1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân công và phân chia quyền lực nhà nước nhìn từ góc độ chủ thể

10 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 72,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài phân tích về thực trạng Hiến pháp nước Anh đầu thế kỷ18, Montesquieu kết luận rằng, ở Anh, sự tự do của công dân chỉ được đảm bảo khi quyền lực và các chức năng của nhà nước đư

Trang 1

PHÂN CÔNG VÀ PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC:

NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHỦ THỂ

ThS Cao Anh Đô 1

Với tư cách là một bộ phận của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là quyền lực của giai cấp thống trị được nhà nước tổ chức thực hiện trên thực tế Quyền lực nhà nước được cấu thành từ ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Hiểu một cách đơn giản, quyền lập pháp là quyền ban hành pháp luật, quyền hành pháp là quyền liên quan đến tổ chức thực hiện pháp luật và quyền tư pháp là quyền liên quan đến hoạt động xét xử, đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh trên thực tế Chủ thể thực hiện ba bộ phận quyền lực này không ai khác chính là nhà nước

Điểm khác biệt cơ bản trong cách thức thực hiện quyền lực nhà nước ở là ở chỗ quyền lực ấy tập trung vào một chủ thể hay có sự phân chia thực hiện giữa nhiều chủ thể khác nhau Khi quyền lực nhà nước được chia sẻ cho nhiều chủ thể khác nhau thì đó là mô hình phân quyền Ngược lại, nếu quyền lực tập trung ở một chủ thể thì đó là mô hình tập quyền Trong mô hình này, quyền lực do một chủ thể nắm giữ nhưng được phân công cho nhiều chủ thể thực hiện Mục đích của việc phân công ấy là để đảm bảo cho quyền lực được thực hiện có hiệu quả trên thực tế Vấn đề đặt ra ở đây là chủ thể nào có quyền phân công và phân chia quyền lực nhà nước Hơn nữa, khi quyền nhà nước đã được phân công hoặc phân chia thì việc thực hiện quyền lực ấy do chủ thể nào tiến hành Trên cơ sở phân tích các mô hình tổ chức quyền lực nhà nước, bài viết này sẽ góp phần làm sáng

tỏ vấn đề trên

Phân chia quyền lực nhà nước

Mô hình phân quyền có nguồn gốc từ thuyết “tam quyền phân lập” Thuyết này cho rằng, để tránh hiện tượng lạm quyền thì quyền lực nhà nước phải được chia sẻ thay vì độc quyền Cha đẻ của thuyết này là John Locke Học thuyết của ông sau đó được phát triển bởi nhà xã hội học và luật học người Pháp

Trang 2

Montesquieu Trong bài phân tích về thực trạng Hiến pháp nước Anh đầu thế kỷ

18, Montesquieu kết luận rằng, ở Anh, sự tự do của công dân chỉ được đảm bảo khi quyền lực và các chức năng của nhà nước được phân chia cho ba cơ quan khác nhau2 Đến nay, học thuyết này được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới với một số biến thể nhất định Các mô hình biến thể của học thuyết này chủ yếu khác nhau ở cách xử lý mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp Đối với tư pháp, đa

số các nước đều thừa nhận tính độc lập của nhánh quyền lực này Theo đó cơ quan tư pháp có chức năng giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật để xét xử Người đứng đầu cơ quan tư pháp và các thẩm phán không đồng thời là nghị sĩ hoặc thành viên Chính phủ Những người này được bổ nhiệm bởi một chủ thể đặc biệt như Nhà vua, Nữ hoàng hoặc Tổng trưởng lý Hoạt động của họ không chịu sự can thiệp của bất kỳ cơ quan nhà nước nào Tuy nhiên, yếu tố cơ bản tạo

ra biến thể của học thuyết “tam quyền phân lập” chủ yếu nằm ở sự phân chia quyền lực giữa lập pháp và hành pháp Khi quyền lập pháp và hành pháp được tổ chức theo mô hình độc lập, mang tính kiềm chế và đối trong lẫn nhau thì tức là thuyết “tam quyền phân lập” được áp dụng một cách triệt để Điển hình của mô hình này là tổ chức bộ máy nhà nước Hoa Kỳ Theo đó, Chính phủ (cơ quan hành pháp), đứng đầu là Tổng thống, hoàn toàn độc lập với Nghị viện (cơ quan lập pháp) Quyền lực của Tổng thống được Hiến pháp trực tiếp trao cho mà không phụ thuộc vào sự kiểm soát chính trị của Nghị viện Cuộc bầu cử Tổng thống được tổ chức độc lập với bầu cử Nghị viện và Tổng thống không nhất thiết phải

là người của Đảng kiểm soát một hoặc cả hai Viện Tổng thống có nhiệm kỳ được Hiến pháp quy định, không phụ thuộc vào nhiệm kỳ Nghị viện Tổng thống lập nên Nội các, bao gồm những người đứng đầu các Bộ, chịu trách nhiệm trực tiếp trước Tổng thống thay vì chịu trách nhiệm trước Nghị viện Ngoại trừ Phó

2 “…không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân, quan toà sẽ là người đặt

ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan toà sẽ có sức mạnh của kẻ đàn áp Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ

mất hết” Montesquieu, Tinh thần pháp luật (bản dịch của Hoàng Thanh Đạm), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,

2006, tr 106.

Trang 3

Tổng thống là Chủ tịch Thượng viện, Tổng thống và các thành viên Chính phủ đều không phải là Nghị sĩ Chính vì vậy, trong mô hình phân quyền này, cơ quan

hành pháp còn được gọi là Chính phủ Tổng thống 3

Khác với cách thức phân quyền triệt để nói trên, ở một số nước như Anh

hoặc Australia, cơ quan hành pháp được gọi là Chính phủ chịu trách nhiệm (hay còn gọi là Chính phủ nghị viện 4 ) Lý do là vì các cơ quan này không độc lập hoàn

toàn với Nghị viện Thủ tướng là người được bầu ra trong số các thành viên của Thượng viện hoặc Hạ viện, chịu trách nhiệm trả lời chất vấn trước Nghị viện với

tư cách là người đứng đầu hoặc là thành viên của Đảng hoặc liên minh Đảng kiểm soát Nghị viện Đây chính là mô hình phân quyền không triệt để và hiện nay được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới

Trong thực tế, mô hình phân chia quyền lực nhà nước chỉ ra đời khi xuất hiện nhà nước tư sản Do đó, quyền lực nhà nước ở đây chính là quyền lực của giai cấp tư sản Để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các nhóm khác nhau, quyền lực nhà nước cần được chia sẻ cho ba cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước

Quá trình phân chia quyền lực này, không có sự tham gia nào khác ngoài lực lượng nắm quyền trong xã hội Những người này tự mình phân chia quyền lực và

tổ chức thực hiện quyền lực ấy trên thực tế Thực chất của việc phân chia này là

để tránh hiện tượng lạm quyền và lộng quyền giữa các nhóm lợi ích khác nhau và

hệ quả của nó là người dân ít nhiều cũng được hưởng lợi từ sự chế ngự quyền lực

đó Tuy nhiên, suy đến cùng thì sự hưởng lợi này vẫn không mang lại quyền lực thực chất cho nhân dân lao động, đó chỉ là lợi ích phái sinh từ việc phân chia quyền lực của giai cấp thống trị nhà nước mà thôi

Phân công quyền lực nhà nước

Thực tế tổ chức bộ máy nhà nước trên thế giới còn ghi nhận mô hình quyền lực nhà nước tập quyền Trong mô hình này, chủ thể nắm giữ quyền lực có thể là một người (như Vua, Hoàng đế) hoặc thuộc về toàn thể nhân dân Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến, nhà Vua nắm giữ toàn bộ quyền lực nhà nước Tất cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều do Vua thực hiện

3 Prsidential Government.

Trang 4

Chính vì vậy, một trong những đặc trưng điển hình của chế độ chiếm hữu nô lệ

và chế độ phong kiến là tính quân chủ chuyên chế Do đó, Vua được coi là Thiên

tử (con Trời), thay Trời quyết định mọi vấn đề trong tổ chức xã hội của con người Mặc dù vậy, bản thân nhà Vua cũng phải lập nên các cơ quan giúp việc cho mình ở các trung ương (triều đình) và địa phương Trong quá trình hoạt

động, các cơ quan này cũng được nhà Vua trao quyền để “trị nước” Nói cách

khác, Vua là người phân công quyền lực cho các chủ thể khác trong bộ máy nhà nước Đồng thời các chủ thể ấy phải chịu trách nhiệm trước nhà Vua.

Ngoài ra, mô hình tập quyền còn có hình thức tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Đây chính là mô hình tập quyền xã hội chủ nghĩa Khác với

mô hình phân quyền - quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp tư sản, là giai cấp chiếm số ít trong xã hội, mô hình tập quyền xã hội chủ nghĩa tồn tại trong các nhà nước mà ở đó chủ thể của quyền lực là đại bộ phận nhân dân lao động Nhân dân lập nên các cơ quan nhà nước và trao quyền cho các cơ quan ấy Trong mô hình này không có sự phân chia quyền lực mang tính đối trọng như trong mô hình phân quyền Quyền lực nhà nước được cấu thành từ ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, do đó cũng sẽ có ít nhất ba loại cơ quan nhà nước tương ứng được lập ra để thực hiện ba nhóm quyền này Các cơ quan này có những chức năng và nhiệm vụ nhất định trong việc thực hiện quyền lực nhà nước được nhân dân trao cho Với tư cách là người chủ đất nước, không ai khác mà chính nhân dân là người lập nên các cơ quan nhà nước để thực hiện quyền lực của mình Nói cách khác, nhân dân chính là chủ thể phân công quyền lực nhà nước Thông qua hoạt động phân công này sẽ hình thành nên chức năng và nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan nhà nước khác nhau

Chủ thể phân công và thực hiện quyền lực nhà nước: trường hợp của Việt Nam

Trên cơ sở lý luận chung về mô hình nhà nước tập quyền, Hiến pháp Việt

Nam thừa nhận nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước như sau: Tất

cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước

Trang 5

trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trên cơ sở nguyên

tắc này, quyền lực nhà nước được hiểu là quyền lực của nhân dân trao cho các cơ quan nhà nước tổ chức và thực hiện trên thực tế Từ đó, mỗi cơ quan có chức năng và nhiệm vụ của riêng mình

Đối với Quốc hội, Điều 83 Hiến pháp năm1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách

về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; về quan hệ

xã hội và hoạt động của công dân Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” Như vậy, ngoài chức năng lập pháp, Quốc hội còn được nhân dân trao cho thực hiện quyền lực nhà nước trên hai phương diện khác, đó là quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Cụ thể hóa quy định này, Quốc hội có các quyền như: bầu Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo đề nghị của Chủ tịch nước; phê chuẩn việc bổ nhiệm các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ theo đề nghị của Thủ tướng và Chủ tịch nước bổ nhiệm; miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Những quyền Hiến định nói trên là lý do

khiến cho Quốc hội được coi là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất so với

tất cả các cơ quan nhà nước khác5

Quyền hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước được trao cho Chính phủ Theo quy định tại Điều 109 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước

5 Tuy nhiên, Quốc hội không phải là cơ quan cấp trên của tất cả các cơ quan nhà nước khác Xem phân tích ở

Trang 6

Quyền tư pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước được trao cho Tòa án nhân dân Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định “Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định

là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Toà án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật”

Trong hoạt động của mình, Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, cơ quan lập pháp và hành pháp không được can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa

án Điều này được khẳng định tại Điều 130 Hiến pháp năm 1992, theo đó “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

Có quan điểm cho rằng, bên cạnh Tòa án, quyền tư pháp còn được trao cho Viện kiểm sát Đây là vấn đề còn nhiều tranh luận trong khoa học pháp lý liên quan đến mô hình tổ chức Viện kiểm sát theo yêu cầu của cải cách tư pháp Hiện nay, theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì quyền tư pháp bao gồm quyền xét

xử và các quyền gắn liền với quyền xét xử Chẳng hạn như, ở các nước theo hệ thống luật án lệ, quyền xét xử có thể mở rộng thêm thành quyền giải thích pháp luật và ban hành pháp luật dưới hình thức án lệ Điều đó có nghĩa là, khi xét xử, thẩm phán có quyền giải thích ý nghĩa các quy định của pháp luật để áp dụng vào từng vụ việc cụ thể Hơn nữa, khi bản án đã được tuyên, theo một nguyên tắc nhất định của luật án lệ, bản án ấy có thể được thừa nhận giá trị như là khuôn mẫu xét xử cho những vụ việc tương tự xảy ra sau này Tuy nhiên, quyền giải thích pháp luật và ban hành án lệ chỉ là hình thức phái sinh của quyền xét xử mà thôi Đối chiếu quan niệm này với chức năng của Viện kiểm sát theo quy định của Hiến pháp hiện hành thì thấy Viện kiểm sát có thực hiện các hoạt động tư pháp song không được trao quyền lực tư pháp – một loại quyền cấu thành quyền lực nhà nước Thực vậy, cơ quan này chỉ có chức năng thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động tư pháp Về chức năng công tố, đây là công việc có liên quan đến hoạt động tư pháp được thực hiện bởi quyền hành pháp, tương tự như hoạt động điều tra của cơ quan cảnh sát Về chức năng kiểm sát hoạt động tư

Trang 7

pháp, hoạt động này tương tự như thanh tra chuyên ngành do cơ quan hành pháp thực hiện Tóm lại, hoạt động của Viện Kiểm sát không được thực hiện bằng quyền tư pháp mà thực chất là sử dụng quyền hành pháp để thực hiện các công việc có liên quan đến hoạt động tư pháp

Hiện nay, Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước

cao nhất Tuy nhiên, trong thực tế, quy định này đôi lúc chưa được hiểu một cách

chính xác trên hai phương diện Một là, coi Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà

nước duy nhất, còn Chính phủ và Tòa án là cơ quan hành pháp và tư pháp, không

phải cơ quan quyền lực nhà nước Về mặt lý thuyết, quyền lực nhà nước được hiểu là quyền lực chính trị (ở nước ta đó chính là quyền lực của nhân dân) do nhà nước thực hiện thì tất cả các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều được coi

là quyền lực nhà nước Chính vì vậy chúng mới được coi là các bộ phận cấu thành quyền lực nhà nước Như vậy, trong hoạt động của mình, tất cả các cơ quan nhà nước đều sử dụng quyền lực nhà nước Điểm khác biệt chỉ là quyền lực

ấy được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau Điều đó có nghĩa là tất cả các cơ quan nhà nước đều là cơ quan quyền lực nhà nước Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất chứ không phải cơ quan quyền lực duy nhất trong bộ máy nhà nước Việt Nam

Thứ hai, có ý kiến cho rằng, Quốc hội Việt Nam không chỉ thuần túy là cơ quan lập pháp mà còn là cơ quan được nhận toàn bộ quyền lực do nhân dân trao cho Trên cơ sở quyền lực ấy, Quốc hội thành lập ra Chính phủ, Tòa án và giám sát hoạt động của các cơ quan ấy Do đó, Quốc hội là cơ quan cấp trên của các quyền hành pháp và tư pháp Nói cách khác, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã được nhân dân trao toàn bộ cho Quốc hội Đến lượt mình, Quốc hội trao lại một số quyền đó cho cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp Như vậy, nếu xét theo quan điểm này thì Quốc hội có toàn quyền, có thể quyết định tất cả mọi việc trong hoạt động của bộ máy nhà nước Do đó, Quốc hội là chủ thể tiến hành phân công quyền lực Theo GS.TS Trần Ngọc Đường, quan niệm như vậy là chưa chính xác, bởi vì theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội chỉ có (nói cách khác là chỉ được trao cho) quyền hạn trên ba lĩnh vực: (i) lập hiến, lập pháp; (ii) giám sát

Trang 8

tối cao và (iii) quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Đối chiếu với Điều

83, Hiến pháp 1980 “Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền

hạn khác khi xét thấy cần thiết” thì nay Quốc hội không còn quyền này nữa.

Ngay cả khi Quốc hội có quyền bầu ra các chức danh lãnh đạo của các cơ quan hành pháp và tư pháp, đồng thời giám sát hoạt động của các cơ quan này thì đó cũng chỉ là công việc mà Quốc hội được nhân dân trao cho, thay mặt nhân dân lập nên bộ máy nhà nước và đảm bảo cho bộ máy ấy hoạt động hiệu quả Khi các chức danh hành pháp và tư pháp đã được lập nên thì không có nghĩa các chức danh đó là cấp dưới của Quốc hội, mà ngược lại, đó là những chủ thể độc lập, thực hiện quyền hành pháp và tư pháp được nhân dân trao cho Xét đến cùng, đây

là hình thức nhân dân gián tiếp bầu ra người đứng đầu cơ quan hành pháp và tư pháp Những phân tích ở trên cho thấy rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhưng không phải là cơ quan có thể trao quyền cho các cơ quan nhà nước khác Quốc hội không có chức năng phân công quyền lực nhà nước mà ngược lại Quốc hội chỉ thực hiện những quyền mà cơ quan này được phân công Quan điểm này có lẽ phù hợp hơn với nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân – một nguyên tắc cơ bản đã được thừa nhận trong Hiến pháp năm 1992

Cơ chế phân công thực hiện quyền lực nhà nước đã và đang phát huy nhiều

ưu điểm làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn so với trước đây Tuy nhiên, cách thức phân công thực hiện quyền lực đã bộ lộ một số hạn chế Chẳng hạn như, Thủ tướng, Chánh án tòa án nhân dân do Quốc hội bầu ra trong

số các đại biểu Quốc hội Bên cạnh đó, pháp luật không có bất kỳ hạn chế nào đối với những người làm việc trong cơ quan hành pháp và tư pháp trở thành đại biểu Quốc hội Hệ quả là chức năng giám sát của cơ quan lập pháp sẽ bị giảm sút Việc phân công thực hiện quyền lực sao cho hiệu quả nhất là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu Tuy nhiên, trong khuôn khổ phạm vi bài viết, chúng tôi không phân tích sâu vấn đề này

Ngoài các chủ thể nói trên, trong bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay còn

có chức danh Chủ tịch nước Vậy Chủ tịch nước có thực hiện quyền lực nhà nước

Trang 9

hay không? Theo quy định tại Điều 101, Hiến pháp năm 1992 thì “Chủ tịch nước

là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

về đối nội và đối ngoại” Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội Như vậy, Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước nhưng không thuộc cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp mà là một chủ thể đặc biệt, đóng vai trò phối hợp hoạt động của các cơ quan nhà nước khác Liên quan đến hoạt động lập pháp, Chủ tịch nước có quyền công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh, qua đó các văn bản pháp luật này mới có hiệu lực đầy đủ và được thực hiện trên thực tế Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại Pháp lệnh, Nghị quyết khi xét thấy những văn bản này có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật Liên quan đến hoạt động hành pháp, Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức một số chức danh quan trọng thuộc Chính phủ như Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ Liên quan đến hoạt động tư pháp, Chủ tịch nước có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó chánh án, thẩm phán toà án nhân dân tối cao, phó viện trưởng, kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Như vậy, trong hoạt động của mình Chủ tịch nước không trực tiếp thực hiện bất cứ quyền nào trong ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà

chỉ tham gia thực hiện quyền lực nhà nước

Như vậy, những phân tích trong bài viết này đưa đến kết luận rằng phân công và phân chia quyền lực là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau về bản chất nhưng có sự giống nhau về hình thức Phân công thực hiện quyền lực là nhằm đảm bảo cho quyền lực được thực hiện một cách hiệu quả nhất, trong khi đó phân chia quyền lực trước hết là hướng đến sự thỏa hiệp chính trị giữa các nhóm lợi ích khác nhau nhưng đều có khả năng nắm giữ quyền lực nhà nước Khảo cứu

các mô hình phân công và phân chia quyền lực nhà nước cho chúng ta thấy chủ

thể nào nắm giữ quyền lực nhà nước thì chủ thể ấy sẽ tiến hành phân công hoặc phân chia quyền lực nhà nước Chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước sau khi quyền lực ấy được phân công hoặc phân chia là các cơ quan lập pháp, hành

Trang 10

pháp và tư pháp Từ đó dẫn đến hai kết luận đối với trường hợp của Việt Nam đó

là: Chủ tịch nước chỉ là người tham gia thực hiện quyền lực nhà nước mà không

phải chủ thể trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước Đồng thời, không thể coi Viện Kiểm sát là chủ thể thực hiện quyền tư pháp mà cần quan niệm rằng đây là chủ thể sử dụng quyền hành pháp để thực hiện các công việc có liên quan đến hoạt động tư pháp mà thôi./

Ngày đăng: 15/04/2016, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w