1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật nước CHXHCN Việt Nam, vai trò và ý nghĩa của việc dạy pháp luật trong môn GDCD ở trường trung học

111 1,4K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước là một hiện tượng đa dạng và phức tạp; do vậy, để nhận thức đúng bản chất của Nhà nước cũng như những biến động trong đời sống Nhà nước cần lý giải đầy đủ hàng loạt vấn đề, trong đó, nhất thiết làm sáng tỏ nguồn gốc hình thành Nhà nước, chỉ ra những nguyên nhân làm xuất hiện Nhà nước. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng. - Các học thuyết phi mácxít về nguồn gốc của Nhà nước + Thuyết thần quyền học cho rằng, thượng đế sinh ra loài người và sinh ra Nhà nước. + Thuyết gia trưởng cho rằng, Nhà nước xuất hiện chính là kết quả sự phát triển của gia đình và quyền gia trưởng. + Thuyết bạo lực cho rằng, Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ các cuộc chiến tranh xâm lược chiếm đất, là việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác. + Thuyết tâm lý cho rằng, Nhà nước xuất hiện do nhu cầu về tâm lý của con người nguyên thủy luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sĩ, cần có người phụ trách. + Thuyết “khế ước xã hội” cho rằng, sự ra đời của Nhà nước là sản phẩm của một khế ước xã hội được ký kết trước hết giữa những con người sống trong một cộng đồng. - Quan điểm về nguồn gốc Nhà nước của chủ nghĩa Mác – Lênin2 Học thuyết Mác - Lênin đã giải thích một cách khoa học về Nhà nước, trong đó, có vấn đề nguồn gốc của Nhà nước. Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Nhà nước là một phạm trù lịch sử, nghĩa là có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nhà nước xuất hiện một cách khách quan, nhưng không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến. Nhà nước luôn vận động, phát triển và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của chúng không còn nữa. Như vậy, Nhà nước xuất hiện một cách khách quan, là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định. Những tiền đề kinh tế - xã hội dẫn đến sự ra đời của Nhà nước là sự xuất hiện của chế độ tư hữu, sự phân chia xã hội thành các giai cấp, tầng lớp mà lợi ích cơ bản là đối kháng, dẫn đến mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp. - Những phương thức hình thành Nhà nước điển hình trong lịch sử Nhà nước Aten: là hình thức Nhà nước thuần túy nhất và cổ điển nhất, Nhà nước nảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ sự đối lập giai cấp và phát triển ngay trong nội bộ xã hội thị tộc. Nhà nước Rôma: hình thành vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, từ cuộc đấu tranh bởi những người thường dân chống lại giới quý tộc, thị tộc Rôma - La Mã. Nhà nước của người Giéc-Manh: ra đời sau chiến thắng của người Giécmanh đối với đế chế La Mã cổ đại. Nhà nước này hình thành khoảng giữa thế kỷ V trước công nguyên, từ việc người Giéc-Manh xâm chiếm vùng lãnh thổ rộng lớn của đế chế La Mã cổ đại. Ở phương Đông cổ đại, Nhà nước xuất hiện từ rất sớm, nhưng không phải là do những điều kiện kinh tế - xã hội trong nội tại xã hội đó, mà chủ yếu do nhu cầu cố kết đấu tranh chống lại thiên nhiên (nhu cầu trị thủy) và chống giặc ngoại xâm. Nhà nước Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập cổ đại,… được hình thành từ rất sớm, hơn 3000 năm trước công nguyên. Ở Việt Nam, từ sự hình thành phôi thai của Nhà nước cuối thời Hùng Vương – Văn Lang đến Nhà nước sơ khai thời An Dương Vương – Âu Lạc.3 1.1.2. Bản chất của Nhà nước Bản chất của Nhà nước được thể hiện sâu sắc và trước hết trong tính giai cấp, tính xã hội (vai trò xã hội) và những đặc trưng của Nhà nước. - Tính giai cấp của Nhà nước Nhà nước chỉ sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai cấp. Nhà nước là sản phẩm và là biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Nhà nước bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp một cách sâu sắc. Nhà nước nào cũng là Nhà nước của một giai cấp, là bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, là bộ máy duy trì sự thống trị giai cấp. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, thể hiện dưới ba hình thức: chính trị, kinh tế, tư tưởng. - Tính xã hội của Nhà nước Nhà nước thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc, song Nhà nước còn có tính xã hội. Nhà nước là tổ chức công quyền, là phương thức bảo đảm lợi ích chung của toàn xã hội. với tư cách là tổ chức công quyền, Nhà nước phải giải quyết tất cả các vấn đề nảy sinh trong xã hội, phải thực hiện chức năng quản lý toàn xã hội. Nhà nước phải thống nhất quản lý xã hội bằng pháp luật. Vai trò xã hội của Nhà nước còn thể hiện qua vai trò của Nhà nước trong kiến trúc thượng tầng của xã hội. Trong mối quan hệ với các tổ chức chính trị khác của xã hội (các đảng chính trị, các tổ chức xã hội) thì Nhà nước giữ vị trí trung tâm. Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, Nhà nước còn có mối quan hệ qua lại, chặt chẽ với các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, khoa học, nghệ thuật, đạo đức, tôn giáo. Kết luận: Nhà nước là một tổ chức chính trị có quyền lực công cộng đặc biệt, được hình thành và bị quyết định bởi nhu cầu trấn áp giai cấp và nhu cầu quản lý các công việc chung của xã hội. 1.1.3. Các dấu hiệu đặc trưng (đặc điểm) của Nhà nước4 Thứ nhất, nhà nước thiết l p quyền lực công cộng đặc biệt không hòa nh p với dân cư, hầu như tách khỏi xã hội; Nhà nước có bộ máy cưỡng chế duy trì địa vị của giai cấp thống trị, để thực hiện quyền lực và quản lý xã hội. Thứ hai, nhà nước quản lý cư dân theo sự phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính, không theo quan hệ huyết thống như trước. Thứ ba, nhà nước có chủ quyền quốc gia. Nhà nước đại diện, nắm giữ chủ quyền quốc gia. Thứ tư, nhà nước ban hành pháp lu t và thực hiện sự quản lý xã hội bằng pháp lu t. Thứ năm, nhà nước quy định và thực hiện thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc. Những đặc điểm trên đây nói lên sự khác nhau giữa Nhà nước với các tổ chức chính trị khác, đồng thời cũng phản ánh vị trí và vai trò của Nhà nước trong xã hội có giai cấp. Như vậy, có thể định nghĩa chung về Nhà nước: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý xã hội, nhằm thực hiện và bảo vệ trước hết lợi ích chung của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng. 1.2. Kiểu Nhà nƣớc 1.2.1. Khái niệm kiểu Nhà nước Kiểu Nhà nước là một trong những khái niệm cơ bản của khoa học lý luận chung về Nhà nước và pháp luật. Học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, là cơ sở khoa học để phân chia các kiểu Nhà nước trong lịch sử. Trong lịch sử nhân loại, từ khi xuất hiện xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế - xã hội: cổ đại (chủ nô), phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa. Phù hợp với bốn hình thái kinh tế - xã hội ấy là bốn kiểu Nhà nước: Nhà nước cổ đại (chủ nô), Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa.5 Kiểu Nhà nước là tổng thể những đặc điểm cơ bản của Nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội, những điều kiện phát sinh, tồn tại và phát triển của Nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp nhất định. Sự thay thế các kiểu Nhà nước trong lịch sử là một quá trình tiến hóa, là tất yếu gắn liền với sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội tương ứng, phụ thuộc vào thay đổi của cơ sở kinh tế. Quá trình thay thế đó có những đặc điểm sau: - Mang tính tất yếu khách quan; - Được thực hiện bằng một cuộc cách mạng xã hội; - Kiểu Nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu Nhà nước trước. Như vậy, “kiểu Nhà nước” là một khái niệm tổng hợp, cho phép xác định Nhà nước thuộc mỗi kiểu là của giai cấp cụ thể nào, cũng như các yếu tố khác có liên quan đến sự tồn tại và xu thế phát triển của nó trong lịch sử. 1.2.2. Các kiểu Nhà nước trong lịch sử 1.2.2.1. Nhà nước chủ nô (Nhà nước cổ đại hay Nhà nước chiếm hữu nô lệ) - Nhà nước chủ nô là kiểu Nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ra đời trên sự tan rã của chế độ thị tộc, gắn liền với xuất hiện chế độ tư hữu và phân chia xã hội thành giai cấp. Mặc dù vậy, cách thức xuất hiện, sự tồn tại và quá trình phát triển của các Nhà nước cổ đại cũng rất khác nhau. Một số Nhà nước ở phương Đông cổ đại như: Ai Cập, Ấn Độ… rất khác với các nước phương Tây cổ đại như Aten, Rôma… (ví dụ: trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở phương Tây (chế độ nô lệ cổ điển), thì nô lệ là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội). Còn ở phương Đông cổ đại, thì nô lệ không phải là lực lượng sản xuất chủ yếu mà hầu hết là họ làm các công việc gia đình

Trang 1

ĐỀ TÀI: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM; VAI TRÒ

VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC DẠY PHÁP LUẬT TRONG MÔN GIÁO DỤC

CÔNG DÂNỞ TRƯỜNG TRUNG HỌC

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng

- Các học thuyết phi mácxít về nguồn gốc của Nhà nước

+ Thuyết thần quyền học cho rằng, thượng đế sinh ra loài người và sinh ra

Nhà nước

+ Thuyết gia trưởng cho rằng, Nhà nước xuất hiện chính là kết quả sự

phát triển của gia đình và quyền gia trưởng

+ Thuyết bạo lực cho rằng, Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ các cuộc chiến

tranh xâm lược chiếm đất, là việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác

+ Thuyết tâm lý cho rằng, Nhà nước xuất hiện do nhu cầu về tâm lý của

con người nguyên thủy luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sĩ, cần có người phụ trách

+ Thuyết “khế ước xã hội” cho rằng, sự ra đời của Nhà nước là sản phẩm của một khế ước xã hội được ký kết trước hết giữa những con người sống trong

một cộng đồng

- Quan điểm về nguồn gốc Nhà nước của chủ nghĩa Mác – Lênin

Trang 2

Học thuyết Mác - Lênin đã giải thích một cách khoa học về Nhà nước, trong đó, có vấn đề nguồn gốc của Nhà nước

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Nhà nước là một phạm trù lịch sử, nghĩa là

có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Nhà nước xuất hiện một cách khách quan, nhưng không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến Nhà nước luôn vận động, phát triển và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho

sự tồn tại và phát triển của chúng không còn nữa

Như vậy, Nhà nước xuất hiện một cách khách quan, là sản phẩm của một

xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Những tiền đề kinh tế - xã hội dẫn đến sự ra đời của Nhà nước là sự xuất hiện của chế độ tư hữu, sự phân chia

xã hội thành các giai cấp, tầng lớp mà lợi ích cơ bản là đối kháng, dẫn đến mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp

- Những phương thức hình thành Nhà nước điển hình trong lịch sử

Nhà nước Aten: là hình thức Nhà nước thuần túy nhất và cổ điển nhất,

Nhà nước nảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ sự đối lập giai cấp và phát triển ngay trong nội bộ xã hội thị tộc

Nhà nước Rôma: hình thành vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, từ

cuộc đấu tranh bởi những người thường dân chống lại giới quý tộc, thị tộc Rôma

- La Mã

Nhà nước của người Giéc-Manh: ra đời sau chiến thắng của người

Giécmanh đối với đế chế La Mã cổ đại Nhà nước này hình thành khoảng giữa thế kỷ V trước công nguyên, từ việc người Giéc-Manh xâm chiếm vùng lãnh thổ rộng lớn của đế chế La Mã cổ đại

Ở phương Đông cổ đại, Nhà nước xuất hiện từ rất sớm, nhưng không phải

là do những điều kiện kinh tế - xã hội trong nội tại xã hội đó, mà chủ yếu do nhu cầu cố kết đấu tranh chống lại thiên nhiên (nhu cầu trị thủy) và chống giặc ngoại xâm Nhà nước Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập cổ đại,… được hình thành từ rất sớm, hơn 3000 năm trước công nguyên

Ở Việt Nam, từ sự hình thành phôi thai của Nhà nước cuối thời Hùng Vương – Văn Lang đến Nhà nước sơ khai thời An Dương Vương – Âu Lạc

Trang 3

1.1.2 Bản chất của Nhà nước

Bản chất của Nhà nước được thể hiện sâu sắc và trước hết trong tính giai cấp, tính xã hội (vai trò xã hội) và những đặc trưng của Nhà nước

- Tính giai cấp của Nhà nước

Nhà nước chỉ sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai cấp Nhà nước là sản phẩm và là biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Nhà nước bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp một cách sâu sắc

Nhà nước nào cũng là Nhà nước của một giai cấp, là bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, là bộ máy duy trì sự thống trị giai cấp Trong xã hội có giai cấp đối kháng, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, thể hiện dưới ba hình thức: chính trị, kinh tế, tư tưởng

- Tính xã hội của Nhà nước

Nhà nước thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc, song Nhà nước còn có tính

xã hội Nhà nước là tổ chức công quyền, là phương thức bảo đảm lợi ích chung của toàn xã hội với tư cách là tổ chức công quyền, Nhà nước phải giải quyết tất

cả các vấn đề nảy sinh trong xã hội, phải thực hiện chức năng quản lý toàn xã hội Nhà nước phải thống nhất quản lý xã hội bằng pháp luật

Vai trò xã hội của Nhà nước còn thể hiện qua vai trò của Nhà nước trong kiến trúc thượng tầng của xã hội Trong mối quan hệ với các tổ chức chính trị khác của xã hội (các đảng chính trị, các tổ chức xã hội) thì Nhà nước giữ vị trí trung tâm

Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, Nhà nước còn có mối quan hệ qua lại, chặt chẽ với các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, khoa học, nghệ thuật, đạo đức, tôn giáo

Kết luận: Nhà nước là một tổ chức chính trị có quyền lực công cộng đặc

biệt, được hình thành và bị quyết định bởi nhu cầu trấn áp giai cấp và nhu cầu quản lý các công việc chung của xã hội

1.1.3 Các dấu hiệu đặc trưng (đặc điểm) của Nhà nước

Trang 4

Thứ nhất, nhà nước thiết l p quyền lực công cộng đặc biệt không hòa

nh p với dân cư, hầu như tách khỏi xã hội; Nhà nước có bộ máy cưỡng chế duy trì địa vị của giai cấp thống trị, để thực hiện quyền lực và quản lý xã hội

Thứ hai, nhà nước quản lý cư dân theo sự phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính, không theo quan hệ huyết thống như trước

Thứ ba, nhà nước có chủ quyền quốc gia Nhà nước đại diện, nắm giữ chủ

quyền quốc gia

Thứ tư, nhà nước ban hành pháp lu t và thực hiện sự quản lý xã hội bằng pháp lu t

Thứ năm, nhà nước quy định và thực hiện thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc

Những đặc điểm trên đây nói lên sự khác nhau giữa Nhà nước với các tổ chức chính trị khác, đồng thời cũng phản ánh vị trí và vai trò của Nhà nước trong xã hội có giai cấp

Như vậy, có thể định nghĩa chung về Nhà nước: Nhà nước là một tổ chức

đặc biệt của quyền lực chính trị có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý xã hội, nhằm thực hiện và bảo vệ trước hết lợi ích chung của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng

1.2 Kiểu Nhà nước

1.2.1 Khái niệm kiểu Nhà nước

Kiểu Nhà nước là một trong những khái niệm cơ bản của khoa học lý

luận chung về Nhà nước và pháp luật Học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh

tế - xã hội, là cơ sở khoa học để phân chia các kiểu Nhà nước trong lịch sử Trong lịch sử nhân loại, từ khi xuất hiện xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế - xã hội: cổ đại (chủ nô), phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa Phù hợp với bốn hình thái kinh tế - xã hội ấy là bốn kiểu Nhà nước: Nhà nước cổ đại (chủ nô), Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Trang 5

Kiểu Nhà nước là tổng thể những đặc điểm cơ bản của Nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội, những điều kiện phát sinh, tồn tại và phát triển của Nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp nhất định

Sự thay thế các kiểu Nhà nước trong lịch sử là một quá trình tiến hóa, là tất yếu gắn liền với sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội tương ứng, phụ

thuộc vào thay đổi của cơ sở kinh tế Quá trình thay thế đó có những đặc điểm sau:

- Mang tính tất yếu khách quan;

- Được thực hiện bằng một cuộc cách mạng xã hội;

- Kiểu Nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu Nhà nước trước

Như vậy, “kiểu Nhà nước” là một khái niệm tổng hợp, cho phép xác định

Nhà nước thuộc mỗi kiểu là của giai cấp cụ thể nào, cũng như các yếu tố khác

có liên quan đến sự tồn tại và xu thế phát triển của nó trong lịch sử

1.2.2 Các kiểu Nhà nước trong lịch sử

1.2.2.1 Nhà nước chủ nô (Nhà nước cổ đại hay Nhà nước chiếm hữu nô lệ)

- Nhà nước chủ nô là kiểu Nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ra đời trên sự tan rã của chế độ thị tộc, gắn liền với xuất hiện chế độ tư hữu và phân chia xã hội thành giai cấp Mặc dù vậy, cách thức xuất hiện, sự tồn tại và quá trình phát triển của các Nhà nước cổ đại cũng rất khác nhau Một số Nhà nước ở phương Đông cổ đại như: Ai Cập, Ấn Độ… rất khác với các nước phương Tây cổ đại như Aten, Rôma… (ví dụ: trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở phương Tây (chế độ

nô lệ cổ điển), thì nô lệ là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội) Còn ở phương Đông cổ đại, thì nô lệ không phải là lực lượng sản xuất chủ yếu mà hầu hết là họ làm các công việc gia đình

Nhà nước chủ nô, xét về bản chất, là công cụ bạo lực để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp chủ nô, duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của chủ

nô, đàn áp nô lệ và những người lao động khác

1.2.2.2 Kiểu Nhà nước phong kiến

Nhà nước phong kiến là kiểu Nhà nước bóc lột, nhưng nó tiến bộ hơn so với Nhà nước chiếm hữu nô lệ Ở hầu hết các nước châu Âu, Nhà nước phong

Trang 6

kiến được hình thành trên sự sụp đổ của chế độ chiếm hữu nô lệ Nhưng đối với một số dân tộc như: Giécmanh, Mông Cổ… thì Nhà nước đầu tiên lại là Nhà

nước phong kiến

Cơ sở kinh tế của Nhà nước phong kiến là chế độ sở hữu của giai cấp địa

chủ phong kiến đối với tư liệu sản xuất mà chủ yếu là ruộng đất, người nông dân không có hoặc có rất ít ruộng đất nên phải phụ thuộc vào địa chủ phong kiến

Cơ sở xã hội của Nhà nước phong kiến: Thành phần giai cấp được mở

rộng, phức tạp; ngoài hai giai cấp chính là địa chủ và nông dân Giai cấp địa chủ

là giai cấp thống trị trong xã hội Giai cấp nông dân chiếm đa số trong dân cư, nhưng bị trói buộc vào ruộng đất và bị phụ thuộc vào phong kiến ở mỗi nước, trong mỗi thời kỳ của chế độ phong kiến có sự khác nhau nhất định Ngoài ra, trong xã hội phong kiến còn có các tầng lớp như tăng lữ, thợ thủ công, thị dân, thương nhân… Những người giữ các chức sắc tôn giáo có uy quyền và ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống chính trị, xã hội Trong các Nhà nước phong kiến châu Âu, Giáo hội thiên chúa giáo có quyền lực rất lớn Chế độ đẳng cấp phong kiến cũng được áp dụng trong các tổ chức tôn giáo và được Nhà nước phong kiến bảo hộ

Nhà nước phong kiến là công cụ để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp địa chủ phong kiến đối với nông dân, bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, duy trì các hình thức bóc lột với nông dân và các tầng lớp lao động khác

1.2.2.3 Kiểu Nhà nước tư sản

Do sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và sự hình thành quan hệ tư bản trong lòng xã hội phong kiến, quan hệ sản xuất phong kiến đã trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ phong kiến rơi vào khủng hoảng toàn diện Tiền đề ra đời Nhà nước tư sản là sự khủng hoảng toàn diện của chế độ phong kiến và sự hình thành trong lòng xã hội phong kiến ấy các quan hệ tư bản Sự ra đời của Nhà nước tư sản đánh dấu sự tiến bộ lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại Nhà nước tư sản ra đời là kết quả của cuộc cách mạng tư sản

Trang 7

Cơ sở kinh tế của Nhà nước tư sản là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư

Cơ sở xã hội , do nhu cầu tích lũy tư bản, tìm kiếm lợi nhuận cao, giai cấp

tư sản đã thực hiện sự bóc lột dã man và đẩy giai cấp vô sản đến chỗ bần cùng hóa, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản và những người lao động khác ngày càng gay gắt

Cơ sở tư tưởng, Nhà nước tư sản được tổ chức và hoạt động dựa trên hệ

tư tưởng tư sản vốn được hình thành trong quá trình đấu tranh với quý tộc phong kiến Nhà nước tư sản đặc biệt chú trọng truyền bá hệ tư tưởng tư sản, bảo đảm vai trò thống trị của hệ tư tưởng này trong xã hội, ngăn cản sự phát triển của các

tư tưởng tiến bộ và cách mạng

1.2.2.4 Kiểu Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu Nhà nước cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người Sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang tính tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật vận động và phát triển xã hội Nguyên nhân dẫn đến

sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là những tiền đề về kinh tế, xã hội và chính trị xuất hiện trong lòng xã hội tư sản

Vào cuối thế kỷ XIX, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ tính trì trệ, kìm hãm sự phát triển sản xuất xã hội, không phù hợp với tính chất và trình

độ của lực lượng sản xuất đã phát triển đến mức xã hội hóa cao, mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất ngày càng gay gắt, đòi hỏi phải tiến hành cải biến cách mạng, xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xác lập kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đó chính là quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất – quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Đây là tiền đề kinh tế cho sự ra đời Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Về mặt xã hội, do nhu cầu tích lũy tư bản, tìm kiếm lợi nhuận cao, giai cấp tư sản đã thực hiện sự bóc lột dã man và đẩy giai cấp vô sản đến chỗ bần cùng hóa, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản và những nhười lao động khác ngày càng gay gắt

Trang 8

Cơ sở tư tưởng chính trị, là chủ nghĩa Mác - Lênin Những thành tựu vĩ đại

của khoa học tự nhiên thu được đã mở ra khả năng nhận thức đúng đắn hơn bản chất của sự phát triển của thế giới khách quan, trên cơ sở đó tổng kết một cách khoa học lịch sử phát triển loài người, các lãnh tụ tư tưởng của giai cấp vô sản

đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết này là vũ khí tư tưởng khoa học để giai cấp công nhân tổ chức và tiến hành cách mạng vô sản, xây dựng một chế độ văn minh

Sự phát triển của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi hỏi phải

có một tổ chức cách mạng tiên phong lãnh đạo, vì thế, Đảng Cộng sản và công nhân được thành lập và trở thành hạt nhân lãnh đạo quần chúng lao động trong

sự nghiệp đấu tranh xóa bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng chế độ mới

Lịch sử đấu tranh giành chính quyền của giai cấp vô sản thế giới cho đến nay đã chứng kiến ba hình thức ra đời Nhà nước xã hội chủ nghĩa:

- Công xã Pari năm 1871, giai cấp công nhân và những người lao động đã giành được chính quyền tại Thủ đô nước Pháp

- Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga, giai cấp công nhân nông dân và binh lính tiến công vào cơ quan đầu não của Chính phủ Nga hoàng đập tan bộ máy Nhà nước tư sản và địa chủ, lập nên Nhà nước Xôviết – Nhà nước công nông và sử dụng Nhà nước đó xây dựng một xã hội mới – xã hội chủ nghĩa, không có áp bức, bóc lột

- Nhà nước dân chủ nhân dân ra đời sau thắng lợi vĩ đại của nhân dân Liên Xô và các lực lượng tiến bộ đối với chủ nghĩa phát xít quốc tế Trong bối cảnh quốc tế đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và công nhân đã tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đổ các chế độ thực dân, phản động, giành chính quyền về tay nhân dân và sử dụng chính quyền đó tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu được thành lập;

ở châu Á như Việt Nam, Triều Tiên, Trung Quốc là những Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời theo hình thức này

Nhà nước XHCN ra đời là kết quả cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tùy theo

Trang 9

điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước mà sự ra đời cũng như việc tổ chức nhà nước kiểu mới với những hình thức khác nhau, song bản chất của nó như Lênin chỉ rõ: “Bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội cố nhiên không thể không đem lại rất nhiều những hình thức khác nhau, nhưng thực chất của những hình thức ấy tất nhiên sẽ chỉ là một tức là: chuyên chính vô sản” (Lênin – Toàn tập Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976 – Tập 33, trang 44)

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà nước nào cũng là nền chuyên chính của giai cấp thống trị về chính trị Nhưng sự thống trị của giai cấp công nhân có bản chất và mục đích khác hẳn với sự thống trị về chính trị của các giai cấp bóc lột Sự thống trị của giai cấp bóc lột là sự thống trị của thiểu số đối với tất cả các giai cấp bị bóc lột nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột Trái lại, chuyên chính vô sản là sự thống trị của giai cấp công nhân nhằm xóa bỏ áp bức bóc lột, bảo vệ lợi ích của tất cả nhân dân lao động, xây dựng một xã hội mới – xã hội không còn người bóc lột người

Sự xác lập chuyên chính vô sản trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa cộng sản là cần thiết vì thời kì này còn tồn tại nhiều giai cấp khác nhau Chuyên chính

vô sản vì vậy không chỉ là trấn áp bằn bạo lực đối với giai cấp bóc lột, mà còn là một tổ chức thông qua đó Đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội Không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhà nước đó không giữ được bản chất giai cấp công nhân của mình Vì vậy, bảo đảm vai trò lãnh đạo cảu Đảng Cộng sản đối với nhà nước là nguyên tắc sống còn của chuyên chính vô sản Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước không chỉ

là yếu tố đảm bảo bản chất giai cấp công nhân của nhà nước, mà còn là điều kiện để giữ vững tính nhân dân, tính chất dân chủ rộng rãi của nhà nước đó Bản chất giai cấp công nhân và bản chất dân chủ là hai mặt thống nhất của nhà nước

xã hôi chủ nghĩa

Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng, nhà nước xã chủ nghĩa là nhà nước đặc biệt, nhà nước quá độ, nhà nước không còn nguyên nghĩa nhà nước “nửa nhà nước” Sau khi những cơ sở kinh tế xã hội của sự xuất hiện và tồn tại nhà nước mất đi thì nhà nước sẽ không còn tồn tại Sự mất đi của nhà nước xã hội

Trang 10

chủ nghĩa không phải bằng con đường “xóa bỏ” mà bằng con đường “tự tiêu vong” và muốn cho nó nhanh chóng đi đến chỗ tiêu vong phải không ngừng xây dựng và hoàn thiện nó Sự tiêu vong của nhà nước xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài

1.3 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.3.1 Sự ra đời và bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.3.1.1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trung tâm quyền lực trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay được hình thành trong quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Nhà nước ta ra đời sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Đó là hệ thống chính trị có tính chất dân chủ nhân dân; sau khi thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, hệ thống chính trị đó chuyển sang làm nhiệm vụ của

hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

Hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà

nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

- Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị, lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là yêu cầu khách quan, là điều kiện cơ bản để đảm bảo hệ thống chính trị và nhà nước giữ đúng bản chất giai cấp công nhân, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân và bảo đảm cho con đường phát triển của xã hội Việt Nam theo đúng con đường xã hội chủ nghĩa

- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “cột trụ của hệ thống chính trị”, là “công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân” (1) Nhà nước vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị - hành chính, vừa là tổ chức quản lý văn hoá

xã hội của nhân dân Nhà nước thực hiện sự quản lý xã hội bằng pháp luật và thực hiện đối nội và đối ngoại

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đại diện cho tầng lớp nhân dân tham gia vào việc xây dựng thể chế chính trị, xây dựng và

Trang 11

quản lý nhà nước tuỳ theo tính chất, tôn chỉ và mục đích của mình Liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân, của cộng đồng xã hội của ta là Mặt trận Tổ quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đoàn kết toàn dân

Như vậy, hệ thống chính trị là một thể thống nhất, việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhất thiết phải đặt trong quan hệ với các tổ chức khác của hệ thống chính trị Việc đổi mới một cách căn bản tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải xác định rõ và giải quyết các mối quan hệ sau đây:

Mối quan hệ của Đảng và nhà nước: Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo nhà nước tức và toàn xã hội Đảng lãnh đạo nhà nước tức là Đảng cầm quyền, nhưng Đảng không phải là tổ chức quyền lực chính trị mang tính pháp quyền, không phải là quyền lực nhà nước Đảng lãnh đạo nhà nước bằng đường lối chủ trương chính sách của Đảng và thông qua đội ngũ đảng viên của Đảng hoạt động trong các cơ quan nhà nước Đảng lãnh đạo nhà nước nhưng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật nhà nước Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật đối với toàn xã hội, nhưng hoạt động của Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trong quan hệ giữa nhà nước với các đoàn thể nhân dân và toàn thể nhân dân: Nhà nước là tổ chức công quyền và thực thi quyền lực chính trị Nhưng nhà nước là công cụ để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân – nhà nước của nhân dân, nhân dân không chỉ làm chủ nhà nước (dân chủ đại diện) mà còn bằng các

tổ chức và hoạt động của các đoàn thể có tính chất tự quản (dân chủ trực tiếp)

Vì vậy, nhân dân là chủ thể của hệ thống chính trị và những tổ chức đại diện của các tầng lớp nhân dân tuy không mang tính chất quyền lực nhà nước nhưng có vị trí và vai trò quan trọng tạo thành “cơ sở chính trị vững chắc của chính quyền nhân dân”

Trang 12

1.3.1.2 Bản chất của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bản chất của nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước có tính giai cấp, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật và nêu cao vai trò của pháp chế

Nhà nước yêu cầu mọi tổ chức, mọi công dân phải tôn trọng và tuân thủ luật pháp đi đôi với phát huy các giá trị đạo đức và văn hoá dân tộc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân có bản chất khác hẳn với bản chất nhà nước của giai cấp bóc lột Điều này được quy định một cách khách quan từ cơ sở kinh tế và chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân Bản chất giai cấp công nhân được thể hiện bằng toàn bộ hoạt động của nhà nước từ pháp luật, cơ chế chính sách đến những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước Các hoạt động này đều thể hiện quan điểm của giai cấp công nhân nhằm từng bước thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc

Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc

là thống nhất Sự thống nhất bắt nguồn từ bản chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo Sau khi giành được chính quyền thì nhân dân lao động trở thành người chủ của đất nước Giai cấp công nhân muốn tự giải phóng mình phải đồng thời giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội Hơn nữa, khi chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu được xác lập, nhân dân là người làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu đó, thì đương nhiên mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân Vì vậy, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của ta mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời cũng gắn bó chặt chẽ với dân tộc, nhân dân Điều này được quán triệt, được cụ thể hoá, thể chế hoá và thực hiện trên mọi lĩnh vực, mọi tổ chức và hoạt động của nhà nước Cũng chỉ có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, hoạt động theo đường lối, quan điểm

Trang 13

của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân mới là đại biểu cho lợi ích chung của nhân dân lao động và toàn dân tộc

Tính nhân dân của nhà nước ta thể hiện ở chỗ: Nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa của ta là của dân, quyền lực thực sự ở “nơi dân” chính quyền do nhân dân lập nên và nhân dân tham gia quản lý nhà nước Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, cán bộ công chức nhà nước là công bộc của dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân

Tính dân tộc của nhà nước thể hiện ở chỗ: trong tổ chức và hoạt động nhà

nước ta kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, bản sắc tốt đẹp của dân tộc và con người Việt Nam Nhà nước có chính sách dân tộc đúng đắn, chăm lo lợi ích mọi mặt cho các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và thực hiện đoàn kết dân tộc, coi đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân là đường lối chiến lược,

và là động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc, giữ vững quan điểm của Đảng về độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại; kết hợp đúng đắn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân

1.3.1.4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

a) Nguyên tắc quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân

Điều 2 Hiến pháp 2013 ghi: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất

cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

b) Nguyên tắc nhân dân tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản

lý xã hội

Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất dân chủ của nhà nước xã hội chủ nghĩa Ở nước ta, thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đã làm thay đổi chủ thể quyền lực nhà nước Nhân dân từ vị trí người nô lệ phụ thuộc bởi chế độ thuộc địa nửa phong kiến trở thành người làm chủ đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 14

Thực hiện nguyên tắc này, Hiến pháp 2013, Điều 28 ghi nhận: “Công dân

có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tạo ra những khả năng, điều kiện và phương tiện để nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội Trong quá trình phát triển xã hội các chức năng quản lý ngày càng đơn giản hơn

và ngược lại trình độ dân trí ngày một nâng cao hơn, do vậy, mọi người đều có thể làm được, nó không còn là chức năng riêng của một lớp người đặc biệt nữa, chức năng quản lý sẽ được mọi người thay nhau đảm nhiệm

c) Nguyên tắc Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chịu sự

lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nó được thể hiện trong tổ chức và hoạt động của nhà nước Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã

hội

Đảng lãnh đạo nhà nước trước hết thông qua việc xây dựng và hoàn chỉnh cương lĩnh, chiến lược, định ra các chủ trương chính sách cho hoạt động của nhà nước và toàn xã hội để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Đảng lãnh đạo bằng tuyên truyền, thuyết phục, bằng công tác tư tưởng và

tổ chức, bằng vai trò gương mẫu của đảng viên và tổ chức Đảng Đảng xây dựng đường lối phù hợp với lợi ích của nhân dân, được nhân dân ủng hộ và thực hiện Như vậy, thực chất sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là sự lãnh đạo chính

Trang 15

trị mang tính định hướng, tạo điều kiện để nhà nước tổ chức bộ máy, bố trí cán

bộ, thực hiện chức năng quản lý bằng những công cụ, biện pháp của mình Đảng lãnh đạo nhà nước thông qua công tác cán bộ Là Đảng cầm quyền nên Đảng ta lựa chọn những đảng viên ưu tú của mình tham gia vào các cơ quan nhà nước trước hết là Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp bằng con đường giới thiệu để nhân dân lựa chọn bầu ra Vì vậy, cơ chế dân chủ cũng là thước đo

uy tín và năng lực của Đảng trước xã hội và nhân dân

Đảng lãnh đạo nhà nước nhưng không “hoá thân thành nhà nước”, do vậy, việc phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng với vai trò quản lý của nhà nước là yêu cầu khách quan Song, cũng cần phải đề phòng, đấu tranh chống lại những quan điểm sai lầm muốn tách Đảng ra khỏi nhà nước, cần phải cảnh giác trước bọn

cơ hội và các thế lực thù địch âm mưu xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, đưa đất nước đi chệch khỏi mục tiêu chủ nghĩa xã hội

d) Nguyên tắc t p trung dân chủ

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta Nguyên tắc này đã được thể hiện nhất quán trong các Hiến pháp của nước ta, Điều 8 Hiến pháp 2013 ghi: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”

Bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo quy định của Hiến pháp bao gồm ba cơ quan thực hiện ba chức năng khác nhau: Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Toà án nhân dân thực hiện quyền tư pháp Hoạt động của các cơ quan này theo nguyên tắc tập trung dân chủ Nhưng ở mỗi cơ quan nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện khác nhau Đối với Quốc hội khi phải quyết định những vấn đề hệ trọng các đại biểu thường cân nhắc đến:

- Lợi ích của cả nước khi biểu quyết lựa chọn một phương án trong nhiều phương án được đề xuất

- Lợi ích của đại phương, ngành, khi biểu quyết các đại biểu không chỉ thể hiện ý chí của cả nước mà còn chú ý đến nguyện vọng của cử tri nơi đã bầu ra họ

Trang 16

Do những chi phối đó nên Quốc hội không có cách nào tốt hơn là biểu quyết theo nguyên tắc đa số Nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt của Quốc hội là thiểu số phục tùng đa số trong mọi trường hợp

Đối với Chính phủ: Chính phủ vừa là thiết chế làm việc với chế độ tập thể quyết định theo đa số về những vấn đề quan trọng, vừa đề cao vai trò cá nhân của Thủ thướng Chính phủ - người quyết định những vấn đề trong điều hành công việc thường xuyên của chính phủ Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Chính phủ vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập thể, vừa đảm bảo sự quản

lí của người đứng đầu chính phủ

Đối với cơ quan tư pháp: Trong các hoạt động xét xử, nguyên tắc tập trung dân chủ đòi hỏi thực hành đúng quan hệ làm việc giữa thẩm phán, hội thẩm và các thành viên khác trong hoạt động tố tụng, xác lập các quan hệ giữa các cấp xét xử, quan hệ giữa các cơ quan điều tra …

Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ là yếu tố đảm bảo hiệu lực quản lí của bộ máy nhà nước ta trên cơ sở phát huy tính chủ động sáng tạo của của các

cơ quan trung ương cũng như ở địa phương

- Một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội

- Pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh trong cuộc sống, từ các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân

Như vậy, không phải cứ có nhà nước, có pháp luật là có pháp chế, nhưng pháp luật lại đóng vai trò là tiền đề, cơ sở cho một trật tự pháp chế Bởi vì pháp luật là thước đo, là tiêu chuẩn thẩm định trật tự xã hội và tình trạng pháp chế cụ

Trang 17

thể cho từng thời kì Để nhận ra một xã hội có pháp chế, trước hết người ta xem xét pháp luật đã có hay chưa, có đầy đủ hay không? Được thực hiện hay chỉ là hình thức, tính xã hội của pháp luật ra sao?

Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi:

- Nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật một cách kịp thời và có

hệ thống

- Các cơ quan Nhà nước được lập ra và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật quy định về địa vị pháp lí, quy mô và thẩm quyền

- Sự tôn trọng hiến pháp, pháp luật của cơ quan Nhà nước

g) Nguyên tắc quyền lực Nhà nước thống nhất có phân công phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,

hành pháp, tư pháp; thực hiện sự phân cấp, nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, cơ sở…

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Thực hiện tốt các nguyên tắc trên nhằm đảm bảo cho nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” trong tổ chức và hoạt động

1.3.2 Bộ máy, chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.3.2.1 Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Khái niệm: Bộ máy Nhà nước là hệ thống các cơ quan Nhà nước từ

Trung ương xuống đến địa phương, tổ chức và hoạt động trên những nguyên tắc chung, thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

- Cơ cấu tổ chức: Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

được tổ chức thành bốn phân hệ các cơ quan Nhà nước và một chức danh nguyên thủ quốc gia (người đứng đầu Nhà nước) là Chủ tịch nước Bốn phân hệ

cơ quan Nhà nước bao gồm: Cơ quan quyền lực Nhà nước, cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát

Trang 18

- Các cơ quan Nhà nước: Các yếu tố hợp thành bộ máy Nhà nước là cơ quan

Nhà nước Các cơ quan Nhà nước rất đa dạng Tuy nhiên, thông thường cơ quan Nhà nước bao gồm 3 loại: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp

1.3.2.2 Chức năng của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Chức năng đối nội của Nhà nước: tổ chức và quản lý kinh tế: hoạch định

chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế; điều hành kinh tế vĩ mô

- Chức năng đối ngoại của Nhà nước: bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh

Thực hiện chức năng mở rộng quan hệ đối ngoại vì sự phát triển của Nhà nước

xã hội chủ nghĩa

1.3.3 Hình thức Nhà nước, chế độ chính trị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.3.3.1 Hình thức Nhà nước Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Hình thức chính thể của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam: Nhà nước ta được tổ chức theo hình thức chính thể Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Những đặc điểm cơ bản của chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam là:

Tất cả các cơ quan quyền lực Nhà nước đều do nhân dân trực tiếp bầu ra

và chịu trách nhiệm trước nhân dân

Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo các nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín

Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước luôn luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân

Theo Hiến pháp năm 2013: Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện

nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 8 )

Giữa Nhà nước với công dân có quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của hai bên

Trang 19

- Hình thức cấu trúc của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước đơn nhất, có chủ quyền chung, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam Các đơn vị hành chính – lãnh thổ không phải là những Nhà nước độc lập có chủ quyền riêng, mà chỉ là

những bộ phận cấu thành của Nhà nước Việt Nam thống nhất

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp (Tòa án và Viện Kiểm sát nhân dân) và chính quyền các địa phương

Nhà nước ta được tổ chức theo bốn cấp hành chính Theo đó, cấp dưới phải phục tùng cấp trên

Có một hệ thống các cơ quan Nhà nước thống nhất từ Trung ương xuống địa phương

Có một hệ thống pháp luật thống nhất trên phạm vi cả nước, trong đó, Hiến pháp là đạo luật cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất, mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp

Công dân mang một quốc tịch – quốc tịch Việt Nam

1.3.3.2 Chế độ chính trị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thường xuyên sử dụng các phương pháp dân chủ xã hội chủ nghĩa để thực hiện quyền lực của nhân dân Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân (Điều 3) Nhà nước áp dụng nhiều biện pháp nhằm thu hút đông đảo nhân dân tham gia ngày càng tích cực và có hiệu quả vào quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, trong đó, coi trọng tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục; vận động quần chúng tham gia trực tiếp vào quản lý Nhà nước và xã hội; tổ chức nhân dân trực tiếp xây dựng và thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động, tổ chức nhân dân trực tiếp kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy Nhà nước; đồng thời, Nhà nước ta cũng kiên quyết xử lý những hành vi xâm hại các quyền tự do dân chủ và các quyền hợp pháp khác của công dân

1.3.4 Phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.3.4.1 Tính tất yếu của xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Trang 20

- Nhà nước pháp quyền là một biểu hiện và thành tựu tiến bộ, dân chủ của

nhân loại

- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập cần phải xây dựng Nhà nước pháp quyền

- Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do

nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo

1.3.4.2 Những yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền là một quá trình thực hiện dân chủ

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải trong mối quan hệ chặt chẽ và có

hệ thống với các phương thức thực hiện dân chủ khác

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải chú ý đến tính chất và trình độ phát triển của kinh tế, các điều kiện văn hóa chính trị pháp lý cụ thể của Việt Nam

cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội

- Nguồn gốc pháp lu t: Theo học thuyết Mác - Lênin: Nhà nước và pháp

luật là hiện tượng trong lịch sử cơ bản nhất của đời sống chính trị - xã hội, cùng xuất hiện, cùng tồn tại, phát triển và cùng tiêu vong khi nhân loại tiến tới chủ nghĩa cộng sản

Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước cũng là những nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật Đó là chế độ tư hữu về tài sản và sự phân hóa xã hội thành giai cấp mà giữa các giai cấp có lợi ích đối kháng không thể điều hòa được

Nhà nước và pháp luật đều thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển khi xã hội đạt đến một trình độ phát triển nhất định

Trang 21

2.1.2 Bản chất của pháp luật

Bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ở tính giai cấp của nó, pháp luật

là con đẻ của xã hội có giai cấp, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị

Tính giai cấp của pháp lu t: là sự tác động của yếu tố giai cấp đến pháp

luật mà sự tác động này quyết định xu hướng phát triển, những đặc điểm cơ bản

của pháp luật

Tính giai cấp thể hiện chủ yếu trong nội dung và mục đích của sự điều chỉnh của pháp luật Theo đó, pháp luật bảo vệ lợi ích trước hết của giai cấp

thống trị

- Tính xã hội của pháp lu t: là sự tác động của các yếu tố xã hội (được

hiểu là sự đối lập với yếu tố giai cấp) đến xu hướng phát triển và những đặc điểm cơ bản của pháp luật Pháp luật có tính xã hội, bởi vì nhu cầu quản lý xã hội, trật tự chung của xã hội là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự ra đời của pháp luật Pháp luật cũng là phương tiện mô hình hoá cách

thức xử sự của các thành viên trong xã hội

2.1.3 Chức năng của pháp luật

Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt tác động chủ yếu của pháp luật, thể hiện bản chất và giá trị xã hội của pháp luật Pháp luật có các chức năng chủ yếu: Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội của pháp luật; Chức

năng giáo dục của pháp luật; Chức năng bảo vệ của pháp luật

2.2 Kiểu pháp luật và hình thức pháp luật

2.2.1 Kiểu pháp luật

- Khái niệm kiểu pháp lu t : là tổng thể những dấu hiệu cơ bản đặc thù

của pháp luật, thể hiện bản chất giai cấp, những điều kiện tồn tại và phát triển

của pháp luật trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Tương ứng với 4 hình thái kinh tế - xã hội (trong xã hội có giai cấp) có 4 kiểu pháp luật: kiểu pháp luật chủ nô; kiểu pháp luật phong kiến; kiểu pháp luật

tư sản; kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa

- Các kiểu pháp lu t trong lịch sử

Trang 22

Thứ nhất: Kiểu pháp lu t chủ nô, là kiểu pháp luật đầu tiên trong lịch sử,

là công cụ của giai cấp chủ nô để quản lý xã hội trong điều kiện mới, sau khi xã

hội tổ chức thị tộc - bộ lạc tan rã

Cơ sở kinh tế: tồn tại trên cơ sở quan hệ sản xuất chủ nô, đặc trưng bởi chế độ chiếm hữu tư nhân tuyệt đối của giai cấp chủ nô đối với tư liệu sản xuất,

sản phẩm lao động và người nô lệ

Cơ sở xã hội: pháp luật chủ nô tồn tại dựa trên kết cấu xã hội giai cấp Trong đó, pháp luật phản ánh chủ yếu ý chí của giai cấp chủ nô và các lực lượng

xã hội khác (loại trừ giai cấp nô lệ)

Bản chất của kiểu pháp luật chủ nô thể hiện: Công khai bảo vệ và củng cố quyền tư hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và người nô lệ Hình thức pháp luật chủ yếu là tập quán pháp và tiền lệ pháp Văn bản pháp luật xuất hiện muộn,

có nội dung tổng hợp các lĩnh vực trong đời sống xã hội, chưa có sự phân định

các ngành luật cụ thể

Thứ hai: Kiểu pháp lu t phong kiến, là kiểu pháp luật ra đời thay thế cho

kiểu pháp luật chủ nô

Cơ sở kinh tế: tồn tại trên cơ sở quan hệ sản xuất phong kiến, đặc trưng bởi chế độ tư hữu của địa chủ phong kiến đối với đất đai, tư liệu sản xuất khác

và một phần sức lao động của nông dân

Cơ sở xã hội: pháp luật phong kiến tồn tại dựa trên kết cấu xã hội giai cấp Trong đó, pháp luật phản ánh chủ yếu ý chí của giai cấp phong kiến, các lực

lượng xã hội khác

- Bản chất của pháp luật phong kiến: thể hiện ở những đặc điểm sau:

+ Bảo vệ chế độ tư hữu của địa chủ phong kiến đối với đất đai và chế độ

bóc lột địa tô đối với nông dân

+ Bảo vệ chế độ đẳng cấp và đặc quyền của giai cấp phong kiến

+ Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo và đạo đức phong kiến

Ngoài hệ thống pháp luật của Nhà nước còn tồn tại các quy định của các lãnh chúa và lệ làng của các địa phương Điều này đã làm cho pháp luật phong

kiến bị phân tán và thiếu tính ổn định

Trang 23

- Hình thức tập quán pháp và tiền lệ pháp vẫn đóng vai trò chủ yếu Văn bản pháp luật được sử dụng phổ biến hơn nhưng thường là những bộ luật có nội

dung tổng hợp, mà chế tài mang nặng tính chất hình sự

Thứ ba: Kiểu pháp lu t tư sản, cùng với sự ra đời của Nhà nước tư sản,

pháp luật tư sản được hình thành thay thế cho Pháp luật phong kiến Pháp luật tư sản kế thừa các kiểu pháp luật trước đó, vì nó được xây dựng trên những quan

hệ sản xuất của chế độ tư hữu và bóc lột

Pháp luật tư sản đã phát triển hơn rất nhiều cả về nội dung lẫn hình thức

so với các kiểu pháp luật trước đó Nó phản ánh sự thay đổi toàn diện của xã hội

về đời sống vật chất và tinh thần

Mặc dù pháp luật tư sản bảo vệ chế độ tư hữu tư sản và chế độ bóc lột làm thuê, nhưng về mặt pháp lý nó thừa nhận quyền tư hữu của tất cả mọi người Nhờ đó, các lực lượng xã hội có cơ sở pháp lý đấu tranh bảo vệ quyền lợi kinh tế

của mình

Lần đầu tiên pháp luật tư sản quy định các quyền tự do dân chủ rộng rãi cho công dân trong các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội và tự do cá nhân Tuy nhiên, trong thực tế, các quyền công dân bị cắt xén và không được bảo đảm thực

hiện đầy đủ

Pháp luật tư sản tuyên bố nguyên tắc tự do ký kết hợp đồng và không ngừng hoàn thiện nó, đặc biệt trong lĩnh vực dân sự và thương mại Chế định hợp đồng đã tạo sự thuận lợi cho sự lưu thông hàng hoá và phát triển sản xuất Hình thức pháp luật tư sản rất đa dạng, nhưng văn bản pháp luật vẫn là hình thức chủ yếu Đã có sự phân chia thành các ngành luật có đối tượng điều chỉnh riêng Đặc biệt là sự ra đời của Hiến pháp - đạo luật cơ bản

Thứ tư: Kiểu pháp lu t xã hội chủ nghĩa, pháp luật XHCN là hệ thống các

quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới

sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nước XHCN ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định; bảo đảm thực hiện bằng sự thuyết phục và giáo dục mọi người tôn trọng thực hiện và bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

Đặc trưng cơ bản của pháp lu t xã hội chủ nghĩa:

Trang 24

Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; pháp luật xã hội chủ nghĩa có tính quy phạm tiên tiến; pháp luật xã hội chủ nghĩa được bảo đảm thực hiện chủ yếu trên cơ sở giáo dục, thuyết phục

- Bản chất của pháp luật XHCN cũng được quy định bởi cơ sở kinh tế - xã

hội của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Cơ sở kinh tế: quan hệ sản xuất XHCN Cơ

sở xã hội: các giai cấp tồn tại trong xã hội

Tính giai cấp: Pháp luật XHCN phản ánh ý chí của giai cấp công nhân và

nhân dân lao động Pháp luật XHCN điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã

hội theo định hướng XHCN

Tính xã hội: Bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân

dân lao động, pháp luật XHCN còn bảo vệ lợi ích của các giai cấp khác trong xã hội Pháp luật XHCN có cơ sở xã hội rộng rãi Pháp luật XHCN là công cụ đảm

bảo công bằng xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của mọi cá nhân

- Những đặc điểm cơ bản của pháp lu t XHCN

Là một hệ thống các quy tắc xử sự có tính thống nhất nội tại cao, do cơ sở

kinh tế, xã hội và pháp lý của nó quy định

Thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Do Nhà nước XHCN, thể hiện quyền lực của nhân dân lao động - ban

hành và bảo đảm thực hiện

Có quan hệ chặt chẽ với chế độ kinh tế XHCN

Có quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng

+ Pháp luật bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả chức năng tổ chức và quản lý kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH

Trang 25

+ Pháp luật bảo đảm thực hiện nền dân chủ XHCN, phát huy quyền lực nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội

+ Pháp luật là cơ sở để giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội + Pháp luật có vai trò giáo dục mạnh mẽ

+ Pháp luật XHCN góp phần tạo dựng những quan hệ mới

+ Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác và phát triển

- Hệ thống nguyên tắc cơ bản của pháp lu t XHCN

Hệ nguyên tắc của pháp luật XHCN là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, có tính chất xuất phát điểm, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt và

có ý nghĩa bao quát, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật

2.2.2 Hình thức pháp luật

- Khái niệm hình thức pháp lu t, là cách thức mà giai cấp thống trị sử

dụng để thể hiện ý chí của giai cấp mình và xã hội, là phương thức tồn tại, dạng tồn tại thực tế của pháp luật

Hình thức pháp luật có hai dạng: Hình thức bên trong và hình thức bên ngoài của pháp luật

- Hình thức bên trong của pháp lu t: bao gồm các nguyên tắc chung của

pháp luật, hệ thống pháp luật, ngành luật, chế định luật và quy phạm pháp luật Trong mỗi quốc gia có một hệ thống pháp luật, quy phạm pháp luật là quy tắc

xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra hay thừa nhận, chế định pháp luật là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng loại trong một ngành luật Ngành luật là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội nhất định với những phương pháp điều chỉnh đặc trưng

- Hình thức bên ngoài của pháp lu t: Hình thức bên ngoài của pháp luật

(còn gọi là nguồn của pháp luật), là sự biểu hiện ra bên ngoài của pháp luật Nguồn của pháp luật bao gồm tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật Đây cũng là các hình thức pháp luật cơ bản

Trang 26

T p quán pháp: là hình thức Nhà nước thừa nhận một số tập quán đã lưu

truyền trong xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và nâng chúng lên thành pháp luật Đây là hình thức phổ biến của pháp luật chủ nô, pháp luật

phong kiến

Tiền lệ pháp: là hình thức Nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ

quan hành chính hoặc xét xử đã có hiệu lực pháp luật khi giải quyết các vụ việc

cụ thể (trong trường hợp pháp luật không quy định hoặc quy định không rõ) và

lấy đó làm căn cứ pháp lý để áp dụng các vụ việc xảy ra tương tự sau này

Văn bản quy phạm pháp lu t: là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền ban hành theo thủ tục trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội để thực

hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước

2.3 Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.3.1 Bản chất, nguyên tắc và vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.3.1.1 Bản chất của pháp lu t xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Cũng như Nhà nước, pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là kiểu pháp luật mới, có bản chất khác với bản chất các kiểu pháp luật trước đây và có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội Bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất với bản chất Nhà nước CHXHCN Việt Nam, thể hiện ở tính giai cấp và tính xã hội

Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là hệ thống các quy tắc xử sự thể hiện ý chí và lợi ích của nhân dân do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) có tính bắt buộc chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện trên cơ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Bản chất pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở các đặc điểm cơ bản sau đây: Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang tính nhân dân sâu sắc Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành và bảo đảm thực hiện Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

Trang 27

nghĩa Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội khác

2.3.1.2 Nguyên tắc của pháp lu t xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân Điều 2 Hiến pháp năm 2013, ghi nhận: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân…tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức;

- Nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa

- Nguyên tắc nhân đạo XHCN

- Nguyên tắc thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ pháp lý;

- Nguyên tắc công bằng

- Nguyên tắc: “Được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm” và nguyên tắc: “Chỉ được làm những gì pháp luật cho phép”

2.3.1.3 Vai trò của pháp lu t xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Vai trò của pháp luật đối với chính trị: đối với sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, làm cho dilo đó có hiệu lực thực thi và bắt buộc chung trên quy mô toàn

- Vai trò của pháp luật đối với các vấn đề xã hội: pháp luật có vai trò to lớn, công cụ điều chỉnh đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực các vấn đề xã hội

- Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân

- Vai trò của pháp luật đối với việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa

Trang 28

- Vai trò của pháp luật đối với đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Vai trò của pháp luật đối với đạo đức, tư tưởng, phong tục tập quán và các loại quy phạm xã hội khác

- Vai trò của pháp luật đối với quá trình hội nhập quốc tế

2.3.2 Quy phạm pháp luật

- Quy phạm pháp lu t là những quy tắc xử sự có tinh chất khuôn mẫu, bắt

buộc mọi chủ thể phải tuân thủ, được biểu thị bằng hình thức nhất định, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được Nhà nước bảo đảm thực hiện và thể hiện ý chí của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội

- Các đặc điểm riêng của quy phạm pháp lu t: Quy phạm pháp luật thể

hiện ý chí của Nhà nước; có tính phổ biến, bắt buộc chung; được xác định chặt chẽ về hình thức

- Cơ cấu của quy phạm pháp lu t: là cơ cấu bên trong, là các bộ phận hợp

thành quy phạm pháp luật Thông thường quy phạm pháp luật được hợp thành từ

ba bộ phận: giả định, quy định, chế tài Các bộ phận này có mối quan hệ chặt chẽ và quy định lẫn nhau

Giả định: là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những điều

kiện, hoàn cảnh (thời gian, địa điểm…) có thể xảy ra trong thực tế cuộc sống và

cá nhân hay tổ chức khi ở vào những hoàn cảnh, điều kiện đó phải chịu sự tác động của quy phạm pháp luật

Giả định được phân thành các loại cơ bản sau: giả định xác định, giả định tương đối

Phần giả định thường trả lời câu hỏi: Người ( tổ chức) nào? Khi nào? Trong những hoàn cảnh nào, điều kiện nào?

Quy định: là bộ phận nêu lên quy tắc xử sự mà mọi chủ thể phải tuân theo

khi gặp hoàn cảnh đã nêu trong giả định của quy phạm pháp luật đó

Phân loại quy định: căn cứ vào mệnh lệnh được nêu trong trong bộ phận

quy định, có các loại quy định: quy định cấm, quy định bắt buộc; quy định nghĩa

vụ và quy định cho phép; giao quyền, quy định tùy nghi

Trang 29

Hoặc có thể phân loại quy định: quy định dứt khoát; quy định không dứt khoát

Chế tài: là một bộ phận của quy phạm pháp luật, nêu lên những biện pháp

cưỡng chế áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm các yêu cầu của bộ phận quy định của quy phạm pháp luật

Cách phân loại chế tài: có 2 loại chế tài chính: Chế tài cố định; chế tài

không cố định

Ngoài ra, căn cứ vào tính chất và thẩm quyền áp dụng, chế tài được chia

thành 4 loại: chế tài hình sự; chế tài hành chính; chế tài dân sự; chế tài kỷ luật

Phân loại các quy phạm pháp lu t: có nhiều cách phân loại các quy phạm

pháp luật dựa trên các tiêu chí khác nhau:

Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, quy phạm pháp luật có thể phân chia theo các ngành luật: Quy phạm pháp luật hình sự

Quy phạm pháp luật dân sự Quy phạm pháp luật hành chính,…

Căn cứ vào nội dung của quy phạm pháp luật có thể chia thành: quy phạm nội dung, quy phạm thủ tục…

Căn cứ vào hình thức mệnh lệnh nêu trong quy phạm pháp luật có thể phân chia thành: Quy phạm pháp luật dứt khoát: là những quy phạm trong đó chỉ quy định một cách xử sự rõ ràng, dứt khoát Quy phạm pháp luật không dứt khoát: là quy phạm trong đó nêu ra nhiều cách xử sự và cho phép chủ thể lựa chọn một cách xử sự đã nêu Quy phạm pháp luật tùy nghi: là quy phạm trong

đó cho phép các chủ thể tự quy định cách cử sự của mình Quy phạm pháp luật hướng dẫn: là quy phạm trong đó nội dung thường khuyên nhủ, hướng dẫn các chủ thể tự giải quyết một số công việc nhất định

- Văn bản quy phạm pháp lu t: là một loại văn bản pháp luật, văn bản

pháp luật được hiểu là quyết định do cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành được thể hiện dưới hình thức văn bản nhằm thay đổi cơ chế điều chỉnh pháp luật và có hiệu lực bắt buộc

Các loại văn bản quy phạm pháp luật đặc trưng của Nhà nước ta là Hiến pháp, luật, lệnh, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư…

Trang 30

Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp lu t: Hiệu lực theo không gian; hiệu

lực theo thời gian; hiệu lực theo đối tượng thi hành

Hiệu lực theo không gian: (theo lãnh thổ): là văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Trung ương (Quốc hội, Chính phủ, Bộ) có hiệu lực trong cả nước; văn bản của cơ quan Nhà nước địa phương chỉ có hiệu lực ở phạm vi địa phương tương ứng (tỉnh, thành phố, quận, huyện, xã, phường, thị trấn…) Hiệu lực theo thời gian: Quy định ngày bắt đầu có hiệu lực, ngày chấm dứt hiệu lực

Hiệu lực theo đối tượng thi hành: Nhìn chung các văn bản quy phạm pháp luật đối với mọi công dân, nhưng cũng có nhiều văn bản chỉ có hiệu lực với những loại đối tượng nhất định

2.3.3 Hệ thống pháp luật Việt Nam

- Khái niệm: Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có

mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được sắp xếp thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định

Hệ thống cấu trúc pháp lu t, là cơ cấu nội tại của hệ thống quy phạm

pháp luật, thể hiện sự phân chia các quy phạm pháp luật thành chế định pháp luật và ngành luật

Hệ thống cấu trúc của pháp luật bao gồm ba thành tố là quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật

- Quy phạm pháp lu t: là thành tố nhỏ nhất trong hệ thống cấu trúc bên

trong của pháp luật

- Chế định pháp lu t: là một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh

quan hệ xã hội có những đặc điểm chung và có quan hệ mật thiết với nhau thuộc cùng một loại quan hệ xã hội do một ngành luật điều chỉnh Nói cách khác, một ngành luật bao gồm nhiều chế định pháp luật mà giữa chúng vừa có mối quan hệ hữu cơ như một chỉnh thể thống nhất, vừa có tính độc lập tương đối

- Ngành lu t: là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ

cùng loại trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội

Trang 31

Lu t Hiến pháp: là luật “gốc”, ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp

luật, là ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản và tất cả những ngành luật khác đều được hình thành trên cơ sở những nguyên tắc của Luật Hiến pháp Luật Hiến pháp, gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản về tổ chức quyền lực Nhà nước, về chế độ chính trị, kinh

tế, văn hóa – xã hội, chế độ bầu cử; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về quốc tịch

- Các loại văn bản quy phạm pháp lu t : Văn bản quy phạm pháp luật là

hình thức thể hiện các quyết định pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự và hình thức nhất định, có chứa đựng các quy tắc

xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định

Có nhiều cách phân loại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Trong đó,

căn cứ vào hiệu lực pháp lý, văn bản quy phạm pháp luật được chia thành 2 loại: Văn bản luật;

Văn bản dưới luật

Mối liên hệ giữa các văn bản quy phạm pháp luật: các văn bản quy phạm

pháp luật tồn tại trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau

Hệ thống văn bản quy phạm pháp lu t của nước ta hiện nay:

Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

Nghị định của Chính phủ;

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội ban hành;

Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao ban hành; thông

tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh

Trang 32

án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao; giữa

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành;

Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành;

Các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

- Nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp lu t

+ Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực; + Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản có hiệu lực;

+ Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn

+ Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản ban hành sau

+ Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi

xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới

2.3.3.1 Quy phạm pháp lu t

- Quy phạm pháp lu t, là những quy tắc xử sự có tinh chất khuôn mẫu,

bắt buộc mọi chủ thể phải tuân thủ, được biểu thị bằng hình thức nhất định, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được Nhà nước bảo đảm thực hiện và thể hiện ý chí của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội

- Các đặc điểm riêng của quy phạm pháp lu t: Quy phạm pháp luật thể

hiện ý chí của Nhà nước; Quy phạm pháp luật có tính phổ biến, bắt buộc chung; Quy phạm pháp luật được xác định chặt chẽ về hình thức

2.3.3.2 Chế định pháp lu t

Chế định pháp lu t: là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban

hành theo thủ tục trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội để thực hiện các

Trang 33

nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước Đây là hình thức pháp luật tiến bộ nhất

trong lịch sử, được nhiều quốc gia sử dụng

2.3.3.3 Ngành lu t

- Ngành lu t: là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một loại quan

hệ xã hội có cùng tính chất thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội Hiện nay, ở Việt Nam theo cách phân chia phổ biến, trong hệ thống pháp

luật có một số ngành lu t cơ bản điển hình sau:

- Ngành luật Tố tụng dân sư;

- Ngành luật Hôn nhân - Gia đình;

nhau

Lu t Hiến pháp: là luật “gốc”, ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp

luật, là ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản và tất cả những ngành luật khác đều được hình thành trên cơ sở những nguyên tắc của Luật Hiến pháp Luật Hiến pháp, gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản về tổ chức quyền lực Nhà nước, về chế độ chính trị, kinh

Trang 34

tế, văn hóa – xã hội, chế độ bầu cử; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về quốc tịch…

2.3.4 Thực hiện pháp luật

2.3.4.1 Tuân thủ pháp lu t (thực hiện pháp lu t)

- Khái niệm thực hiện pháp lu t: Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt

động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở

thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

- Các hình thức thực hiện pháp lu t:

+ Tuân theo (tuân thủ) pháp lu t: chủ thể kiềm chế mình không thực hiện

điều pháp luật cấm Hành vi tuân theo pháp luật được thực hiện dưới dạng

- Sử dụng pháp lu t: chủ thể thực hiện cách thức xử sự mà pháp luật cho

phép Hành vi sử dụng pháp luật được thực hiện dưới dạng hành động hoặc

không hành động

- Áp dụng pháp lu t: là hình thức thục hiện pháp luật trong đó Nhà nước,

thông qua cơ quan cán bộ Nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền, tổ chức cho các chủ thể thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ do

pháp luật quy định, thay đổi, đình chỉ, chấm dứt quan hệ pháp luật

+ Khi các quyền và nghĩa vụ của chủ thể không thể mặc nhiên phát sinh,

thay đổi, chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước

Trang 35

+ Khi các quyền và nghĩa vụ của chủ thể đã phát sinh nhưng có sự tranh

chấp mà các chủ thể không thể tự giải quyết được và yêu cầu Nhà nước can thiệp

+ Khi Nhà nước thấy cần phải tham gia để kiểm tra, giám sát các bên tham gia quan hệ pháp luật hoặc để xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của

một sự kiện thực tế nào đó

Đặc điểm của áp dụng pháp lu t: Mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực

Nhà nước Có hình thức, thủ tục chặt chẽ Mang tính cá biệt, cụ thể Áp dụng

pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo

Từ sự phân tích nêu trên có thể định nghĩa áp dụng pháp lu t như sau: Áp

dụng pháp lu t là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực Nhà nước, được thực hiện thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp lu t vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể

2.3.5 Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý

2.3.5.1 Vi phạm pháp lu t

- Khái niệm vi phạm pháp lu t: là hành vi (hành động hay không hành

động), trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Theo lý luận về pháp luật ở nước ta hiện nay, có quan niệm chung: vi

phạm pháp lu t là hành vi trái pháp lu t, có lỗi do chủ thể có năng lực trách

nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp lu t bảo vệ

Vi phạm pháp luật có những dấu hiệu cơ bản sau: Dấu hiệu hành vi Dấu hiệu trái pháp luật Dấu hiệu lỗi của chủ thể có hành vi trái pháp luật Dấu hiệu năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật

- Dấu hiệu của vi phạm pháp lu t: Vi phạm pháp luật luôn luôn là hành

vi xác định của con người: đây là dấu hiệu cơ bản đầu tiên để xem xét có vi phạm pháp luật hay không Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật: đó là hành vi không hợp pháp, xâm hại đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo

vệ Vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi của chủ thể: lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và đối

Trang 36

với hậu quả của hành vi đó, lỗi thể hiện dưới hai hình thức; lỗi cố ý và lỗi vô ý Chủ thể của vi phạm pháp luật phải là người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện

- Các loại vi phạm pháp lu t: căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm

cho xã hội, vi phạm pháp luật được chia thành bốn loại: Vi phạm hình sự (còn gọi là tội phạm): là hành vi trái pháp luật, có lỗi, nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện Vi phạm hành chính: là hành vi trái pháp luật, có lỗi, nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính quy định Vi phạm kỷ luật: là những hành vi có lỗi, trái pháp luật, kỷ luật của đơn vị, cơ quan Nhà nước Vi phạm dân sự: là hành vi xâm hại tới quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân) Vi phạm dân sự chủ yếu được

quy định trong Bộ luật Dân sự

2.3.5.2 Trách nhiệm pháp lý

- Khái niệm trách nhiệm pháp lý: là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt

giữa Nhà nước (thông qua nhà chức trách, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định trong chế tài của quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm và chủ thể đó có nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi của mình gây ra

- Các đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi có sự việc vi phạm pháp luật Trách nhiệm pháp lý luôn được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có quyền và nghĩa vụ nhất định; luôn gắn liền với những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước

Cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật

+ Cơ sở pháp lý của trách nhiệm pháp lý là văn bản áp dụng pháp luật có

hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

+ Trách nhiệm pháp lý liên quan mật thiết với cưỡng chế Nhà nước

- Phân loại trách nhiệm pháp lý

Trang 37

+ Trách nhiệm hình sự: là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do

tòa án áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội

+ Trách nhiệm dân sự: là loại trách nhiệm pháp lý do tòa án áp dụng đối

với các chủ thể vi phạm Luật Dân sự

+ Trách nhiệm hành chính: là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan

Nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể vi

phạm hành chính

+ Trách nhiệm kỷ lu t: là loại trách nhiệm pháp lý do người đứng đầu cơ

quan, tổ chức, trường học… áp dụng đối với cán bộ, viên chức, nhân viên, người học… thuộc quyền quản lý của mình khi họ vi phạm kỷ luật

+Trách nhiệm v t chất: là loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan, xí

nghiệp… áp dụng đối với cán bộ, công chức, công nhân… của cơ quan, xí nghiệp mình trong trường hợp họ gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan, xí nghiệp

- Truy cứu trách nhiệm pháp lý:

Truy cứu trách nhiệm pháp lý là một quá trình hoạt động phức tạp rất khó khăn của các cơ quan Nhà nước, các nhà chức trách có thẩm quyền trong việc xem xét, tìm hiểu sự việc bị coi là vi phạm pháp luật, ra quy định giải quyết vụ việc và tổ chức thực hiện quy định đó

2.3.6 Ý thức pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa

2.3.6.1 Ý thức pháp lu t

- Khái niệm ý thức pháp lu t: là tổng thể các học thuyết, tư tưởng, quan

điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội XHCN, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá của con người về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ

quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và mọi công dân

- Đặc trưng của ý thức pháp lu t

+ Ý thức pháp luật có mối quan hệ biện chứng với tồn tại xã hội: thể hiện

ở hai khía cạnh: ý thức pháp luật vừa phụ thuộc vào tồn tại xã hội (do tồn tại xã

Trang 38

hội quyết định), vừa có tính độc lập tương đối (bảo thủ, kế thừa, lạc hậu, vượt

trước so với tồn tại xã hội)

+ Ý thức pháp luật là hiện tượng có tính giai cấp: hiểu biết, thái độ của các giai cấp đối với pháp luật là khác nhau, chỉ có ý thức pháp luật của giai cấp

cầm quyền mới được phản ánh trong pháp luật

- Cơ cấu ý thức pháp lu t: gồm hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật

- Phân loại ý thức pháp lu t:

Căn cứ trên mức độ và phạm vi nh n thức: Ý thức pháp luật thông

thường: là kinh nghiệm của chủ thể về pháp luật, chỉ phản ánh được các mối liên

hệ bên ngoài của pháp luật mà chưa phản ánh được bản chất của pháp luật

Căn cứ theo chủ thể mang ý thức pháp lu t: Ý thức pháp luật xã hội: là ý

thức của bộ phận tiên tiến trong xã hội, phản ánh xu thế phát triển của xã hội

- Vấn đề nâng cao ý thức pháp lu t ở nước ta

+ Sự cần thiết nâng cao ý thức pháp lu t: Trong quá trình tiếp tục xây

dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay, việc nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta đang trở thành nhu cầu cấp thiết

+ Các giải pháp nâng cao ý thức pháp lu t: Một là, tăng cường công tác

thông tin, tuyên truyền, giải thích pháp luật Hai là, đưa việc giảng dạy pháp luật vào hệ thống các trường học Ba là, đẩy mạnh công tác bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ thực hiện pháp luật Bốn là, mở rộng dân chủ, công khai tạo điều kiện cho nhân dân tham gia một cách đông đảo vào hoạt động xây dựng pháp luật Năm

là, đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật Sáu là, kết

hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, văn hoá, nâng cao trình độ chung

của nhân dân Bảy là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

2.3.6.2 Pháp chế xã hội chủ nghĩa

- Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa

Mọi Nhà nước đều sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu nhất để quản lý xã hội Tư tưởng coi pháp luật là tối thượng, mọi người đều phải tuân theo pháp luật đã xuất hiện từ rất sớm cả phương Đông và phương Tây Đến giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhiều nhà tư tưởng đã đề cao vai trò của pháp

Trang 39

luật và đưa ra tư tưởng về pháp chế Mác – Ăngghen, Lênin là những người đề

ra học thuyết về Nhà nước và pháp luật một cách khoa học, trong đó có những

tư tưởng cơ bản về pháp chế xã hội chủ nghĩa Những tư tưởng này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng NHà nước kiểu mới ở Việt Nam, trong đó vai trò của pháp luật ngày càng được nâng cao

- Khái niệm pháp chế XHCN: “Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ

đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật Các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân; các cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước; các thành viên của các tổ chức và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt

để và chính xác; mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật”

Các biểu hiện của pháp chế XHCN: Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một

khái niệm rộng lớn, bao gồm những mặt sau: Pháp chế XHCN là nguyên tắc

trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Pháp chế XHCN là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội Pháp chế XHCN là nguyên tắc xử sự của công dân Pháp chế XHCN liên hệ mật thiết với dân chủ

xã hội chủ nghĩa

Ý nghĩa của pháp chế: pháp chế là điều kiện cơ bản để phát huy dân chủ

- Nguyên tắc cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa

Một là, nguyên tắc bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật

Hai là, nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn

quốc

Ba là, nguyên tắc bắt buộc chung đối với mọi chủ thể không có ngoại lệ

- Giải pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa: Cần tiến hành đồng

bộ các giải pháp sau đây:

+ Hoàn thiện hệ thống pháp lu t: Pháp luật là cơ sở của pháp chế, có

pháp luật thì mới có pháp chế

Trang 40

+ Tích cực tổ chức đưa pháp lu t vào cuộc sống: Pháp luật dù có tốt đến

đâu cũng không thể tự thân đi vào cuộc sống một cách đầy đủ mà phải thông qua quá trình tổ chức một cách chủ động, tích cực của các chủ thể liên quan

+ Giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp lu t: Trong xã hội bao giờ cũng

có những đối tượng chậm nắm bắt các yêu cầu của pháp luật hoặc cố tình chống lại pháp luật Việc giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật thường tác động trực tiếp đến hoạt động của cơ quan, tổ chức và hành vi của cá nhân Vì vậy, hoạt động giám sát, kiểm tra, xử lý cần được tiến hành đúng quy định của pháp luật

3 Chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và vai trò của việc dạy học pháp luật trong môn Giáo dục công dân ở trường trung học

3.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về việc dạy học pháp luật trong môn Giáo dục công dân ở trường trung học

Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và pháp luật là nội dung quan trọng trong chương trình đào tạo các cấp học, bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân Chuyên đề này nhằm cung cấp những tri thức có tính chất cơ bản, khái quát

lý luận chung về Nhà nước và pháp luật nói chung và về Nhà nước và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng Việc nâng cao nhận thức hiểu biết về vấn đề này, góp phần không nhỏ vào hình thành ý thức pháp luật, chấp hành và thực thi pháp luật và trực tiếp tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng vững mạnh

Nhận thức sâu sắc, tầm quan trọng về vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục công dân trong môn Giáo dục công dân trường trung học phổ thông và các trường trung cấp chuyên nghiệp, đại học và cao đẳng với những nội dung hợp

lý, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, đường lối chỉ đạo về việc dạy và học pháp luật trong các trường trung học, cao đẳng, đại học nói chung, trong môn Giáo dục công dân tại các trường trung học nói riêng

Hội nghị Trung ương lần thứ tám, khóa XI (11 2013), đã chỉ rõ: “ Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất,

Ngày đăng: 15/04/2016, 23:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Bộ Lu t Dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Dân sự
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Bộ Lu t Hình sự 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Lu t Hình sự 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2009
4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Lu t Viên chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Viên chức
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
5. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Lu t cán bộ, công chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lu t cán bộ, công chức
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2008
7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Lu t Doanh Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh Nghiệp
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
9. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Lu t bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
10. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Lu t Môi Trường 11. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Bộ Lu t Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lu t Môi Trường " 11. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Lu t Môi Trường 11. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2012
13. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Lu t hôn nhân và gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2000
14. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Lu t Hành Chính Việt Nam, Nxb Công An nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lu t Hành Chính Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công An nhân dân
Năm: 2008
15. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Lý lu n nhà nước và pháp lu t, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý lu n nhà nước và pháp lu t
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2012
16. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Lu t Hình sự Việt Nam (t p 1), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lu t Hình sự Việt Nam (t p 1)
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2012
17. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Lu t Hình sự (t p 2), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lu t Hình sự (t p 2)
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2012
18. Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình lu t hình sự (Phần chung), Nxb. ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lu t hình sự (Phần chung)
Tác giả: Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb. ĐHQG
Năm: 2005
19. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Lu t hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lu t hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2012
20. Đại học Huế (2003), Giáo trình Lu t hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lu t hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tác giả: Đại học Huế
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2003
21. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình lu t dân sự Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lu t dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. CAND
Năm: 2006
22. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình lu t lao động, Nxb. CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lu t lao động
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. CAND
Năm: 2012
23. Khoa luật, Viện đại học mở Hà Nội (2014), Giáo trình lu t lao động Việt Nam, Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lu t lao động Việt Nam
Tác giả: Khoa luật, Viện đại học mở Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
24. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình lu t thương mại (tập 1 và tập 2), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lu t thương mại (tập 1 và tập 2)
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2012
25. Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2006), Giáo trình lu t kinh tế (tập 1: Luật doanh nghiệp), Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lu t kinh tế
Tác giả: Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w