Cấu trúc của luậnvăn Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu thamkhảo, luận văn được bố cục thành 4 chương như sau: Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu, cơ
Trang 1MỤC LỤ
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÍ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG ĐÔNG LẠNH KINH DOANH TẠM NHẬP, TÁI XUẤT 4
1.1 Tổng quan tài liệu nghiêncứu 4
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý hải quan đối với hàng đông lạnhkinh doanh tạm nhập, tái xuất 6
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, táixuất 20
1.3 Kinh nghiệm quản lý hải quan đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất hàng hóa tại một số địa phương và bài học rút ra cho Cục hải quan thành phố Hải Phòng
25
1.3.1Kinh nghiệm của hải quan LàoCai 25
1.3.1 Kinh nghiệm của hải quan QuảngNinh 25
1.3.2 Kinh nghiệm của hải quan LạngSơn 26 1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm được rút ra cho Cục hải quan thành phố Hải
i
Trang 2CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 28
2.2 Phương pháp chuyên gia 28
2.3 Phương pháp thu thập sốliệu 28
2.3.1 Số liệu thứcấp: 28
2.3.2 Số liệu sơcấp 29
2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp 31
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HÀNG ĐÔNG LẠNH KINH DOANH TẠM NHẬP, TÁI XUẤT TẠI CỤC HẢI QUAN 32
3.1 Đặc điểm tình hình Cục hải quan thành phố Hải Phòng 32
3.2 Thực trạng quản lý hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại Cục hải quan thành phố Hải Phòng 40
3.2.1 Tình hình thực hiện quản lý hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập tái xuất trong thời gian qua của Cục hải quan thành phố Hải Phòng 40
3.2.2 Đánh giá của doanh nghiệp và cán bộ cụng chức hải quan về thực trạng quản lý hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại Cục hải quan thành phố Hải Phòng 43
3.2.3 Đánh giá tổng quát thực trạng quản lý hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuất thời gian qua tại Cục hải quan thành phố Hải Phòng 53
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HÀNG ĐÔNG LẠNH KINH DOANH TẠM NHẬP, TÁI XUẤT TẠI CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 60
ii
Trang 34.1 Bối cảnh mới tác động đến công tác quản lý hàng đông lạnh kinh doanh tạmnhập, táixuất 604.2 Quan điểm và mục tiêu của ngành hải quan đến năm2020 614.3 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập, táixuất 634.4 Các điều kiện đảm bảo thực hiện hoàn thiện quản lý hàng đông lạnh kinhdoanh tạm nhập, tái xuất tại Cục hải quan thành phố Hải Phòng 69KẾT LUẬN 71
iii
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và các thông tin được trích dẫn trong luận vănđều đã được chỉ rõ nguồn gốc
NGƯỜI CAM ĐOAN
PHẠM THẾ TOÀN
iv
Trang 5Xin chân thành cảm ơn đến tập thể Lãnh đạo, cán bộ, công chức Cục hải quanthành phố Hải Phòng, các đơn vị thuộc và trực thuộc Cục hải quan thành phố HảiPhòng, các doanh nghiệp đãgiúp đỡ, tạo điều kiện để luận văn được hoàn thành.Mặc dù đã có sự nỗ lực, cố gắng hết mình nhưng chắc chắn luận văn khôngtránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quýThầy, Cô, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
v
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2 Công ước ATA
Công ước quốc tế của tổ chức hải quan thế giới về sổ tạm quản ATA
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1: Tình hình CBCC Cục hải quan thành phố Hải Phòng năm 2015 36Bảng 3 2: Tình hình hoạt động của Cục hải quan thành phố Hải Phòng giai đoạn2013-2015 38Bảng 3 3 Kim ngạch hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất năm 2009-2013 41Bảng 3 4: Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp và CBCC hải quan về phương phápquản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại Cục hải quan thành phố HảiPhòng 44Bảng 3 5: Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp và CBCC hải quan về chuyên mônnghiệp vụ, kỹ năng quản lý của CBCC hải quan 48Bảng 3 6: Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp và CBCC hải quan về công tác cảicách hiện đại hóa trong quản lý 51
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là một tập quán thương mại được sử dụng rộngrãi trong thương mại quốc tế đồng thời là một phương thức kinh doanh xuất nhậpkhẩu (XNK) Ở Việt Nam, hoạt động này được quy định trong Luật Thương mại,Luật Hải quan và các quy định khác của Pháp luật có liên quan
Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi cho việc trung chuyển hàng hóa nên trongnhững năm gần đây hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất phát triển mạnh mẽ cả
về quy mô và tốc độ Quản lý hải quan đối với loại hình kinh doanh tạm nhập, táixuất hàng hóa tương đối thông thoáng, thuận lợi cho các doanh nghiệp tham giahoạt động góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta ngàycàng sâu rộng hơn, đem lại những lợi ích kinh tế- xã hội nhất định Tuy nhiên,những kẽ hở trong quản lý, cơ chế chính sách và sự thông thoáng về thủ tục hảiquan bị lợi dụng để thực hiện một số hành vi gian lận thương mại làm phương hạinền kinh tế
Cục hải quan thành phố Hải Phòng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước vềhải quan trên địa bàn gần biên giới phía Bắc là cửa ngõ giao thương và trung chuyểnhàng hóa với nước láng giềng Trung Quốc Cảng Hải Phòng với vị trí địa lý là cửakhẩu cảng biển quốc tế lớn tại khu vực Đông Bắc nên lượng hàng làm thủ tục tạmnhập tái xuất (TNTX), chuyển khẩu, gửi kho ngoại quan qua địa bàn khá lớn Hànghóa được làm thủ tục tạm nhập qua Cảng Hải Phòng thường được chuyển các tỉnhphía Bắc sau đó sang thị trường các tỉnh phía Nam Trung Quốc Từ khi có chínhsách mở cửa thông thương giữa hai nước vùng biên giới Việt - Trung, hoạt độngxuất nhập khẩu không ngừng tăng lên Quản lý hoạt động tạm nhập, tái xuất hànghóa là một trong những chức năng, nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị Vì vậy, nâng caohiệu quả công tác quản lý hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất để nhằm phòng,chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới,chống thất thu thuế, thẩm lậu hàng hóa tạm nhập, tái xuất vào thị trường trong nước,góp phần bảo vệ nền sản xuất trong nước, quyền lợi người tiêu dùng, tạo thuận lợi
1
Trang 10cho hoạt động thương mại và phát triển kinh tế địa phương.
Chính vì lý do đó và qua quá trình nghiên cứu, thực hiện chương trình địnhhướng thực hành cao học quản lý kinh tế, học viên đã lựa chọn đề tài
“Hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về Hải quan đối với hàng đông lạnh
tạm nhập – tái xuất qua Cục Hải quan Hải Phòng vào thị trường Trung Quốc.” có
ý nghĩa cả về lý luận cũng như thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Hệ thốnghoá và góp phần bổ sung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, khái quát về quản lýhải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa Trên cơ sởphân tích, đánh giá thực trạng việc tổ chức thực hiện quản lý Nhà nước về Hảiquan đối với hàng đông lạnh tạm nhập – tái xuất qua Cục Hải quan Hải Phòng vàothị trường Trung Quốc từ năm 2013 đến năm 2015 Từ đó đề xuất các giải pháphoàn thiện quản lý hải quan đối với loại hình kinh doanh hàng đông lạnh tạm nhập,tái xuất
3 Câu hỏi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn nhằm trả lời câu hỏi:
Làm thế nào để Hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về Hải quan đối vớihàng đông lạnh tạm nhập – tái xuất qua Cục Hải quan Hải Phòng vào thị trườngTrung Quốc?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý Nhà nước về hải quan đối vớihoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng đông lạnh
Phạm vi nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu chủ yếu quản lý hải quan đối với loạihình kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng đông lạnh trên địa bàn thành phố HảiPhòng
Thời gian : Trong 03 năm (từ năm 2013 đến 2015)
5 Những đóng góp của luậnvăn
Về lý luận: Luận văn đó hệ thống hóa cơ sở lý luận về tạm nhập, tái xuất hàng
2
Trang 11đông lạnh và quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuấthàng đông lạnh.
Về mặt thực tiễn: Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hàng
Đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại Cục hải quan thành phố HảiPhòng giai đoạn 2013-2015, chỉ ra những kết quả đạt đuợc, những hạn chế, tồn tại,bất cập và nguyên nhân, đồng thời căn cứ vào diễn biến tinh hình mới đưa ra một
số giải pháp góp phần vào việc từng bước hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lýhải quan đối với hoạt động kinh doanh hàng đông lạnh tạm nhập, tái xuất tại Cụchải quan thành phố Hải Phòngtrong thời gian tới Các giải pháp đảm bảo được tínhthực tiễn hoạt động của hải quan thành phố Hải Phòngvà phù hợp với điều kiệnkinh tế xã hội tren địa bàn thành phố Hải Phòng
6 Cấu trúc của luậnvăn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu thamkhảo, luận văn được bố cục thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản
lý hải quan đối với hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuất
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuấttại Cục hải quan thành phố Hải Phòng
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về Hảiquan đối với hàng đông lạnh tạm nhập – tái xuất qua Cục Hải quan Hải Phòng vàothị trường Trung Quốc
3
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÍ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG ĐÔNG
LẠNH KINH DOANH TẠM NHẬP, TÁI XUẤT 1.1 Tổng quan tài liệu nghiêncứu
Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa là hình thức kinh doanh thương mạitheo thông lệ quốc tế đó được thực hiện nhiều năm tại Việt Nam nhưng quản lý hảiquan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa là chủ đề chưađược nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách quan tâm nên đến nay chưa
có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý Nhà nước về hải quan đốivới loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu này Đây chính là một trong những trởngại về nguồn tài liệu tham khảo đối với học viên khi viết luận văn này
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý hoạt độngkinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa tại Việt Nam:
- Nghiên cứu cụng ước ATA để triển khai áp dụng cho nghiệp vụ tạm nhập tái
xuất tại Việt Nam, tác giả Đỗ Mai Trang, luận văn Thạc sỹ Luật, năm 2012.
Đây là công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn thạc sỹ luật Trên cơ sởnghiên cứu nội dung của công ước quốc tế về tạm quản hàng hóa (Công ướcATA), tác giả đó nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng thủ tục hải quan đối vớihàng hóa tạm nhập-tái xuất tại Việt Nam hiện nay và đề xuất giải pháp để ngànhhải quan thực thi có hiệu quả góp phần hoàn thiện những nội dung cơ bản của phápluật về quản lý hải quan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Nghiên cứu công tác quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất hàng hóa tại chi
cục hải quan cửa khẩu Móng Cái - Quảng Ninh, tác giả Nguyễn Mạnh Cường,
Luận văn Thạc sỹ, năm 2013
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hải quan đối với hoạt độngtạm nhập, tái xuất hàng hóa tại cấp chi cục hải quan cửa khẩu, cụ thể là cửa khẩuMóng Cái thuộc Cục hải quan tỉnh Quảng Ninh, tác giả đó chỉ ra ra các yếu tố ảnhhưởng đến công tác quản lý trên địa bàn cửa khẩu và đề xuất giải pháp để thực hiệntốt hơn công tác quản lý trong thời gian tới tại chi cục hải quan cửa khẩu Móng Cái
Trang 13- Hệ thống tạm quản hàng hóa-công cụ tạo thuận lợi thương mại, tác giả
Minh Minh, tạp chí nghiên cứu Hải quan số 10, năm2006
Trong bài viết này, tác giả đó giới thiệu và nêu những nội dung chính của hệthống tạm quản hàng hóa theo công ước quốc tế về tạm quản hàng hóa- Cụng ướcATA, phân tích những lợi ích khi áp dụng hệ thống tạm quản trong quản lý hànghóa tạm nhập, tái xuất của cơ quan hảiquan
- Đề án giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hải quan đối với hàng
kinh doanh tạm nhập- tái xuất, Tổng cục Hải quan, năm2013.
Đề án đó hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến côngtác quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất của ViệtNam Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất tạimột số tỉnh, thành phố lớn, đề án đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệuquả quản lý hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập- tái xuất, tạo thuận lợicho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời đảm bảo quản lý chặt chẽđúng quy định của Nhà nước, chống thất thu thuế, chống thẩm lậu hàng hóa tạmnhập vào thị trường trong nước, góp phần bảo vệ an ninh kinh tế và quyền lợingười tiêu dùng ở cấp Tổng cục hải quan
Những công trình nghiên cứu kể trên đó hệ thống hóa, làm sáng tỏ những vấn
đề về mặt lý luận và thực tiễn có liên quan về quản lý hải quan đối với hoạt độngkinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa và đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhaucũng như thực tế công tác quản lý của nhiều địa phương khác nhau
Các nghiên cứu kể trên đó có những đóng góp nhất định trong hoạch địnhchính sách và giải pháp quản lý về kinh tế nói chung và ngành Hải quan nói riêng.Tuy nhiên, từng giai đoạn phát triển kinh tế, mỗi địa phương cũng có vị trí địa lý,điều kiện kinh tế xã hội, trình độ phát triển riêng biệt và vì thế không có giải pháphiệu quả cho tất cả các giai đoạn phát triển và các địa phương khác nhau Do đó, đềtài này sẽ đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tiễn của công tác quản lý hải quan đối vớihoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng đông lạnh trong bối cảnh hiện naytại Cục hải quan thành phố Hải Phòng
Trang 141.2 Cơ sở lý luận về quản lý hải quan đối với hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuất
1.2.1 Khái quát về quản lý hải quan đối với hàng đông lạnh tạm nhập, tái xuất
1.2.1.1 Kháiniệm
- Khái niệm tạm nhập, táixuất:
Tạm nhập- tái xuất là phương thức kinh doanh lâu đời, phổ biến trên thịtrường quốc tế và đã được thực hiện nhiều năm qua ở nước ta Thuật ngữ “tạmquản” đã được định nghĩa trong Công ước quốc tế về tạm quản hàng hóa (Istanbul-1990) là chế độ hải quan mà theo đó một số hàng hoá (bao gồm cả các phương tiệnvận tải) được nhập vào lãnh thổ hải quan mà không phải đóng thuế nhập khẩu vàcác loại thuế khác và không bị áp dụng các hạn chế hay cấm nhập khẩu đối với cácloại hàng mang tính chất kinh tế kể cả các phương tiện vận tải được nhập với mụcđích rõ ràng và sẽ tái xuất trong thời hạn xác định mà không bị làm thay đổi, cảibiến trừ trường hợp giảm giá trị thông thường do quá trình sử dụng;
Tại Phụ lục G Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hảiquan (Công ước Kyoto) sửa đổi giải thích: “tạm nhập” là thủ tục hải quan mà theo
đó một số loại hàng hóa nhất định có thể đưa vào biên giới hải quan một cách cóđiều kiện và có thể được miễn toàn bộ thuế hoặc một phần thuế nhập khẩu và cácloại thuế khác; ví dụ hàng hóa nhập khẩu phục vụ mục đích đặc biệt và phải đượctái xuất trong một khoảng thời gian nhất định mà không được thay đổi hàng hóatrừ khi những khấu hao thông thường do nguyên liệu làm nên sản phẩm;
Ở Việt Nam,năm2005 khi Luật thương mại được Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 thay thếcho Luật Thương mại (1997) thì hoạt động này mới chính thức được coi là một hoạtđộng kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân Tại Điều 29 Luật Thương mại quyđịnh: “Tạm nhập tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từcác khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêngtheo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam
và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”
Trang 15Từ đó ta có thể hiểu tạm nhập tái xuất là hình thức doanh nghiệp nhập khẩuhàng hóa nhưng không phải để tiêu thụ tại thị trường trong nước mà là để xuấtkhẩu sang một nước khác nhằm thu lợi nhuận Những mặt hàng này không đượcgia công hay chế biến tại nơi tái xuất Hàng hóa vừa phải làm thủ tục nhập khẩuvừa phải làm thủ tục xuất khẩu sau đó.
Khác với các phương thức kinh doanh XNK khác, trong phương thức kinh doanhtạm nhập, tái xuất được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt là hợp đồng nhậpkhẩu và hợp đồng xuất khẩu do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nướcngoài Hợp đồng xuất khẩu có thể ký trước hoặc ký sau hợp đồng nhập khẩu
* Phân biệt phương thức kinh doanh tạm nhập tái xuất hàng hóa với chuyểnkhẩu và quá cảnh hàng hóa:
Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bánsang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhậpkhẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam
Chuyển khẩu hàng hóa được thực hiện theo các hình thức như: Hàng hóađược vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửakhẩu Việt Nam; hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu
có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam vàkhông làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam; hàng hóa được vận chuyển từ nướcxuất khẩu đến nước nhập khẩu cóqua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoạiquan, khu vực trung chuyển hàng hóatại các cảng Việt Nam, không làm thủ tụcnhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam
Quá cảnh hàng hóa là việc vận chuyển hàng hóa thuộc sở hữu của tổ chức,cánhân nước ngoài qua lãnh thổ Việt Nam, kể cả việc trung chuyển, chuyển tải, lưukho, chia tách lô hàng, thay đổi phương thức vận tải hoặc các công việc khác đượcthực hiện trong thời gian quá cảnh.[20]
- Khái niệm quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, táixuất:
Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lýlên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn
Trang 16nhân lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật [21, Tr 26 ]Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quátrình xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích đúng ý chí củangười quản lý và phù hợp với quy luật khách quan [21, Tr 27 ]
Từ khái niệm về quản lý và khái niệm tạm nhập, tái xuất ta có thể hiểu quản
lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất là sự tác động có tổ chức của cơ quan hảiquan để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm soát quá trình hoạt động kinh doanhtạm nhập, tái xuất hàng hóa của thương nhân trong một thời gian nhất định
1.2.1.2 Các hình thức tạm nhập, tái xuất
Căn cứ vào mục đích thương mại, tạm nhập tái xuất hàng hóa được chia thànhhai loại là kinh doanh tạm nhập tái xuất hàng hóa và các hình thức tạm nhập táixuất khác:
Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa là hoạt động kinh doanh tạm nhập, táixuất được thực hiện đối với tất cả các loại hàng hóa, kể cả hàng hóa thuộc danhmục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc danh mục cấm nhậpkhẩu, tạm ngừng nhập khẩu, hàng hóa thuộc danh mục phải xin giấy phép của Bộcông thương, hàng hóa thuộc diện quản lý của các Bộ ngành
Các hình thức tạm nhập, tái xuất khác: Theo mục đích của việc tạm nhập, táixuất tương ứng hình thức này bao gồm hàng hóa là máy móc, thiết bị, phương tiệnthi công, khuôn, mẫu được phép tạm nhập, tái xuất theo các hợp đồng thuê, mượncủa thương nhân Việt Nam ký với bên nước ngoài để sản xuất, thi công, thực hiện
dự án đầu tư; hàng hóa là linh kiện, phụ tùng tạm nhập, tái xuất để phục vụ thaythế, sửa chữa tầu biển, tầu bay nước ngoài nhưng không có hợp đồng; hàng hóatạm nhập, tái xuất tham dự hội chợ, triển lãm; hàng hóa là phương tiện chứa hànghóa tạm nhập tái xuất theo hình thức quay vòng; hàng hóa tạm nhập tái xuất bán tạicửa hàng miễn thuế; máy múc, thiết bị, dụng cụ nghề nghiệp tạm nhập, tái xuất cóthời hạn [13]
Trang 171.2.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất hàng hóa đối với sự phát triển kinh tế của nước ta hiệnnay
Phương thức kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa tại Việt Nam hiện nayđang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ, giá trị kim ngạch hàng năm đạt hàng chục tỷUSD, mặt hàng tạm nhập, tái xuất rất phong phú như xăng, dầu, các loại nguyênvật liệu, khoáng sản, phân bón, thực phẩm, nông sản, rượu bia, thuốc lá Tỷ trọngcác mặt hàng thay đổi từng năm theo tín hiệu thị trường đó đem lại lợi ích nhiềumặt về kinh tế, xã hội Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, vai trò của củahoạt động kinh doanh tạm nhập tái, xuất hàng hóa thể hiện ở các khía cạnh sauđây:
- Khai thác được lợi thế về vị trí địa lý của Việt Nam: Nước ta có vị trí địa lýhết sức thuận lợi cho giao thương hàng hóa quốc tế do nằm ở rìa phía Đông củabán đảo Đông Dương, gần trung tâm khu vực Đông Nam Á; Việt Nam vừa gắn vớilục địa Á-Âu vừa tiếp giáp với biển Đông thông ra Thái Bình Dương, có đườngbiên giới đất liền tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia, có đường biển tiếpgiáp với Trung Quốc, Philippin, Brunây, Malaixia, Xingapo, Inđônêxia,Campuchia, Thái Lan
- Phát huy năng lực nghiệp vụ chuyên môn, quan hệ bạn hàng ngoài nước,nhanh nhạy về thông tin kinh tế, thị trường, giá cả : Các thương nhân tạm nhậpkhẩu từ thị trường ngoài nước này những mặt hàng trong nước không có hoặc chưacần để tái xuất khẩu sang thị trường ngoài nước khác có nhu cầu, hưởng lợi nhuận
từ chênh lệch giá, sau khi tính đủ chi phí
- Thúc đẩy phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ giao nhận, vận tải, bốc xếphàng hóa và các dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt như quán ăn, nhà hàng, nhà trọ,khách sạn…: Ngoài hiệu quả kinh tế doanh nghiệp thu được, hoạt động tạm nhập,tái xuất hàng hóa cũng góp phần thúc đẩy phát triển nhiều dịch vụ trong nước liênquan như hậu cần, kho bãi, cảng, vận tải đường bộ, đường thủy, hàng không, bốcxếp, bảo hiểm thu được phí và tạo thêm việc làm cho ngườilao động
- Góp phần giữ vững trật tự, an ninh, quốc phòng vùng biên giới: Khi đờisống được cải thiện cư dân vùng biên giới sẽ yên tâm làm ăn sinh sống, bám trụ tại
Trang 18biên giới, góp phần bảo vệ đường biên mốc gới, giữ gìn an ninh chính trị, quốcphòng và chủ quyền lãnhthổ.
- Góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước: Ngoài khoản thuế thu nhập doanhnghiệp đóng góp cho ngân sách Nhà nước cũng có khoản đóng góp cho ngân sáchđịa phương thông qua việc nộp các khoản phí bến bãi, phí sử dụng lòng đường vỉa
hè do địa phương quy định và các khoản lệ phí do các cơ quan chuyên môn kiểmdịch, y tế thu theo quyđịnh
- Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế: Thông qua hoạt động kinhdoanh tạm nhập tái xuất hàng hóa, doanh nghiệp tham gia vào việc luân chuyểndòng hàng hóa quốc tế theo từng cấp độ khác nhau, nâng cao năng lực giao nhận,vận tải của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế Khi năng lực củadoanh nghiệp Việt Nam đủ mạnh đồng nghĩa với việc khẳng định vị trí, uy tín củaViệt Nam và do đó nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3 Nội dung quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, táixuất
Quản lý Nhà nước về hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuấtbao gồm các nội dung: Thực hiện quản lý bằng chính sách XNK, sử dụng công cụthuế, quy trình thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan và kiểm tra sau thôngquan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất
1.1.3.1 Thực hiện quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất bằng chính sách XNK
Quản lý Nhà nước về hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuấtbằng chính sách XNK được thực hiện theo những nội dung chínhnhư sau:[11,13]Thực hiện quản lý bằng giấy phép: Đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, táixuất thuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc danhmục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, hàng hóa thuộc danh mục phải xingiấy phép và hàng hóa thuộc diện quản lý của các Bộ, Ngành thì khi tạm nhập, táixuất doanh nghiệp phải xin giấy phép của Bộ Côngthương
Những loại hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất không thuộc trường hợpcấm, tạm dừng, không phải xin giấy phép XNK thì thương nhân trực tiếp làm thủtục tạm nhập, thủ tục tái xuất tại Chi cục hải quan cửa khẩu, không phải xin giấy
Trang 19phép tạm nhập, tái xuất của Bộ Công thương.
Thời hạn hàng hóa tạm nhập được lưu giữ tại Việt Nam: Hàng hóa kinh doanhtạm nhập, tái xuất được phép lưu tại Việt Nam trong một thời hạn nhất định (theoquy định tại Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 là không quá120 ngày,theo quy định tại Nghị định 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 là không quá 60ngày) kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập Trường hợp cần kéo dàithời hạn lưu tại Việt Nam, doanh nghiệp cóvăn bản gửi cơ quan hải quan nơi làmthủ tục tạm nhập hàng hóa đề nghị gia hạn; thời hạn gia hạn mỗi lần tối đa khụngquá 30 ngày và không quá hai lần gia hạn cho mỗi lô hàng Quá thời hạn nêu trên,doanh nghiệp phải tái xuất hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc tiêu hủy.Trường hợp nhập khẩu vào Việt Nam thì doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định
về nhập khẩu và phải nộp thuế
Địa điểm lưu giữ hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất: Hàng hóa kinhdoanh tạm nhập, tái xuất nếu thuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuấtkhẩu, hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu thì trongthời hạn lưu lại tại Việt Nam phải được lưu giữ trong khu vực cửa khẩu Đối vớihàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất khác (không thuộc danh mục hàng hóa cấmnhập khẩu, cấm xuất khẩu) doanh nghiệp được phép mang về bảo quản trong nộiđịa để chờ tái xuất
Địa điểm làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, táixuất: Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất phải làm thủ tục hải quan tại các chicục hải quan cửa khẩu nơi có hàng tạm nhập hoặc chi cục hải quan cửa khẩu nơi cóhàng hóa tái xuất Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất thuộc danh mục cấmxuất khẩu,tạm ngừng xuất khẩu,cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu chỉ đượclàm thủ tục hải quan tại một chi cục hải quan cửa khẩu nơi có hàng tạm nhập, hàngtái xuất ra nước ngoài chỉ được phép vận chuyển qua cửa khẩu quốc tế, cửa khẩuchính, trừ trường hợp được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi có khu kinh tế cửakhẩu cho phép (sau khi thống nhất với Bộ Công thương) hàng hóa được đi qua cáccửa khẩu phụ trong khu kinh tế cửa khẩu
Trang 20Điều kiện doanh nghiệp cần phải đáp ứng để được hoạt động kinh doanh tạmnhập, tái xuất hàng hóa: Đối với nhóm hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất có điềukiện như hàng hóa là sản phẩm đông lạnh tạm nhập, tái xuất thì doanh nghiệp kinhdoanh tạm nhập, tái xuất hàng thực phẩm đông lạnh đáp ứng đủ các điều kiện nhưdoanh nghiệp được thành lập tối thiểu là hai năm, đã có hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu hoặc tạm nhập tái xuất hàng hóa; phải ký quỹ dự phòng để bảo đảm xử lý vệsinh, môi trường và hàng tồn đọng quá hạn không tái xuất được; thương nhân phảiduy trì một khoản tiền ký quỹ, đặt cọc tại Kho bạc Nhà nước hoặc Chi nhánh ngânhàng thương mại tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt kho, bãi (doanh nghiệpđược hưởng lãi suất trên khoản tiền ký quỹ theo quy định của Kho bạc Nhà nước),doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán toàn bộ các chi phí để xử lý, làm sạch môitrường và tiêu hủy hàng hóa tạm nhập tái xuất tồn đọng quá thời hạn quy định.Trong trường hợp thương nhân không thực hiện thanh toán các chi phí theo yêucầu của cơ quan có thẩm quyền, tiền ký quỹ dự phòng của thương nhân được sửdụng để thanh toán toàn bộ các chi phí để xử lý, làm sạch môi trường nếu hàng hóacủa thương nhân gây ô nhiễm môi trường trong quá trình lưu giữ, tạm nhập, táixuất tại Việt Nam, thanh toán toàn bộ các chi phi để tiêu hủy hàng hóa tạm nhập,tái xuất của thương nhân tồn đọng quá thời hạn quy định, sau khi đó trả các chi phínêu trên, thương nhân sẽ được hoàn trả lại toàn bộ số tiền ký quỹ hoặc một phần sốtiền ký quỹ nếu thương nhân không được cấp mã số tạm nhập, tái xuất hoặc khôngtiếp tục hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hoặc bị thu hồi mãsố tạm nhập, táixuất đã được cấp; doanh nghiệp phải có kho, bãi phục vụ kinh doanh tạm nhập táixuất hàng hóa theo tiêu chuẩn của Bộ Công thương và được Bộ Công thương cấpmãsố chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng đông lạnh Đốivới hàng hóa là xăng, dầu kinh doanh tạm nhập tái xuất thì chỉ thương nhân cóGiấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu do Bộ Công thương cấp mớiđược tạm nhập, tái xuất xăng dầu Đối với nhóm hàng kinh doanh tạm nhập, táixuất phải có giấy phép của Bộ Công thương như hàng hóa thuộc danh mục hàngcấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc danh mục hàng cấm nhập
Trang 21khẩu, tạm ngưng nhập khẩu hoặc hàng hóa thuộc diện phải xin giấy phép xuấtkhẩu, nhập khẩu của Bộ chuyên ngành khi nhập khẩu (hàng tiêu dùng đó qua sửdụng, quần áo đó qua sử dụng, phụ tùng ô tô đã qua sử dụng, sản phẩm công nghệthông tin đã qua sử dụng, hàng điện tử đã qua sử dụng, gỗ tròn và gỗ xẻ nguyênliệu có nguồn gốc từ Campuchia… thì doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập, tái xuấthàng hóa đã qua sử dụng phải đáp ứng các điều kiện: doanh nghiệp được thành lậptối thiểu là hai năm, đã có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hoặc tạm nhập tái, xuấthàng hóa; doanh nghiệp phải có khoản tiền ký quỹ, đặt cọc tại Kho bạc Nhà nướctỉnh hoặc Chi nhánh ngân hàng thương mại tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đượccấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanhnghiệp Đối với nhóm hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất thông thường khác khiXNK không phải có giấy phép của các Bộ, ngành như hàng nông sản, hàng tiêudung chưa qua sử dụng…thì thương nhân chỉ phải làm thủ tục hải quan đối với lôhàng tạm nhập tại chi cục hải quan cửa khẩu nơi có hàng đến Việt Nam còn thủ tụchải quan để tái xuất hàng hóa được thực hiện tại chi cục hải quan cửa khẩu nơi cóhàng tạm nhập hoặc chi cục hải quan cửa khẩu nơi tái xuất hàng hóa qua biên giớiViệtNam.
1.2.3.2 Thực hiện quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất bằng công cục thuế.
Các sắc thuế được sử dụng để quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuấtbao gồm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trịgia tăng
Về thuế nhập khẩu: Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất thuộc đối tượngchịu thuế nhập khẩu và sẽ được hoàn thuế khi tái xuất Hàng hóa tạm nhập để táixuất theo phương thức kinh doanh tạm nhập, tái xuất đó nộp thuế nhập khẩu, baogồm cả trường hợp hàng hóa nhập khẩu để tái xuất vào khu phi thuế quan (để sửdụng trong khu phi thuế quan hoặc xuất khẩu ra nước ngoài) được xét hoàn thuếnhập khẩu và không phải nộp thuế xuất khẩu khi tái xuất Trường hợp hàng hóakinh doanh tạm nhập tái xuất nếu đó thực tái xuất trong thời hạn nộp thuế thì
Trang 22không phải nộp thuế nhập khẩu tương ứng với số hàng hóa thực tế đã tái xuất.[25]
Về thuế tiêu thụ đặc biệt: Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất không thuộcđối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trong thời hạn theo quy định của Pháp luật vềthuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.[27]
Về thuế bảo vệ môi trường: Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất không thuộcđối tượng chị thuế bảo vệ môi trường trong thời hạn lưu tại Việt Nam theo quyđịnh của pháp luật [29]
Thuế giá trị gia tăng: Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất không thuộc đốitượng chịu thuế giá trị gia tăng.[31]
Thời hạn nộp thuế đối với hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất: Thời hạn nộpthuế đối với hàng hóa kinh doanh theo phương thức tạm nhập, tái xuất là trước khihoàn thành thủ tục hải quan cho lô hàng tạm nhập Trường hợp chưa nộp thuế, nếuđược tổ chức tín dụng nhận bảo lãnh số tiền thuế phải nộp và đáp ứng các điềukiện quy định về người nộp thuế được áp dụng bảo lãnh, thì được áp dụng thời hạnnộp thuế theo thời hạn bảo lãnh nhưng tối đa không quá 15 ngày, kể từ ngày hếtthời hạn tạm nhập-tái xuất (không áp dụng cho thời gian gia hạn thời hạn tạmnhập-tái xuất) và không phải nộp tiền chậm nộp trong thời hạn bảo lãnh Trườnghợp tái xuất ngoài thời hạn bảo lãnh thì phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày hết thờihạn bảo lãnh đến ngày tái xuất hoặc đến ngày thực nộp thuế (nếu ngày thực nộpthuế trước ngày thực tái xuất) Trường hợp đó được áp dụng thời hạn nộp thuế theothời hạn bảo lãnh nhưng chuyển tiêu thụ nội địa thì phải nộp đủ các loại thuế, tínhlại thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa chuyển tiêu thụ nội địa và phải tính tiềnchậm nộp từ thời điểm hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập hàng hóa đến ngàythực nộp thuế [9]
1.2.3.3 Tổ chức thực hiện quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất
Thủ tục hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất là các côngviệc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất Chi cục hải quan cửa
Trang 23khẩu có trách nhiệm tổ chức thực hiện quy trình thủ tục hải quan để quản lý hànghóa kinh doanh tạm nhập tái xuất Trường hợp doanh nghiệp đăng ký làm thủ tụchải quan tạm nhập hàng hóa tại một chi cục hải quan và tái xuất hàng hóa qua mộtcửa khẩu khác với cửa khẩu tạm nhập thì hải quan cửa khẩu tạm nhập có tráchnhiệm tổ chức thực hiện việc theo dõi, quản lý từ khi hàng húa được chuyển cửakhẩu cho tới khi nhận được thông tin hồi báo của chi cục hải quan cửa khẩu xuất.Nếu quá thời hạn quy định mà hải quan cửa khẩu tạm nhập chưa nhận được thôngtin hồi báo của hải quan cửa khẩu xuất thì hải quan cửa khẩu tạm nhập phải có cácbiện pháp để truy tìm lô hàng Hải quan cửa khẩu nơi tái xuất hàng hóa phải cótrách nhận tiếp nhận hàng hóa được chuyển đến, làm thủ tục tái xuất cho hàng hóa
và thực hiện hồi báo thông tin cho hải quan nơi hàng hóa tạm nhập Trường hợpdoanh nghiệp không thực hiện thanh khoản hồ sơ tạm nhập thìcơ quan hải quanthực hiện việc ấn định thuế và cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với lôhàng tiếp theo của doanh nghiệp đó
1.2.3.4 Thực hiện nghiệp vụ giám sát hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất
Giám sát hải quan đối với đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất làbiện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để đảm bảo sự nguyên trạng củahàng hóa, phương tiện vận tải đang chịu sự quản lý của hải quan từ khi hàng hóatạm nhập, bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ tại Việt Nam, vận chuyển đến cửa khẩu xuấtcho đến khi thực xuất qua cửa khẩu Các phương thức giám sát chủ yếu thườngđược sử dụng là niêm phong hải quan, giám sát trực tiếp của công chức hải quan
và giám sát bằng phương tiện kỹ thuật Container hoặc phương tiện vận tải hànghóa phải đảm bảo điều kiện niêm phong giám sát hải quan, trường hợp không thểniêm phong hải quan như hàng rời, hàng siêu trường, siêu trọng thì phải áp dụngphương thức giám sát phù hợp đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật Đốivới những hàng hóa trong thời gian chuyển sang container hoặc phương tiện vậnchuyển khác thì phải chịu sự giám sát trực tiếp của công chức hải quan và thiết bị,phương tiện kỹ thuật giám sát hải quan
Trang 241.2.3.5 Thực hiện kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất
Kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuấtnhằm mục đích thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ màdoanh nghiệp đó khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan đối với hàng hoá kinhdoanh tạm nhập, tái xuất đã được thông quan đối chiếu với chứng từ xuất kho,nhập kho, sổ sách chứng từ kế toán của doanh nghiệp, chứng từ thanh toán quangân hàng…và thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hảiquan của doanh nghiệp thông qua việc xác minh thông tin tại cửa khẩu tái xuất,hãng tầu, tài liệu cảng vụ, đơn vị xếp dỡ hàng hóa, lực lượng Biên Phòng Trên cơ
sở phân tích thông tin quản lý rủi ro, dấu hiệu vi phạm trong đó tập trung kiểm trasau thông quan đối với doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập, tái xuất những mặthàng nhậy cảm, thuế suất cao, kim ngạch lớn, các trường hợp tạm nhập quá hạnnhưng chưa tái xuất hoặc tái xuất nhưng chưa thực hiện thanh khoản
1.2.4 Quy trình nghiệp vụ quản lý của hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tạm xuất
Để quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất hiện nay ngành hải quanđang áp dụng hệ thống thông quan tự động và hệ thống thông tin tình báo Hảiquan(VNACCS/VCIS)
Sơ đồ 1 1: Sơ đồ tổng quan quản lý hàng húa kinh doanh tạm nhập, tái xuất
Tổổngquanquảảnlýhàngtạạmnhậập-táixuấất
Cơ quan HQ
Chuyển nội địa Quản lý,G/Sát (2)
Trang 25(Nguồn: Tài liệu tập huấn Hệ thống VNACCS/VCIS, Tổng cục hải quan, 2013).
(1) Người khai hải quan: khai báo thông tin về hàng hóa hoặc sửa đổi thôngtin trên chương trình phần mềm của doanh nghiệp gửi đến cơ quan hải quan vànhận phản hồi từ cơ quan hải quan thông qua hệ thống xử lý dữ liệu thông quan tựđộng (VNACCS)
(2) Cơ quan hải quan: thực hiện thủ tục tạm nhập, tái xuất, chuyển tiêu thụnội địa, quản lý, giám sát và phản hồi kết quả cho người khai hải quan thông qua
Sơ đồ 1 2: Sơ đồ quá trình quản lý đối với một lô hàng kinh doanh tạm
Doanh nghiệp
Hải quan
- Khai báo làm thủ tục HQ nhập khẩu
-Khai báo làm thủ tục HQ xuất khẩu
- Gửi hồ sơ thanh khoản đến HQ nơi làm thủ tục tạm nhập
hạn hàng hóa lưu giữ tại Việt Nam
-Kiểm tra, đối chiếu với tờ khai tạm nhậptương ứng
-Kiểm tra đối chiếu Hợp đồng XK
-Niêm phong
HQ phương tiện chứa hàng
Thanh khoản tờ khai tạm nhập Kiểm tra nghĩa vụthuế
Xử phạt vi phạm (nếucó)
Trang 26nhập, tái xuất
(Nguồn: Tổng cục hải quan)
- Khâu tạm nhập hàng hóa: Doanh nghiệp tiến hành khai báo làm thủ tục hảiquan để nhập khẩu hàng hóa; hải quan thực hiện việc kiểm tra đối chiếu hợp đồngxuất khẩu và niêm phong phương tiện chứa hàng
- Khâu tái xuất hàng hóa: Doanh nghiệp tiến hành khai báo làm thủ tục hảiquan để xuất khẩu hàng hóa; hải quan thực hiện việc kiểm tra thời hạn hàng hóalưu trữ tại Việt Nam, kiểm tra đối chiếu thông tin trên tờ khai tạm nhập tương ứng
- Khâu thanh khoản hồ sơ: Doanh nghiệp gửi hồ sơ thanh khoản đến cơ quanhải quan nơi làm thủ tục tạm nhập; hải quan tiến hành thanh khoản tờ khai tạmnhập, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp, xử phạt vi phạmhành chính (nếu có)
Do tính chất đặc thù của các loại hàng hóa có áp dụng các chính sách quản lýrieng nên thủ tục hải quan đối với hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất bao gồm: thủtục hải quan áp dụng chung cho các mặt hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất và thủtục hải quan áp dụng đối với một số mặt hàng đặc biệt
1.2.4.1 Thủ tục hải quan áp dụng chung cho tất cả các mặt hàng kinh doanh tạm nhập, táixuất:
Về nguyên tắc thủ tục hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuấtđược thực hiện như đối với một lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu thương mại Theo đó,khi làm thủ tục tạm nhập cho lô hàng người khai hải quan phải nộp và xuất trình hồ
sơ hải quan như quy định về hồ sơ một lô hàng nhập khẩu thương mại cho chi cụchải quan cửa khẩu nơi lô hàng tạm nhập được vận chuyển đến Việt Nam
Hồ sơ hải quan tạm nhập gồm: Tờ khai hải quan (dạng điện tử); hợp đồngmua bán hàng hóa; hóa đơn thương mại; bảng kê chi tiết hàng hóa; vận tải đơn;giấy đăng ký kiểm tra chất lượng hoặc giấy chứng nhận kiểm dịch, kiểm tra antoàn thực phẩm (nếu có); giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; đăng ký cửa khẩu táixuất trên tờ khai hải quan
Hồ sơ hải quan tái xuất: Khi làm thủ tục tái xuất lô hàng tạm nhập, ngoài cácchứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan như đối với một lô hàng xuất khẩu thương mại
Trang 27(Tờ khai hải quan- dạng điện tử, hợp đồng xuất khẩu, hóa đơn xuất khẩu, bảng kêchi tiết hàng hóa, các chứng từ khác theo quy định của các Bộ, Ngành) người khaihải quan phải nộp thêm một bản sao tờ khai hàng hóa tạm nhập và một bản sao hợpđồng bán hàng (hợp đồng xuất khẩu) do thương nhân Việt Nam ký với thươngnhân nước ngoài Thương nhân có thể chia nhỏ lô hàng tạm nhập để tái xuất nhiềulần nhưng mỗi lần tái xuất, thương nhân phải tái xuất hết lượng hàng khai trên một
tờ khai tái xuất
Địa điểm làm thủ tục hải quan: Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉđược làm thủ tục hải quan tại chi cục hải quan cửa khẩu nơi có hàng hóa tạm nhậphoặc tại chi cục hải quan cửa khẩu nơi có hàng tái xuất đi qua Khi hàng hóa đượctái xuất tại cửa khẩu khác cửa khẩu tạm nhập thì chi cục hải quan cửa khẩu tạmnhập lập biên bản bàn giao hàng hóa cho chi cục hải quan cửa khẩu giám sát việctái xuất; việc giám sát hàng hóa trên đường vận chuyển từ cửa khẩu tạm nhập racửa khẩu tái xuất được thực hiện bằng niêm phong hảiquan
Thanh khoản tờ khai: Chi cục hải quan nơi làm thủ tục tạm nhập lô hàng cótrách nhiệm thanh khoản tờ khai tạm nhập và xử lý các vấn đề liên quan đến thuế,
vi phạm (nếu có) Thời hạn nộp hồ sơ thanh khoản hàng kinh doanh tạm nhập táixuất được chia thành hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất, nếu lô hàng tạm nhậpđược tái xuất trong thời hạn nộp thuế của tờ khai tạm nhập thì thời hạn nộp hồ sơthanh khoản tờ khai tạm nhập là 45 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế của tờkhai tạm nhập Trường hợp thứ hai, nếu lô hàng không được tái xuất trong thời hạnnộp thuế của tờ khi tạm nhập thì người khai hải quan phải tờ khai nộp thuế nhậpkhẩu và thuế giá trị gia tăng (nếu có) kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế Cơ quan hảiquan kiểm tra, thu thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng theo quy định Người khaihải quan được hoàn lại số tiền thuế đó nộp khi thực tế đó tái xuất lô hàng tạm nhập,trong trường hợp này thời hạn nộp hồ sơ hoàn thuế, không thu thuế, thanh khoản tờkhai tạm nhập chậm nhất là 45 (bốn mươi lăm ngày) ngày kể từ ngày đăng ký tờkhai tái xuất hàng hóa
Trang 281.2.4.2 Thủ tục hải quan áp dụng đối với một số mặt hàng đặcbiệt:
Thủ tục hải quan đối với hàng tạm nhập, tái xuất thuộc danh mục hàng cấmnhập khẩu, tạm dừng nhập khẩu, cấm xuất khẩu, tạm dừng xuất khẩu: thực hiệnnhư đối với hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất thông thường và phải có thêm giấyphép tạm nhập tái xuất của Bộ Công thương Thủ tục hải quan tạm nhập và thủ tụchải quan tái xuất phải được thực hiện tại Chi cục hải quan cửa khẩu nơi có hàngtạm nhập Hàng tạm nhập phải lưu giữ tại khu vực cửa khẩu, chịu sự giám sát quản
lý của cơ quan hải quan
Thủ tục hải quan đối với hàng tạm nhập, tái xuất thuộc danh mục hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu cóđiều kiện (Giấy phép xuất nhập khẩu của Bộ quản lýchuyên ngành): thực hiện như đối với hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất thôngthường và phải cóthêm giấy phép tạm nhập tái xuất của Bộ Công thương
Thủ tục hải quan đối với xăng dầu tạm nhập, tái xuất: ngoài thủ tục hải quannhư đối với hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất thông thường cũng phải thực hiệntheo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính và chỉ có thương nhân cógiấy phép kinhdoanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu mới được tạm nhập tái xuất xăng dầu
Thủ tục hải quan đối với hàng đông lạnh tạm nhập, tái xuất: Ngoài thủ tục hảiquan như đối với hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất thông thường doanh nghiệpcòn phải tuân thủ thêm các điều kiện như: có kho lạnh theo tiêu chuẩn quy địnhcủa Bộ Công thương, có tiền ký quỹ tại kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thươngmại và phải được Bộ Công thương cấp mã chứng nhận đủ điều kiện mới được kinhdoanh tạm nhập, tái xuất hàng đông lạnh Sau 45 ngày, kể từ ngày tạm nhập nhưngchưa tái xuất được thì cơ quan hải quan không làm thủ tục tạm nhập cho lô hàngthực phẩm đông lạnh tiếp theo của thương nhân đó
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất
1.2.5.1 Sự hội nhập quốc tế
Việt Nam đó gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) từ tháng 11/2006.Đây là cơ hội lớn để Việt Nam hội nhập với thị trường quốc tế đồng thời cũng đặt
Trang 29ra nhiều thách thức về tái cơ cấu kinh tế và pháp luật Kinh tế đối ngoại của mộtquốc gia thể hiện sự tham gia của quốc gia đó với nền kinh tế quốc tế Pháp luậttrong lĩnh vực XNK nói chung và kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa nói riêngcũng đang chịu sự tác động trực tiếp hết sức to lớn của quá trình này Với việc gianhập WTO, Việt Nam đó chính thức hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh
tế thế giới, mở rộng các quan hệ quốc tế song phương và đa phương, các hoạt độnggiao lưu thương mại, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá tăng lên nhanh chúng và cósựxuất hiện của các loại hình XNK theo tập quán thương mại quốc tế, thông lệ quốc
tế trong đó có hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa Bên cạnh cácdoanh nghiệp hoạt động tích cực, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật sẽ phátsinh các doanh nghiệp lợi dụng các kẽ hở trong quản lý hoạt động kinh doanh tạmnhập, tái xuất để buôn lậu và gian lận thương mại Ngoài ra các tổ chức tội phạmquốc tế cũng sẽ tận dụng các cơ hội về những hạn chế trong công tác quản lý ở cácnước đang phát triển như Việt Nam để thực hiện các hành vi phạm pháp
Xu thế toàn cầu hoá và các hiệp định thương mại tự do làm cho kim ngạchxuất nhập khẩu hàng hoá của các quốc gia tăng lên nhanh chóng bao gồm cả xuấtnhập khẩu thương mại và dịch vụ Bên cạnh đó là sự xuất hiện của thương mạiđiện tử phát triển nhanh chóng và trở nên phổ biến Trong tiến trình này pháp luật
về quản lý XNK phải tạo cơ sở pháp lý để đưa hoạt động kinh doanh tạm nhập, táixuất hàng hóa đi đúng quỹ đạo và đóng góp quan trọng vào việc thực hiện thắnglợi tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta
1.2.5.2 Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Đảng và Nhà nước
Một trong những phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước trong báo cáochính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI của Đảng đó là: Triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại; chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế …Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độclập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ,chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có tráchnhiệm trong cộng đồng quốc tế; vỡ lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam
Trang 30xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” Đảng ta khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là một xuthế tất yếu của thế giới cũng đồng thời chỉ ra con đường phát triển không thể nàokhác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập kinh tế quốc
tế Mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế đối với nước ta có các thuận lợi và khó khăn đanxen với nhau nhưng về cơ bản thuận lợi vẫn là chủ yếu [16]
Vị thế của nước ta hiện nay đã được nâng cao trên trường quốc tế, điều đó đócủng cố niềm tin của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp vào công cuộc đổi mới
và tiền đồ tươi sáng của dân tộc Trong quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay đang đặt
ra nhiều khó khăn thách thức đối với các doanh nghiệp và đối với chính các cơquan quản lý Vì vậy đối với các cơ quan quản lý phải cónhận thức đúng đắn để cócác chương trình và bước đi phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lýnhưng vẫn đảm bảo tạo thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.Chiến lược phát triển kinh tế, xãhội của Đảng và Nhà nước là yếu tố quan trọngảnh hưởng trực tiếp đến quản lý hoạt động XNK nói chung và quản lý hàng hóakinh doanh tạm nhập, tái xuất nói riêng
1.2.5.3 Quy định của Nhà nước
Hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa trong những năm qua đó
có những phát triển không ngừng, đóng góp quan trọng trong việc thực hiện cácmục tiêu kinh tế, xã hội của nước ta Tuy nhiên, thực tế hoạt động tạm nhập, táixuất thời gian qua cũng đó bộc lộ nhiều bất cập Đó là có quá nhiều doanh nghiệptham gia kinh doanh theo phương thức này, trong đó không ít doanh nghiệp không
đủ năng lực chuyên môn về mặt hàng, thị trường, tài chính, cơ sở vật chất, v.v dẫnđến hiện tượng tranh mua, tranh bán, cạnh tranh không lành mạnh cả tại thị trườngnhập khẩu và thị trường xuất khẩu, tạo điều kiện cho thương nhân nước ngoài épgiá và tạm nhập tái xuất nhiều mặt hàng tiềm ẩn nguy cơ làm ô nhiễm môi trườngtrong nước Cơ chế chính sách, các quy định của pháp luật và thủ tục hải quanthông thoáng đó tạo kẽ hở cho các hành vi gian lận thương mại trong kinh doanhtạm nhập, tái xuất như có tạm nhập nhưng không tái xuất hoặc tái xuất không hếtlượng hàng đó tạm nhập mà thẩm lậu vào tiêu thụ trong nội địa để trốn thuế; lợi
Trang 31dụng quy định hàng được miễn kiểm tra thực tế để vận chuyển xuyên quốc gianhững mặt hàng cấm theo quy định của các Công ước quốc tế như vận chuyểnđộng vật, sản phẩm động vật quý hiếm, vận chuyển các chất độc hại ảnh hưởngđến môi trường; lợi dụng quy định quá rộng về địa điểm và cửa khẩu tái xuất đểkhi tái xuất chia nhỏ, xé lẻ tìm cách thẩm lậu trở lại trong nước qua đường mòn, lối
mở, hai bên cánh gà cửa khẩu biên giới; lợi dụng chính sách của Nhà nước ta tạothuận lợi cho việc qua lại, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới
Những hành vi lợi dụng kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa để buônlậu,gian lận thương mại nhằm thu lợi bất chính không những đó gây thất thu lớncho ngân sách nhà nước mà còn tạo nên sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa cácdoanh nghiệp, biến nước ta trở thành nơi trung chuyển hàng cấm Những hành vi
vi phạm nêu trên làm phương hại nền kinh tế đất nước, gây ra những bất ổn và làmgiảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế Để hạn chế và tiến tới loại bỏ tìnhtrạng buôn lậu, gian lận thương mại trong hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuấthàng hóa nhất thiết phải có những quy định đầy đủ, đồng bộ và phù hợp với thựctiễn Như vậy, những quy định của Nhà nước tác động và ảnh hưởng toàn diện đếnhiệu quả, hiệu lực trong quản lý đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuấthàng hóa
1.2.5.4 Tổ chức bộ máy, trình độ và phương pháp quảnlý
- Tổ chức bộmáy:
Tổ chức bộ máy quản lý là một yếu tố mang tính quyết định đến việc thựchiện công tác quản lý Một bộ máy được tổ chức khoa học, tinh gọn với các kếhoạch thực hiện và quy trình nghiệp vụ khép kín, người vận hành bộ máy có trình
độ, năng lực, chuyên môn hóa và cụ thể hóa nhiệm vụ sẽ góp phần đưa bộ máyhoạt động hiệu quả, đảm bảo hạn chế các sai sót và đảm bảo hạn chế được việc cốtình vi phạm trong kinh doanh hàng hóa tạm nhập, tái xuất Tổ chức được bộ máytốt sẽ góp phần đảm bảo thắng lợi trong công tác quản lý hoạt động kinh doanhtạm nhập, tái xuất
Trang 32- Trình độ quản lý của cán bộ:
Trình độ của cán bộ làm công tác quản lý là yếu tố quan trọng Con ngườiluôn là nhân tố quyết định đến thành bại của mọi hoạt động quản lý và quản lýhàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất cũng không nằm ngoài quy luật này Hiệnnay, chủng loại hàng hóa tạm nhập, tái xuất ngày càng đa dạng, phong phú do đócông tác quản lý ngày càng tăng tính phức tạp, nếu trình độ chuyên môn nghiệp vụyếu kém sẽ không đáp ứng được yêu cầu quản lý trong tình hình mới
- Phương pháp quảnlý:
Phương pháp quản lý là then chốt đối với hoạt động quản lý Việc đổi mớiphương pháp quản lý có ảnh hướng rất lớn đến hiệu quả của công tác quản lý.Ngành hải quan đó và đang phải thay đổi phương pháp quản lý để thích ứng vớitình hình, nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động thương mại quốc tếthông qua việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro, đầu tư trang thiết bị hiện đại, ứngdụng công nghệ thông tin trong quản lý hải quan, bảo đảm việc chấp hành và tuânthủ các quy định pháp luật nhằm bảo đảm an ninh, lợi ích kinh tế quốc gia, đồngthời bảo đảm an toàn cho dây chuyền luân chuyển hàng hóa quốc tế Hiện nay,ngành Hải quan nước ta đang áp dụng phương pháp quản lý mới phự hợp với cácchuẩn mực quản lý hải quan hiện đại đó là phương pháp quản lý rủi ro Phươngpháp quản lý này dựa trên quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học và có hệthống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu các hành vi vi phạmpháp luật của các đối tượng chịu sự quản lý của cơ quan hải quan Phương phápquản lý rủi ro dựa trên cơ sở thu thập và phân tích thông tin để ra quyết định hìnhthức mức độ kiểm tra đối với từng lô hàng cụ thể Theo đó, đối với các doanhnghiệp có quá trình chấp hành tốt pháp luật và tại thời điểm làm thủ tục hải quancho lô hàng của doanh nghiệp đó cơ quan hải quan không phát hiện được thông tinnghi vấn vi phạm thì lô hàng của doanh nghiệp đó sẽ được miễn kiểm tra Phươngpháp quản lý rủi ro đó tạo cơ hội giải phóng nhanh chóng hàng hóa tại khu vực cửakhẩu và góp phần rất lớn để rút ngắn thời gian thông quan, giảm thiểu chi phí củadoanh nghiệp Áp dụng phương pháp quản lý mới đòi hỏi cần rà soát lại toàn bộ
Trang 33các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động của các doanhnghiệp XNK, các loại hình hàng hóa XNK trong đó bao gồm cả loại hình kinhdoanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa.
1.3 Kinh nghiệm quản lý hải quan đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất
hàng hóa tại một số địa phương và bài học rút ra cho Cục hải quan thành phố Hải Phòng
1.3.1Kinh nghiệm của hải quan Lào Cai
Với vị trí địa lý đặc biệt, tỉnh Lào Cai là trung tâm trung chuyển hàng húaXNK trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh (Trung Quốc)- Lào Cai- Hà Nội- HảiPhòng- Quảng Ninh nên hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa diễn rakhá sôi động Hải quan tỉnh Lào Cai đã chu trọng công tác tuyên truyền, cụ thể hóacác quy định của Nhà nước liên quan đến hoạt động tạm nhập, tái xuất hàng hóa,chuyển khẩu và gửi kho ngoại quan trên địa bàn; tham mưu cho Ủy ban nhân dântỉnh kêu gọi doanh nghiệp đầu tư, quy hoạch hệ thống kho, bãi đảm bảo điều kiệnkinh doanh hàng tạm nhập, tái xuất trên địa bàn không ảnh hưởng đến môi trường
và góp phần chống gian lận thương mại; đề xuất với Bộ, Ngành liên quan cho phéphàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất đi qua các tuyến đường, lối mở, cửa khẩuphụ trong khu kinh tế cửa khẩu như khu vực cửa khẩu Mường Khương, Bảnphiệt ; tham mưu cho địa phương áp dụng mức thu phí, lệ phí hợp lý để tăngcường thu ngân sách, đầu tư trở lại nâng cấp đường giao thông, bến bãi, kho tàng,bảo vệ môi trường và trật tự trị an tại các khu vực biên giới
1.3.1 Kinh nghiệm của hải quan QuảngNinh
Tỉnh Quảng Ninh có lợi thế lớn trong giao thương hàng hóa, hội đủ các điềukiện mà hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa cần, đó là có cả cảngbiển quốc tế, đường sông và cửa khẩu biên giới đường bộ Hàng hóa kinh doanhtạm nhập, tái xuất chiếm một vị trí quan trọng và có tỷ trọng cao trong kim ngạchXNK của tỉnh Để thực hiện quản lý lượng hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuấtlớn nhất cả nước, Cục hải quan Quảng Ninh đó chủ động phối hợp tốt với chínhquyền địa phương và các cơ quan chức năng trên địa bàn tiến hành quản lý chặtchẽ theo quy định của Nhà nước đồng thời tạo điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó
Trang 34khăn vướng mắc cho các doanh nghiệp; bám sát, theo dõi và tăng cường kiểm tragiám sát đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa; hàng hóa kinhdoanh tạm nhập, tái xuất phải được lưu giữ trong các kho bãi đáp ứng tiêu chuẩn
do cơ quan hải quan chỉ định; Đội kiểm soát cơ động thuộc hải quan tỉnh phối hợpvới các chi cục kiểm tra, giám sát các mặt hàng tạm nhập, tái xuất nhậy cảm, đồngthời trao đổi thông tin qua fax, điện thoại đối với từng lô hàng cụ thể nhằm đảmbảo việc thực xuất hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; hải quan cửa khẩu phốihợp với lực lượng biên phòng tuần tra kiểm soát khu vực biên giới để phòng,chống buôn lậu, vận chuyển trái phép, thẩm lậu hàng hóa vào nội địa
1.3.2 Kinh nghiệm của hải quan LạngSơn
Do chính sách biên mậu của tỉnh Quảng Tây (Trung quốc) nên hàng hóa kinhdoanh tạm nhập, tái xuất qua địa bàn tỉnh Lạng sơn chủ yếu được tái xuất qua cáccửa khẩu phụ, lối mở mà không tái xuất qua cửa khẩu chinh, cửa khẩu quốc tế nêncông tác quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất của Cụchải quan tỉnh Lạng Sơn khá phức tạp Để thu hút các doanh nghiệp tham gia hoạtđộng kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa qua địa bàn, Cục hải quan Lạng Sơn
đó tham mưu cho chính quyền địa phương đề xuất với các Bộ, ngành có liên quancho phép hàng hóa tạm nhập tái xuất đi qua các lối mở như Co Sa, Na Hình ; xâydựng phương án giám sát, quản lý đặc thù và đề xuất với Tổng cục hải quan chothành lập các tổ nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và xác nhậnthực xuất cho hàng hóa tái xuất qua các lối mở được cho phép Cục hải quan Lạngsơn thực hiện tốt công tác hợp tác quốc tế về hải quan, xây dựng mối quan hệ vớihải quan phía đối diện để nắm bắt thông tin về tình hình điều chỉnh chính sách biênmậu của Trung Quốc
1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm được rút ra cho Cục hải quan thành phố Hải Phòng
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuấtcủa hải quan các tỉnh Lào Cai, Quảng Ninh, Lạng Sơn rút ra bài học kinh nghiệmcho hải quan thành phố Hải Phòng như sau:
Trang 35Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, cụ thể hóa các quy định của Trung ương
về quản lý hoạt động kinh doanh TNTX hàng hóa, chuyển khẩu và gửi kho ngoạiquan để triển khai trên địa bàn thành phố; xây dựng quy chế quản lý hoạt động táixuất hàng hóa trên địa bàn
Thứ hai, cách cải cách thủ tục hành chính một cách triệt nhằm hạn chế tiêucực, nhũng nhiễu của cán bộ công chức hải quan và các ngành có liên quan củatỉnh trong thi hành công vụ để thu hút các doanh nghiệp tham gia kinh doanh tạmnhập, tái xuất hàng hóa qua địa bàn tỉnh
Thứ ba, tăng cường biện pháp quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuấtqua địa bàn thành phố bằng cách xây dựng quy chế phối kết hợp giữa các lựclượng Hải quan- Công an- Quản lý thị trường- Bộ đội biên phòng để chủ động đấutranh buôn lậu, gian lận thương mại;
Thứ tư, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định thu phí đốivới hànghóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất qua địa bàn thành phố để tái đầu tư trang thiết bịphục vụ quản lý…
Thứ năm, thực hiện hợp tác quốc tế về hải quan thông qua các cuộc hội đàmvới hải quan phía đối diện để trao đổi thông tin phục vụ công tác quản lý
Trang 36CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: vận dụng phươngpháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa
để phục vụ cho nghiên cứu Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp điều tra khảo sátthực tế, công cụ toán kinh tế, thống kê để đánh giá cả về mặt chất và lượng của kếtquả nghiên cứu
Để làm được điều này, học viên đó tiến hành thu thập, đánh giá các tài liệuliên quan đến quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất; xây dựng quy trìnhnghiên cứu, lựa chọn phương pháp thu thập dữ liệu (sơ cấp và thứ cấp) và xử lý dữliệu sơ cấp bằng chương trình thống kê có độ tin cậy và chính xác cao SPSS(Statistical Package for the SocialSciences)
2.1.Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để trình bàycác vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến loại hình tạm nhập, tái xuất và quản lýnhà nước về hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất; xem xét đốitượng và nội dung nghiên cứu theo quan điểm toàn diện, phát triển và hệ thống
2.2 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình xây dựng hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá mức độ hài lòng vềcông tác quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại Cục hải quan thành phốHải Phòng học viên có tham khảo ý kiến của một số chuyên gia là lãnh đạo Cục hảiquan phụ trách mảng nghiệp vụ kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa XNK
và lãnh đạo Chi cục hải quan cửa khẩu phụ trách công tác nghiệp vụ hải quan
2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 372.3.2 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu khảo sát đánh giá theo mẫuchuẩn bị sẵn và xử lý theo trình tự: Xây dựng mẫu phiếu khảo sát, lựa chọn đốitượng khảo sát, tiến hành khảo sát và đưa dữ liệu thu thập được vào chương trìnhSPSS xử lý phân tích theo phương pháp thống kê mô tả
2.3.2.1 Mô tả mẫu Phiếu khảo sát
Phiếu khảo sát là công cụ đo lường được thiết kế để đánh giá mức độ hài lòng
về công tác quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại Cục hải quanthànhphố Hải Phòng
Hai mẫu phiếu khảo sát được thiết kế để khảo sát cán bộ, công chức (CBCC)hải quan và các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng đông lạnh tạm nhập, táixuất hàng hóa qua các chi cục thuộc Cục hải quan thành phố Hải Phòng Câu hỏitrong hai mẫu phiếu khảo sát có nội dung và cấu trúc tương tự nhau, gồm 4 phầnchính là thông tin chung về đối tượng khảo sát; đánh giá về phương pháp quản lýhàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất; đánh giá về chuyên môn nghiệp vụ, kỹnăng quản lý của CBCC hải quan; đánh giá về công tác phát triển cải cách hiện đạihóa trong quản lý hải quan Phiếu khảo sát được thiết kế theo phương châm thuthập nhiều nhất các thông tin có thể, đồng thời giúp cho việc ghi chép thuận lợi,tăng tính thống nhất và bảo đảm chất lượng số liệu điều tra, khảo sát
Để thu thập thông tin từ doanh nghiệp và CBCC hải quan, học viên dùngthang đo Likert (1932), gồm 5 mức độ để người khai hải quan và CBCC hải quanđược điều tra lựa chọn Với thang đo Likert đo mức độ hài lòng từ thấp đến cao đểlượng hóa nhận định của người được điều tra:
Trong phiếu khảo sát, để đánh giá mức độ hài lòng về những nhận định thìngười khai hải quan và CBCC hải quan sẽ đánh dấu “X” cho phương án trả lời thểhiện đúng nhất quan điểm của mình
Rất không Không đồng ý Không có Đồng ý Rất đồng ý
Trang 38Câu hỏi khảo sát được chia thành 3 mảng chính Mảng thứ nhất làđánh giámức độ hài lòng về phương pháp quản lý hoạt động kinh doanh hàng đông lạnhtạm nhập tái xuất hàng hóa chia thành 5 tiêu chí (biến quan sát): về việc thực thichính sách quản lý, thực hiện quản lý bằng công cụ thuế, thực hiện quy trình thủtục hải quan, quy định điều kiện doanh nghiệp được kinh doanh tạm nhập tái xuất,quy định về hồ sơ hải quan Mảng thứ hai là đánh giá mức độ hài lòng về chuyênmôn nghiệp vụ, kỹ năng quản lý của CBCC hải quan chia thành 3 tiêu chí: kỹnăng, trình độ nghiệp vụ; chất lượng giải quyết công việc; thái độ khi thi hànhcông vụ Mảng thứ ba đánh giá giá mức độ hài lòng về công tác cải cách hiện đạihóa trong quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất chia thành 3 tiêu chí:Triển khai hải quan điện tử và thông quan tự động; ứng dụng công nghệ thông tintrong quản lý; trang bị cơ sở vật chất kỹ, thuật phục vụ quản lý.
2.3.2.2 Đối tượng khảo sát
- Về điều tra khảo sát Doanh nghiệp:
+ Thời gian thực hiện: từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 12 năm 2015
+ Mục đích điều tra, khảo sát: thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu về mức
độ hài lòng của doanh nghiệp về quản lý hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập táixuất của Cục hải quan thành phố Hải Phòng, đánh giá của doanh nghiệp về quản lýhải quan đối với hàng húa XNK và tham khảo những đề xuất của doanh nghiệp đểtiếp tục hoàn thiện quản lý hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuất
+Danh sách doanh nghiệp được chọn khảo sát là 80 doanh nghiệp có hoạtđộng kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa trong số hơn 200 doanh nghiệp thamgia hoạt động XNK qua các đơn vị thuộc Cục hải quan thành phố Hải Phòng.Trong đó có 30 công ty cổ phần, chiếm 37,5 %; 49 công ty trách nhiệm hữu hạn,chiếm 61,3% và 01 là loại hình doanh nghiệp khác, chiếm 1,3%
- Về điều tra khảo sát CBCC hải quan:
+ Thời gian thực hiện: từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 01 năm 2016
+ Mục đích điều tra, khảo sát: lấy ý kiến CBCC hải quan để đánh giá trungthực, khách quan về thực trạng quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất,
Trang 39những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và yêu cầu đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện
để nâng cao hiệu quả quản lý
+ Danh sách CBCC hải quan được lựa chọn khảo sát là 102 CBCC trong tổng
số 134 CBCC của Cục hải quan tỉnh Hà Giang Trong đó: lãnh đạo là 24 người,chiếm 23,5%; nhân viên (công chức trực tiếp thực hiện quy trình thủ tục hải quan,công chức làm công tác tham mưu, điều tra chống buôn lậu, kiểm tra sau thôngquan) là 78 người, chiếm 76,5 %
2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Tổng hợp số liệu: Dùng phương pháp phân tổ để hệ thống hóa các số liệu thuthập được phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài Các ý kiến khảo sát đánhgiá được phân theo đối tượng thực hiện quản lý (CBCC hải quan) và đối tượngchịu sự quản lý (doanh nghiệp)
Phân tích số liệu: Trong quá trình phân tích số liệu, học viên đó vận dụng cácphương pháp phân tích thống kê kinh tế Dữ liệu sơ cấp thu thập từ kết quả khảo sátđánh giá được đưa vào chương trình phần mềm SPSS phân tích theo phương phápthống kê mô tả, được trình bày chi tiết tại phụ lục 3 và phụ lục 4 của Luận văn
Trang 40CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HÀNG ĐÔNG LẠNH KINH DOANH TẠM NHẬP, TÁI XUẤT TẠI CỤC HẢI QUAN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
3.1.Đặc điểm tình hình Cục hải quan thành phố Hải Phòng
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ NguyênGiáp thừa uỷ nhiệm của Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam dân chủcộng hoà ký sắc lệnh số 27/SL ngày 10 tháng 9 năm 1945 thành lập Sở thuế quan
và thuế gián thu, khai sinh ra ngành Hải quan Việt Nam Với nhiệm vụ là: Thu cácloại thuế nhập cảng và xuất cảng, thu thuế gián thu Sau đó ngành thuế quan đượcgiao thêm nhiệm vụ chống buôn lậu thuốc phiện và quyền được định đoạt, hoà giảivới các vụ vi phạm về thuế quan và thuế gián thu Hệ thống tổ chức của ngành thuếquan và thuế gián thu toàn quốc gồm có: Ở Trung ương có Sở thuế quan và thuếgián thu (sau đổi thành Nha quan thuế và thuế gián thu) thuộc Bộ Tài chính Ở địaphương chia làm 3 miền: Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ, mỗi miền có: Tổng thu Sởthuế quan; Khu vực thuế quan; Chính thu sở thuế quan; Phụ thu sở thuế quan.Ngày 20 tháng 11 năm 1946, Quân đội Pháp đã nổ súng vào thuế quan ta,chiếm Ty thuế quan Hải Phòng Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dânPháp của dân tộc ta, Hải quan Việt Nam cùng quân dân cả nước phối hợp cùng cáclực lượng khác thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước là bao vây và đấutranh kinh tế với địch Hiệp định Geneve về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dươngđược ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng.Quân Pháp buộc phải rút quân khỏi trung du, đồng bằng Bắc Bộ về tập kết 300ngày (khu vực Hải Phòng), chờ rút quân về nước Chính phủ ban hành thể lệ, thủtục mới về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu giữa vùng giải phóng và “khu tập kết
300 ngày” Bộ Công thương ban hành Nghị định số 87/BTC-NĐ-KB ngày 14tháng 4 năm 1955 của Bộ công thương về việc thành lập Sở Hải quan Hải Phòng.Bao gồm các đơn vị trực thuộc: Phòng Tổ chức cán bộ; Phòng Hành chính quảntrị; Phòng Giám quản hàng hoá xuất nhập khẩu và công cụ vận tải xuất nhập cảnh;