LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH MỞ ẦU 1. í do chọn đề tài 1.1. Phương thức kể chuyện (PTKC) là phương diện cơ bản, là yếu tố quan trọng tạo nên tác phẩm tự sự. Tuy nhiên, mãi đến giữa thế kỉ XX, khi ngành nghiên cứu tự sự học phát triển mạnh thì vấn đề nghiên cứu phương thức kể chuyện mới thực sự được chú ý. Việc ứng dụng lí thuyết tự sự vào nghiên cứu phương thức kể chuyện của một nhà văn sẽ là chìa khóa mở ra cánh cửa để khám phá những vẻ đẹp độc đáo, những tầng sâu kín của tác phẩm, đồng thời là cơ sở để xác lập và khẳng định phong cách tác giả. 1.2. Từ sau 1975, đặc biệt từ sau 1986, văn học Việt Nam bước vào một chặng mới trong hành trình đổi mới. Sự thành công của Đại hội Đảng lần thứ VI, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị và chủ trương “cởi trói” cho văn học nghệ thuật, không khí cởi mở của đời sống xã hội, quan hệ giao lưu ngày càng rộng rãi với các nước trong khu vực và thế giới… là bối cảnh thuận lợi thúc đẩy, tạo nên sự phát triển mạnh mẽ và sâu sắc của văn học. Sự phát triển này không chỉ ở chỗ ngày càng xuất hiện đông đảo đội ngũ các nhà văn, ngày càng nhiều tác phẩm mới ra đời, mà cái quan trọng hơn, sự phát triển của văn xuôi được ghi nhận trên việc đổi mới quan niệm nghệ thuật, tư duy nghệ thuật, đổi mới thể tài và đặc biệt trong phương thức thể hiện. 1.3. Sau những tên tuổi nổi bật của “thế hệ thứ nhất” như: Dương Thu Hương, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, … Tạ Duy Anh được xem là một trong những cây bút xuất sắc trong lớp nhà văn thuộc “thế hệ thứ hai” của dòng văn học sau đổi mới. Với khoảng gần hai mươi tập truyện, bốn tiểu thuyết, một tập tản văn trong khoảng hai mươi năm cầm bút đã đủ nói lên sức lao động và 4 sự chuyên tâm với văn nghiệp của nhà văn. Nhưng, chỉ điều đó vẫn chưa phải là tất cả để tạo thành một “hiện tượng Tạ Duy Anh” trong lòng bạn đọc và trong nền văn học Việt Nam những năm 80 của thế kỉ XX. Điểm đặc biệt ở Tạ Duy Anh là sự nỗ lực làm mới không ngừng. Ông không bao giờ cho phép bản thân đi lại lối mòn của những thế hệ đi trước và lại càng không được phép lặp lại chính mình: “Điều duy nhất khiến tôi quan tâm khi viết là chính mình có chán lối viết của mình hay không?”. “Bất kì sự buông thả nào cũng phải trả giá, suốt nhiều năm tôi đã vất vả tìm cách thoát khỏi chính mình”. Chính sự quyết tâm đó đã tạo nên một Tạ Duy Anh mới mẻ trong quan niệm nghệ thuật đến hình thức thể hiện và đưa ông trở thành người mở đường cho “dòng văn học bước qua lời nguyền” (Hoàng Ngọc Hiến). Chọn nghiên cứu P ươn t ức kể c u ện tron tru ện n ắn Tạ Du An , luận văn đã đáp ứng được niềm đam mê về một hiện tượng độc đáo của nền văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời, chúng tôi muốn độc giả thấy được sự nỗ lực trong việc đổi mới nghệ thuật tự sự của tác giả trong tiến trình đổi mới của văn học Việt Nam hiện đại và góp thêm một cứ liệu làm cơ sở nhận biết, đánh giá những nét mới trong phương thức kể chuyện của truyện ngắn sau 1975. 2. ịch sử vấn đề 2.1. ịch sử nghiên cứu về phƣơng thức kể chuyện Lí thuyết tự sự trong đó có vấn đề PTKC đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm. Trong công trình Dẫn luận n i n cứu văn c (1960), Pospelov đã đưa ra ý kiến sâu sắc về sự tác động của người kể chuyện đến PTKC. N.Friedman với công trình Điểm n ìn tron tiểu t u ết (1976) đã đưa ra cách phân loại các kiểu kể chuyện dựa trên tiêu chí là điểm nhìn. Tuy nhiên, cách phân loại này khá phức tạp và chưa thật sự rõ vì còn có sự trùng lặp giữa các kiểu kể chuyện. 5 Đến năm 1972, trong Các p ươn t ức tu từ, G.Genette đã đưa ra cách phân loại PTKC với một tiêu chí duy nhất là điểm nhìn. Todorov T i p áp cấu trúc (1971), T i p áp văn xu i (1978) cũng đã đưa ra những ý kiến sâu sắc về người kể chuyện, về vị trí đặc biệt quan trọng của người kể chuyện và sự chi phối đến phương thức kể. Những công trình trên đây đã đưa ra PTKC; về vai trò, vị trí của người kể chuyện và điểm nhìn trong việc phân loại PTKC, tạo nền tảng lí luận khi tìm hiểu phạm trù này. Ở Việt Nam, vấn đề PTKC cũng thu hút nhiều nhà nghiên cứu. Đề cập đến PTKC một cách gián tiếp có các công trình sau: Tác giả Trần Đình Sử trong giáo trình Lí luận văn c (1987) và Từ điển t uật n văn c (1992) đã đưa ra khái niệm, chức năng, cách nhận diện người kể chuyện. Phùng Văn Tửu trong chuyên luận Tiểu t u ết P áp iện đại, tìm tòi, đổi mới (1990) cũng đề cập đến tiêu chí điểm nhìn để nhận diện các cách kể. Đặc biệt, cuốn Tự sự c, một s vấn đề lí luận v lịc sử do Trần Đình Sử chủ biên (2004) là tài liệu khái quát nhất về vấn đề nghiên cứu tự sự trong nước. Trong đó, vấn đề cách kể chuyện, kiểu NKC, ĐN được đề cập trong nhiều bài viết như: Vấn đề NKC tron t i p áp tự sự iện đại (Đỗ Hải Phong); P ươn t ức tự sự c ủ ếu của sử t i Đam San của tác giả Đỗ Hồng Kỳ; N ệ t uật tự sự của N Tất T trong tiểu t u ết Tắt đèn của tác giả Trần Đăng Suyền; Tác giả Nguyễn Thị Thanh Minh với bài viết Một p on các tự sự của N u ễn Tuân; Vấn đề kể c u ện tron tru ện n ắn đươn đại (Bùi Việt Thắng); Về k ái niệm “tru ện kể ở n i t ứ ba” v “n ười kể c u ện ở n i t ứ ba” (Nguyễn Thị Thu Thủy)… Một số luận án Tiến sĩ cũng đã đề cập đến vấn đề PTKC, ngôn ngữ, điểm nhìn trong truyện ngắn từ sau 1975 như: N n n kể c u ện tron tru ện n ắn Việt 6 Nam sau 1975 (Điểm n ìn v n n n kể c u ện) (2003) của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy; N n n trần t uật tron tru ện n ắn Việt Nam sau 1975 (Tr n tư liệu tru ện n ắn của ba n văn n ) (2012) của tác giả Hoàng Dĩ Đình. Nhiều luận văn Thạc sĩ cũng nghiên cứu về PTKC ở những khía cạnh khác nhau như: Đặc sắc của tự tru ện viết c o t iếu n i (2003) của Lý Kim Oanh; Điểm n ìn tron tiểu t u ết của Hồ An T ái (2009) của Hoàng Thu Thủy; N ười kể c u ện tron văn c mới - 2010 (2011) của Bùi Thị Hải Vân… Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết, báo cáo khoa học đề cập đến cách thức kể chuyện như N n n trần t uật tron tru ện n ắn Việt Nam đươn đại (Thái Phan Vàng Anh), N ười kể c u ện v m i quan ệ i a n ười kể c u ện v tác iả (Cao Thị Kim Lan), N n ếu t tu ến tín óa đặc trưn n ân vật n ười kể, điểm n ìn, v i n điệu của diễn n n tru ện kể (Nguyễn Thị Ngân Hoa)… Những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ kể chuyện, điểm nhìn cũng như cách thức kể từ góc độ ngôn ngữ và văn học ở trên chính là cơ sở định hướng cho chúng tôi khi tìm hiểu về PTKC. 2.2. ịch sử nghiên cứu truyện ngắn ạ uy Anh Tên tuổi Tạ Duy Anh được độc giả biết đến sau khi hai chùm truyện ngắn Bước qua lời n u ền và Lũ vịt trời đoạt giải trong cuộc thi viết về nông nghiệp, nông thôn do tuần báo Văn n ệ, báo N n n iệp Việt Nam và Đ i tiến nói Việt Nam phối hợp tổ chức năm 1989. Báo cáo tổng kết cuộc thi, nhà thơ Hoàng Minh Châu nhận định về truyện ngắn Bước qua lời n u ền: “báo iệu một tấm lòn lớn, một tầm n ìn xa v một t i năn viết về s p ận con n ười”. Tác giả Hoàng Ngọc Hiến với bài bình luận đăng trên báo N n n iệp, số 50, tháng 12/1989 đã đánh giá cao vai trò mở đường của truyện ngắn Tạ Duy Anh : 7 “tru ện n ắn Tạ Du An l tín iệu của một dòn văn c mới, dòn văn c “Bước qua lời n u ền””. Trong công trình T ế iới n ệ t uật Tạ Du An , ba tác giả Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà đã có những nhận xét hết sức khái quát về giá trị nội dung trong truyện ngắn Tạ Duy Anh. Các tác giả này đánh giá: “Qua tru ện n ắn, Tạ Du An man đến c o độc iả n n da dứt, trăn trở k n n u i trước ý n ĩa l m n ười Xu n qua một t ế iới đầ n n ám ản tăm t i, t n ác, vẫn lấp lán niềm tin, sự xót t ươn v câu ỏi đầ lòn tự tr n của con n ười” [23, 243]. Về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Tạ Duy Anh, trong bài Tạ Du An i a lằn ran t iện ác (báo Tuổi trẻ Online), tác giả Việt Hoài cho rằng: “Tạ Du An lu n đặt n ân vật của mìn ở ran iới t iện - ác N ân vật n o cũn lu n bị đặt tron trạn t ái đấu tran với x ội, với m i trườn , với kẻ t ù, với n ười t ân, với c ín bản t ân mìn …” Ở phương diện quan niệm nghệ thuật, trong bài viết Tạ Du An v Gi biệt bón t i đăng trên trang evan.vnpress.net, tác giả Trần Thiện Khanh nhận xét “Bắt đầu từ thay đổi nghề, thay đổi cách sống, thay đổi trạng thái tồn tại, đến thay đổi cách nghĩ, thay đổi lối viết, văn phong… Tạ Duy Anh đã thự LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH LUẬN VĂN PHƯƠNG THỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH
Trang 3Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Ngôn ngữ - khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã luôn động viên, khích lệ, ủng hộ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 10 năm 2014 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Long
Trang 42
A KÍ Ệ Ế Ắ
ĐN : Điểm nhìn ĐNBT : Điểm nhìn bên trong ĐNBN : Điểm nhìn bên ngoài NKC : Người kể chuyện PTKC : Phương thức kể chuyện
Trang 51.2 Từ sau 1975, đặc biệt từ sau 1986, văn học Việt Nam bước vào một chặng mới trong hành trình đổi mới Sự thành công của Đại hội Đảng lần thứ VI, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị và chủ trương “cởi trói” cho văn học nghệ thuật, không khí cởi mở của đời sống xã hội, quan hệ giao lưu ngày càng rộng rãi với các nước trong khu vực và thế giới… là bối cảnh thuận lợi thúc đẩy, tạo nên sự phát triển mạnh mẽ và sâu sắc của văn học Sự phát triển này không chỉ ở chỗ ngày càng xuất hiện đông đảo đội ngũ các nhà văn, ngày càng nhiều tác phẩm mới ra đời, mà cái quan trọng hơn, sự phát triển của văn xuôi được ghi nhận trên việc đổi mới quan niệm nghệ thuật, tư duy nghệ thuật, đổi mới thể tài và đặc biệt trong phương thức thể hiện
1.3 Sau những tên tuổi nổi bật của “thế hệ thứ nhất” như: Dương Thu Hương,
Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, … Tạ Duy Anh được xem
là một trong những cây bút xuất sắc trong lớp nhà văn thuộc “thế hệ thứ hai” của dòng văn học sau đổi mới Với khoảng gần hai mươi tập truyện, bốn tiểu thuyết, một tập tản văn trong khoảng hai mươi năm cầm bút đã đủ nói lên sức lao động và
Trang 64
sự chuyên tâm với văn nghiệp của nhà văn Nhưng, chỉ điều đó vẫn chưa phải là tất
cả để tạo thành một “hiện tượng Tạ Duy Anh” trong lòng bạn đọc và trong nền văn học Việt Nam những năm 80 của thế kỉ XX Điểm đặc biệt ở Tạ Duy Anh là sự nỗ lực làm mới không ngừng Ông không bao giờ cho phép bản thân đi lại lối mòn của những thế hệ đi trước và lại càng không được phép lặp lại chính mình: “Điều duy nhất khiến tôi quan tâm khi viết là chính mình có chán lối viết của mình hay không?” “Bất kì sự buông thả nào cũng phải trả giá, suốt nhiều năm tôi đã vất vả tìm cách thoát khỏi chính mình” Chính sự quyết tâm đó đã tạo nên một Tạ Duy Anh mới mẻ trong quan niệm nghệ thuật đến hình thức thể hiện và đưa ông trở thành người mở đường cho “dòng văn học bước qua lời nguyền” (Hoàng Ngọc Hiến)
Chọn nghiên cứu P ươn t ức kể c u ện tron tru ện n ắn Tạ Du An , luận
văn đã đáp ứng được niềm đam mê về một hiện tượng độc đáo của nền văn học Việt Nam hiện đại Đồng thời, chúng tôi muốn độc giả thấy được sự nỗ lực trong việc đổi mới nghệ thuật tự sự của tác giả trong tiến trình đổi mới của văn học Việt Nam hiện đại và góp thêm một cứ liệu làm cơ sở nhận biết, đánh giá những nét mới trong phương thức kể chuyện của truyện ngắn sau 1975
2 ịch sử vấn đề
2.1 ịch sử nghiên cứu về phương thức kể chuyện
Lí thuyết tự sự trong đó có vấn đề PTKC đã được nhiều nhà nghiên cứu trên
thế giới quan tâm Trong công trình Dẫn luận n i n cứu văn c (1960), Pospelov
đã đưa ra ý kiến sâu sắc về sự tác động của người kể chuyện đến PTKC
N.Friedman với công trình Điểm n ìn tron tiểu t u ết (1976) đã đưa ra cách phân
loại các kiểu kể chuyện dựa trên tiêu chí là điểm nhìn Tuy nhiên, cách phân loại này khá phức tạp và chưa thật sự rõ vì còn có sự trùng lặp giữa các kiểu kể chuyện
Trang 75
Đến năm 1972, trong Các p ươn t ức tu từ, G.Genette đã đưa ra cách phân loại PTKC với một tiêu chí duy nhất là điểm nhìn Todorov T i p áp cấu trúc (1971), T i p áp văn xu i (1978) cũng đã đưa ra những ý kiến sâu sắc về
người kể chuyện, về vị trí đặc biệt quan trọng của người kể chuyện và sự chi phối đến phương thức kể
Những công trình trên đây đã đưa ra PTKC; về vai trò, vị trí của người kể chuyện và điểm nhìn trong việc phân loại PTKC, tạo nền tảng lí luận khi tìm hiểu
phạm trù này
Ở Việt Nam, vấn đề PTKC cũng thu hút nhiều nhà nghiên cứu Đề cập đến PTKC một cách gián tiếp có các công trình sau: Tác giả Trần Đình Sử trong giáo
trình Lí luận văn c (1987) và Từ điển t uật n văn c (1992) đã đưa ra khái
niệm, chức năng, cách nhận diện người kể chuyện Phùng Văn Tửu trong chuyên
luận Tiểu t u ết P áp iện đại, tìm tòi, đổi mới (1990) cũng đề cập đến tiêu chí điểm nhìn để nhận diện các cách kể Đặc biệt, cuốn Tự sự c, một s vấn đề lí luận
v lịc sử do Trần Đình Sử chủ biên (2004) là tài liệu khái quát nhất về vấn đề
nghiên cứu tự sự trong nước Trong đó, vấn đề cách kể chuyện, kiểu NKC, ĐN
được đề cập trong nhiều bài viết như: Vấn đề NKC tron t i p áp tự sự iện đại (Đỗ Hải Phong); P ươn t ức tự sự c ủ ếu của sử t i Đam San của tác giả Đỗ Hồng Kỳ; N ệ t uật tự sự của N Tất T trong tiểu t u ết Tắt đèn của tác giả Trần Đăng Suyền; Tác giả Nguyễn Thị Thanh Minh với bài viết Một p on các tự
sự của N u ễn Tuân; Vấn đề kể c u ện tron tru ện n ắn đươn đại (Bùi Việt Thắng); Về k ái niệm “tru ện kể ở n i t ứ ba” v “n ười kể c u ện ở n i t ứ
ba” (Nguyễn Thị Thu Thủy)…
Một số luận án Tiến sĩ cũng đã đề cập đến vấn đề PTKC, ngôn ngữ, điểm nhìn
trong truyện ngắn từ sau 1975 như: N n n kể c u ện tron tru ện n ắn Việt
Trang 86
Nam sau 1975 (Điểm n ìn v n n n kể c u ện) (2003) của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy; N n n trần t uật tron tru ện n ắn Việt Nam sau 1975 (Tr n tư
liệu tru ện n ắn của ba n văn n ) (2012) của tác giả Hoàng Dĩ Đình
Nhiều luận văn Thạc sĩ cũng nghiên cứu về PTKC ở những khía cạnh khác
nhau như: Đặc sắc của tự tru ện viết c o t iếu n i (2003) của Lý Kim Oanh; Điểm
n ìn tron tiểu t u ết của Hồ An T ái (2009) của Hoàng Thu Thủy; N ười kể
c u ện tron văn c mới - 2010 (2011) của Bùi Thị Hải Vân… Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết, báo cáo khoa học đề cập đến cách thức kể chuyện như N n
n trần t uật tron tru ện n ắn Việt Nam đươn đại (Thái Phan Vàng Anh),
N ười kể c u ện v m i quan ệ i a n ười kể c u ện v tác iả (Cao Thị Kim Lan), N n ếu t tu ến tín óa đặc trưn n ân vật n ười kể, điểm n ìn, v
i n điệu của diễn n n tru ện kể (Nguyễn Thị Ngân Hoa)…
Những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ kể chuyện, điểm nhìn cũng như cách thức kể từ góc độ ngôn ngữ và văn học ở trên chính là cơ sở định hướng
cho chúng tôi khi tìm hiểu về PTKC
2.2 ịch sử nghiên cứu truyện ngắn ạ uy Anh
Tên tuổi Tạ Duy Anh được độc giả biết đến sau khi hai chùm truyện ngắn
Bước qua lời n u ền và Lũ vịt trời đoạt giải trong cuộc thi viết về nông nghiệp, nông thôn do tuần báo Văn n ệ, báo N n n iệp Việt Nam và Đ i tiến nói Việt Nam phối hợp tổ chức năm 1989 Báo cáo tổng kết cuộc thi, nhà thơ Hoàng Minh Châu nhận định về truyện ngắn Bước qua lời n u ền: “báo iệu một tấm lòn lớn, một tầm n ìn xa v một t i năn viết về s p ận con n ười”
Tác giả Hoàng Ngọc Hiến với bài bình luận đăng trên báo N n n iệp, số
50, tháng 12/1989 đã đánh giá cao vai trò mở đường của truyện ngắn Tạ Duy Anh :
Trang 97
“tru ện n ắn Tạ Du An l tín iệu của một dòn văn c mới, dòn văn c
“Bước qua lời n u ền””
Trong công trình T ế iới n ệ t uật Tạ Du An , ba tác giả Nguyễn Thị
Hồng Giang, Vũ Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà đã có những nhận xét hết sức khái quát về giá trị nội dung trong truyện ngắn Tạ Duy Anh Các tác giả này
đánh giá: “Qua tru ện n ắn, Tạ Du An man đến c o độc iả n n da dứt, trăn trở k n n u i trước ý n ĩa l m n ười Xu n qua một t ế iới đầ
n n ám ản tăm t i, t n ác, vẫn lấp lán niềm tin, sự xót t ươn v câu ỏi
đầ lòn tự tr n của con n ười” [23, 243]
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Tạ Duy Anh, trong
bài Tạ Du An i a lằn ran t iện ác (báo Tuổi trẻ Online), tác giả Việt Hoài cho rằng: “Tạ Du An lu n đặt n ân vật của mìn ở ran iới t iện - ác N ân vật n o cũn lu n bị đặt tron trạn t ái đấu tran với x ội, với m i trườn , với kẻ t ù, với n ười t ân, với c ín bản t ân mìn …”
Ở phương diện quan niệm nghệ thuật, trong bài viết Tạ Du An v Gi biệt bón t i đăng trên trang evan.vnpress.net, tác giả Trần Thiện Khanh nhận
xét “Bắt đầu từ thay đổi nghề, thay đổi cách sống, thay đổi trạng thái tồn tại, đến thay đổi cách nghĩ, thay đổi lối viết, văn phong… Tạ Duy Anh đã thực hiện nhiều cuộc đổi thay trong thế giới văn hóa, thế giới nghệ thuật xét về mặt bút pháp và tư tưởng Cứ sau một tác phẩm trình làng, Tạ Duy Anh lại nhân thêm hy vọng mình làm thay đổi được điều gì đó Anh nói nhiều về sự thay đổi, mô tả sự thay đổi từ nhiều góc độ, chứ không định ra một khung quy chiếu nhất định nào”
Tác giả Phùng Gia Thế trong bài Dấu ấn ậu iện đại tron văn c VN sau 1986 đã chỉ ra sự cách tân nghệ thuật toàn diện trong tác phẩm của Tạ Duy
Trang 108
Anh: “Đ c Tạ Du An , có t ể n ận ra sự k ai t ác tin tế đến run rẩ các điểm n ìn, sự c ồn xếp các lớp t ời ian, sự kiện, sự soi c iếu từ n iều óc
n ìn k ác n au các m típ, c ủ đề, n ân vật”
Trong những năm gần đây, đã có một số khóa luận, luận văn Thạc sĩ nghiên
cứu về truyện ngắn Tạ Duy Anh như: Tạ Du An từ quan niệm n ệ t uật đến
n n đổi mới tron sán tác tru ện n ắn của Phạm Thị Hương, ĐHSPHN,
2005 Khoá luận này nghiên cứu quan niệm sáng tác cũng như nỗ lực đổi mới trong tác phẩm truyện ngắn Tạ Duy Anh từ nhiều góc độ: hiện thực, con người, đổi mới về quan niệm nghệ thuật, gia tăng yếu tố kì ảo và chất tiểu thuyết trong
truyện ngắn Tạ Duy Anh; N n t n tron sán tác của Tạ Du An của
Nguyễn Thị Mai Loan, ĐHSPHN, 2004, nghiên cứu những đổi mới của Tạ Duy Anh về mặt tư tưởng và nghệ thuật trong những sáng tác về đề tài nông thôn
Luận văn thạc sĩ Đặc điểm tru ện n ắn Tạ Du An của tác giả Nguyễn
Thị Phương Thảo, Đại học Vinh, 2010 đã chỉ ra đặc điểm nội dung trong các truyện ngắn Tạ Duy Anh : tư tưởng sáng tạo mới mẻ, “bước qua lời nguyền”, tinh thần hướng thiện, luận văn cũng chỉ ra quan niệm mới mẻ về con người, các kiểu kết cấu thường gặp trong truyện ngắn của nhà văn
Điểm qua lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều tác giả nghiên cứu về truyện ngắn Tạ Duy Anh Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu thiên về hướng lý luận, phê bình văn học Hơn nữa, việc vận dụng lí thuyết tự sự
để nghiên cứu phương thức kể chuyện trong truyện ngắn của nhà văn ở góc độ Ngôn ngữ học là hoàn toàn mới Vì vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu truyện ngắn của ông ở góc độ PTKC
3 ục đích nghiên cứu
- Chỉ ra đặc trưng của phương thức kể chuyện trong truyện ngắn Tạ Duy Anh
Trang 119
- Xem xét sự chi phối của phương thức kể chuyện đối với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong các truyện ngắn của tác giả
4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các truyện ngắn của Tạ Duy Anh với những đặc sắc
trong phương thức kể chuyện
- Phạm vi nghiên cứu: Tạ Duy Anh là nhà văn có nhiều truyện ngắn đặc sắc, tuy nhiên trong đề tài này, chúng tôi không có điều kiện để khảo sát toàn bộ các truyện ngắn của ông mà chỉ tập trung tìm hiểu, nghiên cứu PTKC trong 27 tác
phẩm tiêu biểu được in trong tập: Tạ Du An - Tru ện n ắn c n l c (Nhà xuất
bản Hội Nhà văn - 2003)
5 hương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp phân tích ngữ dụng: luận văn sử dụng phương pháp này để nhận diện điểm nhìn trong lời nói trong các tác phẩm (vì điểm nhìn thuộc cấu trúc nghĩa hàm ẩn trong tiền giả định ngôn ngữ, tiền giả định lời nói, hàm ẩn ngôn ngữ, hàm ẩn lời nói)
- Phương pháp phân tích tu từ học: được sử dụng để làm rõ hiệu quả nghệ thuật
mà PTKC đem lại
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Luận văn sử dụng thủ pháp này trong việc khảo sát, tập hợp và phân loại các kiểu người kể chuyện, điểm nhìn, một số lớp từ trong lời văn miêu tả, các cuộc đối thoại, độc thoại của nhân vật trong các truyện ngắn Tạ Duy Anh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: nhằm mục đích phân tích các ngữ liệu Từ
đó tổng hợp, khái quát theo các bình diện nghiên cứu
Trang 1210
6 óng góp của luận văn
6.1 Về mặt lí luận: Luận văn góp phần khẳng định tính hữu dụng của lí thuyết
tự sự vào nghiên cứu một tác phẩm, một hiện tượng văn học cụ thể
6.2 Về t ực tiễn
- Luận văn chỉ ra được những đặc trưng trong phương thức kể chuyện của truyện ngắn Tạ Duy Anh, từ đó thấy được nét riêng và sự cách tân trong nghệ
thuật truyện ngắn của nhà văn
- Luận văn cũng góp thêm một tài liệu để học tập, nghiên cứu về phương thức
kể chuyện, về cách thức tiếp cận truyện ngắn Tạ Duy Anh
7 ấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Trang 1311
hương 1
Ơ Ở Í ẾT
Nghiên cứu đề tài P ươn t ức kể c u ện tron tru ện n ắn Tạ Du Anh
đòi hỏi phải có một hệ thống lí thuyết vững chắc làm nền tảng Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi sẽ sử dụng hệ thống lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và hệ thống lí thuyết tự sự làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu
1.1 ý thuyết hành vi ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu : “K i c ún ta nói năn l c ún ta n độn ,
c ún ta t ực iện một loại n độn đặc biệt m p ươn tiện l n n n ” [13,
88] Như vậy, hành động (hành vi) ngôn ngữ chính là hành động được thực hiện
bằng phương tiện ngôn ngữ
1.1.2 ác loại hành vi ngôn ngữ
Theo Austin – người đầu tiên xây dựng lí thuyết cho khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” (hành vi ngôn ngữ), có 3 loại hành động ngôn ngữ lớn: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời
- H n vi tạo lời: là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các
kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung Và như vây, để thực hiện hành vi này đòi hỏi người phát phải nắm chắc các quy tắc về
từ vựng và ngữ pháp
- H n vi mượn lời là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ, hay là
mượn các phát ngôn để gây ra hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói
Trang 1412
Ví dụ: Khi nghe giáo viên nói học sinh : “Lấ c o c vi n p ấn” Học sinh sẽ
đứng dậy đi lấy phấn Hành động vật lí đứng dậy đi lấy phấn thuộc hành vi mượn lời
- H n vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu
quả của chúng là hiệu quả thuộc ngôn ngữ, tức là nó gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Chẳng hạn, khi chúng ta hỏi ai một vấn đề nào
đó thì người khác buộc phải trả lời dù là không biết
Austin cũng dựa trên cách phân loại từ vựng các động từ ngữ vi tiếng Anh để phân loại hành vi ngôn ngữ thành năm loại nhỏ, đó là: phán xét, hành xử, cam kết, trình bày, ứng xử Tuy nhiên, Searle đã chỉ ra hạn chế trong cách phân loại của Austin Ông cho rằng muốn phân loại hành vi ngôn ngữ trước tiên phải phân loại hành vi ở lời
Searle đã phân chia hành vi ở lời dựa vào 12 tiêu chí trong đó tác giả dùng 4 tiêu chí quan trọng là đích ở lời, hướng khớp khép lời – hiện thực, trạng thái tâm lí, nội dung mệnh đề Dựa vào các tiêu chí đó, Searle đã phân loại hành vi ở lời thành 5 nhóm:
- H n vi tái iện là hành vi người phát ngôn thông qua phát ngôn của mình để
xác nhận sự có mặt hoặc vắng mặt một sự việc nào đó hay miêu tả lại một sự tình đang được nói đến (bao gồm một số hành động ngôn ngữ tiêu biểu: kể, miêu tả, xác nhận, khẳng định, thông báo, báo cáo,…)
- H n vi điều k iển: là hành vi người phát thông qua phát ngôn của mình để
đặt người nhận vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai (gồm một số hành động ngôn ngữ tiêu biểu như: yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, sai, mời, khuyên…)
Trang 1513
- H n vi cam kết (hành động hứa hẹn) là hành động người phát thông qua phát
ngôn của mình để tự đặt mình vào trách nhiệm phải thực hiện một hành động trong tương lai ( một số hành động ngôn ngữ tiêu biểu như: hứa, đe dọa…)
- H n vi biểu cảm là hành vi mà người phát thông qua phát ngôn của mình để
bày tỏ trạng thái tâm lí (gồm một số hành động ngôn ngữ như: khen, chê, phê bình, xin lỗi, cảm ơn…)
- H n vi tu n b là hành động người phát ngôn thông qua phát ngôn của mình
để làm cho nội dung mệnh đề trở nên có hiệu lực (trở thành hiện thực) Hành vi biểu cảm gồm một số hành vi ngôn ngữ tiêu biểu như: tuyên bố, tuyên án, buộc tội…
1.1.3 ác kiểu hành vi ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự
Tìm hiểu các kiểu hành vi ngôn ngữ của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, chúng tôi nhận thấy có 4 kiểu hành vi ngôn ngữ đặc trưng, phổ biến nhất:
- H n vi tái iện: nhằm tái hiện lại sự việc
- H n vi mi u tả: giúp người đọc hình dung được các sự việc, chi tiết, nhân vật,
thời gian, không gian của câu chuyện
- H n vi biểu cảm: bày tỏ trạng thái tâm lí của người kể, làm cho câu chuyện
giàu cảm xúc
- H n vi bìn luận, đán iá: giúp người đọc thấy rõ thái độ, cách nhìn nhận,
đánh giá của người kể với sự việc, nhân vật trong tác phẩm
1.2 í thuyết tự sự
1.2.1 gười kể chuyện
Người kể chuyện ( NKC) là một phạm trù quan trọng của trần thuật học, một thuật ngữ công cụ của tự sự học Trước đây, khái niệm NKC thường bị bỏ qua,
Trang 1614
người đọc chỉ chú ý vào nhân vật, các sự kiện, biến cố… Đến giữa thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của Tự sự học, vấn đề NKC mới được quan tâm đúng mức Người
ta không còn quá đề cao cách xây dựng nhân vật, tạo ra các kịch tính, biến cố lớn
mà quan tâm nhiều đến cách kể chuyện của tác phẩm, cách nhìn nhận và đánh giá
thế giới khách quan của nhà văn
Thuật ngữ NKC, người đứng ra kể trong tác phẩm tự sự còn được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác như: người trần thuật, người thuật chuyện, kẻ mang thông điệp, chủ thể trần thuật, chủ thể kể chuyện…Trong luận văn, chúng tôi thống nhất
chọn dùng tên gọi NKC
1.2.1.1 Quan niệm về người kể chuyện ( gười trần thuật)
Theo các tác giả của Từ điển t uật n văn c: “người trần thuật là một
nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh
ta tạo thành (…) nó bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc
hiện trong tác phẩm tự sự” [16, 211-212]
Theo Lê Bá Hán: “NKC là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, dĩ nhiên không nên đồng nhất với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra, có thể là một người biết câu chuyện nào đó Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện” [16, 221]
Tác giả Lê Ngọc Trà viết: “Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học” [38, 153] Trong bất kỳ tác phẩm nào cũng có người kể chuyện Anh ta có mặt khắp mọi nơi, ở mọi lúc để giới thiệu nhân vật, để kể lại các sự kiện và thể hiện chiều sâu tâm lí nhân vật Anh ta có thể quan sát nhân vật từ nhiều góc độ,
Trang 1715
khi đứng bên ngoài (điểm nhìn hướng ngoại), khi thâm nhập vào nội tâm nhân vật (điểm nhìn hướng nội), để sau đó rút ra ý nghĩa nhân sinh cho câu chuyện Tác giả Lại Nguyên Ân lại đưa ra một định nghĩa khá sâu sắc về người kể chuyện trong trần thuật tự sự: “Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra” [9, 360].Trong định nghĩa này, nhà lý luận một lần nữa khẳng định vai trò cầu nối
và dẫn dắt câu chuyện của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, đồng thời
nhấn mạnh vai trò c ứn kiến và iải t íc của hình tượng này Đây là những
dấu hiệu cơ bản nhất để nhận diện NKC trong các sáng tác tự sự từ xưa đến nay
TZ Todorov thì cho rằng “NKC là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng ( ) không thể có trần thuật thiếu NKC NKC không nói như các nhân vật khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật nhân danh cuốn sách được kể có vị trí hoàn toàn
Trang 18- NKC giữ vai trò ở giữa tác giả, tác phẩm và người đọc Trong một tác phẩm, người đọc có thể dễ dàng thâm nhập sâu vào trong đời sống của các nhân vật nhờ những dấu hiệu, chỉ dẫn mà NKC cung cấp
1.2.1.2 hân loại người kể chuyện
Có khá nhiều nhà lí luận tập trung vào việc nghiên cứu về phạm trù NKC trong tác phẩm tự sự như R Scholes và R Kellogy, Bathkhin, W Booth, Họ đưa ra nhiều quan điểm cũng như cách phân loại NKC
Theo G.Genette - người chủ trương nghiên cứu văn bản cấu trúc nội tại tác phẩm tự sự, vấn đề NKC được đặt trong mối tương quan với các yếu tố nội cấu
Trang 19đế, biết hết mọi chuyện nhân sinh, vũ trụ, tương lai; NKC bên trong – NKC vốn
là một nhân vật trong câu chuyện; và NKC bên ngoài tức NKC nằm ngoài câu chuyện, chỉ kể lại các tình tiết truyện một cách khách quan chứ không đi sâu vào tâm lí nhân vật
Khác với G.Genette, hai nhà nghiên cứu R Scholes và R Kellogy cho rằng phải đặt NKC trong mối quan hệ với thế giới được kể, quan hệ với các sự kiện
và nhân vật được kể Từ đó hai ông phân loại NKC làm bốn kiểu: NKC truyền thống (traditional narator) , sử quan (histor), NKC chứng nhân ( eye – witness)
và NKC toàn tri (omniscience) Cách phân loại này cho thấy họ đã đặt NKC trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học từ cổ đại đến hiện đại và đặc biệt chú ý đến cấp độ giao tiếp
Trang 2018
Trong khi đó, W Booth lại nghiên cứu NKC trong giới hạn của tác phẩm
hư cấu Trên cơ sở nghiên cứu về sự im lặng của tác giả, ông đã phân tách thành hai kiểu NKC hàm ẩn và NKC tường minh, đồng thời cho chúng ta những hiểu biết về từng kiểu NKC
- NKC tường minh: còn gọi là NKC ở ngôi thứ nhất, vì anh ta thường xuất hiện trực tiếp bằng các hình thức của đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất: “tôi” hoặc
“chúng tôi” Trường hợp này, NKC là một nhân vật trong truyện, tham gia vào hành động trong truyện Dù xưng “tôi” nhưng NKC không nhất thiết chỉ kể chuyện của mình mà cũng có khi kể chuyện người khác Chẳng hạn truyện ngắn
Tội tổ t n của Tạ Duy Anh Truyện được kể bởi một người kể chuyện xưng
“tôi”, cũng đồng thời là một nhân vật trong truyện Nhưng anh ta không kể lại chuyện của mình mà chỉ là người lắng nghe, chứng kiến và kể lại những chuyện
về lão Đình
- NKC hàm ẩn: là NKC không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm, không
được biểu thị bằng hình thức của đại từ ngôi thứ nhất Anh ta không phải là một nhân vật tham gia vào các biến cố của truyện mà cách xa, ở trên, ở ngoài quan sát và kể lại câu chuyện của các nhân vật
+ NKC hàm ẩn có thể chỉ như một người quan sát, miêu tả được những hành động bên ngoài của nhân vật mà không biết gì về thế giới nội tâm của nhân vật, cũng có thể không biết được cả kết cục của câu chuyện Chẳng hạn, NKC trong những truyện kể theo thức kịch tính hoặc ống kính máy quay phim Như
đoạn miêu tả đám tang ông Mịch trong Vòn trầm luân trần ian: “ Sáng hôm
sau anh em thằng Tế phát tang bố Đám tang ông Mịch có điếu văn kể công đức,
có con hát điệu lâm khốc Ai cũng khen ông Mịch quy tiên thanh thoát, con cháu đầy đàn Nửa đêm, khi hàng xóm đã về hết, thằng So đến hạch anh cả chia vàng:
Trang 2119
- Tôi nhớ bố có chiếc nhẫn ba đồng cân, lẽ nào bác đoạt tất
Thằng Tế chối Thằng Phở chờ chia phần Thằng So điên tiết xông vào đập tan chiếc bàn thờ, không một khe nhỏ nào không bị nó moi móc” [71, 96]
+ Một trường hợp khác của NKC hàm ẩn, trường hợp NKC toàn tri: NKC
đứng ngoài, đứng trên thế giới được trình bày để quan sát, kể và bình luận, lý
giải sự kiện, am tường mọi chuyện Chẳng hạn, NKC trong Án sán n n , G
v n n , G t t
+ NKC có thể tựa vào ĐN của một nhân vật hay hóa thân vào nhân vật để
kể lại câu chuyện Lúc này, NKC sẽ nhìn thấu cả thế giới nội tâm với những suy
nghĩ thầm kín nhất của nhân vật như NKC trong truyện Lũ vịt trời Tác giả đã
tựa vào ĐN của lão Khổ để kể lại những cảm xúc của người nông dân khi bị mất mùa, bị chèn ép
Ở một bình diện khác, Booth đưa ra khái niệm NKC tin cậy và NKC
không đáng tin cậy
Theo ông, NKC là đáng tin cậy khi anh ta nói và hành động hoà hợp với những chuẩn mực của tác phẩm Còn NKC không đáng tin cậy không phải là người nói dối mà là anh ta có “khả năng đánh lừa”, anh ta được trình bày như là lời nói của anh ta bao giờ cũng hoà hợp với chuẩn mực của cuốn sách, nhưng
thực tế lại không phải là như thế Ví dụ, NKC trong các truyện V n lửa, P ẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp là NKC không đáng tin cậy, anh ta “đánh lừa” độc
giả bằng cách đưa ra những lời kể, những nhận định phi thực tế của các nhân vật [dẫn theo 36, 30]
Những người kể không đáng tin cậy cũng rất khác nhau Một số thì cách
xa độc giả và tác giả, một số lại rất gần với quan điểm lý tưởng của tác giả Vì
Trang 2220
vậy, với người kể không đáng tin cậy này đòi hỏi sự sáng suốt của độc giả nhiều hơn so với trường hợp người kể đáng tin cậy
1.2.2 iểm nhìn
1.2.2.1 Quan niệm về điểm nhìn
Trong Ngôn ngữ học, Nghiên cứu văn học và Thi pháp học có rất nhiều quan niệm khác nhau về điểm nhìn (ĐN) Các tác giả Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Frederick Crews, M.Bakhtin, V.E.Khalizep, George Yule…trong các công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về ĐN Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất dùng khái niệm ĐN của tác giả
Nguyễn Thị Thu Thủy: “ĐN l vị trí, xuất p át điểm m từ đó iện t ực được quan sát v được kể lại” [36, 12]
Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, vị trí, xuất phát điểm của ĐN bao gồm:
- Ví trí xuất phát điểm về không gian, thời gian: Đó là vị trí gốc về không, thời gian của chủ thể để định vị hiện thực Vị trí này được thể hiện ở khoảng cách và hướng nhìn trong không gian, chiều và khoảng cách thời gian [36, 12] Khoảng cách không gian có thể xa hay gần; hướng nhìn có thể từ trong ra ngoài,
từ ngoài vào trong, hướng nhìn vật lí hoặc tâm lí Chiều thời gian sẽ được xác định bằng tọa độ là thời điểm hiện tại Và từ đó, ta có thể quay về quá khứ hoặc hướng tới tương lai Khoảng cách thời gian có thể dài hay ngắn; nhanh hay chậm
Trong truyện ngắn Tạ Duy Anh, chiều thời gian thường là chiều quay về quá khứ, các nhân vật thường ở thời điểm hiện tại để hồi tưởng lại những gì đã qua
- Vị trí và khoảng cách về quyền uy và thân hữu
Trang 2321
Tác giả Thu Thủy cho rằng “Khi người nói thực hiện hành vi nói năng thì đồng thời phải bộc lộ cái vị trí quyền lực và thân hữu của mình trong quan hệ với người nghe hoặc người được nói đến, dù người nói có mục đích bộc lộ cái vị trí này hay không” [36, 12]
Quan hệ thân hữu thường có ba mức độ: Tính thân hữu cao khi hai người có nhiều đặc tính xã hội chung như sự quan tâm, thói quen, tình cảm như các thành viên trong cùng một gia đình; Tính thân hữu bình thường khi hai người có đặc tính xã hội chung như cùng tôn giáo, địa phương, nguồn gốc nhưng không chung sự quan tâm, tình cảm; còn tính thân hữu thấp khi hai người có rất ít những đặc tính xã hội giống nhau
Quan hệ quyền uy thường dựa trên sự tương xứng về tiền bạc, địa vị, tuổi tác Có ba mức độ quan hệ quyền uy: quyền lực cao thường là người có địa vị xã hội, tuổi tác cao, nhiều tài sản ; quyền lực ngang bằng là người có nghề nghiệp, tuổi tác, vị trí xã hội…tương ứng với các vị trí nói trên ở người hội thoại với mình; quyền lực thấp): là người kém hơn về vị trí xã hội, nghề nghiệp, tuổi tác, nhận thức Tuy nhiên, sự phản ánh này chỉ là trong thực tế Trong tác phẩm văn học quyền lực và thân hữu của người nói, người nghe, người được nói đến không phải lúc nào cũng phản ánh đúng vị trí thực sự của anh ta mà nhiều khi bị khúc xạ theo chủ quan của người nói
- Xuất phát điểm về tâm lí: là trạng thái tâm lí của người nói, người nhìn khi thực hiện quan sát hoặc phát ngôn Đó có thể là trạng thái vui, buồn, giận, ghét…
Ví dụ : “ L o K ổ uất sặc máu, ầm l n Bởi vì tao k n ăn cướp được
n iều n ư c ún m ”.[40, 21]
Trang 2422
Trong ví dụ trên trạng thái khi Lão Khổ phát ngôn là căm phẫn những kẻ cường hào, những kẻ lãnh đạo chỉ biết lợi dụng chức vụ để vơ vét, quấy nhiễu nhân dân
- Xuất phát về cảm xúc: đó là cảm xúc chủ quan hay khách quan
- Xuất phát về nhận thức: là mức độ hiểu biết của người nói về cái được nói tới Tùy vào mức độ hiểu biết đó mà người nói có thể tái hiện rộng hay hẹp, nhiều hay ít về cái được tái hiện
- Xuất phát điểm về văn hóa, đạo đức, ý thức hệ cũng chi phối tới cách nhìn, cách nói của người nói, người quan sát
Như vậy, ĐN có thể có nhiều xuất phát điểm khác nhau nhưng đều mang đặc trưng là tính vị trí, điểm xuất phát, tính khoảng cách và hướng nhìn
1.2.2.2 ác nhân tố của
Cũng theo tác giả Thu Thủy, ĐN bao gồm bảy nhân tố, đó là: Người tiêu điểm hóa (NTĐH), nhân tố được tiêu điểm hóa (NĐTĐH), người phát ngôn, người nhận (độc giả), tiêu điểm, tiêu cự, hình thức ngôn ngữ
a) N ười ti u điểm oá
Người tiêu điểm hoá (NTĐH) hay chủ thể của ĐN là nhân vật mà nhận thức của anh ta sẽ định hướng cho sự phát triển của truyện [36, 14] Như vậy, NTĐH chính là người quan sát, cảm nhận, đánh giá, là xuất phát điểm để định vị
giá trị của thế giới hiện thực trong tác phẩm [36, 14] Ví dụ, “Tôi” trong Luân
ồi là NTĐH Anh ta là người quan sát, cảm nhận, kể lại câu chuyện về mình và
những người xung quanh như bà nội, cha, mẹ, lão Mị Và các mối quan hệ thân hữu trong truyện được xác lập từ “tôi”
Trong phần lớn truyện ngắn Tạ Duy Anh, tác giả đã sử dụng triệt để phương thức kể theo ĐN bên trong , do vậy trường hợp NTĐH đồng thời là
Trang 2523
NKC, là một nhân vật trong truyện chiếm một số lượng lớn Ngoài ra, cũng có trường hợp NTĐH không phải là NKC nhưng là nhân vật trong truyện như
truyện Lũ vịt trời, Bí mật vĩn cửu, Tội tổ t n
b) N ân t được ti u điểm oá
Nhân tố được tiêu điểm hoá (N.ĐTĐH) là nhân vật thuộc về thế giới của truyện, là đối tượng được NTĐH quan sát, nhận thức hoặc kể lại Trong truyện
ngắn Một câu c u ện cười, mọi hành động, việc làm của người cha đều được
nhìn, cảm nhận, đánh giá qua con mắt của người con, là nhân vật xưng “tôi” trong truyện Và như vậy, người cha chính là N.ĐTĐH
Khảo sát tập truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh, chúng tôi nhận thấy có nhiều trường hợp đặc biệt khi N.ĐTĐH là NTĐH, cũng đồng thời là NKC như
truyện Bước qua lời n u ền, Luân ồi, N ười k ác Mặt khác, phần lớn
N.ĐTĐH trong truyện cũng được kể theo ĐN bên trong Đó là những nhân vật
có thế giới nội tâm phong phú, tâm trạng, tình cảm phức tạp Chẳng hạn, lão Khổ với sự đau đớn trước cảnh thiên tai, mất mùa không thể thực hiện giấc mơ
xây cho vợ năm gian nhà to nhất làng trong Lũ vịt trời; đó còn là sự dằn vặt, khốn khổ khi cứ phải “đeo c iếc mặt nạ son p ấn” mà không được sống với chính mình của nhân vật “tôi” trong N ười k ác…
c) N ười p át n n: Là người sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để thể
hiện ĐN trong tác phẩm
d) N ười n ận: Đây là nhân tố không thể thiếu trong cấu trúc của một
ĐN, vì ĐN là để gửi đến một người nhận nào đó Đối với tác phẩm văn học, độc giả chính là người tiếp nhận ĐN và làm cho ĐN có ý nghĩa trong việc hiểu, đánh giá tác phẩm một cách thấu đáo
e) Ti u điểm
Trang 2624
Khi nói tiêu điểm là một nhân tố của ĐN trong tác phẩm tức là chúng ta
đề cập đến khái niệm tiêu điểm kể chuyện Trong một tác phẩm, tác giả có thể kể chuyện với tiêu điểm bên trong (tiêu điểm là thế giới nội tâm nhân vật), hoặc có thể là tiêu điểm bên ngoài ( tiêu điểm là các hành động bên ngoài của nhân vật.) Truyện của Tạ Duy Anh có cả hai loại tiêu điểm này, tuy nhiên tiêu điểm bên trong chiếm phần lớn
) Ti u cự: Là khoảng cách từ NTĐH đến N.ĐTĐH Trong truyện, đó là
khoảng cách từ NTĐH hoặc NKC đến nhân vật, từ NKC đến độc giả.[36, 19]
Khoảng cách đó theo Booth, đó là khoảng cách thẩm mỹ Đó là khoảng cách về không gian, thời gian, quyền lực, thân hữu, đạo đức…Và khi các yếu tố này ở nhân vật hoặc độc giả càng gần với NTĐH hay NKC thì khoảng cách đó càng rút ngắn dần
) Hìn t ức n n n
Ngôn ngữ chính là một phương tiện để xây dựng các ĐN Bởi vì, khi muốn bộc lộ ĐN, chủ thể ĐN buộc phải sử dụng các yếu tố ngôn ngữ Trong truyện ngắn, ĐN thường được nhận biết qua các yếu tố ngôn ngữ về không gian, thời gian, các từ xưng hô, cách gọi tên nhân vật…
1.2.2.3 hân loại điểm nhìn
Trong quá trình nghiên cứu ĐN, đã có nhiều tác giả đưa ra những căn cứ khác nhau để phân loại Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu đều chia
ĐN thành ba loại: ĐN bên trong; ĐN bên ngoài và ĐN toàn tri
- ĐN b n tron còn được gọi là ĐN chủ quan hay tâm lý Ở loại này, tiêu
điểm để kể chuyện chính là thế giới nội tâm phong phú của N.ĐTĐH NTĐH, NKC sẽ quan sát, cảm nhận và tái hiện lại nội tâm nhân vật
Trang 2725
- ĐN b n n o i: còn gọi là ĐN khách quan hay ĐN hành động Tiêu điểm
của loại ĐN này là lời nói và hành động bên ngoài của nhân vật Tức là NKC, NTĐH đứng ngoài nhân vật, chỉ nhìn thấy, mô tả những hành vi nhân vật, không biết gì về suy nghĩ, nội tâm bên trong của nhân vật
- ĐN to n tri: NKC, NTĐH tỏ ra là người thông suốt cả thế giới bên ngoài
và nội tâm bên trong của nhân vật, nhưng không thâm nhập quá sâu vào bất cứ phương diện nào Sự thông tuệ của NTĐH, NKC thể hiện ở việc bộc lộ những suy ngẫm, bình luận về nhân vật, sự kiện được nói tới
1.2.3 gôn ngữ kể chuyện
Trong luận văn này khái niệm ngôn ngữ kể chuyện sẽ được hiểu theo nghĩa
rộng bao gồm ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật
1.2.3.1 ời người kể chuyện
Lời người kể chuyện hay ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ nhà văn dùng
để xây dựng câu chuyện, là nơi bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn
Lời NKC có vai trò quan trọng : “Trước hết tạo ra hình tượng NKC trong truyện do có đặc điểm cá tính hoá không hoà lẫn với đặc điểm nhân vật; nó thể hiện ĐN của NKC hoặc NTĐH mà NKC dựa vào đó để kể chuyện đồng thời là mối dây liên kết các yếu tố tổ chức tác phẩm “để nêu bật tính cách nhân vật, làm nổi bật tư tưởng và chủ đề tác phẩm” [36, 32] Nó còn là cơ sở để người đọc nhận ra phong cách, cá tính của tác giả
Lời người kể chuyện gồm: lời kể, lời tả, lời dẫn thoại, lời trữ tình ngoại
đề
Trang 2826
Lời kể thường chiếm tỉ lệ lớn nhất trong lời nói của NKC Nó có vai trò
đặc biệt quan trọng trong việc dẫn dắt, chú giải, kết nối sự kiện, phụ họa cho lời nhân vật Với các đặc điểm về trình tự kể và nhịp điệu kể, lời kể liên quan đến điểm nhìn, thời gian và kết cấu tác phẩm
Lời tả cũng là kiểu lời chiếm tỷ lệ đáng kể Lời tả tái hiện thế giới vật thể,
thiên nhiên và con người từ đời sống vào trong tác phẩm Qua lời tả, quan điểm, thái độ, cái nhìn của tác giả về đời sống được bộc lộ bởi nó ngầm chứa thông điệp, ý chỉ của người trần thuật, thể hiện năng lực quan sát và tài năng tái tạo hiện thực, quan niệm thẩm mĩ của tác giả Gorki nói: “Trong truyện, những con người được tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả, tác giả luôn luôn ở bên cạnh họ, tác giả mách cho người đọc biết rõ cần phải hiểu nhân vật như thế nào, giải thích cho người đọc hiểu những ý nghĩ thầm kín, những động cơ bí ẩn phía sau những hành động của các nhân vật được miêu tả, tô đậm thêm cho tâm trạng của họ bằng những đoạn mô tả thiên nhiên, trình bày hoàn cảnh, và nói chung là luôn luôn giật dây cho họ thực hiện những mục đích của mình, điều khiển một cách tự do và nhiều khi rất khéo léo nhưng lại rất võ đoán, mặc dù người đọc không nhận thấy những hành động, những lời lẽ, những việc làm, những mối tương quan của họ…”
Lời dẫn t oại: Thường có chức năng dẫn dắt, báo trước sự xuất hiện, sự
tồn tại của lời nói nhân vật, khiến cho lời thoại xuất hiện không đột ngột mà luôn gắn với một chủ thể, tình huống, ngữ cảnh nhất định Vì thế, lời dẫn thoại không chỉ đóng vai trò chuyển tiếp, nối liền giữa các sự kiện, mà còn có thể cung cấp những thông tin về hành động nói năng, tâm trạng, tính cách nhân vật, giúp người đọc hiểu rõ hơn nội dung các phát ngôn Đồng thời, các đặc điểm về
Trang 29“Cô ta nói: Ngày mai tôi sẽ lại đến đây”
- Dẫn thoại gián tiếp là lời của người nói được dẫn lại nhưng không được tái hiện nguyên vẹn từ và cấu trúc ngữ pháp Ví dụ: “Cô ta nói rằng cô ta sẽ trở lại đây ngày hôm sau”
Lời dẫn thoại có thể nằm trước câu thoại, giữa câu thoại hay sau câu thoại
Dù ở vị trí nào thì lời dẫn thoại cũng có chức năng cơ bản là dẫn dắt sự tồn tại của lời nói nhân vật
Lời tr tìn (lời bìn luận) được coi là lời trực tiếp của tác giả, nằm ngoài
cốt truyện, không có mối liên hệ với ngôn ngữ nhân vật về mặt hình thức Đây là một trong những yếu tố ngoài cốt truyện: một bộ phận của ngôn ngữ người kể chuyện trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự Trong đó tác giả hoặc người kể chuyện trực tiếp bộc lộ những tư tưởng, tình cảm, quan niệm của mình đối với cuộc sống và nhân vật được trình bày qua cốt truyện [2; 319]
Hình thức của lời trữ tình ngoại đề thường là một ngữ đoạn, một đoạn văn Có khi nó đứng riêng nhưng cũng có khi xen kẽ với lời kể hoặc lời tả của người dẫn chuyện Chính việc nằm xen kẽ này khiến cho lời bình luận nhiều khi rất khó xác định Nhất là khi giọng điệu bình luận của tác giả lại tồn tại rõ nét đằng sau những suy nghĩ và dưới lớp vỏ ngôn từ của nhân vật
1.2.3.2 ời nhân vật
Trang 3028
Ngôn ngữ nhân vật chính là lời nói trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm, được biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông qua sự lựa chọn của nhà văn, nhằm mục đích tái hiện một cách sinh động tính cách, đặc điểm của nhân vật Trong tác phẩm nghệ thuật, nhà văn có thể cá thể hoá ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách đặt câu, dùng từ hay lời phát âm đặc biệt của nhân vật, sử dụng các yếu tố tình thái thể hiện sắc thái ngôn ngữ địa phương, các yếu
tố từ ngữ mang dấu ấn văn hoá riêng của từng lớp người như trí thức tiểu tư sản, nông dân, người buôn bán…
Trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ nhân vật tồn tại ở hai dạng thức: Lời độc thoại nội tâm và lời thoại (lời đối thoại)
a, Độc t oại
Độc thoại chiết tự có nghĩa là "Nói một mình"; trong ngôn ngữ học, độc thoại còn được gọi là đơn thoại Đó là hình thức giao tiếp trong đó chỉ có một bên nói và không có bên tiếp nhận Không có phản ứng của một người thứ hai, không bị tác động và chi phối bởi các nhân tố ngôn cảnh của một cuộc thoại.Thoại trường ở đây không có các vai cùng tham gia với tư cách các tham thoại
Độc thoại nội tâm là một loại độc thoại tồn tại chủ yếu trong văn bản nghệ thuật (tiểu thuyết, truyện ngắn ) là phương thức để truyền đạt tư tưởng, tình cảm Các nhà văn thường sử dụng độc thoại nội tâm như một thủ pháp nghệ thuật, nhằm thể hiện chân thực, sống động nhân cách con người, với những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm thường thấy trong xã hội loài người Khi sử dụng độc thoại nội tâm tức là nhà văn muốn sử dụng một ngôn ngữ riêng, bỏ qua người đối thoại trực tiếp để đào sâu tính cách, tâm hồn của nhân vật Có thể coi đó là hành vi “mượn lời”(mượn lời nhân vật) để thể hiện ý đồ của tác giả; điều này
Trang 3129
làm hoạt động ý thức của nhân vật sinh động hơn, nhân vật được khai thác sâu hơn, chân thực và sống động hơn
Độc thoại nội tâm thường được chỉ ra bằng các từ “tự n ủ”, “t ầm
n ĩ”… và không phải bao giờ cũng rành rọt mà thường rối ren, lộn xộn, chắp
nối Đó chính là hình thức tái hiện tính tự phát của dòng ý thức và cảm xúc Tác
giả Trôvenxki trong cuốn Lý luận văn c định nghĩa “Độc t oại nội tâm l ìn
t ức n n n của tư du v ấn tượn n ân vật Tron cấu trúc của nó có t ể xuất iện ai k u n ướn Mu n dẫn dắt trật tự su n ĩ v ấn tượn n ân vật, v p ản án c ún tron n n ìn t ức iao tiếp Mặt k ác lại mu n tái iện dòn ý t ức về trật tự r i rắm tron ìn t ức nội tại của nó”
Độc thoại nội tâm thường là những suy nghĩ, toan tính, tâm tư về cách sống, về gia đình, bạn bè, và bản thân của nhân vật mà chỉ một mình nhân vật biết , không được thể hiện bằng âm thanh Nhưng khi thể hiện dưới dạng viết nó mang đậm tính khẩu ngữ tự nhiên (có sự sắp xếp để đạt mục đích riêng của nhà văn) Vì thế, các phát ngôn trong các đoạn độc thoại nội tâm rất phong phú, có thể là đoản ngữ, câu đơn, câu phức…phản ánh tâm lí, phương ngữ, phong tục, văn hoá từng vùng…
Thông thường trong văn bản nghệ thuật, các đoạn độc thoại nội tâm được phát hiện thông qua các hình thức khác nhau của các phát ngôn đứng trước nó như:
+ Dạng phát ngôn kể, phát ngôn lập luận: (X) “tự ỏi rằn ”, “n ĩ rằn ” , “c o rằn n ư t ế l …”, “có sao k n n ỉ?”…v v
+ Dạng cảm thán : “c ao ơi! mìn m , “ k n t a ” “ mìn lại”…
+ Hoặc dưới dạng hồi ức : “Hồi đó”, “n ớ lại ồi xưa”…v v
Trang 3230
Tuy nhiên không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định được các đoạn độc thoại nội tâm Ngày nay, khi các ý niệm về đời sống tâm lí con người phát triển mạnh mẽ thì cách thức sử dụng độc thoại nội tâm (một thủ pháp các nhà văn thường dùng để miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật) cũng có nhiều biến đổi, nhiều hình thức phong phú và khó xác định hơn Cụ thể là: ranh giới giữa độc thoại nội tâm với “dòng ý thức”, “bình luận ngoại đề”, “ngôn từ nửa trực tiếp”
và ngay cả “đối thoại” ngày càng có xu hướng đan xen vào nhau, khiến người đọc và ngay cả nhà nghiên cứu cũng khó phân biệt rạch ròi
b Đ i t oại
“Lời đối thoại là lời trong giao tiếp song phương mà lời này xuất hiện như một phản ứng đáp lại lời nói trước Lời nói đối thoại bộc lộ thuận lợi nhất khi hai bên đối thoại có sự tiếp xúc phi quan phương và không công khai, không bị câu thúc, trong không khí bình đẳng về mặt đạo đức của người đối thoại Lời đối thoại thường kèm theo các động tác cử chỉ biểu cảm và tạo nên bởi phát ngôn của nhiều người” [7; 159]
Hình thức của đối thoại là những phát ngôn trực tiếp được nói ra trong một ngữ cảnh nhất định Có đối thoại một chiều tức là hồi đáp tiêu cực, nhưng hình thức cơ bản nhất vẫn là “mặt đối mặt” với các vận động hội thoại cơ bản như trao đáp, tương tác… Trong tác phẩm văn học, nhiều khi, lời đối thoại của các nhân vật được tác giả truyền đạt dưới hình thức nguyên vẹn trực tiếp, được hình thức hoá bởi các dấu câu để phân biệt với lời người kể chuyện (ngôn ngữ trần thuật)
Gắn với đối thoại thường có các khái niệm sau:
- Cuộc thoại: là đơn vị hội thoại lớn nhất, bao trùm [17, 297] Có thể nói toàn bộ hoạt động ngôn ngữ của con người là một chuỗi dằng dặc những lời đối
Trang 331.2.4 hời gian, không gian nghệ thuật
- Không gian là hình thức tồn tại của vật chất Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều tồn tại trong một không gian nhất định
Trong tác phẩm văn học, không gian mang tính nghệ thuật, nó được cấu
trúc một cách có hiệu quả theo ý thức sáng tạo của nhà văn Theo Từ điển t uật
n văn c, không gian là “ ìn t ức b n tron của ìn tượn n ệ t uật t ể iện tín c ỉn t ể của nó Sự mi u tả, trần t uật tron n ệ t uật bao iờ cũn xuất p át từ một điểm n ìn, diễn ra tron một trườn n ìn n ất địn , qua đó t ế iới n ệ t uật cụ t ể, cảm tín bộc lộ to n bộ quản tín của nó cái n b n cạn cái kia, li n tục, các qu n , tiếp n i, cao, t ấp, xa, ần, rộn , d i, tạo
t n viễn cản n ệ t uật K n ian n ệ t uật ắn với cảm t ụ về k n ian n n man tín c ủ quan” [16, 160] Cùng với các yếu tố khác, không gian
nghệ thuật góp phần kiến tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh
- Thời gian nghệ thuật được hiểu là “ ìn t ức nội tại của ìn tượn n ệ
t uật t ể iện tín c ỉn t ể của nó Cũn n ư k n ian n ệ t uật, sự mi u tả, trần t uật tron văn c n ệ t uật bao iờ cũn xuất p át từ một điểm n ìn n ất địn tron t ời ian V cái được trần t uật bao iờ cũn diễn ra tron t ời ian, được biết qua t ời ian trần t uật Sự p i ợp của ai ếu t t ời ian n tạo
Trang 3432
t n t ời ian n ệ t uật… K ác với t ời ian k ác quan được đo bằn đồn ồ
v lịc , t ời ian n ệ t uật có t ể đảo n ược, qua về quá k ứ, có t ể ba vượt tới tươn lai xa x i, có t ể dồn nén một k oản t ời ian d i tron c c lát, lại có t ể kéo d i cái c c lát t n v tận T ời ian n ệ t uật được đo bằn n iều t ước
đo k ác n au, bằn sự lặp lại đều đặn của các iện tượn đời s n được ý t ức sự
s n , cái c ết, ặp ỡ, c ia ta , mùa n , mùa k ác,… tạo n n n ịp điệu tron tác
p ẩm N ư vậ , t ời ian n ệ t uật ắn liền với tổ c ức b n tron của ìn tượn
Như vậy, PTKC là cách thức mà NKC sử dụng để thực hiện hành vi kể chuyện của mình Nó được biểu hiện cụ thể qua việc lựa chọn các yếu tố tham gia vào việc kể chuyện như: ĐN, NKC, thời gian, không gian…
Việc phân loại PTKC trong truyện đã gây nhiều tranh cãi và thu hút nhiều nhà nghiên cứu như:Sylavan Barnet, Morton Berman, Norman Fiedman, W.Booth, John Lyons, G.Genette Mỗi tác giả đã đưa ra những tiêu chí, căn cứ riêng để phân chia PTKC Và quan điểm của G.Genette được nhiều sự tán đồng hơn cả
Trong khi các nhà nghiên cứu khác có thể cùng lúc dựa vào nhiều tiêu chí
để phân loại PTKC thì G.Genette chỉ dự vào một tiêu chí duy nhất là điểm nhìn
Trang 35- Truyện kể theo tiêu điểm hóa bên trong: (ĐN bên trong): là kiểu truyện
kể nội tâm, dòng tâm tư Ở loại truyện này, NKC = nhân vật Truyện kể theo ĐN bên trong có hai loại: truyện kể theo ĐN bên trong cố định: NKC chỉ biết hết về
một nhân vật như truyện ngắn Lũ vịt trời, N ười k ác của Tạ Duy Anh; truyện kể
theo ĐN bên trong di động là kiểu truyện kể mà NKC biết được suy nghĩ, hành
động của nhiều nhân vật, ví dụ truyện ngắn Bước qua lời n u ền, Vòn trầm luân trần ian của Tạ Duy Anh
- Truyện kể theo tiêu điểm hóa bên ngoài (ĐN bên ngoài): trường hợp này NKC < nhân vật NKC “nói” và “biết” ít hơn các nhân vật Anh ta chỉ quan sát thuần túy, không giải thích, bình luận hay đánh giá gì về hiện thực anh ta tái
hiện Ví dụ, truyện Con ruồi, N ũ ia tru ện, Con vẹt trong tập truyện ngắn
chọn lọc của Tạ Duy Anh
Trang 36- Thống nhất các quan niệm về NKC, cách phân loại NKC trong tác phẩm
tự sự và nêu ra một số vai trò của NKC
- Ở phương diện ĐN, sau khi nghiên cứu các quan niệm về ĐN của nhiều
tác giả, chúng tôi lựa chọn khái niệm ĐN của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy:
“ĐN l vị trí, xuất p át điểm m từ đó iện t ực được quan sát v được kể lại”
Chúng tôi cũng đã trình bày kết quả nghiên cứu bảy nhân tố của ĐN của tác giả Thu Thủy đó là: NTĐH, N.ĐTĐH, người phát ngôn, người nhận, tiêu điểm, tiêu
cự, hình thức ngôn ngữ; đồng thời nêu cách phân loại ĐN phổ biến nhất hiện nay
- Phân biệt ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật Chỉ ra các thành phần cơ bản và vai trò của ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm tự sự
- Luận văn đưa ra khái niệm về phương thức kể chuyện, cách phân loại phương thức kể chuyện của G.Genette để làm căn cứ nghiên cứu trong luận văn của mình
- Đưa ra khái niệm về thời gian, không gian nghệ thuật của các tác iả Từ điển t uật n văn c
Tất cả những lí luận ở trên sẽ là căn cứ nền tảng để chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “P ươn t ức kể c u ện tron tru ện n ắn Tạ Du An ”
Trang 3735
hương 2
Ặ ỂM ƯƠ ỨC KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN T DUY ANH
Phương thức kể chuyện chính là cách nhà văn lựa chọn các yếu tố tham gia vào việc kể chuyện Và mỗi nhà văn lại có những cách thức riêng trong việc lựa chọn các yếu tố kể để làm nên nét độc đáo cho riêng mình
Vận dụng hệ thống lí thuyết đã trình ở chương 1, trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày đặc điểm trong phương thức kể chuyện của Tạ Duy Anh với các nội dung sau:
- Đặc điểm người kể chuyện, điểm nhìn
- Nghệ thuật xử lí thời gian, không gian nghệ thuật
2.1 gười kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn ạ uy Anh
Khảo sát 27 tác phẩm trong tập truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh, chúng tôi nhận thấy tác giả đã sử dụng tất cả các dạng thức xuất hiện của NKC và ĐN Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu những dạng thức tiêu biểu của NKC và ĐN gắn với PTKC đặc trưng trong các truyện ngắn của ông
2.1.1 gười kể chuyện tường minh với điểm nhìn bên trong
Đây là kiểu truyện được kể lại bởi NKC xưng “tôi”, đồng thời là một nhân vật tham dự vào các hành động của truyện NKC chính là NTĐH, anh ta là người quan sát, kể lại chuyện mình và những việc có liên quan đến anh ta Với phương thức kể chuyện lộ diện này, diễn ngôn của nhân vật xưng tôi thường hướng sự chú
Trang 3836
ý của người đọc vào chính mình, tức là có xu hướng giãi bày cảm xúc chủ quan của bản thân cái “tôi” Chính vì vậy, tầm nhìn của NTĐH bị hạn chế, anh ta chỉ kể những gì anh ta biết, chứng kiến Dù tầm nhìn bị hạn chế, nhưng NKC lại có lợi thế bộc lộ nội tâm nhân vật của chính mình và những người xung quanh Khuynh hướng kể chuyện với NKC tường minh đã và đang chiếm ưu thế trong nền văn học hiện đại Việc thay đổi hình thức kể chuyện từ ngôi thứ ba – toàn năng, thượng đế sang kể chuyện ngôi thứ nhất, kể chuyện lộ diện, vừa chủ quan vừa khách quan là phù hợp với xu thế khám phá con người cá nhân trong văn học Trong tập truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh, hình thức NKC tường minh xưng “ tôi” kể theo điểm nhìn bên trong chiếm số lượng tương đối lớn, có 11/27 tác phẩm được kể với hình thức này “Tôi” trong trường hợp này là một nhân vật trong tác phẩm, xuất phát từ thế giới nội tâm của mình hoặc của nhân vật để quan sát, cảm nhận và kể lại câu chuyện Có khi “tôi” kể chuyện những người xung quanh nhưng cũng có khi “tôi” tự kể chuyện của chính bản thân mình Thuộc về
kiểu kể chuyện này có các truyện: Bước qua lời n u ền, Vòn trầm luân trần ian, Hóa kiếp, Tội tổ t n , Tru ền t u ết viết lại, Luân ồi, N i n của c a
t i, Đ n n v đ n b , N n c iếc á , N ười k ác, Một câu c u ện cười
a “Tô ” tự ể uyện mìn
Hình thức NKC xưng “tôi” kể lại câu chuyện của chính mình xuất hiện nhiều trong các truyện ngắn Tạ Duy Anh Là cái “tôi” tự kể về mình nên câu chuyện thường được kể lại theo sự vận động của dòng nội tâm, dòng chảy của tâm lí nhân vật Câu chuyện được kể gắn với những gì “tôi” đã trải qua
“Tôi” trong N ười k ác vừa là NKC, NTĐH đồng thời là NĐTĐH Anh ta
tự kể câu chuyện phải sắm vai “người khác” của mình từ khi được bổ sung muộn
Trang 3937
vào trung cấp kĩ thuật cho tới hết cuộc đời Kể lại câu chuyện của mình nên tâm trạng , cảm xúc của “tôi” rất thật:
Ví dụ : “U n xon c én nước t i đ toan đứn dậ N ưn một ý n ĩ
c ết tiệt vẫn bám t eo t i n ần ấ năm, n am iểm iện ra Nó xoá v o tận trun tâm n o bộ của t i câu ỏi v cùn đơn iản Liệu có đún l an ta k n
n ận ra t i? Cũn c ín l điều t i vẫn kin sợ n ất k i xuất iện trước đám
đ n n ư một kẻ dan iá v an ta k i đó l kẻ v ìn đan mỉm cười c ế n ạo
T i lén n ìn v o ươn mặt lặn p ắc của an ta M i són ió cuộc đời đều n ư
luôn sống trong khốn khổ với nỗi ám ảnh bị phát hiện: “N iều năm t án rồi t i
lu n k n k ổ về c u ện n N iều n ười k n k ổ t eo t i Na t i mu n được
s n t an t ản”[40,407] Nhưng khát vọng được thanh thản của anh ta không
thể trở thành hiện thực bởi “chiếc mặt nạ son phấn” anh ta đã mang quá lâu ngày
Và khi bị dồn vào bước đường cùng, không còn con đường cho anh ta đoạn tuyệt
với thân phận của kẻ sắm vai, “tôi” đã phản ứng lại tất cả: “Miện t i rít l n t e
t é, c ắc p ải rợn lắm Ta iám đ c nằm co quắp, rúm rõ, bất t n n ân
Trang 4038
dạn K n iểu sao nó k iến t i tức cười T i m bụn cười lăn cười lộn
“Được, đ t ế tao sẽ tự tử Tao sẽ tự tử n a bâ iờ Mặc mẹ c ún
m ”.[40,408]
Trong nhiều cái “tôi” kể chuyện trong truyện ngắn Tạ Duy Anh, đặc biệt
có một nhân vật “tôi” của tác giả với nhiều chi tiết tự truyện như nhân vật “tôi”
trong Bước qua lời n u ền Toàn bộ câu chuyện là những hồi ức, ám ảnh, dày
vò của “tôi” về cái thời con người cứng đờ vì thiên kiến, ngu muội vì thù hận, vầy vật nhau trong các vụ đấu tố quy kết triền miên, tìm cách trả thù nhau Con người sống ngu muội, tăm tối, ngột ngạt, chết xuống mồ vẫn hẹn nhau trả thù Con người bị cầm tù trong cái vòng luẩn quẩn, không có nhân tính, đời nọ làm tội đời kia, “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, đời trước chưa trả hết thù bắt đời con cháu phải trả tiếp
Trong truyện, nhân vật “tôi” – người kể chuyện cùng một lúc đóng cả hai vai trò, một là NKC và một là nhân vật trung tâm chi phối đến quá trình phát triển của mạch truyện Đồng thời, “tôi” cũng chính là NĐTĐH, và vì vậy nội tâm của “tôi” hiện lên rất sắc nét khi tự nhìn mình, tự soi xét và kể chuyện:
Ví dụ: “Năm t i l n bả tuổi, t i đ được iáo dục k á cẩn t ận về vị trí
m t i đan c iếm i một k oản tí teo i a cuộc đời m n m n n T i
p ải n ớ rằn t n p ần ia đìn t i bần n n Dĩ n i n bần n n l ì, nó
k ác địa c ủ, p ú n n ở c ỗ n o t ì t i k n biết Đầu óc trẻ con của t i l m sao iểu được n n qu địn t i n li n ấ
K i lật tập ồ sơ mỏn teo, có lẽ cũn đơn sơ n ư tâm ồn t i, c iáo
dạ vỡ lòn của t i, xin đẹp n ư ti n sa, lẩm bẩm “t n p ần cơ bản”
“Được” Rồi c trịn tr n tu n b “Kể từ m na em có n ĩa vụ p ải l m