Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI............................................................................................ 1 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ................................................................................................. 3 3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:....................................................... 5 4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: ...................................................... 5 5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: ......................................................................... 6 6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:............................................................................ 6 7. CẤU TRÖC LUẬN VĂN:...................................................................................... 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ............................................................................... 8 1.1. LỚP TỪ TÌNH THÁI: ......................................................................................... 8 1.1.1.Từ loại trong Tiếng Việt và sự phân chia từ loại: .......................................... 8 1.1.2. Các tiểu loại Tình thái từ trong Tiếng Việt: ................................................ 10 1.2. NGHĨA TÌNH THÁI:......................................................................................... 15 1.2.1. Một số quan điểm nghiên cứu tiên phong về tình thái:...............................15 1.2.3. Các loại nghĩa tình thái: .............................................................................. 23 1.3. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƢƠNG CỦA NAM CAO .......................................................................................................................... 26 1.3.1. Khái quát về cuộc đời Nam Cao: ...............................................................26 1.3.2. Sự nghiệp văn chƣơng:................................................................................ 27 1.4. TIỂU KẾT:......................................................................................................... 29 CHƢƠNG 2: HỆ THỐNG TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945............................................. 31 2.1. HỆ THỐNG TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ........................................................................ 31 2.1.1. Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao nhìn từ bình diện ngữ nghĩa:..........31 2.1.1.1. Tiểu từ tình thái: ................................................................................... 31 2.1.1.2. Trợ từ:................................................................................................... 45 2.1.1.3. Thán từ:..........................................................................................54 2.1.2. Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao với chức năng thể hiện vị thế giao tiếp của các nhân vật: ................................................................................................61 2.1.2.1. Tình thái từ thể hiện nhân vật giao tiếp ở vị thế cao: ........................... 62 2.1.2.2. Tình thái từ thể hiện nhân vật giao tiếp ở vị thế thấp:.......................... 73 2.1.2.3. Tình thái từ thể hiện nhân vật giao tiếp ở vị thế ngang bằng: .............. 76 2.2. TIỂU KẾT:......................................................................................................... 81 CHƢƠNG 3: CÔNG DỤNG CỦA TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945. ................................. 84 3.1. TÌNH THÁI TỪ VỚI VAI TRÕ BỘC LỘ TÍNH CÁCH NHÂN VẬT:........... 84 3.1.1. Nhân vật Chí Phèo: ....................................................................................85 3.1.2. Nhân vật Hộ: .............................................................................................. 93 3.2. Tình thái từ bộc lộ phong cách trữ tình, bộc lộ tình cảm chủ quan của ngƣời kể chuyện ....................................................................................................................... 96 3.4. Biểu hiện nghĩa hàm ẩn:................................................................................... 101 3.4. TIỂU KẾT:....................................................................................................... 102 KẾT LUẬN.....................................................................................................104 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 107 1 MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngữ dụng học là ngành học nghiên cứu ngôn ngữ từ phía ngƣời dùng, đặc biệt nghiên cứu những sự lựa chọn mà họ thực hiện, những bó buộc mà họ gặp phải khi sử dụng ngôn ngữ trong tƣơng tác xã hội và nghiên cứu tác động của cách sử dụng ngôn ngữ lên ngƣời đối thoại của mình trong hoạt động giao tiếp. Ra đời trên thế giới khoảng những năm 1960, vào Việt Nam từ những năm 1990, song ngữ dụng học đã phát triển mạnh về lí thuyết cũng nhƣ có những thành tựu đáng kể về những nghiên cứu cho thấy cần mở rộng ngôn ngữ theo chiều hƣớng gắn nó với với ngữ cảnh giao tiếp thì mới hiểu chính xác nội dung của phát ngôn. Trong việc nghiên cứu và sử dụng ngôn ngữ, vấn đề tình thái trong ngôn ngữ không phải là mới, từ triết học Hy Lạp cổ đại, khái niệm tình thái của lôgic học đƣợc dựa trên tính hiện thực (reality), tính tất yếu (necessity) và tính khả hữu (possibility) đƣợc phản ánh trong ngôn ngữ tự nhiên với muôn vàn sắc thái đa dạng. Khi sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt về thế giới thực tại, ngƣời ta không thể không lƣu ý đến mối quan hệ giữa cách con ngƣời diễn đạt về thế giới và chính bản thân thế giới đó. Theo nghĩa rộng, có thể hiểu nói về tình thái là nói về cách mà con ngƣời diễn đạt khác nhau về thế giới. Trong mỗi câu nói, ngoài nội dung nghĩa biểu hiện còn có nội dung nghĩa biểu thái. Charles Bally cho rằng tính tình thái chính là linh hồn của câu. Không thể tạo ra ý nghĩa lời nói nếu trong lời nói ấy ta không tìm thấy một biểu hiện nào đó của tính tình thái. Theo W. Humboldt: “Toàn bộ các từ trong ngôn ngữ, đó chính là phƣơng tiện nối kết các hiện tƣợng bên ngoài với thế giới bên trong của con ngƣời… Đặc biệt, bản sắc riêng của mỗi dân tộc luôn luôn đƣợc thể hiện qua tiếng `mẹ đẻ của họ; ngôn ngữ là nơi bảo lƣu tinh thần, văn hóa dân tộc, sức mạnh liên minh giữa các dân tộc- tất cả để lại dấu ấn tài tình trong mỗi âm thanh” [4; 203]. Đằng sau ngôn ngữ là dấu ấn văn hóa cộng đồng. Tất cả những gì con ngƣời tạo ra đều có tính văn hoá, đều có dấu ấn của ngôn ngữ, vậy giải mã văn hoá có thể căn cứ vào nhiều thông số, nhƣng chiếc chìa khoá rất quan trọng, để có thể giải mã 2 văn hoá của dân tộc, đó chính là ngôn ngữ của dân tộc ấy. Trong ngữ cảnh giao tiếp, để bày tỏ ý định, mục đích hay thể hiện cách đánh giá, nhận xét hoặc bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình với đối tƣợng giao tiếp, ngƣời Việt Nam thƣờng dùng nhiều loại hành vi ngôn ngữ, mỗi loại hành vi ngôn ngữ đó đƣợc thể hiện bằng một số kiểu câu có nội dung, hình thức nói năng nhất định. Theo các nhà nghiên cứu Việt ngữ học, có thể thấy bốn kiểu câu thể hiện mục đích nói là: - Câu kể (còn gọi là “câu miêu tả, trần thuật”) - Câu cầu khiến (hay “câu mệnh lệnh”) - Câu nghi vấn (còn gọi là “câu hỏi”) - Câu cảm thán (còn gọi là “câu cảm”) Nghĩa tình thái trong câu Tiếng Việt có tính ngữ dụng rất cao, hơn nữa mật độ nghĩa tình thái trong giao tiếp của Tiếng Việt có thể nói rất dày đặc. Để có đƣợc những câu mang nghĩa cảm thán, câu cầu khiến, câu hỏi tu từ… nhằm biểu thị tình cảm – cảm xúc đa dạng, tinh tế và cao hơn là đạt mục đích trong quá trình giao tiếp ngƣời Việt sử dụng phƣơng tiện ngôn ngữ tình thái trong câu nói của mình. Cũng nhƣ vậy, từ loại tình thái từ (gồm thán từ, trợ từ, tiểu từ tình thái) đƣợc sử dụng trong sáng tác văn chƣơng ở mỗi tác giả, mỗi tác phẩm lại có những điểm khác biệt, nó thể hiện văn phong cũng nhƣ phong cách của nhà văn. Tuy nhiên, nghiên cứu về tình thái từ trong tác phẩm văn học mà cụ thể hơn là nghiên cứu về các phƣơng tiện diễn đạt trong tình thái từ ở một tác phẩm văn học cụ thể vẫn còn bỏ ngỏ cho dù thực tế việc sử dụng các phƣơng tiện biểu thị tình thái là rất phổ biến trong tác phẩm văn học. Nền quốc văn mới hình thành ở cuối thế kỷ XIX và nhất là đầu thế kỷ XX là một sự kiện hết sức quan trọng, một cột mốc trong sự hình thành ngôn ngữ văn học hiện đại tiếng Việt có nhiều nhân tố tác động tích cực đến sự hình thành nền quốc văn mới và ngôn ngữ văn học tiếng Việt hiện đại [31]. Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam diễn ra đầu thế kỷ XX, nhƣng đến những năm 1930-1945 văn xuôi hiện thực mới thực sự hình hành những phong cách nhà văn nổi bật. Đó là cây bút Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao...Trong số các tác giả Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 Luận văn Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN KIÊN
TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN KIÊN
TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS TS BÙI MINH TOÁN
HÀ NỘI, 2014
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 5
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 5
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 6
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN: 6
7 CẤU TRÖC LUẬN VĂN: 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 LỚP TỪ TÌNH THÁI: 8
1.1.1.Từ loại trong Tiếng Việt và sự phân chia từ loại: 8
1.1.2 Các tiểu loại Tình thái từ trong Tiếng Việt: 10
1.2 NGHĨA TÌNH THÁI: 15
1.2.1 Một số quan điểm nghiên cứu tiên phong về tình thái: 15
1.2.3 Các loại nghĩa tình thái: 23
1.3 KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA NAM CAO 26
1.3.1 Khái quát về cuộc đời Nam Cao: 26
1.3.2 Sự nghiệp văn chương: 27
1.4 TIỂU KẾT: 29
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 31
2.1 HỆ THỐNG TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 31
2.1.1 Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao nhìn từ bình diện ngữ nghĩa: 31
2.1.1.1 Tiểu từ tình thái: 31
2.1.1.2 Trợ từ: 45
2.1.1.3 Thán từ: 54
Trang 42.1.2 Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao với chức năng thể hiện vị thế giao
tiếp của các nhân vật: 61
2.1.2.1 Tình thái từ thể hiện nhân vật giao tiếp ở vị thế cao: 62
2.1.2.2 Tình thái từ thể hiện nhân vật giao tiếp ở vị thế thấp: 73
2.1.2.3 Tình thái từ thể hiện nhân vật giao tiếp ở vị thế ngang bằng: 76
2.2 TIỂU KẾT: 81
CHƯƠNG 3: CÔNG DỤNG CỦA TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 84
3.1 TÌNH THÁI TỪ VỚI VAI TRÕ BỘC LỘ TÍNH CÁCH NHÂN VẬT: 84
3.1.1 Nhân vật Chí Phèo: 85
3.1.2 Nhân vật Hộ: 93
3.2 Tình thái từ bộc lộ phong cách trữ tình, bộc lộ tình cảm chủ quan của người kể chuyện 96
3.4 Biểu hiện nghĩa hàm ẩn: 101
3.4 TIỂU KẾT: 102
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 5Trong việc nghiên cứu và sử dụng ngôn ngữ, vấn đề tình thái trong ngôn ngữ không phải là mới, từ triết học Hy Lạp cổ đại, khái niệm tình thái của lôgic học được dựa trên tính hiện thực (reality), tính tất yếu (necessity) và tính khả hữu (possibility) được phản ánh trong ngôn ngữ tự nhiên với muôn vàn sắc thái đa dạng Khi sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt về thế giới thực tại, người ta không thể không lưu
ý đến mối quan hệ giữa cách con người diễn đạt về thế giới và chính bản thân thế giới đó Theo nghĩa rộng, có thể hiểu nói về tình thái là nói về cách mà con người diễn đạt khác nhau về thế giới Trong mỗi câu nói, ngoài nội dung nghĩa biểu hiện còn có nội dung nghĩa biểu thái Charles Bally cho rằng tính tình thái chính là linh hồn của câu Không thể tạo ra ý nghĩa lời nói nếu trong lời nói ấy ta không tìm thấy một biểu hiện nào đó của tính tình thái
Theo W Humboldt: “Toàn bộ các từ trong ngôn ngữ, đó chính là phương tiện nối kết các hiện tượng bên ngoài với thế giới bên trong của con người… Đặc biệt, bản sắc riêng của mỗi dân tộc luôn luôn được thể hiện qua tiếng `mẹ đẻ của họ; ngôn ngữ là nơi bảo lưu tinh thần, văn hóa dân tộc, sức mạnh liên minh giữa các dân tộc- tất cả để lại dấu ấn tài tình trong mỗi âm thanh” [4; 203]
Đằng sau ngôn ngữ là dấu ấn văn hóa cộng đồng Tất cả những gì con người tạo ra đều có tính văn hoá, đều có dấu ấn của ngôn ngữ, vậy giải mã văn hoá có thể căn cứ vào nhiều thông số, nhưng chiếc chìa khoá rất quan trọng, để có thể giải mã
Trang 6văn hoá của dân tộc, đó chính là ngôn ngữ của dân tộc ấy Trong ngữ cảnh giao tiếp,
để bày tỏ ý định, mục đích hay thể hiện cách đánh giá, nhận xét hoặc bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam thường dùng nhiều loại hành vi ngôn ngữ, mỗi loại hành vi ngôn ngữ đó được thể hiện bằng một số kiểu câu có nội dung, hình thức nói năng nhất định Theo các nhà nghiên cứu Việt ngữ học, có thể thấy bốn kiểu câu thể hiện mục đích nói là:
- Câu kể (còn gọi là “câu miêu tả, trần thuật”)
- Câu cầu khiến (hay “câu mệnh lệnh”)
- Câu nghi vấn (còn gọi là “câu hỏi”)
- Câu cảm thán (còn gọi là “câu cảm”)
Nghĩa tình thái trong câu Tiếng Việt có tính ngữ dụng rất cao, hơn nữa mật độ nghĩa tình thái trong giao tiếp của Tiếng Việt có thể nói rất dày đặc Để có được những câu mang nghĩa cảm thán, câu cầu khiến, câu hỏi tu từ… nhằm biểu thị tình cảm – cảm xúc đa dạng, tinh tế và cao hơn là đạt mục đích trong quá trình giao tiếp người Việt sử dụng phương tiện ngôn ngữ tình thái trong câu nói của mình Cũng như vậy, từ loại tình thái từ (gồm thán từ, trợ từ, tiểu từ tình thái) được sử dụng trong sáng tác văn chương ở mỗi tác giả, mỗi tác phẩm lại có những điểm khác biệt,
nó thể hiện văn phong cũng như phong cách của nhà văn Tuy nhiên, nghiên cứu về tình thái từ trong tác phẩm văn học mà cụ thể hơn là nghiên cứu về các phương tiện diễn đạt trong tình thái từ ở một tác phẩm văn học cụ thể vẫn còn bỏ ngỏ cho dù thực tế việc sử dụng các phương tiện biểu thị tình thái là rất phổ biến trong tác phẩm văn học
Nền quốc văn mới hình thành ở cuối thế kỷ XIX và nhất là đầu thế kỷ XX là một sự kiện hết sức quan trọng, một cột mốc trong sự hình thành ngôn ngữ văn học hiện đại tiếng Việt có nhiều nhân tố tác động tích cực đến sự hình thành nền quốc văn mới và ngôn ngữ văn học tiếng Việt hiện đại [31] Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam diễn ra đầu thế kỷ XX, nhưng đến những năm 1930-1945 văn xuôi hiện thực mới thực sự hình hành những phong cách nhà văn nổi bật Đó là cây bút Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Trong số các tác giả
Trang 7hàng đầu của văn xuôi hiện thực giai đoạn văn học 1930 – 1945, Nam Cao đến với làng văn không sớm nhưng sáng tác để lại dấu ấn hiện đại rõ nét
Chọn đề tài với nội dung nghiên cứu “Tình thái từ trong truyện ngắn Nam
Cao trước cách mạng tháng Tám 1945” tác giả luận văn mong muốn sẽ tiếp cận
được các tác phẩm văn học để đời của Nam Cao trên bình diện ngôn ngữ học nhằm thấy được những sáng tạo thiên tài của tác giả ở việc sử dụng ngôn từ trong sáng tạo nghệ thuật
Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài có thể cung cấp thêm cơ sở
để các thầy cô giáo và các em học sinh cảm thụ, phân tích sâu sắc hơn về truyện ngắn Nam Cao trước 1945
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nam Cao (1917-1951) là một nhà văn hiện thực lớn, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn tiêu biểu nhất thế kỷ 20 của Việt Nam Ông có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX Toàn bộ truyện ngắn của Nam Cao viết trước 1945, theo kết quả sưu tầm cho đến nay, có khoảng 60 truyện Đó chưa phải là con số đáng kể về số lượng, nhưng lại vẫn đủ sự tin cậy về chất lượng để xác nhận đóng góp của Nam Cao trong
văn học hiện đại Việt Nam [28; 13] Thế giới truyện của Nam Cao trước 1945 là
một nỗi đau lớn vì những nỗi khổ - hiện ra trong rất nhiều dạng của con người; đồng thời cũng là niềm khắc khoải lớn, vì nhu cầu phát triển con người [28; 17] Viết về Nam Cao, đã có nhiều nhà nghiên cứu dành tâm huyết để tìm hiểu Nam Cao và tác phẩm của ông (trong đó đặc biệt là truyện ngắn trước 1945) Các tác giả tập trung phân tích về nghệ thuật xây dựng và đi sâu vào tâm lí nhân vật, hình tượng nghệ thuật, triết lí nhân sinh hay bi kịch về quyền sống, quyền làm người của nhân vật trong tác phẩm Đó là các công trình có giá trị như: Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao của Trần Đăng Xuyền (2001); Nam Cao, Lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 của Nguyễn Hoành Khung; Nhà văn Nam Cao: Day dứt phận người của Đỗ Ngọc Yên
Trang 8Tuy nhiên, qua quá trình tổng hợp và tham khảo tài liệu chúng tôi nhận thấy vấn đề phân tích từ loại về mặt ngữ pháp và đặc biệt là mặt ngữ dụng trong một tác phẩm văn chương đều còn hạn chế Bởi vậy, trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu có tính chất nổi trội về vấn đề tình thái trong Tiếng Việt nói chung, trong đó có những nghiên cứu đề cập đến vấn đề phương tiện biểu thị tình thái
2.1 Về các tác giả nước ngoài:
Các tác giả I I Glebova, V.M Solntsev, Yu Lekomtsev, Bystrov khi viết
về ngữ pháp tiếng Việt (bằng tiếng Nga) đã có đề cập đến tiểu từ tình thái Họ cũng
đã phân loại tiểu từ tình thái theo tiêu chí ngữ nghĩa như: Tiểu từ có tính chất nghi vấn, tiểu từ nhấn mạnh, tiểu từ chỉ ra sự đối lập Tuy nhiên họ xem tiểu từ tình thái như là một từ loại tiếng Việt hơn là một phương tiện biểu thị tình thái [33; 34]
Một tác giả nước ngoài khác cũng quan tâm đến ngữ pháp tiếng Việt là
V.S Panfilov (2003), trong chương VIII của cuốn “Cơ cấu ngữ pháp Tiếng Việt”
[38] (bằng tiếng Nga, do Nguyễn Thủy Minh dịch) ông đã trình bày về bán hư từ, trong đó có đề cập đến từ tình thái Ông cho rằng: “Lớp ngữ pháp này bao gồm
những từ như: có lẽ, hình như, quả nhiên, đương nhiên… những từ này được dùng
với chức năng định ngữ của câu, thể hiện sự đánh giá đối với sự việc được nhắc tới trong câu, hoặc đối với sự việc được nhắc tới trong câu, hoặc đối với chính phát ngôn như một hành động lời nói” [38; 277] Như vậy, có thể thấy chưa có một tác giả nước ngoài nào nghiên cứu chuyên sâu về tình thái cũng như những phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong Tiếng Việt
2.2 Về các tác giả trong nước:
Với các kiểu câu phân loại theo mục đích nói (trong đó có câu cảm thán) cũng đã có rất nhiều tác giả tập trung nghiên cứu ở những công trình lớn, vừa và nhỏ như: “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến; “Ngữ pháp tiếng Việt - Câu” của Hoàng Trọng Phiến; “Ngữ pháp Việt Nam” của Diệp Quang Ban; “Tiếng Việt” - tập 2 của Đinh Trọng Lạc và Bùi Minh Toán; “Câu trong tiếng Việt” của Cao Xuân Hạo; “Từ
Trang 9điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” của Nguyễn Như Ý (chủ biên); "Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại" của Đinh Văn Đức; "Giáo trình ngôn ngữ học" và “Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyện Thiện Giáp (chủ biên); “Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại” của Phạm Hùng Việt; “Câu tiếng Việt” của Nguyễn Thị Lương; “Hành động ngôn ngữ biểu lộ trong kiểu câu cảm thán của tiếng Việt hiện đại”của Hồ Xuân Lộ; Luận án tiến sĩ “Câu cảm thán trong tiếng Việt” và bài viết “Một số hình thức hỏi biểu thị cảm thán trong tiếng Việt” của Nguyễn Thị Hồng Ngọc; “Hành vi cảm thán và sự kiện lời nói cảm thán trong tiếng Việt” - luận án Tiến sĩ của Hà Thị Hải Yến; “Câu cảm thán dưới góc nhìn dụng học” của Đặng Thị Hảo Tâm v.v Các công trình vừa nêu trên đã đi vào nghiên cứu những vấn đề liên quan đến ngữ dụng học, hành vi ngôn ngữ, về các kiểu câu phân loại theo mục đích nói, cũng như các tác phẩm nghiên cứu và đánh giá đa chiều về Nam Cao Song chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về công dụng
và ý nghĩa của tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Tình thái từ trong truyện ngắn Nam
Cao trước cách mạng tháng Tám
3.2 Phạm vi nghiên cứu là Truyện ngắn Nam Cao trước 1945 (Chí Phèo -
1941, Trăng sáng - 1942, Lão Hạc - 1943, Đời thừa - 1943)
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
4.1 Mục đích:
Nghiên cứu hệ thống tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám, phân tích công dụng của chúng để góp phần làm sang tỏ đặc điểm và công dụng của tình thái từ trong tiếng Việt, góp phần làm rõ đặc điểm ngôn ngữ của Nam Cao
Trang 10Thu thập và khảo sát ngữ liệu, lọc ra các dẫn chứng có biểu thị tình thái Thuyết minh việc sử dụng và công dụng của tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945
Miêu tả, phân tích những đặc điểm cơ bản của các phương tiện biểu thị, phân tích công dụng của tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945 trong từng ngữ cảnh cụ thể
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
5.1 Thống kê: Khi làm việc với nguồn ngữ liệu là các tác phẩm Chí Phèo -
1941, Trăng sáng - 1942, Lão Hạc - 1943, Đời thừa – 1943 chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để định lượng ngữ liệu và xác lập hệ thống các từ ngữ thuộc tình thái từ
5.2 Phương pháp phân tích văn bản, phân tích ngữ nghĩa – ngữ dụng, phân
tích diễn ngôn (đặt vào ngữ cảnh): Quá trình giao tiếp, diễn ngôn bao gồm cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ như cảnh huống, yếu tố dụng học và các tác động của các chiến lược văn hóa ở người sử dụng ngôn ngữ
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thấy được vị trí các phương tiện tình
thái trong câu, trong diễn ngôn qua đó mà thấy được sắc thái nội dung, ý nghĩa… tình thái trong diễn ngôn của từng ngữ cảnh
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:
6.1 Về mặt lí luận:
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, là chất liệu của văn chương, văn học
là nghệ thuật ngôn ngữ Những điều đó đã được thừa nhận một cách hiển nhiên, dường như không có gì phải bàn cãi Từ đó, nghiên cứu văn học nhất thiết không thể bỏ qua bình diện ngôn ngữ văn học, không chỉ bởi vì mọi yếu tố, mọi bình diện khác của văn học đều chỉ có thể được biểu đạt qua ngôn ngữ, mà còn vì sáng tạo ngôn ngữ là một trong những mục đích quan trọng, cũng là một phần không nhỏ trong sự đóng góp vào những giá trị độc đáo, riêng biệt của văn chương Chúng tôi hy vọng luận văn sẽ mang đến một cái nhìn sâu sắc và bao quát hơn về ngôn ngữ nói chung và từ loại Tình thái từ nói riêng trong một số truyện ngắn của Nam Cao trước 1945
Trang 116.2 Về mặt thực tiễn:
Lịch sử văn học, xét về một phương diện cũng chính là lịch sử của ngôn ngữ văn học Ngôn ngữ văn học vừa là điều kiện, lại vừa là kết quả của quá trình vận động, biến đổi của văn học qua các thời kỳ, giai đoạn Sự thay đổi hệ hình văn học cũng đi liền với sự thay đổi của hệ hình ngôn ngữ văn học, và qua đó phản ánh sự biến đổi của đời sống xã hội, của tư duy, của môi trường văn hóa tinh thần và các giá trị của quan niệm thẩm mỹ [31] Chúng tôi mong rằng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cho việc ứng dụng vào giao tiếp trong thực tế và trong quá trình dạy Tiếng Việt cũng như dạy Văn (về Nam Cao) ở trường phổ thông
Giao tiếp sẽ đạt hiệu quả cao khi biết vận dụng những phương tiện tình thái Việc giảng dạy Tiếng Việt và phân tích tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học cũng như phong cách của từng nhà văn sẽ hiệu quả hơn nếu biết phát hiện và sử dụng hệ thống phương tiện tình thái bởi nó là một trong những cơ sở để người nói tạo dựng phát ngôn cũng như để người nghe tiếp nhận và nắm bắt đúng ý định giao tiếp của người nói
7 CẤU TRÖC LUẬN VĂN:
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận văn có 3 chương
như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và tổng quan về Nam Cao
Chương 2: Hệ thống tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trước cách
mạng tháng Tám 1945
Chương 3: Công dụng của việc sử dụng tình thái từ trong truyện ngắn
Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945
Trang 12Theo Nguyễn Tài Cẩn: Tiếng độc lập, thực, chính là những yếu tố xưa nay ta thường quen gọi là thực từ [3; 33]
Theo Đinh Văn Đức: Trong bản thân ý nghĩa của mỗi từ loại, thực từ bao giờ cũng chứa đựng sự thống nhất của các nhân tố "từ vựng" và nhân tố "ngữ pháp" [14; 39]
Trong quyển "Ngữ pháp tiếng Việt" của nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội: Thực từ là từ có "nghĩa thực" (hoặc nghĩa từ vựng) về sự vật, hiện tượng, loại nghĩa mà nhờ nó có thể làm được sự liên hệ giữa các từ với sự vật, hiện tượng nhất định Ví dụ: cơm, bánh, ăn, sản xuất, ngon, giỏi, tích cực Thực từ có thể dùng làm phần đề và phần thuyết trong một nòng cốt câu Với hai thực từ đã có thể cấu tạo được một nòng cốt câu đơn Ví dụ: Xe // chạy Lúa // tốt [48; 68]
b Hư từ: Gồm Phụ từ/phó từ, quan hệ từ (giới từ, liên từ), tình thái từ (tiểu từ
tình thái, trợ từ, thán từ)
Hư từ không có chức năng định danh, không có khả năng độc lập làm thành phần câu, dùng để biểu thị các quan hệ ngữ nghĩa - cú pháp khác nhau giữa các thực
từ [54; 123]
Trang 13Hư từ dùng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp và không có ý nghĩa từ vị [47; 196] Theo Đỗ Hữu Châu: Hư từ không tồn tại độc lập nếu không có những thực từ Tuy vậy, chúng vẫn khác với các từ tố ở chỗ không gắn chặt với thực từ, chúng vẫn
có đời sống riêng giữa các thực từ, thậm chí giữa các mệnh đề nữa.Hư từ vẫn biểu thị khái niệm: đó là khái niệm về sự tương quan giữa các sự vật Bởi vậy, hư từ - là những từ - quan hệ - tuy không làm thành phần của câu nhưng rất cần thiết cho việc xây dựng câu [5; 20]
Theo Nguyễn Kim Thản: Theo nghĩa dùng trong ngôn ngữ học, hư từ là những
từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, mà chỉ có tác dụng làm công cụ ngữ pháp
để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau của các từ [40; 35]
Từ hư là những từ không có khả năng một mình tạo thành câu, không có khả năng một mình làm phần nêu hoặc phần báo trong phần chính của câu; đồng thời không có chức năng gọi tên (hoặc trỏ) sự vật, thuộc tính của sự vật, nhưng lại có chức năng làm dấu hiệu của một quan hệ ngữ pháp nào đó, một tình cảm hoặc một
theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người bản ngữ [14; 43]
Hư từ chân chính thì không thể thay thế bằng từ khác trong một văn cảnh cụ thể được Thuộc vào đây có các chỉ tố về số (những, các), các mạo từ (mọi, mỗi, từng, cái), các chỉ tố thời gian (đã, sẽ, đang, vừa, mới, từng), hệ từ (là), giới từ (cùng, bằng, với), liên từ (nếu, tuy, nên), liên giới từ (của, vì, bởi) [45; 43]
1.1.1.2 Quan điểm thứ hai: Quan điểm này chia từ loại thành 3 loại: Thực từ,
hư từ và tình thái từ
Trang 14a Thực từ (Nằm trong nòng cốt câu, làm thành tố chính): Những từ có đầy đủ
ý nghĩa từ vựng, nó là đơn vị cơ bản thực hiện chức năng gọi tên các sự vật, nó chiếm số lượng lớn Thực từ có khả năng độc lập đảm nhận các chức vụ ngữ pháp trong câu, có khả năng làm trung tâm của một cụm từ (đoản ngữ)
b Hư từ (Nằm trong nòng cốt câu, làm thành tố phụ): Những đơn vị chủ yếu
có ý nghĩa ngữ pháp, có chức năng liên kết các thực từ lại trong câu, trong phát ngôn có chức năng biểu thị mối quan hệ giữa từ này với từ khác trong dòng ngữ lưu Bản thân hư từ không có khả năng hoạt động độc lập mà phải dựa vào thực từ mới bộc lộ khả năng ngữ pháp
c Tình thái từ (Không nằm trong nòng cốt câu): Những đơn vị chủ yếu biểu
thị tình cảm, sự bình giá, sự nhận xét hoặc trạng thái cảm xúc con người đối với sự vật, hiện tượng được đề cập đến Về chức năng, tình thái từ không nằm trong các cấu trúc ngữ pháp, không tham gia thực hiện nòng cốt câu, nó tách khỏi nòng cốt câu, chúng chỉ được dùng trong câu để bày tỏ thái độ tình cảm
Lưu ý:
- Sự phân loại Thực từ - Hư từ chỉ mang tính chất tương đối
- Số lượng thực từ nhiều hơn hư từ nhưng hư từ lại có tần số sử dụng cao hơn
- Trong quá trình sử dụng, có sự chuyển hóa giữa thực từ sang hư từ và ngược lại Trong quan điểm thứ nhất chia từ loại thành 2 loại: Thực từ và Hư từ Trong
đó, các từ loại thuộc Hư từ có: Quan hệ từ, phụ từ, trợ từ, tình thái từ, thán từ Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu theo quan điểm thứ nhất, xem Tình thái từ là Hư
từ Đồng thời xem xét và nghiên cứu Tình thái từ là một từ loại có 3 tiểu loại: Trợ
từ, Tiểu từ tình thái và Thán từ
1.1.2 Các tiểu loại Tình thái từ trong Tiếng Việt:
1.1.2.1 Trợ từ:
Theo Nguyễn Minh Thuyết: Trợ từ là những từ chuyên đi kèm một từ ngữ
trong câu để nhấn mạnh hoặc biểu thị thái độ đánh giá sự vật, sự việc được nói đến
ở từ ngữ đó [49; 69]
Trang 15Theo Hà Quang Năng: Từ nhấn mạnh có chức năng nhấn mạnh nội dung ý
nghĩa của từ, cụm từ, của câu mà chúng đi kèm Từ nhấn mạnh thường đững trước
từ, cụm từ, câu như: cả, chính, đúng, chỉ, đến, ngay, những…[37; 65]
Nó ăn hai bát cơm (câu không có trợ từ)
Nó ăn những hai bát cơm
Nó ăn có hai bát cơm
Như vậy, câu đầu không có sắc thái nhấn mạnh Chỉ lưu ý câu có từ những và
từ có; những hai: Nhấn mạnh nghĩa hai là nhiều, có hai: Nhấn mạnh nghĩa hai là ít Hoặc: Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười
(Tản Đà)
Hoặc: Hai ngày sau, chính một số cảnh sát đã giải anh đi tối hôm trước lại
quay về nhà thương Chợ Quán
(Trần Đình Vân)
Theo Diệp Quang Ban: Là những từ dùng để nhấn mạnh vào một từ, một cụm
từ, một câu nào đó với nó đi kèm Trợ từ không có ý nghĩa riêng của mình [1, 342] Trợ từ dùng trong câu biểu thị ý nghĩa tình thái, bằng cách nhấn mạnh vào từ, kết hợp từ… có nội dung phản ánh liên quan với thực tại mà người nói, người viết muốn lưu ý người nghe [2, 166]
Vị trí của trợ từ thường tương ứng với chỗ ngừng hay chỗ ngắt đoạn khi phát ngôn câu Do đó, trợ từ có thể có tác dụng phân tách các thành phần câu
1.1.2.2 Tiểu từ tình thái:
Theo Hà Quang Năng: Từ tình thái là những từ làm dấu hiệu chỉ rõ mục đích
nói của câu hỏi, câu kể, câu mệnh lệnh, câu cảm thán… Từ tình thái thường đứng cuối câu biểu hiện sắc thái: cầu khiến, cảm thán, nghi vấn… bộc lộ tình cảm thái độ
người nói, người viết với sự vật hiện tượng Chúng gồm các từ như: với, đã bảo mà,
đấy nhé, đấy, nhé, đi, mau, nhanh…[36; 76]
Theo Diệp Quang Ban: Tiểu từ tình thái là những từ dùng tạo dạng cho câu
phân biệt theo mục đích nói (câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán) và bày tỏ
Trang 16quan hệ của người nói đối với nội dung câu nói hay với người nghe, có khi cả chức năng tạo câu theo mục đích nói và chức năng diễn đạt quan hệ xã hội của người nói cùng có trong một yếu tố tình thái[1; 343]
Tiểu từ tình thái có vị trí linh hoạt trong câu Chúng có thể đặt đầu câu, trong câu hay cuối câu Khi đứng trong câu, tiểu từ tình thái thường có tác dụng phân tách ranh giới các thành phần câu, tạo dạng thức các kiểu câu theo mục đích phát ngôn Những từ này tuy bao gồm một số lượng không nhiều nhưng diễn đạt những
sắc thái tình cảm, cảm xúc tế nhị, phức tạp Chúng bao gồm những từ như: à, ư, nhỉ,
nhé, chứ, vậy, đâu, chăng, ừ, ạ, hử Nhờ chúng mà người nói hay người viết có
thể bày tỏ những sắc thái tinh tế trong thái độ, tình cảm đối với người nghe người đọc hoặc đối với nội dung được nói tới Các tiểu từ tạo dạng câu theo mục đích nói
có tính chất chuyên dụng với từng kiểu câu
Nhìn chung, tính khái quát của ý nghĩa tình thái thấp, thường phải căn cứ vào nghĩa sự việc và tình huống vật lí, có khi cả tình huống xã hội – văn hóa mới nhận biết được, và có khi cũng chỉ có thể cảm nhận, khó miêu tả rạch ròi
Theo Nguyễn Thị Lương [32], trong luận án của mình, tác giả cũng đã dẫn
ra khái niệm về tiểu từ tình thái của F Keifer làm căn cứ cơ sở cho luận án như
sau: “Tiểu từ tình thái là những tiểu từ có hiệu lực tạo tính tình thái” Tác giả cũng
đã tổng hợp và chia chúng thành 3 nhóm chính:
- Các tiểu từ như: à, ư, nhỉ, thường có hiệu lực tạo tình thái nghi vấn, tạo
câu hỏi cần có sự giải đáp
- Các tiểu từ như: đi, nào, thôi… thường có hiệu lực tạo tính tình thái cầu
khiến, bày tỏ mong muốn của người phát ngôn đối với người nghe
- Các tiểu từ như: thay, thật… thường có hiệu lực bộc lộ trạng thái, cảm xúc
của người phát ngôn
Những nghiên cứu và cách định nghĩa trên đây của các tác giả cho thấy, vấn
đề định nghĩa của tiểu từ tình thái vẫn còn chưa thống nhất Thật khó để đưa ra một định nghĩa chính xác cho các tiểu từ tình thái câu tiếng Việt Song tựu chung lại, chúng ta có thể nhận xét chung về tiểu từ tình thái như sau:
Trang 17Tiểu từ tình thái là những đơn vị từ vựng không biểu thị sự vật, hiện tượng của thực tại, mà chỉ biểu thị thái độ, tình cảm của người nói với hiện thực được nói đến trong câu và với người nghe
Trong khi sử dụng chúng thường gắn liền với một ngữ điệu hay cử chỉ, nét
mặt, điệu bộ của người nói Các thán từ có thể dùng để gọi đáp ơi, vâng, dạ, bẩm,
thưa, ừ, ; có thể dùng để bộc lộ cảm xúc vui mừng, ngạc nhiên, đau đớn, sợ hãi,
tức giận ôi, trời ơi, ô, ủa, kìa, ái, ối, than ôi, hỡi ôi, eo ôi, ôi giời ôi, Có thể nói,
chúng dùng để bộc lộ những cảm xúc đột ngột, mạnh mẽ thuộc các loại khác nhau
Ô hay! Sao lại vất thang lại thế này?
(Trần Đăng)
Ồ, sao mà ngu si làm vậy?
(Chu Văn)
Theo Hà Quang Năng: Từ cảm thán bộc lộ cảm xúc người nói, làm dấu hiệu
chỉ dẫn những xúc cảm con người mà thôi, vì thế không làm thành phần trong câu, trong cụm từ mà nó tách ra làm một bộ phận riêng khỏi câu Vì thế có rất nhiều trường hợp thán từ đứng riêng làm nhiệm vụ của câu đặc biệt [36, 122]
- Giời ơi là giời!
(Nam Cao)
- Vẽ chuyện!
(Nam Cao)
Theo Diệp Quang Ban: Thán từ là từ - tín hiệu phản ánh các trạng thái tâm -
sinh lí Chúng gần với tiếng kêu tự phát nhiều hơn Thán từ có nét riêng về cú pháp
là nó có thể một mình làm thành một câu riêng, hoặc là một vế câu cùng với vế câu khác chỉ sự việc làm hành một câu ghép [1, 347] Trong một câu ghép như vậy, thông thường về câu chỉ sự việc có tác dụng giải thích lí do của sự cảm thán, như trong vế câu cảm thán được in đậm
Trang 18- Ôi, đau quá
Về cấu tạo, có thể chia thán từ ra thành 3 nhóm:
Thán từ gần nguyên dạng
Thán từ không nguyên dạng
Thán từ gọi – đáp
1.2.2.4 Phân biệt Trợ từ, Tiểu từ tình thái, Thán từ:
Trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ có những điểm giống nhau:
Tất cả chúng đều không mang nghĩa từ vựng chân thực
Chúng không xuất hiện trong cụm từ với tư cách là thành tố trung tâm hoặc là thành tố phụ hay liên kết
Chúng có khả năng xuất hiện ở cấp độ câu để tạo các ý nghĩa thuộc về thái độ đánh giá
Tuy vậy, chúng có những điểm khác nhau:
Thán từ có khả năng đứng độc lập với tư cách là câu đặc biệt; đứng ở đầu câu, trước cụm C – V để làm thành phần phụ cho cả câu Còn trợ từ, tiểu từ tình thái không có khả năng này Trợ từ, tiểu từ tình thái phải luôn đi với từ khác thì mới phát huy tác dụng
Thán từ đứng độc lập làm câu đặc biệt: (Thán từ bộc lộ cảm xúc người nói, làm dấu hiệu chỉ dẫn những xúc cảm con người mà thôi, vì thế không làm thành phần trong câu, trong cụm từ mà nó tách ra làm một bộ phận riêng khỏi câu Vì thế
có rất nhiều trường hợp thán từ đứng riêng làm nhiệm vụ của câu đặc biệt)
Ví dụ:
Ôi thôi thôi!
Chùa Tân Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ
(Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) Thán từ đứng đầu câu với tư cách là thành phần phụ của cả câu:
Thôi, chuyện cũ bỏ đi
(Hồ Biểu Chánh, Cha con nghĩa nặng)
Trang 191.2 NGHĨA TÌNH THÁI:
1.2.1 Một số quan điểm nghiên cứu tiên phong về tình thái:
1.2.1.1 O Jespersen (1949), khi bàn về tình thái, đã nhận xét về các thức
tường giải/trực thuyết, giả định và cầu khiến trong cuốn “A Modern English
Grammar on Historical Principles I - IV, London and Copenhagen” như sau:
"Chúng biểu thị những thái độ nhất định của người nói hướng về nội dung của câu,
dù rằng, trong một số trường hợp, sự lựa chọn thức được quyết định không phải bởi thái độ của người nói mà bởi đặc điểm của bản thân mệnh đề và mối quan hệ của nó với chuỗi (mệnh đề) liên hệ chính mà nó lệ thuộc vào" Theo nhận xét của F Palmer, những đề xuất của O Jesperson là ít quan trọng về mặt lý thuyết, ngoại trừ nhận thức của ông về hai loại "thức":
a Nhóm bao gồm yếu tố ý chí:
- Cầu khiến: Đi đi!
- Ép buộc: Nó buộc phải đi
- Nghĩa vụ: Nó phải đi/Chúng ta phải đi
- Khuyên bảo: Anh nên đi
- Khẩn cầu: Làm ơn đi cho!
- Khích lệ: Hãy để chúng tôi đi
- Cho phép: Anh có thể đi, nếu muốn
- Hứa hẹn: Tôi sẽ đi/Sẽ ổn thôi
- Mong mỏi (có thể thực hiện được): Mong cho nó vẫn sống
- Ước vọng (không thể thực hiện được): Giá mà nó vẫn còn sống
Trang 20- Hồ nghi: Có lẽ là nó giàu
- Khả năng: Nó có thể nói
- Điều kiện: Nếu nó giàu
- Giả thiết: Giá nó giàu
- Nhượng bộ: Dù nó giàu
Thực ra, O Jespersen cũng đã chỉ rõ "thức" là một sự phân loại của ngữ pháp
1.2.1.2 V Wright (1951), trong một công trình có tính khai sáng về logic tình
thái, đã phân chia tình thái thành bốn loại:
Tình thái hiện thực (the alethic modes);
Tình thái nhận thức (the epistemic modes);
Tình thái trách nhiệm (the deontic modes);
Tình thái tồn tại (the existential modes)
Điều đáng lưu ý ở đây là sự phân biệt giữa tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm Sự phân biệt này có thể được minh hoạ bằng sự so sánh cặp đôi các
cách sử dụng “may” và “must” trong tiếng Anh như:
a1 John may be there by now (Có lẽ lúc này John đang ở đó);
a2 You may come in now (Bây giờ anh có thể vào được);
b1 John must be there by now (John chắc là đã ở đó lúc này);
b2 You must come in now (bây giờ anh phải vào)
Tuy “may” biểu thị khả năng, nhưng “may” ở a2 còn diễn tả ý nghĩa "được phép", "cho phép" (làm một việc gì) Tương tự, “must” ở b1 khác với “must” ở b2 ở chỗ trong khi “must” ở b1 diễn tả khả năng (possibility) hay có sự suy đoán logic thì “must” ở b2 mang hàm nghĩa bắt buộc Do đó “may” a1 và “must” b1 biểu thị tình thái nhận thức, còn “may” a2 và “must” b2 biểu thị tình thái trách nhiệm Hai
loại tình thái trên đây được coi là quan trọng và phổ biến trong các ngôn ngữ khác nhau nên hầu như công trình nào nghiên cứu về tình thái sau này đều đề cập và phân tích về chúng một cách khá chi tiết
1.2.1.3 N Rescher (1969), trong giới hạn của khung logic được trình bày
trong cuốn “Topics in philosophical logic”, đã đề nghị một hệ thống mở về tình
Trang 21thái Những nhận xét của ông về các loại tình thái được mở đầu bằng câu: "Một phán đoán được trình bày bằng một câu thường thuật Cái mà được nhận thức như một tổng thể, sẽ là đúng hoặc sai”
Ví dụ: The cat is on the mat (Con mèo ở trên tấm thảm)"
Và khi một phán đoán như vậy tham gia vào một kết cấu lớn hơn cùng loại một lần nữa tự nó là một phán đoán, thì kết cấu lớn hơn này được xem như đại diện cho một tình thái đối với phán đoán gốc như: X believes "the cat mat" Cách hiểu như vậy về tình thái tạo ra nhiều vấn đề về mặt lý luận Bên cạnh các loại tình thái hiện thực, nhận thức, trách nhiệm, ông đề cập đến các loại tình thái biểu thời (temporal), tình thái vọng cảm (boulomaic), tình thái đánh giá (evaluative), tình thái nguyên nhân (causal) và tình thái điều kiện (conditional)
1.2.1.4 J.R Searle (1979) là người đã phát triển nội hàm khái niệm tình thái
lên một bước mới Sự tiếp cận của Searle hướng đến vấn đề hành vi ngôn ngữ Sự tiếp cận này cung cấp một khung ngữ nghĩa hữu ích cho việc thảo luận về tình thái
Lý thuyết hành vi ngôn ngữ quan tâm tới mối quan hệ giữa người nói và cái mà anh
ta nói Mối quan hệ này, như đã biết, chứa đựng rất nhiều vấn đề nội dung tình thái Chẳng hạn, hành vi khẳng định (assertive) được mô tả theo phương diện lòng tin (belief) Nhưng, mức độ của “lòng tin” có thể ở mức zero Nội dung này liên quan đến tình thái nhận thức Hay, loại chi phối (directive) có sự tương ứng rất lớn với tình thái trách nhiệm Có thể nói rằng, cái mà Searle gọi là "khẳng định" và "chi phối" thực sự là trung tâm của bất kỳ sự thảo luận nào về tình thái Đối với ba loại còn lại thì loại cam kết (commissive) không có sự phân biệt rõ ràng với loại chi phối (directive) vì chúng đều có khuynh hướng “sẽ thực hiện một cái gì đó" Loại này chỉ khác với loại trên ở chỗ là người nói "cam kết" làm, còn loại dưới là người nghe "phải" làm Do vậy, hai loại này cùng nằm trong phạm vi tình thái trách nhiệm Loại biểu cảm (expressive) tương ứng với phạm trù tình thái đánh giá (evaluative) của Rescher Có rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đánh giá là một phạm trù tình thái Chẳng hạn Volf, E.M (1985) đã nhận xét rằng "có thể xem đánh giá như là một trong những dạng của tình thái, tức là cái được đặt chồng thêm
Trang 22cho một nội dung mô tả trong sự thể hiện bằng ngôn ngữ" Theo Arutiunova (1988), thì “đánh giá "được coi là biểu hiện rõ ràng nhất của nghĩa ngữ dụng" [3, 62] Loại tuyên bố (declaration) tương đối giống loại khẳng định về phương diện hiệu lực tại lời Nói tóm lại, qua hệ thống phân loại các hành vi tại lời của Searle,
có thể nhận thấy rằng có một sự tương hợp giữa các hành vi tại lời với các phạm trù tình thái Điều này tạo ra những tiền đề lý thuyết cho việc nghiên cứu về khung tình thái trong mối tương quan với nội dung mệnh đề, một mối tương quan có tính thống nhất và tính phân loại [22, 83]
1.2.1.5 T Givón (1993) diễn đạt quan niệm của ông về tình thái khá ngắn
gọn: "Tình thái biểu thị thái độ của người nói đối với phát ngôn" Theo ông, thái độ bao gồm hai loại đánh giá của người nói về thông tin của phát ngôn được chuyển tải qua nội dung mệnh đề:
Những đánh giá nhận thức về tính hiện thực, khả năng, lòng tin, sự chắc chắn hay bằng chứng;
Những đánh giá giá trị về ước muốn, sự ưa thích, ý định, năng lực, sự ràng buộc hay sự điều khiển
Cũng theo T Givón, bốn tiểu loại chính của tình thái nhận thức sau đây được thể hiện rõ nét nhất trong ngôn ngữ của nhân loại:
- Tiền giả định (presupposition);
- Xác nhận hiện thực (realis assertion);
- Xác nhận phi hiện thực (irrealis assertion);
- Xác nhận phủ định (negative assertion)
Theo W Frawley (1992), "Phạm vi ngữ nghĩa liên quan đến vị thế hiện thực của phát ngôn là tình thái" Tình thái ảnh hưởng tới toàn bộ nội dung của một sự diễn đạt nào đó Và như vậy, nó liên quan đến toàn bộ phán đoán Tình thái gợi lên không chỉ các mức độ nhận thức khách quan về hiện thực, mà cả các thái độ và sự định hướng chủ quan đối với nội dung của sự biểu đạt Frawley cho rằng "hiện thực" (realis) và "phi hiện thực" (irrealis) là hai thuộc tính cơ bản của tình thái, tương tự như nhận xét của M.A.K Halliday Ông cũng cho rằng, ba lớp tình thái thường được nói tới trong tất cả các ngôn ngữ là:
Trang 23- Sự phủ định (tình thái phủ định) được cấu thành bởi sự tách rời giữa thế giới được biểu đạt và thế giới tham chiếu (the expressed world and the reference world);
- Tình thái nhận thức bao gồm sự hội nhập tiềm tàng giữa thế giới được biểu đạt và thế giới tham chiếu;
- Tình thái trách nhiệm quan tâm đến sự hội nhập bắt buộc giữa thế giới biểu thị và thế giới tham chiếu
1.2.1.6 F Palmer: Theo Palmer, tình thái là một hiện tượng ngữ nghĩa còn
thức (mood) là một hiện tượng ngữ pháp Sự khác biệt giữa chúng cũng giống như
sự khác biệt giữa thời gian (time) và thì (tense), giữa giới tính (sex) và giống (gender) Palmer đã định nghĩa tình thái như là thông tin ngữ nghĩa gắn kết với thái
độ và ý kiến của người nói về nội dung được nói Các nội dung tình thái được Palmer đề cập rất đa dạng Nhưng trọng tâm vẫn là tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm Theo Palmer, tình thái nhận thức được chia thành hai lớp cơ bản: đánh giá (judgement) và bằng chứng (evidence) Tình thái đánh giá gồm tất cả các khái niệm nhận thức, tính khả năng và sự cần thiết Ông còn phân lớp tình thái đánh giá dựa vào mức độ tin tưởng mà người nói có trong khi khẳng định thành hai tiểu lớp: đánh giá sự cần thiết và đánh giá khả năng Mỗi tiểu loại trên, theo thứ tự, dựa vào suy luận (inference) và xác tín hay đánh giá mạnh yếu Ông cho rằng, các ngôn ngữ, xét về kiểu dạng, có thể là thiên về đánh giá, thiên về bằng chứng, hoặc pha trộn cả
hai Chẳng hạn, tiếng Anh là ngôn ngữ cơ bản thiên về đánh giá Trong khi tình thái
nhận thức được liên hệ với lòng tin, tri thức, sự thật trong mối quan hệ với phát ngôn, thì tình thái trách nhiệm lại được liên hệ với hành động Tình thái trách nhiệm thường có một thuộc tính quan trọng, đó là tính phi thực hữu (non - factual) F Palmer cũng đã đề xuất một loại tình thái thứ ba là tình thái “dynamic” (có thể tạm dịch là tình thái động, tình thái linh hoạt hoặc tình thái trạng huống) như là một dạng trung gian giữa tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm, một dạng tình thái
có tính "tình huống"
Ví dụ:
- You must come here at once (Anh phải đến đây ngay);
Trang 24- You must go now if you wish to catch the bus (Anh phải đến ngay nếu anh muốn đón được chuyến xe buýt)
Ở ví dụ thứ hai, người nói đề cập đến việc người nghe phải làm một việc, nhưng việc đó có tính bắt buộc hay không lại tuỳ thuộc vào người nghe “Đi” hay
“không đi” ở đây được đặt vào trong một tình huống liên quan với việc nội dung mệnh đề đi sau có mang tính hiện thực hay không [39, 17]
1.2.2 Phân biệt nghĩa tình thái và nghĩa miêu tả của câu:
1.2.2.1 Nghĩa miêu tả của câu (nghĩa sự việc)
Nghĩa miêu tả của câu là thành phần nghĩa ứng với sự việc mà câu đề cập đến
sự việc trong hiện thực khách quan rất đa dạng và thuộc nhiều loại khác nhau Do
đó, câu cũng có những nghĩa sự việc khác nhau [51, 8]
Câu biểu hiện hành động:
Xuân Tóc Đỏ cắt đặt đâu vào đấy rồi mới xuống chỗ những người đi đưa
(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)
Câu biểu hiện trạng thái, tính chất, đặc điểm:
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
(Nguyễn Khuyến, Vịnh mùa thu)
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
(Hồ Xuân Hương, Tự tình – bài II)
Câu biểu hiện quá trình:
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
(Nguyễn Khuyến, Câu cá mùa thu)
Câu biểu hiên tư thế:
Lom khom dưới núi tiều vài chú
(Bà Huyện Thanh Quan, Qua đèo ngang)
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Câu biểu hiện sự tồn tại:
Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử
Trang 25Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi
(Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thói đời)
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Câu biểu hiện quan hệ:
Đội Tảo là một tay vai vế trong làng
(Nam Cao, Chí Phèo)
Ngựa xe như nước áo quần như nêm
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Nghĩa sự việc của câu thường được biểu hiện nhờ những thành phần ngữ pháp như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ và một số thành phần phụ khác Một câu
có thể biểu hiện một sự việc, cũng có thể biểu hiện một số sự việc [51, 8]
1.2.2.2 Nghĩa tình thái của câu
Nghĩa tình thái là một lĩnh vực phức tạp, gồm nhiều khía cạnh khác nhau, có thể thấy ở các trường hợp dưới đây:
a Sự nhìn nhận, đánh giá và thái độ của người nói với sự việc được đề cập đến trong câu:
Khi đề cập đến sự việc nào đó, người nói không thể không bộc lộ thái độ, sự đánh giá của mình với sự việc đó Đó có thể là sự tin tưởng chắc chắn, sự hoài nghi,
sự phỏng đoán, sự đánh giá cao hay thấp, tốt hay xấu, sự nhấn mạnh hoặc coi nhẹ,… đối với sự việc Một số ví dụ (từ ngữ thể hiện nghĩa tình thái được in đậm): Khẳng định sự chân thật của sự việc:
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước việt nam từ tay Nhật, chứ không phải từ
tay Pháp
(Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)
Phỏng đoán sự việc với độ tin cậy cao hoặc với độ tin cậy thấp:
Khi Chí Phèo mở mắt thì trời sáng đã lâu Mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ
(Nam Cao, Chí Phèo)
Trang 26Hình như trong ý mụ, mụ nghĩ: chúng mày ở nhà của tao, thì những thứ của
chúng mày cũng như của tao
(Kim Lân, Làng)
Đánh giá về mức độ hay đối với một phương diện nào đó của sự việc:
Tôi xin thề với ông rằng, tuy chính phủ có cho tôi hai trăm mẫu đồn điền thật, nhưng tôi mất theo vào cái ấy có đến sáu vạn bạc, mà vẫn chưa thu về một xu nào cả
(Vũ Trọng Phụng, Giông tố)
Với lại, đêm họ chỉ mua bao diêm hay gói thuốc là cùng
(Thạch Lam, Hai đứa trẻ)
Đánh giá sự việc có thực hay không có thực, đã xảy ra hay chưa xảy ra:
Giá thử đêm qua không có thị thì hắn chết
(Nam Cao, Chí Phèo)
Hắn nhạt một hòn gạch vỡ, toan đập đầu
(Nam Cao, Chí Phèo)
Khẳng định tính tất yếu, sự cần thiết hay khả năng của sự việc:
Trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi
(Trường Chinh) Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do độc lập thì trước hết dân
Việt Nam phải có đoàn thể đã Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền
bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này
(Phan Chu Trinh, Đạo đức và luân lí Đông Tây)
Tao không thể là người lượng thiện nữa
(Nam Cao, Chí Phèo)
b Tình cảm, thái độ của người nói với người nghe:
Người nói thể hiện rõ thái độ, tình cảm đối với người nghe thông qua các từ ngữ xưng hô, từ ngữ cảm thán, từ tình thái ở cuối câu, …
Tình cảm thân mật, gần gũi:
Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé
(Thạch Lam, Hai đứa trẻ)
Trang 27Cái chõng này sắp gãy rồi chị nhỉ?
(Thạch Lam, Hai đứa trẻ)
Thái độ bực tức, hách dịch:
Mẹ cha chúng nó! Hôm nay vẫn chưa đóng thuế, chúng nó định để tội vạ cho ai? Được! Cứ bướng đi, ông mà bắt hết trâu bò bán ráo!
(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)
Cầm lấy mà cút đi cho rảnh Rồi làm mà ăn chứ cứ báo người ta mãi à?
(Nam Cao, Chí Phèo)
Thái độ kính cẩn:
Thưa lạy hai cụ, nhà con túng quá, xin hai cụ cứu giúp con
(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)
Thưa cụ, thật quả cháu đã lên bẩy, nó đẻ tháng dần năm Tý Chúng con không
dám nói dối thưa cụ!
(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)
Như vậy, nghĩa tình thái thể hiện thái độ, sự đánh giá của người nói đối với sự việc hoặc đối với người nghe Nó có thể được bộc lộ riêng qua các từ ngữ tình thái trong câu [51, 19]
1.2.3 Các loại nghĩa tình thái:
1.2.3.1 Phân biệt tình thái chủ quan – tình thái khách quan:
Theo M.V Liapon chia ý nghĩa tình thái ra thành hai loại:
a Tình thái khách quan: Thể hiện mối quan hệ giữa cái được thông báo với
thực tế ở bình diện hiện thực tính và phi hiện thực tính Tình thái khách quan là dấu hiệu tất yếu của một phát ngôn bất kỳ
Lôgic học quan tâm đến tình thái bởi nó quan tâm đến tính đúng/sai hay thực cách của mệnh đề được biểu thị trong câu nói Tình thái lôgic học được gợi là tình thái khách quan
Khái niệm tình thái khách quan phản ánh cái nhìn của logic học về nội dung câu Theo đó, các phán đoán mà câu biểu thị được phân nhóm dựa trên ba tiêu chí là
tính khả năng, tính tất yếu và tính hiện thực Phán đoán khả năng phản ánh xác suất
Trang 28có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào đó (Predicate) ở đối tượng (Subject) của phán đoán, tức đối tượng có thể mang đặc trưng đó ít nhất trong một thế giới
khả hữu (possible world) nào đó; phán đoán tất yếu phản ánh đặc trưng đó trong mọi thế giới khả hữu; phán đoán hiện thực đơn thuần xác nhận sự có mặt hay vắng
mặt của đặc trưng được gán cho đối tượng Đi vào chi tiết hơn, ta thấy tính khả
năng, tính tất yếu hay tính hiện thực được nêu ra ở khái cạnh nhận thức, dựa trên bằng chứng hay suy luận, hoặc ở khía cạnh đạo nghĩa, dựa trên những ràng buộc về
quyền và nghĩa vụ
- Hai cộng hai là bốn
- Mặt trời mọc đằng đông, lặn đằng tây
Tình thái khách quan, như vậy, chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất giữa phán đoán với hiện thực, mang tính khách quan, bản thể và được coi như một đặc trưng nội tại của cấu trúc chủ từ - vị từ logic, gạt bỏ mọi nhân tố chủ quan như ý chí, sự đánh giá, mức độ cam kết, thái độ hay lập trường của người nói Người nói chỉ trình bày lại hiện thực một cách khách quan, như nó vốn có mà thôi Có thể thấy, tình thái khách quan loại trừ vai trò của người nói
b Tình thái chủ quan: Là quan hệ của người nói với điều được thông báo, là
dấu hiệu không bắt buộc của một phát ngôn [32]
Đối lập với của người nói đối với tình thái khách quan là tình thái chủ quan, loại tình thái thể hiện vai trò điều được nói ra trong câu Về cơ bản, cũng dựa trên những phạm trù của tình thái khách quan (tính tất yếu, tính khả năng, tính hiện thực) nhưng ở đây, người nói hoặc trưng ra những bằng chứng, suy luận có tính cá nhân, làm cơ sở cho một cam kết nào đó đối với tính chân thực của điều được nói ra trong câu (khía cạnh nhận thức) hoặc thể hiện thái độ của mình đối với hành động được
đề cập đến trong câu (khái cạnh đạo nghĩa) [22, 98]
Nếu trong hệ thống tình thái khách quan, dựa trên những tham số về tính tất yếu, tính khả năng, tính hiện thực, quan hệ giữa chủ thể và vị thể được qui về một
số nhóm cơ bản, được coi là mang tính bản thể, khách quan, loại trừ vai trò của người nói thì trong hệ thống tình thái chủ quan, vai trò của người nói được đặc
Trang 29biệt nhấn mạnh Với tư cách là chủ thể tri nhận và đánh giá tình thái, người nói thể hiện những cách đánh giá và cam kết tình thái theo một thang độ rất rộng vì thế phổ nội dung tình thái chủ quan phogn phú hơn nhiều so với phổ nội dung tình thái khách quan Chẳng hạn, đối với nhà lôgic học, vốn chỉ quan tâm đến tình thái khách quan, thì hai câu sau đây là thống nhất, theo nghĩa chúng đều thuộc phạm vi tình thái khả năng:
(a) Có lẽ anh ấy về rồi
(b) Nghe đâu anh ấy về rồi
Tuy nhiên, nếu xét theo góc độ tình thái chủ quan, có thể thấy sự khác biệt trong cam kết tình thái giữa hai câu trên đây: Trong câu (a) người nói đưa ra một
cam kết có mức độ về tính chân thực nội dung mệnh đề dựa trên những suy đoán; còn trong câu (b) cam kết có mức độ của người nói lại dựa trên bằng chứng tin đồn
Dĩ nhiên, bằng chứng khác nhau thì xác suất hay khả năng hiện thực của các nội dung mênh đề trong câu nói sẽ khác nhau
1.2.3.2 Phân biệt tình thái của hành động phát ngôn – tình thái lời phát ngôn
Theo Jean Louis Chiss, Jacques Filliolet, Dominique Maingueneau thống nhất phân chia tình thái ngôn ngữ ra làm ba loại như sau:
- Tình thái của hành động phát ngôn (La modalité d' énonciation)
- Tình thái của lời phát ngôn (La modalité d' énoncé)
- Tình thái của thông báo (La modalité de message) [8]
Theo Cao Xuân Hạo phân biệt hai loại tình thái khác nhau:
- Tình thái của hành động phát ngôn ( La modalité d' énonciation): Tình thái này sẽ bộc lộ đầy đủ khi ta xét đến tình huống sử dụng Tình thái của hành động phát ngôn thuộc lĩnh vực dụng pháp
- Tình thái của lời phát ngôn (La modalité d' énoncé): Liên quan đến thái độ của người nói đối với điều mình nói ra hoặc đến quan hệ giữa sở đề và sở thuyết của mệnh đề Loại tình thái này thuộc bình diện nghĩa học [18, 51].Các loại tình thái chủ yếu của hành động phát ngôn gồm: Tình thái nghi vấn, tình thái cầu khiến, tình thái cảm thán và tình thái trần thuật Các loại tình thái chủ yếu của lời phát
Trang 30ngôn gồm: Tình thái khách quan và tình thái chủ quan Tình thái khách quan là dấu hiệu tất yếu của một phát ngôn, thể hiện mối quan hệ giữa cái được thông báo với hiện thực khách quan Trong ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tình thái khách quan được thể hiện qua các từ tình thái gắn liền với vị ngữ Tình thái chủ quan thể hiện ở quan hệ của người nói đối với điều được thông báo và quan hệ giữa người nói đối với người nghe Nó chủ yếu được thể hiện bởi các trợ từ tình thái trong câu
Có thể thấy rằng, cách phân loại của Cao Xuân Hạo thể hiện một quan điểm rất rộng về tình thái, cho phép người nghiên cứu có thể xử lí rất nhiều hiện tượng ngôn ngữ khác nhau trong một khung thống nhất là tình thái
1.3 KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA NAM CAO
1.3.1 Khái quát về cuộc đời Nam Cao: Nam Cao (1917 - 1951) tên khai
sinh là Trần Hữu Tri, sinh trong một gia đình nông dân ở làng đại hoàng, tổng Cao
Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân), tỉnh Hà Nam Học hết bậc thành chung, Nam Cao vào Sài Gòn kiếm sống và bắt đầu sáng tác Sau hơn ba năm, vì ốm đau, ông phải trở về quê Sau đó, ông dạy học ở một trường tư thục ở ngoại ô Hà Nội
Đầu năm 1943, ông tham gia nhóm Văn hóa cứu quốc ở Hà Nội Bị địch khủng
bố gắt gao, ông lánh về quê rồi tham gia khởi nghĩa (tháng 8 - 1945) ở phủ Lí Nhân Năm 1946, với tư cách là phóng viên mặt trận, ông có mặt trong đoàn quân Nam tiến vào đến Nam Trung Bộ
Mùa thu 1947, ông lên Việt Bắc công tác báo chí, tuyên truyền phục vụ kháng chiến
Năm 1950, ông tham gia chiến dịch Biên giới
Tháng 11 năm 1951 trên đường vào công tác ở vùng địch hậu Liên khu III, ông bị giặc Pháp phục kích và sát hại
Con người Nam cao bề ngoài có vẻ lạnh lùng, vụng về, ít nói, nhưng đời sống nội tâm lại rất phong phú, luôn sôi sục, có khi căng thẳng Bình sinh, Nam Cao thường day dứt, hối hận, lấy làm xấu hổ về những việc làm, những ý nghĩ mà ông tự
Trang 31thấy là tầm thường của mình Ông luôn nghiêm khắc đấu tranh với chính mình để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ nhen, khao khát vươn tới “tâm hồn trong sạch và
mơ ước tới cảnh sống, những con người thật đẹp” Giá trị to lớn của sáng tác nam cao nhất là những tác phẩm viết về người trí thức nghèo, gắn liền với cuộc đấu tránh bản thân trung thực, âm thầm mà quyết liệt trong suốt cuộc đời cầm bút của ông
Nam Cao là người có tấm lòng thật đôn hậu, chan chứa tình yêu thương Ông gắn bó sâu nặng, giàu ân tình với quê hương và những người dân nghèo khổ bị áp bức, khinh miệt trong xã hội cũ Ông quan niệm, không có tình thương đồng loại thì
không đáng gọi là người (Đời thừa) Đó chính là một trong những lí do dẫn Nam
Cao đên với con đường nghệ thuật hiên thực “vị nhân sinh” và tạo nên những tác
phẩm thấm đượm tư tưởng nhân đạo sâu sắc
1.3.2 Sự nghiệp văn chương:
1.3.2.1 Quan điểm nghệ thuật: Quan niệm sáng tác nghệ thuật của Nam
Cao được thể hiện thống nhất trong các sáng tác của ông Nhận xét về Nam Cao,
Nguyễn Hoành Khung cho rằng: “Trước cách mạng, Nam Cao không trực tiếp
phát biểu về quan điểm nghệ thuật lần nào, nhưng qua những ý kiến gửi gắm rải rác trong các trang truyện, ta thấy quan điểm nghệ thuật của nhà văn được thể hiện khá hệ thống, nhất quán và nhất là khá tiến bộ” [34, 76] Tìm hiểu những ý
kiến tuy rải rác nhưng hệ thống và nhất quán ấy sẽ cho chúng ta hiểu được quan điểm sáng tác của Nam Cao, đặc biệt là sẽ nhận thấy sự gần gũi giữa quan điểm của ông với các nhà kinh điển về chủ nghĩa hiện thực
Nghệ thuật phải bám sát cuộc đời, gắn bó với với đời sống của nhân dân lao động, theo Nam Cao thì nhà văn không chạy theo cái đẹp, cái thơ mộng, quay
lưng với hiện thực rồi viết ra những lời giả dối, phù phiếm: "Nghệ thuật không
cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than " (Trăng sáng), người
cầm bút không được trốn tránh sự thực mà phải "đứng trong lao khổ, mở hồn ra
đón lấy tất cả những vang động của đời " (Trăng sáng)
Trang 32Nhà văn phải có đôi mắt của tình thương, tác phẩm văn chương hay, có giá trị
phải chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc "Tác phẩm ấy phải là một tác phẩm
chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng một cái gì đó vừa lớn lao, vừa mạnh
mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi, nó ca tụng tình thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm cho người gần người hơn" (Đời Thừa)
Văn chương nghệ thuật là lĩnh vực đòi hỏi phải khám phá tìm tòi sáng tạo,
không chấp nhận sự rập khuôn và sự dễ dãi: "Văn chương không cần đến những
người thợ khéo tay chỉ biết làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có" (Đời Thừa)
Lao động nghệ thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu; người cầm bút phải có lương tâm, Nam Cao cho rằng, viết cẩu thả chẳng những là “bất lương” mà
còn là “đê tiện”, “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi
Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” (Đời Thừa)
Sau cách mạng tháng Tám, Nam Cao tích cực tham gia kháng chiến, sẵn sàng
hi sinh thứ “nghệ thuật cao siêu” của mình với ý nghĩ: lợi ích của dân tộc là trên hết Tuy ấp ủ hoài bão sáng tác nhưng ông vẫn tận tụy trong mọi công tác phục vụ khasngh chiến với quan niệm “sống đã rồi hãy viết”, “góp sức vào coogn việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn”
Giọng văn tỉnh táo, sắc lạnh mà nặng trĩu suy tư; buồn thương chua chát mà đằm thắm yêu thương; ngôn từ sống động, tinh tế mà giản dị, gần gũi
Trang 331.3.2.3 Tác phẩm tiêu biểu: Nam Cao đã để lại cho đời sống văn học hơn 60
tác phẩm, có thể chia làm hai giai đoạn
a Trước cách mạng tháng Tám:
Viết về người trí thức: Đáng chú ý là các truyện ngắn Trăng sáng (1942), Đời thừa (1943), Những truyện không muốn viết (1940), Nước mắt (1943), Mua nhà (1943), Quên điều độ (1943), Cười (1943),… và tiểu thuyết Sống mòn (1944)
Viết về người nông dân: Tiêu biểu là các tác phẩm Chí Phèo (1941), Lão Hạc (1943), Tư cách mõ (1943), Một bữa no (1943), Dì Hảo (1941), Trẻ con không được ăn thịt chó (1942),…
b Sau cách mạng tháng Tám:
Đôi mắt (truyện ngắn, 1948), Ở rừng (nhật kí, 1948), Truyện biên giới (kí sự, 1951) Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn Sáng tác của ông đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách lại càng sáng ngời Thời gian càng lùi xa, những tác phẩm của ông lại càng bộc lộ ý nghĩa hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo Ông có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam trên quá trình hiện đại hóa ở nửa đầu thế kỉ XX [50, 141] Nhiều truyện ngắn của ông được xem như là khuôn thước cho thể loại này Đặc biệt một số nhân vật của Nam Cao trở thành những hình tượng điển hình,
được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày
1.4 TIỂU KẾT:
Một số vấn đề căn bản, bước đầu làm tiền đề cho quá trình nghiên cứu về hư từ tình thái trong ngôn ngữ truyện ngắn của Nam Cao đã được chúng tôi trình bày trong chương này
Trước hết, về các quan điểm về phân chia từ loại và lý thuyết về chúng, chúng tôi đã trình bày lại một số điểm cơ bản của lí thuyết này của các nhà nghiên cứu có
uy tín trong giới Việt ngữ học mà theo chúng tôi, có liên quan đến đề tài, và khẳng định từ loại Tình thái từ cùng các tiểu loại là từ loại thuộc hư từ tình thái
Trang 34Thứ hai, chúng tôi đã đi sâu vào trình bày những lý thuyết về Tình thái từ cùng các tiểu loại với các ví dụ cụ thể
Thứ ba, chúng tôi trình bày một số vấn đề quan điểm tiên phong về tình thái, phân biệt các loại nghĩa tình thái (nghĩa tình thái với nghĩa của câu, tình thái chủ quan với tình thái khách quan, tình thái của hành động phát ngôn – tình thái lời phát ngôn) dưới cách nhìn nhận của ngữ dụng học
Cuối cùng, khái lược về Nam Cao với tiểu sử, thành tựu trong sự nghiệp văn học, quan điểm sáng tác, phong cách sáng tác cùng với những tác phẩm tiêu biểu Những vấn đề lý thuyết được trình bày trên đây là cơ sở cho chúng tôi triển khai nhiệm vụ chính của luận văn
Trang 35chú
Số lượng
Tỉ lệ (%)
1 à Rồi làm mà ăn chứ cứ báo người ta mãi à 2 0.34
2 ạ Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ 21 3.54
3 ấy Cụ vẫn tự phụ hơn đời cái cười Tào Tháo ấy 23 3.87
5 bao giờ bởi lẽ rất giản dị là thị chưa thấy ai phạm đến thị bao giờ 7 1.18
7 biết bao
Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao
8 1.35
Trang 3617 chán Cho có xộc xệch nữa cũng còn rẻ chán 1 0.17
19
chẳng
hạn kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn 1 0.17
20 chứ Cả các ông, các bà nữa, về đi thôi chứ! 4 0.67
24 có thế Thứ thuốc bách bệnh của con nhà nghèo chỉ gồm có thế 1 0.17
29 đâu Đời người chứ có phải con ngoé đâu 29 4.88
30
đâu vào
31 đây Cụ cứ ngồi xuống đây! Tôi làm nhanh lắm… 2 0.34
32 đấy Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy 22 3.70
37 đấy thôi Tao chỉ liều chết với bố con nhà mầy đấy thôi 3 0.51
38 đến thế Sao thiên hạ lại có người tài đến thế? 3 0.51
39 đi Hay là ta đem cất những cái ghế mây đi 14 2.36
41 đủ biết Cứ nghe chim ríu rít bên ngoài là đủ biết 1 0.17
43 gì Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão 29 4.88
44 gì đâu
Tre già măng mọc, thằng ấy chết, còn thằng khác, chúng mình cũng chẳng lợi tí gì đâu ” 1 0.17
Trang 3745 gì đấy bắt hắn bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy 2 0.34
47 giá Giá hắn cứ chửi lại còn dễ nghe 3 0.51
48 giá thử Giá thử đêm qua không có thị thì hắn chết 1 0.17
51 hãy hay Cụ cứ để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay! 1 0.17
55 hơn Từ đành chỉ cố ngoan ngoãn hơn, đáng yêu hơn 4 0.67
56 kể Kể làm rồi có chết cũng là cam tâm 1 0.17
57 không
Mà cho cậu ấy ăn ít thì cậu ấy gày đi, bán hụt tiền, có
58 kia
Và hắn nghĩ đến câu nói hùng hồn của một nhà triết học
61 lạ Nhìn thì thích nhưng tưng tức lạ 1 0.17
63 là mấy Và năm chục đồng bạc đối với nhà mình là mấy 1 0.17
64 lại Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại 2 0.34
65 lắm Cụ bá cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm 51 8.59
Trang 3875 nào Mày có câm không nào 8 1.35
77 này Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này 15 2.53
79 nhé Thôi thế anh về nhé! Nhưng mà này 4 0.67
80 nhỉ Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ 4 0.67
83 nốt Cũng may tôi lại cũng không là thi sĩ nốt 2 0.34
84 nữa Tao không thể là người lương thiện nữa 33 5.56
85 nữa thật Thọ đi phen ấy là mất tăm, cũng không bao giờ về nữa thật 1 0.17
91 quá Ðiền thấy giời rộng quá và sao nhiều quá 25 4.21
92 quá rồi Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi 1 0.17
93 quá thế Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế 4 0.67
98 rồi Uống vào thì phải chửi, quen mồm rồi 30 5.05
100 sao Trời ơi cháo mới thơm làm sao! 14 2.36
102 sốt Và mua ghế để chẳng cho ai ngồi sốt 1 0.17
Trang 39103 thật Bá Kiến quả có ý muốn dàn xếp cùng hắn thật 7 1.18
105 thế Người đàn bà đức hạnh ấy thấy cháu bà sao mà đĩ thế 23 3.87
108 thế là Thế là cốc nước gừng đã dốc tuột vào mồm nó 6 1.01
109 thế nào Cụ bá tức như chọc họng, nhưng chưa biết làm thế nào 7 1.18
110 thế này Về giữa lúc chiều thì đẹp mà phố thì vui thế này 4 0.67
111 thế thôi Thật ra thì tôi có việc phải về, thế thôi 1 0.17
112 thì thôi họ muốn yên chuyện thì thôi, gai ngạnh làm gì cho sinh sự 1 0.17
115 thôi ư Chả nhẽ tao gọi mày vào chỉ để bóp chân thế này thôi ư? ” 1 0.17
116 tí chút nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút 1 0.17
118 ư
Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót binh Tư
119 vào đấy Ông thử tính ra xem bao nhiêu tiền vào đấy 1 0.17
120 vậy Thấy lão nằn nì mãi, tôi đành nhận vậy 5 0.84
Nhìn vào số liệu bảng thống kê ta có thể thấy :
Số lượng từ và cụm từ là tiểu từ tình thái là 122 đơn vị với 594 lượt xuất hiện, trong đó, nhìn chung các cụm từ được sử dụng nhiều hơn
Có một số tiểu từ tình thái xuất hiện với tần số cao, đó là lắm xuất hiện 51 lần chiếm 8.59%, nữa xuất hiện 33 lần chiếm 5.56%, rồi xuất hiện 30 lần chiếm 5.05%,
đâu xuất hiện 29 lần chiếm 4.88%, gì xuất hiện 29 lần chiếm 4.88%, cả xuất hiện
27 lần chiếm 4.55%, quá xuất hiện 25 lần chiếm 4.21%, ấy xuất hiện 23 lần, chiếm 3.87%, thế xuất hiện 23 lần, chiếm 3.87%, đấy xuất hiện 22 lần, chiếm 3.7%, ạ xuất
hiện 21 lần, chiếm 3.54% Đa số không phải là các Tiểu từ tình thái chuyên dụng
Trang 40nhưng trong những văn cảnh cụ thể chúng có thể diễn đạt những sắc thái tình cảm, cảm xúc tế nhị, phức tạp hay có thể bày tỏ những sắc thái tinh tế trong thái độ, tình cảm đối với người nghe, người đọc hoặc đối với nội dung được nói tới
Có 64 từ hay cụm từ chỉ xuất hiện 1 lần (chiếm 10.77% trong tổng số 594 lượt
sử dụng) nhưng bộc lộ tình cảm cảm xúc rất cao, như: đau đớn, xót xa, phẫn uất,
thương cảm, ngạc nhiên , tiêu biểu là các từ và cụm từ sau : thôi ư, đi đời, ra thế,
có thế, gì đâu, hay sao, như vậy, nữa thật, ôi thôi, quá rồi …
Với 594 lượt xuất hiện, có thể thấy các từ hay cụm từ là Tiểu từ tình thái trong những truyện ngắn Nam Cao là một trong những phương tiện đắc dụng được nhà văn chọn dùng để thể hiện rất nhiều cung bậc cảm xúc, thái độ, các hành động ngôn ngữ của nhân vật cũng như của tác giả trong mỗi tác phẩm Tiểu từ tình thái có thể chia làm nhiều loại Tuy nhiên, có thể nhận thấy những loại phổ biến như sau:
a Tiểu từ tình thái nghi vấn:
Nghi vấn là hành động chưa tin tưởng vì chưa rõ sự thật ra sao Một số tiểu từ tình thái trong các truyện ngắn được Nam Cao sử dụng thể hiện sự ngờ vực của mình, cũng là của nhân vật trước hiện thực khách quan tàn nhẫn Chúng tôi thống
kê được 37 tiểu từ, chiếm 6.23% tiểu từ tình thái, tiêu biểu có chăng (1 lần, chiếm 0.17%), thế (3 lần, chiếm 0.51%), đến thế (2 lần, chiếm 0.34%), hở (2 lần, chiếm 0.34%), thế (2 lần, chiếm 0.34%), ư (2 lần, chiếm 0.34%), nhỉ (2 lần, chiếm 0.34%), chứ (3 lần, chiếm 0.51%) …
Ví dụ 1: Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót binh Tư để có ăn ư?
(Lão Hạc)
Ở đây, tiểu từ biểu thị nghi vấn ư truyền tải ý phỏng đoán, biểu thị thái độ ngờ
vực về mối quan hệ của lão Hạc với ông giáo, với tư cách đạo đức của chính lão Hạc Đồng thời thể hiện cảm xúc tiếc nuối, nghi ngại, tâm trạng buồn của nhân vật ông giáo về con người của lão Hạc, có phải vì miếng ăn đã làm cho lão Hạc biến đổi
dữ dội như thế?
Ví dụ 2: Bỏ tù nó thì dễ rồi, nhưng bỏ tù nó cũng có ngày nó được ra, liệu nó
có để yên cho mình không chứ? (Chí Phèo)