiên cứu này áp
dụng vào thực tiễn, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường THPT
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về DHTT và thực tiễn DHTT, đềxuất một số biện pháp DHTT trong môn Toán qua chủ đề PT và BPT nhằm gópphần nâng cao hiệu quả dạy học Toán ở trường THPT
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình DHTT môn Toán ở trường THPT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một số biện pháp DHTT trong môn Toán phù hợp với thựctiễn dạy học ở trường THPT thì có thể giúp HS học tập tích cực, chủ động và sángtạo, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở trường THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về DHTT, mối quan hệ giữa DHTT vớicác PPDH khác và việc vận dụng DHTT trong môn Toán
- Đưa ra những yêu cầu cần thực hiện trong các giai đoạn tổ chức DHTTtrong môn Toán ở trường THPT
- Đề xuất một số biện pháp DHTT trong môn Toán qua chủ đề PT và BPT
- TN sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện phápDHTT đã đề xuất thông qua dạy học chủ đề PT và BPT ở trường THPT
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc vận dụng DHTT trong dạy học chủ đề PT và BPT ở trường THPT
Trang 47 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước về giáo dục đào tạo, chươngtrình và SGK Toán THPT, định hướng đổi mới PPDH nói chung và dạy học toánphổ thông nói riêng
- Nghiên cứu các sách báo tài liệu, các công trình nghiên cứu về DHTT, quanđiểm SPTT và những công trình có liên quan đến đề tài luận án
7.2 Phương pháp điều tra quan sát
- Dự giờ, trao đổi với thầy cô giáo tại trường đại học cũng như các trường phổthông về việc tổ chức HĐ tương tác trong dạy học môn Toán
- Điều tra nhằm tìm hiểu thực tế khả năng DHTT trong dạy học môn Toán ởtrường phổ thông
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Nhằm kiểm nghiệm trên thực tiễn một phần tính khả thi và hiệu quả của đề tàinghiên cứu
7.4 Phương pháp chuyên gia
- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia
7.5 Phương pháp thống kê toán học
- Xử lý các kết quả điều tra và TN
8 Nội dung đưa ra bảo vệ
- Những quan niệm của tác giả luận án về DHTT, tình huống DHTT và cáckiểu tình huống DHTT có cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn;
- Các giai đoạn tổ chức DHTT, các biện pháp DHTT trong môn Toán ởtrường THPT có tính khả thi và hiệu quả
9 Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hoá và làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về DHTT và việcvận dụng DHTT trong môn Toán ở trường THPT
- Đưa ra những yêu cầu cần thực hiện trong các giai đoạn tổ chức DHTT mônToán ở trường THPT và rút ra các kết luận sư phạm
Trang 5- Đề xuất một số biện pháp DHTT trong môn Toán ở trường THPT qua chủ
đề PT và BPT
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung củaluận án gồm 4 chương.
Chương 1 DHTT trong môn Toán
Chương 2 Tổ chức DHTT trong môn Toán ở trường THPT
Chương 3 Một số biện pháp DHTT trong môn Toán qua chủ đề PT và BPT
Chương 4 Thực nghiệm sư phạm
Trang 6Chương 1 DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG MÔN TOÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về dạy học tương tác
1.1.1 Những kết quả nghiên cứu trên thế giới
Quan hệ tương tác giữa các yếu tố của HĐ dạy và học đã được đề cập từ rấtsớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại Khổng Tử (551 – 479 TCN) hay Socrate(469 – TCN) đã tỏ thái độ hết sức trân trọng đối với người thầy giáo và đề cao vaitrò tích cực, chủ động trong học tập của người học khi mô tả HĐ dạy học
Tư tưởng SPTT đã được nhiều người nghiên cứu Trong các tài liệu sư phạmcủa Liên Xô, Đức trước đây, người ta đã nói nhiều đến tương tác Dạy - Học Cácnhà giáo dục Liên Xô như : N.V Savin, T.A Ilina, B.P Êsipốp, Iu.K Babanxki,…
đã đánh giá tính chất nhiều nhân tố trong quá trình dạy học (ba nhân tố : Dạy – Nộidung – Học), khẳng định mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố Dạy và Học Tuynhiên, vẫn chưa bao quát hết chức năng và cấu trúc của từng yếu tố, chưa nêu rõđược cơ chế tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc cấu trúc HĐ dạy học nên chưa
có tác dụng phát huy hết tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình dạy học.Vào những năm 90 của thế kỉ XX, nhóm tác giả người Pháp là GuyBrousseau, Claude Margolinas, Claude Comiti, cũng đã nghiên cứu sự tương tácgiữa các yếu tố của HĐ dạy học trong lí thuyết tình huống môn Toán [81, tr 115]
Họ đã đặt cơ sở khoa học cho những tác động sư phạm, thúc đẩy HĐ học của HSlên đến mức cao mà vẫn không làm lu mờ, hạ thấp vai trò của thày giáo với tư cách
là người “khởi xướng” và cũng là người “kết thúc” một tình huống dạy học GuyBrousseau đã nghiên cứu mối quan hệ tương tác và tương hỗ giữa người dạy (dạy) -người học (học) và môi trường trong quá trình dạy học Trong đó môi trường đượcxem xét dưới góc độ tình huống Theo ông, có hai loại tình huống trong dạy học làtình huống didactic và tình huống a- didactic G.Brousseau và các cộng sự của ông
đã đưa ra các phương tiện, các công cụ để kích thích hứng thú và xây dựng các tìnhhuống dạy học, đặc biệt cách thức gia tăng sự tương tác, hợp tác giữa Dạy – Học –Môi trường để dạy học đạt hiệu quả cao Trong những công trình nghiên cứu, cáctác giả đã phân tích kĩ các vấn đề cơ bản của quan điểm SPTT như:
Trang 7- Xác nhận cấu trúc HĐ dạy học bao gồm bốn nhân tố: Học (Người học); Dạy(Người dạy); Kiến thức (Khái niệm khoa học); Môi trường (Điều kiện dạy học cụ thể).
- Phân tích hai vai trò khác nhau của thầy giáo trong tình huống dạy học: đềxuất tình huống và tổ chức cho HS giải quyết tình huống để tìm thấy kiến thức vàtạo điều kiện để HS chính xác hoá kiến thức thành tri thức khoa học ( mà các tác giảgọi là uỷ thác một tình huống và thể chế hoá kiến thức)
- Phân loại tình huống dạy học và mức độ can thiệp của thày giáo trong từngloại tình huống
- Môi trường (theo các tác giả) không phải là một yếu tố tĩnh, bất động, màđích thực là một thành tố thuộc cấu trúc HĐ dạy học Môi trường không chỉ ảnhhưởng đến người học, mà quan trọng ở chỗ nó làm thay đổi người học, người dạynhằm đảm bảo sự thích nghi của họ trước những đòi hỏi của môi trường, và ngượclại, người học và người dạy cũng làm thay đổi chính môi trường nữa
Jean- Marc Denommé & Madeleine Roy là hai tác giả cuốn sách “Tiến tới một phương pháp SPTT (bộ ba: Người học - người dạy – môi trường)” [38] và “SPTT một tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy” [37] đã khởi xướng một cách tiếp
cận sư phạm, gọi là phương pháp SPTT Hai cuốn sách này trình bày về sự tươngtác giữa ba tác nhân trong quá trình dạy học là người dạy, người học và môi trường.Chất lượng dạy học tốt hay không là do sự tương tác của ba tác nhân này có tốt haykhông Trong hai cuốn sách này, các tác giả này đã nói tới một trường phái sư phạmhọc tương tác cùng nền tảng lý luận của nó Tư tưởng sư phạm học tương tác đượcJ.M.Denommé và M.Roy giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 2000 Trongcông trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã giới thiệu những kết quả sau:
- HĐ dạy học: Giáo dục là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố: Người dạy –người học và môi trường
- Xác định chức năng của từng yếu tố (người học – người thợ ; người dạy –
người hướng dẫn; môi trường và các ảnh hưởng của nó)
- Xác định quan hệ qua lại (tác giả gọi là các liên đới) giữa các yếu tố và giữacác bộ phận trong một yếu tố
Trang 8- Đặc biệt, tác giả đã phân tích kỹ cơ sở thần kinh nhận thức (bộ máy học) vàcác điều kiện khác (như vốn sống, xúc cảm, phong cách học và dạy, ) ở người họclàm cơ sở cho các tác động sư phạm có hiệu quả.
- Xác nhận các thành phần không thể thiếu của sư phạm học tương tác đó là sưphạm hứng thú, sư phạm hợp tác, và sư phạm thành công, các khâu của HĐ dạy học( như lập kế hoạch, tổ chức HĐ và hợp tác)
J.M Denommé và M.Roy đã thành công trong việc mô tả yếu tố môi trườngmột cách cụ thể và trực quan Tuy nhiên môi trường ở đây được nhìn nhận trênnhiều bình diện, nhiều mức độ khác nhau, nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc xem xétmôi trường như một yếu tố tĩnh, có sẵn, tồn tại xung quanh và ảnh hưởng đến ngườidạy, người học và HĐ của họ
Từ những phân tích trên, có thể thấy hai nhóm tác giả đã có những điểm tươngđồng như: xác nhận các yếu tố cơ bản của sư phạm học tương tác là Dạy – Học –Môi trường, chức năng của từng yếu tố và làm rõ quan hệ giữa các yếu tố trong HĐdạy học Tuy nhiên J.M Denommé và M.Roy đã thành công trong việc mô tả yếu tốmôi trường một cách cụ thể và trực quan, nhưng lại chưa làm rõ bằng cách nào vàcông cụ nào để các nhà sư phạm phát huy tác động tích cực của môi trường đếnngười học Trong khi đó, G.Brousseau và các cộng sự của ông đã đưa được raphương tiện, các công cụ để kích thích sự hứng thú và xây dựng các tình huống dạyhọc, và các cách thức gia tăng sự tương tác, hợp tác giữa Dạy – Học – Môi trường
để dạy học đạt hiệu quả cao Như vậy các tác giả đã kế thừa, bổ sung cho nhau làmcho tư tưởng SPTT phát triển và ngày càng phong phú
Gần đây, trong cuốn sách “The construction of new mathematical knowledge
in classroom interaction” (Xây dựng kiến thức toán học mới trong lớp học tương
tác), tác giả Heinz Steinbring [101] cũng đưa ra cách tiếp cận dạy học theo quanđiểm sư phạm này Nội dung cuốn sách đề cập tới sự kết nối và đa dạng của nhữngkhái niệm cơ bản của lý thuyết nền và nhận thức về bản chất của kiến thức toán học.Tác giả xây dựng những lý thuyết cơ bản và phương pháp nhận thức theo địnhhướng phân tích sự tương tác trong toán học cùng những kiến thức toán học và hệ
Trang 9thống giao tiếp cần thiết trong quá trình nhận thức toán Tác giả khẳng định ngườihọc giữ vị trí trung tâm trong quá trình dạy học Tác giả đề cao vai trò của sự giaotiếp và sự tranh luận trong lớp học Ông còn đưa ra các mẫu giao tiếp quen thuộcđược đúc rút từ những kinh nghiệm Theo ông, đối với trẻ em khi học toán, tranhluận về một nội dung nào đó là một cách phát triển những kiến thức toán của mình.Hơn nữa, sự tranh luận về toán học của những sinh viên trẻ là sự thể hiện nhữngđiều kịên nhận thức về kiến thức toán học Ông còn nhấn mạnh mục tiêu dạy học cóvai trò đặc biệt quan trọng trong việc tìm hiểu và phân tích bài dạy nhất là trong quátrình dạy và học tương tác Trong cuốn sách này, Heinz Steinbring đưa ra khái niệm
cơ bản của lý thuyết nền và những nét chính về cách lựa chọn phương pháp luậnnghiên cứu trong sự tương tác ở lớp học toán Ông đã minh hoạ bằng một loạt kháiniệm học tập toán ở trường Tiểu học mà ông đã phân tích rõ điều kiện của việc xâydựng những kiến thức toán học mới trong sự tương tác ở lớp học Cuốn sách đã đưa
ra cách tiếp cận mới trong dạy và học toán đặc biệt là nhận thức luận về bản chấtcủa kiến thức Toán cùng với cách giao tiếp trong dạy học Toán Tuy nhiên, hàngloạt các ví dụ Heinz Steinbring minh hoạ ở đây chủ yếu trong toán Tiểu học màchưa thấy mở rộng hơn trong các bậc học cao hơn
Hiện nay, trên thế giới đang sử dụng một công cụ trong giảng dạy tạo đượcmôi trường tương tác cao đó là Bảng điện tử tương tác Activboard Bảng điện tửnày được xem như sản phẩm nòng cốt trong việc xây dựng giải pháp lớp học tươngtác của công ty Promethean (Anh quốc) [97] Đây cũng là công ty đi tiên phong vềlĩnh vực xây dựng lớp học tương tác, đưa truyền thông đa phương tiện phục vụ choviệc dạy và học Loại bảng này có chức năng của màn hình tiếp xúc trực tiếp, chophép người sử dụng dùng bút thể hiện tự do những nội dung cần trình bày và kết nốiđược với các môi trường mạng, Internet Các GV và HS các cấp đều có thể dùng hệthống này để xây dựng, tiếp cận các bài giảng điện tử, giáo án hay các thư viện sốhóa trên mạng; trình bày những cuộc thảo luận nhóm, trắc nghiệm trực tiếp nhờnhững phần mềm đi kèm
Trang 10So với môi trường dạy học chỉ bằng sách vở truyền thống và hệ thống cácphòng học bộ môn có nối mạng máy tính, Activboard có nhiều ưu điểm vượt trộihơn, tiết kiệm nhiều chi phí và hiện đang là sản phẩm được nhiều nền giáo dục quốcgia trên thế giới ứng dụng.
Ưu điểm nổi bật của Hệ thống giảng dạy tương tác và đánh giá Activboard:
- Đây là công nghệ chuyên dùng cho phục vụ dạy và học, hàm lượng côngnghệ được ứng dụng đến 99% vào công tác giảng dạy và đánh giá hiệu quả dạy vàhọc giúp tiết kiệm tối đa hiệu quả đầu tư vào con người và vật chất
- Với trình độ cơ bản về CNTT, GV bộ môn có thể vận dụng và khai tháchiệu quả phần mềm, phần cứng vào công tác chuyên môn
- Công nghệ điện từ trường cho phép xem bảng như một màn hình cảm ứngtoàn diện với độ chính xác tương tác tuyệt đối
- Tương tác tích hợp vào hệ thống bài giảng và cho lưu lại thành tập tin
- Cung cấp bộ công cụ giảng dạy tương tác và phong phú, đặc biệt là cáchiệu ứng tương tác tạo hiệu quả truyền đạt và tiếp thu kiến thức hiệu quả
- Hệ thống thư viện hoàn hảo, thông minh và cho phép tự cập nhật
- Công nghệ duy nhất có hệ thống đánh giá hiệu quả dạy và học theo quitrình khép kín
- Phần mềm và giáo trình được Việt hoá 100%
- Tương thích với tất cả ngôn ngữ phần mềm khác, cho phép tương tác trên
bề mặt (powerpoint, word, excel, đồ hoạ), đặc biệt có chức năng PowerpointConverter giúp rút ngắn thời gian thiết kế lại bài giảng
- Tất cả các ứng dụng chạy tương thích trên các hệ điều hành Window,MAC, Linux
- Công nghệ tạo ra giá trị kinh tế cao
Promethean được nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quí của các tổ chứcgiáo dục uy tín thế giới vì có công đóng góp vào sự nghiệp giáo dục chung và sảnphẩm luôn được cải tiến công nghệ giáo dục làm nâng cao chất lượng dạy học vàđánh giá, đặc biệt tạo ra một động lực rất lớn giúp GV yêu nghề, sáng tạo; HS tích
Trang 11cực và tiếp thu hiệu quả Để có thể sử dụng bảng điện tử tương tác Activboard GV
có thể biên soạn giáo án bằng một trong các phần mềm: Activprimary, Activstudio,Activsoftware Inspire Edition tùy theo cấp độ từng lớp học với những chức năngchuyên biệt
Hệ thống dạy và học tương tác (Digital Interactive Classroom) là một giảipháp dạy và học hoàn chỉnh, tích hợp phần mềm và phần cứng Đây là hệ thốngbảng điện tử thông minh tương tác trực tuyến, tạo môi trường tương tác toàn diện,thu hút sự tập trung chú ý của trẻ, kích hoạt khả năng tư duy, sáng tạo với những bàigiảng thật sự sinh động, liên kết với thực tế cuộc sống DHTT là xu hướng mới củagiáo dục hiện nay Hình thức dạy học này mang đến cho người học một môi trường
lý tưởng để kiến tạo và tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua các họat động được thiết
kế bởi người dạy Người học có điều kiện phát triển mạnh mẽ tính chủ động, tư duysáng tạo và các kỹ năng sử dụng những công cụ hiện đại của khoa học công nghệ,đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đối với sản phẩm đào tạo
Trong các hình thức DHTT, sử dụng phần mềm và các phòng học đa chứcnăng có nối mạng internet hoặc mạng nội bộ tỏ ra có nhiều ưu điểm và được nhiềunước trên thế giới quan tâm theo đuổi Kết hợp với các hình thức hội thảo và thựchiện các tiểu luận theo nhóm, DHTT tạo ra sự phát triển toàn diện và nâng cao chấtlượng giảng dạy
Hiện nay, chương trình giáo dục mầm non ở một số nước trên thế giới đang từngbước đổi mới cả nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức HĐ Vấn đề quan trọngnhất là tạo một môi trường giáo dục tương tác tốt cho trẻ Việc tổ chức HĐ DHTTđược quan tâm đúng mức sẽ tạo điều kiện cho cả GV và trẻ phát huy tính sáng tạotrong việc thực hiện kế hoạch HĐ Bên cạnh đó, trẻ sẽ chủ động, tự tin khi tiếp cận vớicác sản phẩm CNTT mới
1.1.2 Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
Phương pháp SPTT được phổ biến ở Việt Nam vào năm 1992 tại Huế và
1995 tại trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh trong hội thảo Didactic
Trang 12của những nước nói tiếng Pháp Mặc dù vậy, thuật ngữ sư phạm học tương tác làmột thuật ngữ mới ở Việt Nam.
Trong thời gian gần đây, các nhà giáo Việt Nam đã trao đổi nhiều về tư tưởng
sư phạm mới này Trong cuốn sách “Vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông” [59], tác giả Bùi Văn Nghị đã trình bày một cách sơ lược
việc vận dụng thuyết tương tác trong dạy học một vài nội dung của chương trình
Toán ở phổ thông Trong luận án Tiến sĩ Giáo dục học “Tổ chức dạy học theo quan điểm SPTT trong các trường (khoa) cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay”
[88], tác giả Nguyễn Thành Vinh cũng đã trình bày một số vấn đề cơ bản của
phương pháp SPTT Trong cuốn sách “Dạy học và PPDH trong nhà trường” [61],
tác giả Phan Trọng Ngọ đề cập đến sự tương tác giữa người dạy, người học và đốitượng dạy học Tác giả đã đưa ra một nhóm phương pháp tổ chức tương tác hànhđộng học bao gồm: Các phương pháp kịch, các PPDH bằng trò chơi, và DHTT theo
lí thuyết lịch sử văn hoá về sự phát triển các chức năng tâm lí cấp cao của L.X.Vưgotxky Tác giả khẳng định rằng trong bất kỳ quá trình dạy học nào cũng tồn tại
sự tương tác giữa ba yếu tố: người dạy, người học và đối tượng dạy học Trong
cuốn sách “PPDH truyền thống và đổi mới” [81], tác giả Thái Duy Tuyên cũng
trình bày những khái niệm của phương pháp sư phạm học tương tác, các dạng bàihọc trong sư phạm học tương tác và các dạng tương tác trong dạy học
Về vấn đề môi trường dạy học theo phương pháp SPTT, tác giả Nguyễn ThịBích Hạnh (khoa Tâm lý Giáo dục học trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ ChíMinh) đã có nhiều bài viết trao đổi sâu về vấn đề này[19] Tác giả đã khẳng địnhcác yếu tố cấu thành HĐ dạy học gồm: Kiến thức (khái niệm khoa học hay nộidung); Học (người học – trò); Dạy (người dạy – thầy); Môi trường (điều kiện dạyhọc cụ thể) Mỗi yếu tố thuộc cấu trúc HĐ dạy học đảm nhận chức năng riêng biệt.Các yếu tố không tồn tại rời rạc bên cạnh nhau mà chúng có mối quan hệ với nhau
và luôn tác động qua lại lẫn nhau Môi trường trong sư phạm học tương tác khônghiểu như là các đòi hỏi của xã hội (mô hình nhân cách) đặt ra cho nhà trường, trong
đó có quá trình dạy học; cũng không hiểu là các điều kiện vật chất, tinh thần; các
Trang 13yếu tố bên trong và bên ngoài người dạy và người học ảnh hưởng đến HĐ dạy vàhọc, mặc dù sư phạm học tương tác có tính đến Môi trường bàn đến ở đây đượchiểu là các tình huống dạy học do người dạy tạo ra cho người học HĐ, cải biến và
thích nghi [19] Trong cuốn sách xuất bản năm 2011 “ Phương pháp và công nghệ dạy học trong môi trường SPTT” [27], tác giả Phó Đức Hòa đã mang đến cho người
đọc một cách nhìn tổng quan về mô hình HĐ SPTT và việc ứng dụng phương pháp
và công nghệ dạy học trong môi trường này ở các loại hình nhà trường khác nhau.Tác giả cuốn sách đã đưa ra cách tiếp cận mới về SPTT cũng như các PPDH tíchcực đã được sử dụng trong môi trường này Tác giả cuốn sách đã khẳng định cácPPDH tích cực chỉ được thực hiện có hiệu quả trong một môi trường giàu tính côngnghệ, môi trường dạy học đa phương tiện Người dạy và người học sử dụng côngnghệ dạy học mới nhưng không lạm dụng CNTT đang là một vấn đề thời sự, đã vàđang được đặt ra trong cuốn sách này với các biện luận và phân tích cụ thể Điểmsáng của cuốn sách này là việc tác giả đã chỉ ra được các PPDH tích cực áp dụngtrong môi trường SPTT và CNTT cùng các phần mềm hữu ích được sử dụng trongdạy học Tuy nhiên, cuốn sách chưa đề cập tới việc áp dụng quan điểm SPTT vàodạy học một môn học cụ thể, đặc biệt trong môn Toán
Gần đây nhất, trong luận án tiến sĩ “Dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo
GV tiểu học trình độ đại học” [78] được bảo vệ năm 2013, tác giả Phạm Quang
Tiệp đã xây dựng khung lý thuyết về dạy học dựa vào tương tác Tác giả đã phântích và đánh giá thực trạng dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo GV tiểu họctrình độ đại học, đồng thời thiết kế được năm mô hình dạy học dựa vào tương tác vàmột số KTDH, nhằm triển khai hiệu quả những mô hình dạy học này trong thực tiễnđào tạo GV trình độ đại học
Ngoài ra, còn rất nhiều luận án và luận văn thạc sỹ bàn về DHTT như luận văn:
“Vận dụng quan điểm SPTT vào dạy học nội dung Phép dời hình và phép đồng dạng trong mặt phẳng, Hình học 11 nâng cao trường THPT” [10] của Vũ Văn Công; Luận văn: "Vận dụng SPTT trong dạy học môn Toán ở lớp 3" [71] của Nguyễn Thế Sang; hay “Tổ chức dạy học theo nhóm nhằm tăng cường tương tác sư phạm
Trang 14trong dạy học lý luận dạy học môn Toán (phần 2) ở trường Đại học Sư Phạm”[47]
của tác giả Bùi Thị Hạnh Lâm, Trên các tạp chí giáo dục và nghiên cứu khoa họcgần đây cũng đăng nhiều bài trao đổi về bản chất và sự hình thành của phương phápSPTT, cũng như cách tiếp cận các PPDH khác theo mô hình tương tác, như các bài
báo của tác giả Nguyễn Phương Hồng về "Tiếp cận kiến tạo trong dạy học khoa học theo mô hình tương tác",[31 , trang 13,14]; "Phương pháp SPTT: bản chất và hướng ứng dụng", của Nguyễn Đình Chắt [8 , trang 19, 20, 23]; hay bài viết về "Dạy - học tương tác theo hướng người học tự hình thành kiến thức mới" [76] của tác giả Đỗ Thị Phương Thảo cũng đề cập tới yếu tố môi trường trong DHTT Trong bài báo về " Phương pháp SPTT và hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ" của tác giả Cao Xuân
Liễu (Khoa Sư phạm – Trường đại học Đà Lạt) [50, trang 21-24], Điều đó là minh
chứng về việc quan tâm của các nhà giáo dục Việt Nam đến quan điểm dạy học mớinày
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, xuhướng ứng dụng CNTT trong giáo dục và tạo môi trường học tập mang tính tươngtác là một trong những mối quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục cũng như cácbậc phụ huynh Hình thức dạy học này mang đến cho người học một môi trường lýtưởng để kiến tạo và tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua các họat động được thiết kếbởi người dạy Người học có điều kiện phát triển mạnh mẽ tính chủ động, tư duysáng tạo và các kỹ năng sử dụng những công cụ hiện đại của khoa học công nghệ,đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đối với sản phẩm đào tạo Tuy nhiên, việc vận dụngquan điểm SPTT vào dạy học các nội dung cụ thể của các môn học trong nhàtrường còn ít được nghiên cứu
Ở Việt Nam hiện nay, đã và đang áp dụng quan điểm này tuy chưa được rộngrãi ở một số trường phổ thông Việc áp dụng quan điểm này được thể hiện rõ nhất
đó là thi giải toán qua mạng cho HS Tiểu học thông qua việc sử dụng học liệu Toántương tác của tác giả Hoàng Khánh Hòa đã được giới thiệu trên mạng Internet [99]
Trang 15Học liệu Toán tương tác đã thu hút được sự tham gia đông đảo của các em HS Tiểuhọc và phổ thông cơ sở, cũng như sự quan tâm của các bậc phụ huynh.
Toán tương tác là học liệu Việt ngữ đầu tiên và duy nhất cho phép HS học toánqua hình thức thực hành tương tác, với số lượng bài học đa dạng theo chủ đề và cấp
độ lớp học Học liệu Toán được thiết kế để phù hợp với chương trình trong chuẩnSGK Việt Nam, đặt biệt phù hợp cho HS theo học các chương trình theo chuẩnAnh-Mỹ-Singapore-Úc ở Việt Nam hoặc tiếp tục theo học chương trình phổ thông
tại các quốc gia này Học liệu thực hành Toán tương tác được đánh giá là hệ thống,
đủ tốt, nhiều người đã học: cơ hội để học tập theo mức tiến bộ của bản thân và trải
nghiệm tiếp thu kiến thức được cá nhân hóa
Tuy nhiên, học liệu thực hành Toán tương tác chủ yếu dành cho đối tượng HS
từ mẫu giáo đến lớp 8, với các lớp tiếp theo còn đang từng bước hoàn thiện để đápứng nhu cầu học tập
Hiện nay, hệ thống trường Quốc tế Châu Á - Thái Bình Dương (APC) ở quận
1, thành phố Hồ Chí Minh triển khai việc ứng dụng tiện ích CNTT vào việc giảngdạy và quản lý, nhằm phục vụ cho mục tiêu đào tạo HS thành những công dân toàncầu sau này Nhằm tăng cường tính sinh động và khả năng tự chủ của HS, tất cả GVtại APC đều dùng giáo án điện tử kết hợp sử dụng thiết bị hỗ trợ là Bảng tương tácđiện tử thông minh theo công nghệ Hoa Kỳ - Mimio trong giảng dạy Với sự trợgiúp của thiết bị công nghệ cao, GV dễ dàng giúp HS “tương tác” trực tiếp vào bàigiảng của mình một cách trực quan và đa dạng, tạo cảm hứng cho GV lẫn HS Từ
đó, giúp HS tiếp thu bài giảng tốt hơn, phát huy khả năng suy luận và trí tưởngtượng của các em
Có thể nói, việc nghiên cứu về DHTT ở trong và ngoài nước đã đạt đượcnhiều thành tựu về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, theo chúng tôi được biết, chưa
có công trình nào nghiên cứu sâu về DHTT trong môn Toán, nhất là DHTT trongmột chủ đề cụ thể như PT và BPT
Trang 16Kế thừa những thành tựu nghiên cứu về DHTT, hiện nay trên thế giới và ởViệt Nam đang từng bước vận dụng những lý thuyết về tương tác vào dạy học cácmôn học cụ thể Có thể tổng hợp theo ba đường hướng như sau:
Thứ nhất, trường phái “SPTT” (Interactive pedagogy) của hai tác giả J.M.Denommé và M.Roy, cùng với việc khai thác mối quan hệ qua lại của ba tác nhânngười học – người dạy – môi trường dựa trên cơ sở của sinh lý thần kinh Trườngphái này chủ yếu khai thác và đề cao vai trò ảnh hưởng của môi trường và hệ thốngthần kinh (bộ máy học) trong quá trình dạy học SPTT có mối quan hệ mật thiết với
lý thuyết tình huống trong Didactic
Thứ hai, phần đông hiện nay đi theo hướng hiểu học tương tác theo quan niệmhiện đại (Interactive learning) Theo quan niệm này, học tương tác được hiểu là mộttiếp cận sư phạm mà ở đó khai thác sự kết hợp chủ yếu của công nghệ dạy học và
kỹ thuật số trong dạy học
Trường phái thứ ba mang tính tổng hòa hơn, đó là tương tác trong lớp học(Interactive classroom) Theo trường phái này, người học giữ vai trò chủ đạo tronglớp học, người dạy đóng vai trò như người hướng dẫn và tổ chức Trong trường pháinày chủ yếu khai thác sự tác động qua lại, tương tác giữa người học – người học,người học với người dạy và tương tác giữa người học - người dạy - môi trường dạy họctrong đó có SGK, tài liệu học tập, phương tiện dạy học,…chủ yếu là máy tính, các tròchơi, và tình huống DHTT Trong luận án này, chúng tôi đi theo trường phái thứ ba
1.1.3 Thực tiễn về dạy học tương tác trong môn Toán ở trường trung học phổ thông hiện nay
Trong xu thế hiện nay, cùng với trào lưu đổi mới PPDH, DHTT đang được
nhiều người quan tâm và áp dụng Một số trường đã tổ chức khóa tập huấn về SPTT
và xây dựng hồ sơ môn học cho các GV Tuy nhiên, việc áp dụng DHTT, đặc biệt
trong dạy học môn Toán ở trường THPT còn nhiều hạn chế
Qua việc tham gia giảng dạy tại trường THPT, kết hợp với dự giờ, thăm lớp vàtrao đổi với GV giảng dạy, cùng với việc phát phiếu khảo sát về tình hình áp dụngDHTT ở trường THPT, chúng tôi nhận thấy dạy học môn Toán ở hầu hết các trường
Trang 17THPT hiện nay có thể hiện được sự tương tác trong dạy học nhưng chưa rõ nét, hầuhết là tương tác một chiều giữa thầy - trò Tương tác giữa thày và trò được thể hiệnnhiều nhất qua đàm thoại, phát vấn, hay dạy học GQVĐ, trong khi tương tác giữangười học với môi trường thì rất ít Tương tác giữa các học trò với nhau thường chỉthể hiện thông qua các PPDH tích cực khác, như qua dạy học hợp tác, khi GV chialớp thành các nhóm nhỏ và yêu cầu làm bài tập theo nhóm Tương tác giữa trò vớimôi trường qua việc trò tự tìm hiểu tài liệu, làm bài tập và đối chiếu với sách, haytương tác giữa trò với máy tính và mạng Internet thường rất ít, gần như không có Thống kê phiếu khảo sát ý kiến của giáo viên về DHTT [phụ lục 1] qua việclấy ý kiến của 42 GV giảng dạy môn Toán ở trường THPT cho thấy sự hiểu biết vềDHTT của GV chưa được đầy đủ 62% số GV được lấy ý kiến cho rằng DHTT là
sự tác động qua lại giữa người dạy – người học – nội dung; 34% số GV được lấy ýkiến cho rằng DHTT là sự tác động qua lại giữa người dạy – người học – môitrường, số còn lại cho rằng có thể coi DHTT là sự tác động qua lại giữa thầy và trò,giữa người học với nhau,… Khi được hỏi về tầm quan trọng của các mối quan hệtương tác trong dạy học, thì 100% GV lựa chọn câu trả lời là quan trọng hoặc rấtquan trọng Khi được hỏi về việc sử dụng những PPDH nào, hầu hết các GV đều đã
sử dụng đa dạng các phương pháp như: phát hiện và giải quyết vấn đề, thuyết trình,hợp tác, … nhưng chưa có GV nào sử dụng DHTT trong dạy học Toán Khi đượchỏi về một lớp học tương tác cần đảm bảo những yếu tố nào, 95% số GV cho rằngcần tạo được bầu không khí sôi nổi, thân thiện trong lớp học, đảm bảo sự hứng thú,tham gia của người học; 60% số GV cho rằng cần có kế hoạch bài học chặt chẽ,ngắn gọn, nêu rõ những HĐ chủ yếu của GV và HS; 72% số GV được lấy ý kiếncho rằng tổ chức HĐ nhất thiết gây lên mối quan hệ qua lại giữa người dạy và ngườihọc; 20% số GV đó cho rằng cần phối hợp sử dụng các phương tiện, kĩ thuật dạyhọc hiện đại Để tìm hiểu về yêu cầu đối với người dạy, người học và môi trường đểtiến hành DHTT đạt hiệu quả, kết quả thống kê phiếu trả lời như sau:
Đối với người dạy:
Bảng 1.1 Bảng kết quả khảo sát ý kiến của GV về điều kiện của người dạy
Trang 18để DHTT đạt hiệu quả
Tổ chức trao đổi với học sinh về những mẫu kĩ năng, hành vi
Kết hợp giữa trình diễn mẫu hành động, kĩ năng với đàm thoại ngắn; 75%
Phối hợp sử dụng các phương tiện, kĩ thuật dạy học hiện đại
Tăng cường kiểm tra và hiệu chỉnh từng phần; 30%
Đối với người học:
Bảng 1.2 Bảng kết quả khảo sát ý kiến của GV về điều kiện của người học để
Đối với môi trường:
Bảng 1.3 Bảng kết quả khảo sát ý kiến của GV về điều kiện của môi trường để
DHTT đạt hiệu quả
Đảm bảo các yêu cầu cơ bản về cơ sở vật chất: phòng học, ánh
sáng, âm thanh, phương tiện công nghệ dạy học phổ biến; 100%
Đảm bảo các nguồn liệu dạy học khác như chương trình, học
Khi được hỏi về việc thiết lập kế hoạch dạy học, các GV thường tiến hành các
HĐ nào, kết quả khảo sát như sau:
Bảng 1.4 Bảng kết quả khảo sát ý kiến của GV về việc tiến hành những HĐ
nào khi thiết lập kế hoạch dạy học
Trang 19Thiết kế nội dung dạy học; 62%
là 64%, quan tâm tới nội dung dạy học cụ thể là 63%, số ít lựa chọn do khả năng, sởtrường học tập của HS (chiếm 20%) Khi hỏi về những khó khăn của gặp phải khi
áp dụng DHTT, thì khó khăn lớn nhất được các GV lựa chọn là do điều kiện,phương tiện dạy học còn thiếu (chiếm 76%), ngoài ra khó khăn do việc soạn giáo án
và tổ chức lên lớp cũng được GV đề cập đến tương đối nhiều (chiếm khoảng 74%),còn khó khăn do nhà trường không khuyến khích và HS không tích cực tham giachiếm tỷ lệ bằng nhau là 33%
Qua con số thống kê ở trên, phần nào cho thấy DHTT chưa được áp dụngtrong dạy học môn Toán ở trường THPT, biểu hiện về sự hiểu biết của GV vềDHTT chưa nhiều Mặc dù trong dạy học, sự tương tác đã có thể hiện, chủ yếuthông qua các PPDH tích cực khác nhưng chưa rõ nét Việc áp dụng DHTT cònnhiều khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất do điều kiện, phương tiện dạy học cònthiếu, ngoài ra một khó khăn không nhỏ còn do việc soạn giáo án và tổ chức lên lớp
có thể vì GV chưa được trang bị kiến thức về DHTT
Hiện nay, trên mạng Internet xuất hiện nhiều lớp học trực tuyến, có lớp họctrực tuyến môn Toán theo các chuyên đề hay lớp ôn thi đại học Nhiều HS đã đăng
ký tham gia, học tập ở đây chủ yếu là sự tương tác của người học và môi trườngCNTT Tuy nhiên, trong học tập thiếu vắng sự có mặt của người thày trực tiếp chỉbảo và hướng dẫn nên việc tiếp thu của người học sẽ rất khó khăn, việc duy trì họctập một cách thường xuyên qua mạng có bị ảnh hưởng
Ngoài ra, học liệu thực hành Toán tương tác [99] do tác giả Hoàng Khánh Hòađưa ra đã thu hút được đông đảo HS các trường Tiểu học và Trung học cở sở tham gia.Học liệu thực hành Toán tương tác đã và đang từng bước xây dựng và hoàn thiện dành
Trang 20cho không chỉ với đối tượng HS từ mẫu giáo đến lớp 8, mà còn cho đối tượng HS lớp 9
và THPT Học liệu thực hành Toán tương tác đã đáp ứng được phần nào nhu cầu họctập của HS, là một sân chơi bổ ích cho các em trong việc củng cố và rèn luyện các thaotác làm toán cơ bản Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, học liệu này còn hạn chếtrong việc đào sâu và bồi dưỡng kiến thức Toán nâng cao
DHTT là một cách tiếp cận dạy học hiện đại, đã áp dụng thành công ở một sốnước trên thế giới, và đạt được nhiều kết quả khả quan Tuy nhiên, việc áp dụng DHTTvào Việt Nam hiện nay đặc biệt đối với việc dạy học môn Toán ở trường THPT vẫncòn nhiều khó khăn Bởi lẽ người học trong môi trường học của chúng ta vẫn còn kháthụ động, sự hứng thú không phải lúc nào cũng khơi dậy và duy trì được ở người học.Mặt khác, các phương tiện dạy học phục vụ cho DHTT ở nước ta còn hạn chế Trongtrào lưu đổi mới PPDH như hiện nay, việc nghiên cứu và đề xuất những biện pháp ápdụng hiệu quả DHTT vào dạy học trong trường phổ thông là rất cần thiết Điều đó sẽlàm tăng tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, giúp bài học trở nên sinhđộng hơn, có hiệu quả hơn, đồng thời ngoài những tri thức và kĩ năng có được, HS cònhọc được cách thức tương tác, giao tiếp, hợp tác với nhau
1.2 Dạy học tương tác
1.2.1 Dạy học và quá trình dạy học
Theo từ điển Tiếng Việt “dạy học là dạy văn hóa theo những chương trình nhất định”[64, tr 313].
Theo nghĩa thông thường, người ta hiểu dạy học là truyền thụ một điều gì đócho người khác, là sự truyền kiến thức hoặc lý thuyết, hoặc thực hành Có ngườicòn cho rằng: Dạy học là truyền một thông điệp Định nghĩa này khó chấp nhận vì
nó đơn giản hóa hành vi dạy học thành HĐ truyền thông tin Định nghĩa của Ga-nhê
có lý hơn: “Dạy học là tổ chức các tình huống học tập” [4]
Chúng tôi tán thành với tác giả Đỗ Ngọc Đạt khi ông viết: “Dạy học là khái niệm chỉ HĐ chung của người dạy và người học, hai HĐ này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất là quá trình dạy học” [13, tr 50]
Trang 21Theo tác giả Phan Trọng Ngọ, quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành động dạy học của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
[61, tr 89]
Quá trình dạy học được xác định bởi 4 dấu hiệu sau:
- Dạy học là một dạng HĐ đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hộikinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó hình thành nhân cách của người học
- HĐ dạy và HĐ học đều phải được tiến hành trên bản thể của quá trình dạyhọc là nội dung dạy học
- Kết quả của quá trình dạy học là làm biến đổi ở người học những đặc tính nào
đó đã được xác định từ trước và tương ứng với nội dung dạy học
- Quá trình dạy học phải là một quá trình học tập có kiểm soát và điều khiển.Cấu trúc của quá trình dạy học bao gồm các yếu tố sau: Mục đích, nội dungdạy học, các HĐ dạy và học, kết quả học tập
1.2.2 Tương tác
Theo từ điển Tiếng Việt [64], tương tác là sự tác động qua lại Mặt khác, từ
“tương tác” trong Tiếng Anh là “interaction”, đây là từ ghép, được ghép bởi từ
“inter” và “action” Trong đó, “inter” là sự liên kết, nối liền với nhau, còn “action”
là sự tiến hành làm điều gì, HĐ hay hành động [34, tr 17] “Interaction” là sự tiếpxúc với nhau, tác động qua lại [34,tr 548] hay còn là hành động tương hỗ, ảnh hưởnglẫn nhau giữa các đối tượng, hoặc là sự trao đổi giữa người này với người khác
Trong tác phẩm “Dạy học và PPDH trong nhà trường”, tác giả Phan Trọng Ngọ đã quan niệm “HĐ dạy và HĐ học là sự tương tác lẫn nhau giữa hai mặt của một HĐ: HĐ dạy học.”[61, tr 131] Trong đó tác giả còn nhấn mạnh đến sự tồn tại
và phát triển của mặt này quy định sự tồn tại và phát triển của mặt kia
Trong quá trình dạy học, có thể hiểu tương tác là sự tác động qua lại trực tiếp giữa người học với người dạy và giữa người học với nhau trong môi trường giáo dục nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập, các mục tiêu dạy học đã xác định.
Trang 221.2.3 Quan niệm về dạy học tương tác
Có nhiều quan niệm về DHTT Trong tác phẩm “Dạy học và PPDH trong nhà trường”, tác giả Phan Trọng Ngọ đã trình bày khái niệm về DHTT phát triển: “Phương pháp DHTT phát triển là dạy học được thực hiện qua sự tác động hai chiều giữa GV và học viên, trong đó mọi chỉ dẫn của GV hướng đến sự phát triển của học viên, nhờ tác động phù hợp với trình độ phát triển gần của các em” [61, tr 297]
Trong tác phẩm “Tiến tới một phương pháp SPTT”[38], hai tác giả Jean Marc
Denomme’ và Madeleine Roy đã nói tới một trường phái sư phạm học tương tác cùng nền
tảng lí luận của nó Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã nhấn mạnh: “HĐ dạy học – giáo dục là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố: Người dạy – Người học và môi trường” Sự tương tác đó được thể hiện qua sơ đồ:
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc HĐ dạy – học:
bộ ba Người học – Người dạy – Môi trường trong quan điểm SPTT
Trong quan điểm SPTT, Jean Marc Denomme’ và Madeleine Roy đã làm rõ vaitrò của người dạy, người học và yếu tố môi trường cùng các mối quan hệ tác độngqua lại giữa chúng trong HĐ dạy học Trong kiểu dạy học này, người dạy có chứcnăng thiết kế, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra quá trình học Còn người học tự tổ chức, tựthiết kế, tự thi công và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh tri thức của bản thân
Trong luận án này, chúng tôi hiểu: “DHTT là dạy học được thực hiện qua sự tác động hai chiều giữa các nhân tố của quá trình dạy học bao gồm: người học, người dạy, môi trường.”
Người học
Môi trường Người dạy
Trang 23Trong DHTT, người dạy và người học cùng tham gia làm gia tăng giá trị lợiích của nhau GV quan tâm nhiều hơn tới sự tham gia, tương tác và hành động của
HS GV thường đưa ra các thông tin, chỉ dẫn, lời gợi nhắc, sự khuyến khích phùhợp với trình độ phát triển của HS Mọi sự trợ giúp của GV phải tác động vào vùngphát triển gần trong lộ trình phát triển của HS Đây cũng là đặc trưng cơ bản giúpđạt được kết quả cao trong quá trình dạy học
DHTT trong môn Toán là HĐ dạy học, ở đó người dạy sử dụng các KTDH,
phương tiện dạy học, đặc biệt là CNTT và truyền thông, tạo ra môi trường tương tác, với các tình huống dạy học có dụng ý giúp người học chiếm lĩnh tri thức toán học, rèn luyện kỹ năng vận dụng toán học, phát triển tư duy qua các tác động qua lại, trao đổi, hợp tác giữa người học, người dạy và môi trường.
1.2.4 Cơ sở khoa học của dạy học tương tác
1.2.4.1 Cơ sở triết học
Theo nguyên lí về mối liên hệ phổ biến, các sự vật hiện tượng trong thế giới
khách quan không tồn tại độc lập, riêng rẽ, mà giữa chúng có mối liên hệ qua lại, tácđộng và ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy hoặc kìm hãm nhau phát triển Quá trình dạyhọc cũng được xem như một hiện tượng xã hội đặc thù, trong nó chứa đựng rất nhiềuthành tố: người học, người dạy, nội dung dạy học, các thiết bị, phương tiện dạy học,không gian, và những thành tố này không tồn tại độc lập, mà giữa chúng có mốiliên hệ, tác động qua lại, chế ước lẫn nhau, tạo động lực cho từng thành tố cùng vậnđộng và phát triển Trong đó, quan trọng nhất là sự phát triển của người học
Trong DHTT, các nhân tố người học, người dạy và môi trường không tồn tạimột cách độc lập, mà luôn có có sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau nhằm thúc đẩy
sự tiến bộ của người học trong HĐ học và người dạy trong HĐ dạy
1.2.4.2 Cơ sở giáo dục học
Trong DHTT, HĐ dạy và HĐ học mang tính chất hai chiều, tất yếu phải có sựtác động qua lại giữa người dạy và người học, sự tác động này diễn ra trong nhữngđiều kiện xác định, đảm bảo sự thống nhất giữa HĐ điều khiển của thầy và HĐ học
Trang 24của trò DHTT phù hợp với nguyên tắc dạy học là: “Đảm bảo sự thống nhất giữa vaitrò chủ đạo của thày và vai trò tự giác, tích cực, độc lập của trò”.
1.2.4.3 Cơ sở tâm lý học
Cơ sở tâm lý của DHTT bắt nguồn từ những luận điểm cơ bản của thuyết lịch
sử - văn hóa về sự phát triển các chức năng tâm lý cấp cao của L.X.Vưgotxky [61,
tr 65] Ông cho rằng, học tập tức là tương tác với môi trường, dạy học tức là canthiệp vào kinh nghiệm thường trực ở người học thuộc vùng phát triển gần nhất.Vùng phát triển gần nhất là khái niệm chỉ khu vực kinh nghiệm cá nhân nằm giữatrình độ phát triển tiềm tàng (ở dạng tiềm năng) được đặc trưng bằng năng lựcGQVĐ có sự hỗ trợ từ bên ngoài (ở quá khứ), và trình độ phát triển hiện tại (thànhtựu mới đạt được) có đặc trưng là năng lực GQVĐ độc lập Theo ông, vùng pháttriển gần nhất hôm nay thì ngày mai sẽ trở thành trình độ hiện tại và xuất hiện vùngphát triển gần nhất Vậy trong DHTT, người dạy cần tác động vào vùng phát triểngần nhất của HS thì việc dạy học mới đạt hiệu quả
Tóm lại, DHTT có cơ sở khoa học vững chắc dựa trên sự phát triển của nhiềungành khoa học và được ứng dụng trong giáo dục Sự phân tích về cơ sở khoa họccủa DHTT giúp người dạy có thêm cơ sở và định hướng trong việc lựa chọn PPDHphù hợp để việc dạy học đạt hiệu quả
1.2.5 Các nhân tố trong dạy học tương tác
1.2.5.1 Người học- người làm việc chủ động
Trong DHTT, người học trước hết là người đi học mà không phải là người đượcdạy Trong quá trình nhận thức, người học phải dựa trên chính tiềm năng của mình,khai thác những kinh nghiệm, những tri thức đã được tích lũy để tiếp cận, khám phánhững chân trời mới Nhờ vào sự hứng thú, người học tham gia tích cực và biết tiếp tụcquá trình học bằng cách đặt ra nhiệm vụ học tập cho chính bản thân mình và phải hoànthành nó Đồng thời, người học phải tham gia vào dự án học tập của tập thể, hoàn thànhnhiệm vụ đã đề ra
Trang 25*) Các yêu cầu đối với người học
Người học là chủ thể của HĐ học Người học đảm nhiệm vai trò mấu chốt này
bằng cách thể hiện ngay từ khi bắt đầu học một sự hứng thú hiển nhiên và trong suốt quá trình học một sự tham gia liên tục, và có trách nhiệm.[38, tr.31- 32]
* Sự hứng thú
Khi tham gia vào quá trình học, người học phải tỏ ra có sự hứng thú rõ rệt đốivới lợi ích của tri thức cần chiếm lĩnh cho bản thân mình Sự hứng thú, trước hếtdựa vào lòng tự tin của người học Ví dụ như người học sẽ không thể quan tâm đếnviệc thực hiện một phương pháp học toán nào đấy nếu như họ không cảm thấy thíchthú với việc làm đó Ngược lại, nếu người học có sự tự tin vào khả năng và kiếnthức của mình, có sự hứng thú thì sẽ tích cực suy nghĩ để giải bài toán Người họccần có cảm giác sâu sắc là có khả năng thực hiện thành công phương pháp học, phảitin vào khả năng và phương pháp làm việc của mình
Tham vọng vượt qua chính mình cũng có thể trở thành một nguồn hứng thú
có giá trị đối với người học Và như vậy, người học làm việc hết mình để đóng vaitrò chủ động trong tất cả các HĐ học tập của mình Sự hứng thú của người họckhông chỉ phụ thuộc vào nhu cầu của người học mà còn phụ thuộc ở sự tác động sưphạm của người dạy, từ điều kiện thuận lợi của môi trường Do đó, nếu người họckhông có hứng thú học thì sẽ khó đạt hiệu quả trong việc học tập của chính mình
* Sự tham gia
Người học tham gia thực hiện phương pháp học bằng tất cả các vốn tri thức
đã tích lũy được, cũng như tất cả những kinh nghiệm sống của mình Người họcphải có ý thức rằng bản thân người học có khả năng thực hiện được việc học tậpdựa trên sự ham muốn học hỏi, sở thích thu lượm tri thức và nhu cầu thỏa mãn mộtlợi ích nào đó
Quá trình học đòi hỏi người học phải có một sự HĐ liên tục và có nhiều cốgắng Khi người học cảm thấy không vượt qua được thì người học cần sự giúp đỡcủa người dạy Trong quá trình học, người học tham gia hợp tác với bạn và cùng
Trang 26chia sẻ nhiệm vụ để cùng đạt được kết quả học tập Chính sự tham gia đó tạo chongười học thiết lập được mối quan hệ qua lại giữa người dạy với người học Mặtkhác, sự tham gia của người học cũng góp phần tạo ra môi trường thân thiện và hợptác giữa người học, người dạy trong quá trình dạy học.
* Trách nhiệm
Ngoài sự hứng thú và sự tham gia, người học đặc biệt cần có ý thức tráchnhiệm suốt trong quá trình học Người học phải chủ động trong quá trình học Khigặp những khó khăn trong học tập thì cần cố gắng tự tìm cách giải quyết khó khănbằng cách sử dụng các tri thức đã có và các kinh nghiệm đã trải qua, biết bày tỏquan điểm của mình về cách GQVĐ Qua đó, người dạy cũng như người học biếtđược hướng đi đúng hay sai để điều chỉnh phương pháp học cho phù hợp
Sự hợp tác và sự tác động qua lại giữa người dạy và người học như vậy làmcho bầu không khí lớp học sôi nổi hơn và người học có nhiều phương án tốt hơn đểgiải quyết nhiệm vụ học tập của mình Ngoài ra, trách nhiệm của người học còn phụthuộc vào nhiệm vụ và lợi ích của việc học tập đối với bản thân người học Do đó,ngay từ khi bắt đầu quá trình học, người học cần phải hiểu được nhiệm vụ và lợi íchcủa việc học tập, tích cực, chủ động tham gia các HĐ học
1.2.5.2 Người dạy- người hướng dẫn, trợ giúp
Người dạy là người bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình giữ vai trò làngười tổ chức, hướng dẫn và điều khiển người học học Người dạy giúp cho ngườihọc hiểu được mục tiêu mà họ phải đạt được, sắp xếp nội dung, lựa chọn PPDH vàxây dựng môi trường cởi mở, làm cho người học hứng thú học và đưa họ tới mụcđích Người dạy cần phải tạo cơ hội cho người học được HĐ, được bày tỏ, được thểhiện và tự khẳng định được mình, tránh sự áp đặt thông tin một chiều Chức năngchính của người dạy là giúp đỡ người học học và hiểu Người dạy phục vụ ngườihọc và phải làm nảy sinh tri thức ở người học theo cách của một người hướng dẫn.[38, tr 18-19]
*) Các yêu cầu đối với người dạy
Trang 27Có ba HĐ sau đây mà người dạy với tư cách là người hướng dẫn phải thực
hiện, đó là: Xây dựng kế hoạch, tổ chức HĐ và hợp tác.[38, tr 33-38]
i) Xây dựng kế hoạch
Nhiệm vụ xây dựng kế hoạch là xác định trước một định hướng cả về quá trìnhhọc của người học cũng như phương pháp giảng dạy của người dạy Việc xây dựng kếhoạch chặt chẽ góp phần tạo sự tự tin cho người dạy, cũng như gây được những ảnhhưởng tốt cho người học Người dạy phải có nhiệm vụ xây dựng một kế hoạch dạy họctrước khi bắt đầu năm học, và chuẩn bị giáo án trước mỗi buổi lên lớp
Kế hoạch dạy học
Khi xây dựng kế hoạch dạy học hàng năm, người dạy cần nắm vững mụctiêu, nội dung chương trình và có phương pháp chung về dạy học môn học mà mìnhđược phân công giảng dạy Để làm được việc này, người dạy cần có cái nhìn tổngthể về chương trình học đối với các lớp mà mình phải dạy và cả những lớp ở bậchọc thấp và cao hơn Người dạy cần dự kiến sắp xếp các kiến thức theo các nộidung quan trọng, các kiến thức khó và phân bố thời gian cho từng phần, sao cho tất
cả các kiến thức cần dạy phù hợp với nhận thức của người học
Trong việc chuẩn bị kế hoạch dạy học, người dạy đặc biệt để ý tới mục tiêuchương trình mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra cho môn học Dựa trên kế hoạchnày, người dạy xây dựng kế hoạch dạy học cụ thể cho từng bài dạy
Đề cương bài giảng (giáo án)
Để thực hiện đúng vai trò hướng dẫn của mình, người dạy phải chuẩn bị mộtcách kỹ lưỡng từng giờ dạy của mình Người dạy xây dựng một đề cương bài dạycủa mình bằng cách xác định chính xác mục tiêu bài dạy, nội dung bài học, đồ dùngdạy học thiết yếu được sử dụng trong tiết học, các HĐ cơ bản của người học, ngườidạy; xác định các kiến thức mà người học cần phải học trong bài; xác định các điềukiện để thực hiện và liên hệ với những kiến thức mà người học đã có
Yếu tố quan trọng của đề cương bài giảng là hình thành một cách rõ ràngmức độ kết quả mà người học phải đạt khi kết thúc việc học Trách nhiệm của
Trang 28người dạy là vạch ra được mục tiêu này, đặc biệt là làm cho người học chấp nhậnbiến nó thành mục tiêu cá nhân của mình và phải làm cho họ có trách nhiệm đối vớicác mục tiêu đó Trong đề cương bài giảng của mình, người dạy cũng phải xác định
rõ những PPDH, hình thức dạy học đặc biệt tương ứng với mục tiêu, với những đòihỏi, những khả năng của môi trường và phong cách học cũng như khả năng nhậnthức của người học Mặt khác, người dạy cần phải dự kiến được cách thức đánh giámức độ hiểu bài và sự tiến bộ của người học để thu được thông tin ngược về HĐdạy học, qua đó điều chỉnh lại PPDH của mình cho phù hợp với đối tượng HS
ii)Tổ chức HĐ
Tổ chức HĐ nhất thiết gây nên mối quan hệ qua lại giữa người dạy và ngườihọc Người dạy có nhiệm vụ tạo nên bầu không khí học tập sôi nổi ở trong lớp Sựhứng thú của người dạy đối với bài học chắc chắn sẽ tạo ra một cách ứng xử tương
tự ở người học Người dạy cần vận dụng linh hoạt các hình thức học tập, cácphương pháp và biện pháp dạy học cho phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho sựtham gia ở người học, thúc đẩy người học học Ví dụ, làm việc theo nhóm có thểlàm đa dạng bài dạy một cách có lợi hoặc dành một chút thời gian cho thảo luận cảlớp để tạo nên sự hứng thú ở người học
Bảo đảm sự hứng thú ở người học là mối quan tâm hàng đầu của người dạyvới tư cách là người hướng dẫn Người dạy phải tạo được sự hứng thú ở người học
và người học sẽ tham gia tích cực vào việc học nếu như họ cảm thấy việc học nộidung đó có thể làm thỏa mãn nhu cầu nào đó ở người học Có nhiều cách khác nhau
để tạo sự hứng thú ở người học như kích thích tư duy người học bằng tình huốnggợi vấn đề, khích lệ động viên, vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức trò chơi,câu đố,
Mặt khác, để tạo sự hứng thú ở người học thì người dạy cần có khả năng tổchức, hướng dẫn HĐ và giao tiếp với người học Người dạy cần phải có sự giao tiếpvới người học và sự giao tiếp đó phải là hai chiều thì mới hiệu quả trong quá trìnhdạy học
iii) Hợp tác
Trang 29Người dạy hợp tác và là người bạn đồng hành, HĐ với người học trong suốtquá trình người học học Người dạy cần làm cho kiến thức mà mình đưa ra gần với vốnhiểu biết và kinh nghiệm của người học, phù hợp với khả năng nhận thức của ngườihọc Sự hợp tác của người dạy đối với người học thường làm nảy sinh lòng tự tin ởngười học, tạo cho mối quan hệ qua lại giữa người học và người dạy được phát triển.
Sự giúp đỡ của người dạy tập trung đặc biệt vào các vấn đề mà người họcgặp trong quá trình thực hiện phương pháp học: người dạy gợi cho người học giảipháp thực hiện để GQVĐ đó Sự quan tâm, hợp tác của người dạy phải thể hiện vớitất cả các thành viên trong lớp và mang đến sự hỗ trợ cho người học để phát huytiềm năng ở họ Sự giúp đỡ của người dạy cần sự tham gia đáp lại ở người học.Chính sự hợp tác đó tạo nên mối quan hệ qua lại thuận lợi giữa người dạy và ngườihọc Do đó, việc đảm bảo giúp đỡ thỏa mãn cho mỗi người học trong một lớp họctrở thành một nhiệm vụ có yêu cầu rất cao, đòi hỏi những kinh nghiệm sư phạm và
sự sáng tạo của người dạy trong quá trình dạy học
Trong dạy học môn Toán, sự hướng dẫn của người dạy được thể hiện quaviệc thiết kế bài giảng, xây dựng những tình huống toán học có dụng ý và biến ý đồdạy học của thày thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của trò; là sự chuyểngiao cho trò không phải những tri thức dưới dạng có sẵn mà là những tình huống đểtrò HĐ và thích nghi Sự hướng dẫn của thày còn bao gồm cả sự điều khiển về mặttâm lý, sự động viên, trợ giúp khi cần thiết và đánh giá mức độ hiểu bài của HS
1.2.5.3 Môi trường - ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình dạy học
Môi trường là toàn bộ các yếu tố và các điều kiện xung quanh ảnh hưởng đếncon người Môi trường được xem xét dưới nhiều bình diện khác nhau: môi trường vậtchất và môi trường tinh thần, môi trường rộng và môi trường hẹp, môi trường bêntrong và môi trường bên ngoài, tất cả tạo thành môi trường của người dạy và ngườihọc Môi trường là nhân tố quan trọng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cựcđến cả người dạy và người học
Xung quanh GV và HS là cả một thế giới vật chất, xã hội và văn hóa Môitrường thường chỉ được đề cập đến như những yêu cầu của xã hội đặt ra cho giáo
Trang 30dục, cho nhà trường hoặc môi trường được xem như là những điều kiện kinh tế - xãhội ảnh hưởng đến nhà trường và người dạy Khi nói tới môi trường, các tác giả
thường chỉ quan tâm tới yếu tố bên ngoài, nhưng trong tác phẩm “Tiến tới một phương pháp SPTT”[38] của Jean- Marc Denommé và Madeleine Roy, các tác giả
đã phân chia môi trường thành hai loại đó là: môi trường bên trong (bao gồm: tiềmnăng trí tuệ, những xúc cảm, các giá trị, vốn sống, phong cách học và dạy, tínhcách,…) và môi trường bên ngoài (bao gồm: môi trường vật chất, người dạy, ngườihọc, gia đình, nhà trường, xã hội, ).Jean Marc Denomme’ và Madeleine Roy đã mô
tả môi trường ảnh hưởng đến quá trình dạy học hết sức đa dạng
Quan niệm về môi trường trong DHTT
Trong DHTT, có thể coi môi trường giáo dục bao gồm môi trường vật chất vàmôi trường tinh thần Môi trường tinh thần chủ yếu là hệ thống các mối quan hệ, nổibật nhất là quan hệ thầy – trò, trò – trò, đó đồng thời cũng là những tương tác chủyếu trong HĐ dạy và học Môi trường vật chất bao gồm: chương trình, SGK, thiết bịhọc tập, trường lớp, khuôn viên,…và cả tri thức được chứa đựng trong các tìnhhuống dạy học Môi trường là nơi diễn ra các HĐ, các tương tác, là yếu tố tác độngtrực tiếp đến HĐ dạy và học
Môi trường là yếu tố không thể tách rời khỏi người học và người dạy, tácđộng của nó hiện hữu và rõ nét trong HĐ dạy học, sự tác động của nó có thể là tíchcực hay tiêu cực đến HĐ giảng dạy Mặt khác, người học và người dạy cũng có thểtác động trở lại môi trường nhằm tăng cường hay giảm nhẹ ảnh hưởng của nó Từ
đó nảy sinh mối quan hệ tương hỗ giữa ba nhân tố này
Có nhiều tình huống ảnh hưởng đến hiệu suất học của người học và PPDHcủa người dạy Những ảnh hưởng đó có thể có nguồn gốc từ bên ngoài như gia đình,nhà trường và xã hội Chẳng hạn, khi thày giáo lên lớp với một trạng thái vừa cóchuyện buồn trong gia đình, hay một áp lực công việc ở cơ quan,…Một HS đến lớpvới một tâm trạng mệt mỏi do thiếu ngủ, hoặc vừa chứng kiến một cuộc cãi lộntrong gia đình mình,…tất cả điều đó đều ảnh hưởng ít nhiều tới hiệu quả của việcdạy học
Trang 31Trong DHTT, có thể xem người học và người dạy được “nhúng” trong khônggian bao quanh là môi trường Môi trường tương tác thường được GV tạo ra nhằmhướng người học vào các HĐ dạy học có dụng ý của người dạy Sự ảnh hưởng củamôi trường trong dạy học môn Toán thể hiện nhiều nhất qua sự tác động của cáctình huống dạy học mà GV đưa ra, qua các phương tiện trực quan phục vụ tronggiảng dạy, qua sự giao tiếp giữa thày và trò, qua hệ thống CNTT và truyền
thông, Có thể nói môi trường gây ảnh hưởng rất lớn đến HĐ dạy và học, đồng thời
nó cũng chịu ảnh hưởng bởi người dạy và người học.
Một số thành tố của môi trường trong DHTT
Trong khuôn khổ của luận án này, chúng tôi chỉ xét một số thành tố của môi
trường đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến quá trình DHTT, bao gồm: Tri thức, tình huống DHTT và phương tiện dạy học trong đó có CNTT và truyền thông.
Điều quan trọng đầu tiên, cũng là cái cốt lõi của môi trường trong quá trình
dạy học là phải chứa đựng được tri thức cần chuyển tải tới người học Sau khi
người học thực hiện hàng loạt các hành động tương tác với môi trường, họ lĩnh hộiđược tri thức gì? Đó là điều hết sức quan trọng Điều này được thể hiện qua dụng ýcủa người dạy khi thiết kế môi trường tương tác cho người học, đây cũng là mụctiêu của bài học Trong quá trình dạy học, người dạy cần quan tâm nhiều tới tri thứctrong môi trường, môi trường do người thày tạo ra có tác động rất lớn tới người họctrong việc lĩnh hội tri thức
Tri thức với tư cách là thành tố của môi trường dạy học bao gồm tri thức
chương trình và tri thức dạy học thể hiện qua các SGK, sách tham khảo, các tài liệuhọc tập, được cụ thể hóa bằng các mục tiêu của bài học, Thành tố này ảnh hưởngđến người dạy (người dạy phải căn cứ vào tri thức cần truyền thụ để chọn PPDHthích hợp, vì mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những HĐ nhất định mà ngườithầy phải khai thác để dạy học có hiệu quả) Ngược lại, người dạy cũng tác động trởlại với tri thức, người dạy phải thực hiện “chuyển hóa sư phạm” để biến tri thứcchương trình thành tri thức dạy học phù hợp với đối tượng HS của mình
Trang 32Môi trường nhất thiết phải gây được sự ảnh hưởng nhất định tới người học,
thể hiện qua việc môi trường phải chứa đựng những tình huống DHTT Tình huống
này phải tạo được động cơ học tập cho người học và gợi nhu cầu nhận thức ở ngườihọc Người học cảm thấy cần thiết phải tương tác với môi trường, thích thú khiđược hòa vào môi trường để khám phá tri thức
Tình huống DHTT cũng là một thành tố của môi trường DHTT Ta đã biết “tình huống dạy học là tình huống mà vai trò của GV được thể hiện tường minh với mục tiêu để
HS học tập một tri thức nào đó” [45, tr 218].
Trong DHTT, chúng tôi quan niệm: “Tình huống DHTT là tình huống dạy học trong đó xác định rõ mục tiêu bài học và tạo nhu cầu tương tác giữa các nhân tố người học, người dạy và môi trường để đạt được mục tiêu đó.”
Tình huống DHTT phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Kích thích ở người học hứng thú và nhu cầu giải quyết nhiệm vụ học tậpđược đề ra;
- Hướng đến mục tiêu bài học và vừa sức với người học;
- Tạo được tác động hai chiều giữa người học, người dạy và môi trường
Ngoài việc gây được ảnh hưởng đến người học, tình huống DHTT phải vừa sức với người học, thể hiện người học có khả năng thích nghi được với môi trường
này Có nghĩa, kiến thức trong tình huống không quá khó đối với người học, mà nó
đã có trong “vùng phát triển gần nhất” của người học Bởi vậy, khi thiết kế tìnhhuống DHTT, GV cần lựa chọn kiến thức vừa sức đối với HS
Ví dụ: Khi giải bài toán: “Tìm m để PT x4 x2 2mx m2 0 có bốn nghiệmphân biệt”, một HS đã giải như sau:
0 ) )(
(
0 )
(
2 2
2 2
2 4
m x x
m x x
m x x
m x x
m x x
Trang 33PT có bốn nghiệm phân biệt (1) và (2) đồng thời có hai nghiệm phân biệt,tức là:
4 1 4 1 0 4
0 4
m
Vậy PT có bốn nghiệm phân biệt khi 41m41
Em hãy phát hiện sai lầm trong cách giải trên và nêu cách sửa chữa sai lầm đó.Tình huống dạy học này đã thỏa mãn ba điều kiện của một tình huống DHTT:
- Tình huống này kích thích ở người học hứng thú và nhu cầu giải quyếtnhiệm vụ học tập đề ra (vì cách giải của HS đó có vẻ rất bài bản, khó có thể tìmthấy sai lầm.)
- Tình huống này hướng đến mục tiêu bài học là rèn luyện kỹ năng giải PT cóchứa tham số và vừa sức với HS, vì các em đã học cách giải PT quy về bậc hai vàcách biện luận PT có chứa tham số
- Tình huống này tạo được tác động hai chiều giữa người học, người dạy, môitrường Chẳng hạn, khi HS không tìm ra chỗ sai, GV có thể nêu yêu cầu: “Hãy xét
PT đã cho trong trường hợp m 0.” HS sẽ thấy với m 0 PT đã cho chỉ có banghiệm phân biệt Điều này gợi ý cho HS hướng sửa chữa sai lầm
Cũng như các tình huống dạy học khác, có 3 kiểu tình huống DHTT:
1 Tình huống tương tác qua hành động:
Đây là kiểu tình huống có sự tác động qua lại của HS với môi trường bằng sựlựa chọn và quyết định của mình thông qua những hành động là chủ yếu
Ví dụ: Sau khi học khái niệm “PT tương đương”, GV có thể tạo ra tình huống
Trang 34HS phải “hành động” bằng cách giải các PT trên để tìm tập nghiệm củachúng HS có thể sẽ nêu ra các cách giải khác nhau như: Phân tích các đa thức ở vếtrái thành nhân tử; Dùng công thức nghiệm của PT bậc hai hoặc ứng dụng định lýVi-ét,…Qua sự tương tác giữa HS với nhau, các em sẽ lựa chọn và quyết định cáchgiải quyết tối ưu Chẳng hạn, ở câu a) PT (2) chính là PT (1) sau khi nhân 2 vế với
)
2
3
( Ở câu b) PT (4) có nghiệm là x 3 nhưng không là nghiệm của PT (3)
2 Tình huống tương tác qua giao tiếp:
Trong tình huống kiểu này, người học có nhu cầu diễn đạt trong quá trình tácđộng qua lại với môi trường, có giao tiếp và phản hồi giữa người học với người dạy,giữa những người học với nhau
Ví dụ: Để củng cố khái niệm về PT tương đương, GV có thể nêu ra một số
câu hỏi sau:
a) Nêu các cách phát biểu khác nhau về khái niệm PT tương đương
b) Hai PT cùng vô nghiệm có tương đương với nhau không? Vì sao?
c) Hai PT cùng vô số nghiệm có tương đương với nhau không? Vì sao?Trong tình huống này, HS có nhu cầu diễn đạt, giao tiếp giữa HS với nhau vàvới GV Chẳng hạn, ở câu a) HS có thể diễn đạt khái niệm theo các cách sau:
“Hai PT gọi là tương đương khi chúng có cùng tập nghiệm” hoặc “hai PT gọi
là tương đương khi chúng có tập nghiệm bằng nhau”, hoặc “Hai PT gọi là tươngđương khi nghiệm của PT này cũng là nghiệm của PT kia và ngược lại”
Câu b) không khó khăn đối với HS, nhưng ở câu c) có khả năng xảy ra tranhluận GV có thể tương tác với HS bằng đề nghị: “Hãy xét hai PT vô số nghiệm là:
x
x và x x Tác động này của GV sẽ giúp HS tìm ra câu trả lời đúng đắn
Dễ thấy rằng cả hai PT này đều vô số nghiệm nhưng PT x x có tập nghiệm là
0 ; , còn PT x x có tập nghiệm là ; 0 Bởi vậy, hai PT này khôngcùng tập nghiệm nên không tương đương
3 Tình huống tương tác qua xác nhận:
Trang 35Trong kiểu tình huống này, những kiến thức được kiểm chứng, xác nhậntrong quá trình người học giao lưu với nhau và tác động qua lại với môi trường Quátrình này dẫn tới sự xác nhận kiến thức.
Ví dụ: Để lưu ý HS khi xét sự tương đương của các PT phải chú ý tới việc xét
chúng tương đương trên tập nào GV đưa ra tình huống tương tác như sau:
Bạn An khẳng định hai PT này không tương đương, còn bạn Bình thì nói
“nước đôi”: Hai PT này có thể tương đương mà cũng có thể không Em hãy bìnhluận về ý kiến của hai bạn.”
Trong tình huống này HS phải giao lưu với nhau để kiểm chứng và xác nhậnkiến thức về hai PT tương đương Trong trường hợp tất cả HS đều xác nhận bạn Anđúng thì GV sẽ tác động bằng cách chỉ ra rằng bạn Bình nói cũng có lý nếu ta xemxét hai PT đó trong những tập số khác nhau HS sẽ thấy hai PT đó tương đương trên
Z , nhưng không tương đương trên Z,Q,R
Từ đó, khi xét sự tương đương của hai PT cần lưu ý xem chúng tương đương
trên tập nào Trong trường hợp hai PT có cùng tập xác định D và có tập nghiệm bằng nhau, ta nói hai PT đó tương đương trên D.
Phương tiện dạy học chính là công cụ thể hiện của môi trường dạy học.
Phương tiện dạy học được sử dụng trong DHTT là những phương tiện tạo được môitrường tương tác cho HS học tập trong HĐ và bằng HĐ tự giác, tích cực, chủ động
và sáng tạo Ví dụ những bộ ghép hình cho HS Tiểu học, những phần mềm vi thếgiới [45 tr 405], …
Môi trường tương tác có ứng dụng CNTT
Theo các chuyên gia ngành CNTT, thế giới phẳng của kỷ nguyên toàn cầuhóa cần đến những con người năng động, biết làm chủ công nghệ, nắm bắt và xử lýtốt thông tin Vì thế, cách dạy và cách học cũng phải thay đổi theo hướng học tập
Trang 36chủ động Người dạy và người học phải tương tác thường xuyên, trước, trong và sautừng giờ học Do vậy, yêu cầu này sẽ khó thực hiện được nếu không có sự thay đổi
về công cụ dạy và học Sau gần 2 thập niên du nhập vào Việt Nam, internet ngàynay đã phát triển sâu rộng đến mọi ngóc ngách, mọi gia đình, mọi trường học Với
sự phổ biến của internet, phương thức học tập đã có những thay đổi về căn bản HSngày nay không còn sợ thiếu tài liệu, tư liệu phục vụ cho việc mở mang kiến thức,bởi tất cả đều có thể tìm được trong kho tư liệu khổng lồ trên internet Nhưng để sửdụng chúng một cách hiệu quả, HS cần chọn lọc, tổng hợp và kết nối thành nhữngbài học phù hợp cho mình
Internet giúp cho HS có cơ hội tương tác nhiều hơn với GV và bạn học khácthông qua công cụ đơn giản như diễn đàn, thư điện tử, hội thoại trực tuyến Cáclớp học online ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là với môn ngoại ngữ và khoahọc tự nhiên Đó là một phương thức học rất hiệu quả, bởi có thể học mọi lúc, mọinơi và sự tương tác xảy ra tức thì
Đối với môn Toán, qua mạng Internet, HS có thể tham gia các lớp học trựctuyến, hay tham gia luyện thi online Gần đây, có rất nhiều chương trình Toán bổích cho HS được đăng tải trên các diễn đàn, chia sẻ các cách giải toán hay, Chươngtrình giải toán qua mạng Violimpic đã được mở rộng ra không chỉ với HS mầm non,tiểu học, trung học cơ sở như trước, mà có cả toán cho đối tượng HS THPT, các emhọc qua sự trải nghiệm Môi trường CNTT truyền thông quả là rất hữu ích, nếu biếtkhai thác, đây thật sự là môi trường tương tác có hiệu quả
Trang 37Hình 1.2 Sử dụng CNTT học trực tuyến qua mạng
*) Các yêu cầu đối với môi trường
Môi trường bên trong và môi trường bên ngoài đều có ảnh hưởng trực tiếphoặc gián tiếp tới người dạy và người học Ở đây chúng ta chỉ xét các yêu cầu khixây dựng môi trường tri thức trong DHTT
Trước tiên, môi trường tương tác cần phải truyền thụ tri thức tới người học Môi trường tác động vào HĐ dạy học, ảnh hưởng đến người học và người dạy một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp, buộc họ phải có ý thức và quan tâm đến nó trong các
HĐ riêng của mình Người học và người dạy phải thích nghi với môi trường
* Truyền thụ tri thức
Đây là yếu tố quan trọng nhất khi thiết kế môi trường tri thức cho người học.Tri thức trong môi trường được thể hiện qua dụng ý sư phạm của người dạy Đây làyếu tố quan trọng nhất, cốt lõi của môi trường
* Ảnh hưởng
Người học và người dạy phải có ý thức về ảnh hưởng của môi trường đốivới mình trong quá trình học và quá trình dạy Chẳng hạn, người dạy vừa trải quamột sự căng thẳng trong gia đình, điều đó ít nhiều cũng ảnh hưởng đến chất lượng
Trang 38bài giảng của họ khi lên lớp Một HS vừa trải qua một cú sốc tâm lý, chắc chắn HS
đó tiếp thu bài trên lớp sẽ có sự ảnh hưởng nhất định
Trong DHTT, môi trường can thiệp vào tất cả các HĐ dạy học Ảnh hưởngnày không phải bao giờ cũng bộc lộ rõ nét nhưng nó tồn tại trong quá trình dạy học
và người ta không thể bỏ qua sự ảnh hưởng này trong mối quan hệ giữa người dạy
và người học
* Thích nghi
Môi trường có thể ảnh hưởng một cách tích cực hoặc tiêu cực đến người dạy
và người học, đòi hỏi người học và người dạy thích nghi với môi trường Sự thíchnghi với môi trường mang tính chất của sự tăng cường hay một sự biến đổi
Ví dụ, khi người học vào lớp tràn đầy hứng khởi bởi một ngày trời nắng đẹp,
người dạy cần tỏ ra cũng phấn khởi để đưa người học vào chương trình học Khingười học cảm thấy mệt mỏi, buồn ngủ hoặc căng thẳng bởi sau khi đã ngồi họctriền miên bốn tiết học rồi, hơn nữa thời tiết buổi trưa hè nóng nực ảnh hưởng tớitâm lý người học, người dạy cũng cần thay đổi phong cách dạy của mình sao chophù hợp với người học, có thể cho nghỉ giải lao một chút hoặc thay đổi chủ đề, đểngười học có thể thoải mái tiếp thu Khi một người học tiếp thu kiến thức chậmnhưng họ đã cố gắng vượt qua những khó khăn của bản thân trong quá trình học vàđạt được sự tiến bộ rõ rệt thì người dạy cần thay đổi những nhận xét về họ, độngviên về kết quả học tập đã đạt được ở người học, tạo cho người học có những niềmvui và tự tin trong học tập
Trong quá trình dạy học, môi trường có những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêucực đến người học, người dạy và người học phản ứng lại bằng cách tìm ra nhữngđiểm thuận lợi của môi trường rồi điều chỉnh hoặc biến đổi nó
Vị trí và mối quan hệ giữa người học, người dạy và môi trường thể hiệntrong sơ đồ sau: [38, tr 40]
Trang 39Người học Người dạy
Môi trường
Hình 1.3 Sơ đồ vị trí và mối quan hệ giữa người học – người dạy – môi trường
Sự hướng dẫn HĐ của người dạy có ảnh hưởng đến hứng thú của người học,trong khi đó sự tham gia của người học thường quyết định sự hợp tác của ngườidạy Môi trường cần truyền thụ tri thức và luôn ảnh hưởng đến HĐ dạy và học, đòihỏi người dạy và người học phải biết điều chỉnh và thích nghi với môi trường
Trong dạy học môn Toán, môi trường do người thày tạo ra có thể là nhữngtình huống có dụng ý sư phạm, hay một yêu cầu hợp tác nhóm để khám phá tri thức,một bài toán chứa đựng sai lầm cần sửa chữa, Ở đó chứa đựng những mâu thuẫnvới vốn kiến thức sẵn có của HS, đồng thời vừa sức với khả năng HS, để các em cóthể điều chỉnh và thích nghi Trong quá trình thích nghi sẽ nảy sinh tri thức mới,qua đó HS lĩnh hội được tri thức
Ví dụ: Khi dạy giải PT có chứa căn thức (Đại số 10) [21], nhằm củng cố cho
HS về cách giải cũng như phép biến đổi tương đương của PT, GV có thể thiết kếmôi trường tương tác là một bài toán chứa đựng sai lầm được in sẵn ra giấy để phátcho mỗi nhóm HS, và được nhập vào máy tính, chiếu lên bảng GV chia lớp thànhcác nhóm nhỏ (từ 4 đến 8 người), mỗi nhóm được phát một chiếc “khăn phủ bàn”rộng (có thể là một tấm giấy khổ to), đã chia sẵn các góc dành riêng cho từng HStrong nhóm để ghi ý kiến riêng của mình, khoảng giữa của khăn trải bàn dành đểghi ý kiến chung của nhóm Với yêu cầu các nhóm hãy thảo luận và tìm ra sai lầmtrong lời giải bài toán sau:
Truyền thụ tri thứcẢnh hưởngThích nghi
Lập kế hoạchHướng dẫnHợp tác
Hứng thúTham giaTrách nhiệm
Trang 40Bài toán: Giải PT: x3 3x 2 x 1 2
Lời giải: “Điều kiện căn thức có nghĩa:
x = 1 vào PT xem có thỏa mãn không?” Sau khi thay x = 1 vào PT, HS nhận thấy x
= 1 chính là nghiệm, vậy lời giải sai ở đâu? Lời giải trên sai khi biến đổi tươngđương (x1) (2 x2) 0 x2 0
Thử x 1 vào PT thỏa mãn, nên PT có nghiệm duy nhất x 1
Trong môi trường tương tác trên, đảm bảo yếu tố truyền thụ tri thức cho HS
là củng cố về cách giải PT chứa căn thức và đặc biệt chú ý tới phép biến đổi tươngđương BPT HS hay mắc phải sai lầm khi biến đổi: A B2 0 B 0, biến đổi