Tài sản công trong các đơn vị sự nghiệp có phạm vi rất rộng, bao gồm nhiều loại tài sản khác nhau. Tuy nhiên, đề tài này tập trung chủ yếu nghiên cứu tài sản công và cơ chế quản lý tài sản công đối với các tài sản phục vụ trực tiếp cho hoạt động sự nghiệp của các đơn vi, trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hoá thể thao, .. là khâu đột phá của công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Trang 11.3 Đơn vị sự nghiệp và tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp 10
1.3.3 Đặc điểm tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp 11
1.3.4 Vai trò tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp 12
2 Cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp 14
2.1 Cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp 14
2.2 Chức năng, tác dụng của cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn
3 Quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp của một số nước và
kinh nghiệm vận dụng cho Việt Nam
19
3.1 Quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp của một số nước 19
CHƯƠNG 2-THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI CÁC ĐƠN
VỊ SỰ NGHIỆP
28
1 Hiện trạng tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp 28
1.1 Hiện trạng tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp 28
1.2 Thực trang sử dụng và kết quả trong sử dụng tài sản công tai
các đơn vị sự nghiệp
30
2 Cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp hiện nay 35
2.1 Quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài sản công tạ các đơn vị sự
nghiệp từ 1998 đến nay
35
2.2 Quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản 38
3 Một số nhận xét đánh giá về cơ chế quản lý tài sản công tại các
3.3 Nguyên nhân của những hạn chế và tồn tại 46
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI
CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
49
Trang 21 Phương hướng và yêu cầu hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản công
tại các đơn vị sự nghiệp
2.1 Đa dạng hóa hình thức sở hữu và sử dụng tài sản công hiện có
tại các đơn vị sự nghiệp phù hợp với chủ trương xã hội hóa các hoạt
động sự nghiệp
53
2.2 Mở rộng các phương thức trang cấp và nguồn vốn đầu tư, mua
sắm tài sản cho các đơn vị hành chính sự nghiệp
55
2.3 Hoàn thiện, bổ sung một số tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài
sản công tại các đơn vị sự nghiệp để làm căn cứ đầu tư, mua sắm
cũng như quản lý, sử dụng tài sản công, với các giải pháp cụ thể
56
2.4 Thực hiện phân cấp thẩm quyền gắn với trách nhiệm thủ trưởng
đơn vị sự nghiệp trong việc quyết định, định đoạt tài sản công tại
đơn vị theo quy chế thống nhất về quản lý tài sản công của Nhà
nước tại các đơn vị sự nghiệp
57
2.5 Cho phép các đơn vị sự nghiệp có thu được quyền quyết định sử
dụng một phần tài sản công tại đơn vị vào mục đích sản xuất cung
ứng dịch vụ, kể cả góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức khác
58
2.6 Các đơn vị sự nghiệp có thu được sử dụng tài sản công chuyển
sang sản xuất, cung ứng dịch vụ để thế chấp vay tín dụng ngân hàng
hoặc quĩ hỗ trợ phát triển để mở rộng nâng cao hoạt động sự nghiệp
bằng giá trị tài sản công dùng vào sản xuất, cung ứng dịch vụ.
59
2.7 Hình thành tổ chức thống nhất đầu tư, mua sắm tài sản công
cho các đơn vị sự nghiệp hoạt động theo cơ chế của đơn vị sự nghiệp
hoặc công ty mua bán tài sản công của Nhà nước
59
2.8 Các đơn vị sự nghiệp được sử dụng nhà, đất của Nhà nước vào
sản xuất kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ công phải chuyển sang
thuê đất của Nhà nước hoặc Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng
đất quy định tại Luật Đất đai 2003
60
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHẦN MỞ ĐẦU 1- Sự cấp thiết của Đề tài
Tài sản công nói chung là nguồn lực nội sinh của đất nước, là yếu tố
cơ bản của quá trình sản xuất và quản lý xã hội, là nguồn tài chính tiềm năngcho đầu tư phát triển, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; nhưBác Hồ kính yêu đã khẳng định: “Tài sản công là nền tảng, là vốn liếng đểkhôi phục và xây dựng kinh tế chung, để làm cho dân giàu, nước mạnh, đểnâng cao đời sống nhân dân” Tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp là một
bộ phận quan trọng trong toàn bộ tài sản công của đất nước, do các đơn vị sựnghiệp trực tiếp quản lý sử dụng để phát triển các hoạt động sự nghiệp cungcấp các dịch vụ công phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước Trước yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá, tài sản công tại cácđơn vị sự nghiệp ngày càng lớn và chiếm tỷ trọng quan trọng trong tài sảncông thuộc khu vực hành chính sự nghiệp Để quản lý tài sản công trong khuvực hành chính sự nghiệp, thời gian qua, Nhà nước đã ban hành một hệ
Trang 4thống văn bản pháp luật về quản lý tài sản nhà nước; đồng thời hình thành bộmáy quản lý tài sản công từ Trung ương xuống địa phương Công tác quản lý
và sử dụng tài sản công từng bước theo chế độ và tiêu chuẩn định mức sửdụng tài sản công Tuy nhiên, việc quản lý, sử dụng tài sản vẫn mang nặngtính hành chính bao cấp, quản lý thiếu chặt chẽ, sử dụng lãng phí.v.v chưahình thành cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp phù hợp vớiquá trình đổi mới và cải cách hành chính Do vậy, việc nghiên cứu đề tài
“Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp” đang là
vấn đề bức súc có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ những vấn đề cơ bản về tàisản công và tài sản công trong các đơn vị sự nghiệp; cơ chế quản lý và thựctrạng quản lý tài sản công trong các đơn vị sự nghiệp ở nước ta Trên cơ sở
đó đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tàisản công tại các đơn vị sự nghiệp ở nước ta cho phù hợp với quá trình đổimới công tác quản lý tài sản công và cải cách hành chính
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tài sản công trong các đơn vị sự nghiệp có phạm vi rất rộng, bao gồm
nhiều loại tài sản khác nhau Tuy nhiên, đề tài này tập trung chủ yếu nghiêncứu tài sản công và cơ chế quản lý tài sản công đối với các tài sản phục vụtrực tiếp cho hoạt động sự nghiệp của các đơn vi, trong các lĩnh vực giáo dục
- đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hoá thể thao, là khâu đột phá củacông nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài kết hợp sử dụng phương pháp duy vật biện chứng với phươngpháp tổng hợp và phân tích kết hợp lý luận với thực tiễn của Việt Nam cũngnhư đúc kết kinh nghiệm của một số nước để đánh giá thực trạng cơ chếquản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp và đưa ra các kiến nghị và giải
Trang 5pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp trongthời gian tới
1 Tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
1.1 Khái niệm tài sản công
Bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vàomột trong các nguồn nội lực của mình là tài sản quốc gia Đó là tất cả nhữngtài sản do các thế hệ thành viên của quốc gia tạo ra hoặc thu nạp được và cáctài sản do thiên nhiên ban tặng cho con người Trong phạm một quốc gia,nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần và chế độ sở hữu khác nhau, thì tàisản quốc gia bao gồm tài sản thuộc sở hữu tư nhân, tài sản thuộc sở hữu cộngđồng và tài sản thuộc sở hữu nhà nước Tài sản thuộc sở hữu nhà nước trướchết là các tài sản được hình thành thông qua quốc hữu hóa hoặc do đầu tư,mua sắm bằng nguồn Ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc Ngân sách nhànước, kế đến là những tài sản do thiên tạo và các tài sản nhân tạo khác được
Trang 6pháp luật qui định là tài sản của Nhà nước Tài sản do pháp luật qui định làtài sản thuộc sở hữu Nhà nước tuỳ thuộc vào luật pháp của từng nước, ởnước ta Điều 181 Bộ luật Dân sự, đã được Quốc hội nước CHXHCN ViệtNam khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 28/10/1995, quy định tài sảnthuộc sở hữu toàn dân là “đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyêntrong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn doNhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế,văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùngcác tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữutoàn dân”
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đại diện cho lợiích của toàn dân, nên Nhà nước được dân giao thực hiện quyền chủ sở hữuđối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân và đã được luật pháp qui định tại Điều
206 Bộ luật Dân sự 10/1995 Theo Điều này, “Nhà nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sởhữu toàn dân” Theo qui định các Điều 181 và 206 của Bộ luật Dân sự10/1995, tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam bao gồm các loại tài sản sau:
- Đất đai, các tài nguyên trên và trong lòng đất
- Các tài sản được đầu tư mua sắm bằng nguồn vốn của Nhà nướctrang cấp cho các doanh nghiệp nhà nước, các ngành lĩnh vực kinh tế, vănhoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, ngoại giao quốc phòng an ninh
- Các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước Theo Bộluật dân sự 10/1995, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và các văn bản quiphạm pháp luật, các tài sản này bao gồm các tài sản tịch thu sung quỹ Nhànước, tài sản chôn dấu, chìm đắm tìm thấy, tài sản vắng chủ, vô chủ đã đượcxác lập quyền sở hữu Nhà nước và các tài sản do các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước hiến tặng Chính phủ hoặc các tổ chức nhà nước
Trang 7Tài sản của Nhà nước ngay từ chế độ phong kiến đã hiểu là tài sảncông, như đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước phong kiến được gọi là côngđiền, công thổ Tài sản thuộc sở hữu toàn dân của nước ta hiện nay mà Nhànước là người thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với các tài sản này đượcgọi là tài sản công Nhà nước thực hiện chức năng sở hữu tài sản công, songNhà nước không trực tiếp sử dụng các tài sản này mà Nhà nước giao quyền
sử dụng tài sản công cho các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy Nhà nước từTrung ương đến cơ sở, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức
xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhànước trực tiếp quản lý, khai thác, sử dụng tài sản công phục vụ cho các hoạtđộng của mình và xã hội theo chế độ qui định của pháp luật; Các tổ chức cánhân được Nhà nước giao sử dụng tài sản công đều phải chịu sự thống nhấtquản lý của Chính phủ và Nhà nước kiểm tra giám sát tình hình quản lý sửdụng tài sản công của tổ chức, cá nhân
Như vậy, tài sản công được hiểu là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, baogồm toàn bộ tài sản được hình thành từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước hoặc
có nguồn gốc Ngân sách nhà nước, các tài sản khác được xác lập quyền sởhữu của Nhà nước thông qua quốc hữu hóa hoặc quy định bằng pháp luật vàđất đai, tài nguyên thiên nhiên khác gắn liền với đất đai, vùng trời, vùng biểncủa quốc gia được Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sửdụng theo qui định chung của Nhà nước và chịu sự kiểm tra giám sát củaNhà nước trong quá trình quản lý sử dụng tài sản
1.2 Phân loại tài sản công
Để nhận biết và từ đó định ra các biện pháp quản lý và sử dụng cóhiệu quả với từng loại tài sản, tài sản công có thể được phân chia theo cáctiêu thức chủ yếu sau:
1.2.1 Phân loại tài sản công theo nguồn gốc hình thành
Theo cách phân loại này, tài sản công gồm:
Trang 8- Tài sản do thiên nhiên tạo ra ban tặng cho con người và thuộc chủquyền của từng quốc gia như: đất đai, rừng tự nhiên, tài nguyên khoáng sản,tài nguyên nước trong lòng đất, vùng trời, vùng biển, mặt nước, những danhlam thắng cảnh Những tài sản này thường gọi chung là tài nguyên thiênnhiên
- Tài sản nhân tạo là tất cả các tài sản do con người tạo lập ra và đượcduy trì qua các thế hệ như: hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, các côngtrình văn hoá, các cổ vật, công sở, cơ sở sản xuất kinh doanh, phương tiện đilại và thiết bị văn phòng, thiết bị máy móc sản xuất, tài sản tài chính… Tàisản nhân tạo được hình thành do đầu tư, mua sắm bằng kinh phí của Ngânsách nhà nước và những tài sản mà Nhà nước thu nạp được từ các tài sản tịchthu sung quỹ Nhà nước, tài sản hiến tặng của các tổ chức, cá nhân trong vàngoài nước
1.2.2 Phân loại tài sản công theo thời hạn sử dụng
Theo cách phân loại này, tài sản công bao gồm các loại tài sản có thể
sử dụng vĩnh viễn không mất đi như tài nguyên đất, tài nguyên nước, khôngkhí… và các tài sản có thời gian sử dụng nhất định như tài nguyên khoángsản và các tài sản nhân tạo khác Tuy nhiên, việc phân loại ra tài sản sử dụngvĩnh viên và tài sản sử dụng có hạn chỉ là tương đối, vì ngay tài nguyên đấtnếu không có biện pháp quản lý, sử dụng và bảo vệ đất thì đất bị sói mòn,cằn cỗi không sử dụng được hoặc trong phạm vi một địa phương diện tíchđất cũng bị giảm
1.2.3 Phân loại tài sản công theo mục đích sử dụng tài sản
Theo cách phân loại này tài sản công bao gồm:
1.2.3.1 Tài sản công thuộc khu vực hành chính sự nghiệp bao gồm
những tài sản công là đất đai, nhà, công trình, vật kiến trúc trên đất, cácphương tiện vận tải, máy móc, trang thiết bị làm việc, thiết bị chuyên dùng
và các tài sản khác phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động sựnghiệp.mà Nhà nước giao cho các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp,
Trang 9các đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổchức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp (gọi chung là đơn vị hành chính sựnghiệp) quản lý và sử dụng.
1.2.3.2 Tài sản công dùng cho mục đích công cộng bao gồm: những
tài sản công là đất đai; Hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ, đườnghàng không, bến cảng, bến phà, nhà ga…; Hệ thống thuỷ lợi: đê điều, hệthống kênh mương, trạm bơm, hồ chứa nước, đập thuỷ lợi…; Hệ thống chiếusáng, cấp, thoát nước, công viên…; Hệ thống các công trình văn hoá, di tíchlịch sử và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng
1.2.3.3 Tài sản công dùng vào sản xuất kinh doanh bao gồm đất đai
giao cho các thành phần kinh tế khai thác sử dụng, tài nguyên thiên nhiên,nhà xưởng, trang thiết bị máy móc, phương tiện vận tải… vốn bằng tiền giaocho các doanh nghiệp nhà nước quản lý sử dụng vào sản xuất kinh doanhhoặc Nhà nước dùng các tài sản này góp vốn vào các công ty cổ phần vàgiao hoặc cho các tổ chức kinh tế khác, hộ gia đình và cá nhân thuê
1.2.3.4 Tài sản công chưa sử dụng bao gồm các tài sản dự trữ Nhà
nước, tài sản được xác lập sở hữu của Nhà nước đang trong quá trình xử lý
và đất đai tài nguyên thiên nhiên chưa giao cho ai sử dụng
1.2.4 Phân loại tài sản công theo đặc điểm và tính chất của tài sản Theo cách phân loại này, tài sản công bao gồm:
1.2.4.1 Bất động sản là các tài sản không di dời được như: Đất đai;
Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền vớinhà ở, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai và cáctài sản khác do pháp luật quy định
1.2.4.2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản như
phương tiện giao thông vận tải, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác
1.3 Đơn vị sự nghiệp và tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
1.3.1 Đơn vị sự nghiệp
Trang 10Đơn vị sự nghiệp là những đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực sựnghiệp giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường, y tế, văn hoá nhệ thuật,thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ, tư vấn, … do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thành lập Đơn vị sự nghiệp có vị trí quan trọng trong nềnkinh tế quốc dân vì các đơn vị này cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chấtlượng cao, quy trình công nghệ cao, công trình nghiên cứu khoa học cơ bản
và thực hiện các hoạt động công ích phục vụ cho kinh tế – xã hội phát triển.Các đơn vị sự nghiệp này được Nhà nước đầu tư, mua sắm, trang cấp tài sảncông (cơ sở vật chất), bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên để thựchiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao như các cơ quan quản lý nhànước; ngoài ra, đơn vị được phép thu một số khoản phí, lệ phí theo qui địnhcủa Nhà nước, thu thông qua hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ rất đadạng ở hầu hết các lĩnh vực Hiện nay, các đơn vị sự nghiệp được chia thành
ba loại:
- Đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt độngthường xuyên: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đủ bù đắp toàn bộ chi phíhoạt động thường xuyên, Ngân sách nhà nước không phải cấp kinh phí hoạtđộng thường xuyên cho đơn vị;
- Đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt độngthường xuyên: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chỉ đủ bù đắp một phần chiphí hoạt động thường xuyên, chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt độngthường xuyên, Ngân sách nhà nước phải cấp một phần kinh phí hoạt độngthường xuyên cho đơn vị;
- Đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có thu do Ngân sáchnhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên
1.3.2 Tài sản công tại đơn vị sự nghiệp
Tài sản công tại đơn vị sự nghiệp là một bộ phận tài sản công mà Nhànước giao cho các đơn vị sự nghiệp trực tiếp quản lý và sử dụng, để thực
Trang 11hiện các hoạt động sự nghiệp phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội của đấtnước, bao gồm:
- Đất đai, nhà cửa, công trình, vật kiến trúc: là tài sản của đơn vị đượcgiao và hình thành sau quá trình đầu tư xây dựng như trụ sở làm việc, trườnghọc, bệnh viện, nhà thi đấu thể thao, nhà văn hóa, phòng thí nghiệm, nhàkho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa,đường xá, cầu cống, đường sắt, cầu tầu, cầu cảng ;
- Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị trang bị chocán bộ để làm việc và phục vụ hoạt động của đơn vị như máy móc chuyêndùng, thiết bị công tác, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ ;
- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vậntải, thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ốngnước, băng tải ;
- Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong côngtác quản lý hoạt động của đơn vị như máy vi tính, thiết bị điện tử, thiết bị,dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, hút bụi, chống mốimọt ;
- Vườn cây lâu năm, súc vật nuôi để thí nghiệm hoặc nhân giống nhưvườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả và đàn gia súc cácloại
- Các loại tài sản khác: là toàn bộ các tài sản khác chưa liệt kê vào nămloại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật
1.3.3 Đặc điển tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
Tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp có các đặc điểm sau:
- Tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp không chỉ được Nhà nước giao,được đầu tư, mua sắm bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước mà còn đượcđầu tư mua sắm từ nguồn vốn của các dự án, vốn vay của quỹ hỗ trợ pháttriển hoặc Ngân hàng và quỹ phát triển sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp cóthu
Trang 12- Tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp trong qúa trình sử dụng mộtphần giá trị của tài sản là yếu tố chi phí tiêu dùng công, không trực tiếp thuhồi được phần giá trị hao mòn của các tài sản trong quá trình sử dụng, màphần lớn thu hồi giám tiếp qua phí, lệ phí theo qui định của Nhà nước hoặcqua hiệu quả của các hoạt động sự nghiệp phục vụ cho sự phát triển kinh tế –
xã hội; chỉ một số tài sản công trực tiếp sử dụng vào các hoạt động sản xuấtkinh doanh dịch vụ, thì các tài sản đó là những tư liệu sản xuất để tạo ra cácsản phẩm dịch vụ công được tính vào giá thành sản phẩm dịch vụ và thu hồitrực tiếp phần giá trị hao mòn của tài sản đó trong quá trình sử dụng
- Tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp phần lớn mang tính chất đặc thùtheo ngành, lĩnh vực sự nghiệp mà đơn vị đó hoạt động; cùng một loại tài sảnnhưng có đặc điểm kỹ thuật và đặc tính riêng để phục vụ cho từng loại hoạtđộng sự nghiệp riêng theo ngành, lĩnh vực của đơn vị sự nghiệp thực hiện
1.3.4 Vai trò của tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
Tài sản công trong các đơn vị sự nghiệp là một bộ phận của tài sảnquốc gia, là tiềm lực phát triển đất nước như Bác Hồ kính yêu của chúng ta
đã khẳng định: “ tài sản công là nền tảng, là vốn liếng để khôi phục và xâydựng kinh tế chung, để làm cho dân giàu, nước mạnh, để nâng cao đời sốngnhân dân” (1) Vai trò của tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp được thể hiệntrên các mặt sau:
- Tài sản công trước hết là điều kiện vật chất phục vụ cho hoạt động
bộ máy quản lý điều hành các đơn vị sự nghiệp Các tài sản này là nhà đấtthuộc trụ sở làm việc, các phương tiện đi lại, máy móc thiết bị văn phòngtrang bị cho bộ máy quản lý điều hành đơn vị sự nghiệp Hoạt động của bộmáy này không thể thiếu được trong mỗi đơn vị sự nghiệp, vì bộ máy nàykhông chỉ quyết định chương trình hoạt động của đơn vị mà còn tổ chức cáchoạt động sự nghiệp của đơn vị Muốn nâng cao hiệu suất hoạt động của bộ
1 Chủ tịch Hồ chí Minh với vấn đề tài chính NXB Sự thật 1989, trang 79
Trang 13máy này theo hướng tinh giản biên chế thì phải tăng cường trang bị tài sảnlàm việc cho các bộ máy này cả về số lượng và chất lượng của tài sản.
- Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp là nhân tố quan trọng trong quátrình tổ chức thực hiện các hoạt động sự nghiệp, cung cấp các sản phẩm dịch
vụ công với chất lượng cao cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước Nước ta là nước nông nghiệp tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoáđất nước với yêu cầu phải rút ngắn thời gian, phải có bước nhảy vọt về côngnghệ Từ đó, tại Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII Đảng ta đã khẳng định,chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là khâu đột phá
để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp là điều kiện vật chất để đào tạocon người có tri thức, có năng lực khoa học và công nghệ mạnh Để có conngười có tri thức, có năng lực khoa học để tiếp cận khoa học, công nghệ thếgiới, đồng thời có lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật, phải từ phát triểncác sự nghiệp giáo dục - đào tạo; như năm 1994 UNESCO đã khẳng định:
“không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ vàthành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó”
- Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp là điều kiện vật chất để nâng caothể chất và tinh thần cho con người lao động Con người lao động hiện naykhông chỉ cần có tri thức, trình độ khoa học kỹ thuật mà còn phải có thể chấtcường tráng, có hiểu biết về văn hoá, tinh thần yêu nước Để tạo cho conngười đạt các yêu cầu này phải bằng các hoạt động sự nghiệp phát triển trên
cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động này được bảo đảm về số lượng vàphù hợp với xu hướng phát triển khoa học công nghệ
- Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp là điều kiện vật chất cần thiết
để thực hiện các công trình khoa học công nghệ và áp dụng các thành tựukhoa vào phát triển kinh tế - xã hội để thực hiện nghiên cứu và ứng dụng cáccông trình khoa học, ngoài các nhà khoa học thì điều kiện không thể thiếu là
cơ sở vật chất; cơ sở vật chất này chính là yếu tố quan trọng đóng góp cho
Trang 14các hoạt động nghiên cứu, kết quả và sự thành công của các công trìnhnghiên cứu khoa học
2 Cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
2.1 Cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
Cơ chế quản tài sản công được hiểu là phương thức mà qua đó bộ máyquản lý tác động vào khu vực tài sản công để kích thích, định hướng, hướngdẫn, tổ chức, điều tiết tài sản công vận động đến các mục tiêu đã xác định Cơchế quản lý tài sản công do chủ thể quản lý là Nhà nước hoạch định thông quacác quan hệ pháp lý, tổ chức theo luật định Về nguyên tắc, cơ chế quản lý tàisản công do bộ máy quản lý soạn thảo và được quy chế hoá theo quy trình banhành các văn bản qui phạm pháp luật, sau đó chính bộ máy quản lý sử dụng
và hoàn thiện để tác động vào đối tượng quản lý là nền tài sản quốc gia Cơchế quản lý tài sản công là sản phẩm mang tính chủ quan, nhưng đòi hỏi phảiphù hợp với những đòi hỏi khách quan trong điều kiện cụ thể; bản thân cơ chếquản lý tài sản công cũng là một hệ thống bao gồm hai bộ phận cơ bản sauđây:
- Thứ nhất, là hệ thống các mục tiêu của quản lý tài sản công Đây là
bộ phận có tính quyết định sự vận hành của hệ thống hiệu qủa Hệ thống cácmục tiêu quản lý tài sản công được đề ra căn cứ vào sự phân tích tổng hợpquan hệ tương tác giữa mục tiêu và phương tiện, mục tiêu và nguồn lực
- Thứ hai, là các công cụ quản lý (bao gồm cả chính sách), phươngpháp, phương tiện sử dụng để đạt mục tiêu đã đề ra, là bộ phận cốt yếu của
cơ chế quản lý tài sản công
Cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp chỉ là một bộphận trong cơ chế quản lý tài sản công nói chung Hay nói khác đó chỉ là cácphương thức mà qua đó bộ máy quản lý tác động vào tài sản tại các đơn vị sựnghiệp để kích thích, định hướng, hướng dẫn, tổ chức, điều tiết việc duy trì,phát triển, sử dụng, khai thác và xử lý tài sản công trong các đơn vị hànhchính sự nghiệp vận động đến các mục tiêu đã xác định Bộ phận cốt yếu của
Trang 15cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp là các công cụ quản lý(bao gồm cả chính sách), phương pháp, phương tiện sử dụng để đạt mục tiêuquản lý
2.2 Chức năng, tác dụng của cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
2.2.1 Chức năng của cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sựnghiệp
- Chức năng thông tin: Chức năng thông tin của cơ chế thể hiện ở chỗ
nó chứa đựng thông tin về chiến lược, chính sách, các quy tắc, quy định,khuôn khổ, chuẩn mức, để cung cấp cho các đối tượng liên quan trong việcquản lý, sử dụng, xử lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
- Chức năng định hướng, hướng dẫn hành vi quản lý tài sản công tạicác đơn vị sự nghiệp: Chức năng này thể hiện ở chỗ thông qua nhữngnguyên tắc, qui tắc, quy định, quy chế thể hiện thông qua các văn bản quiphạm pháp luật được ban hành để định hướng, hướng dẫn các đơn vị sựnghiệp, các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện việc quản lý tài sản côngtại các đơn vị sự nghiệp; đồng thời để Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra,giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp Tài sảncông trong cơ quan sự nghiệp do Nhà nước trang cấp cho các đơn vị sựnghiệp sử dụng; các đơn vị sự nghiệp được Nhà nước giao tài sản công đểtrực tiếp quản lý sử dụng phục vụ cho hoạt động của đơn vị, chỉ có quyền vàtrách nhiệm thực hiện đầu tư xây dựng, mua sắm trang bị, bảo quản duy trì,
sử dụng và xử lý bán, điều chuyển, thanh lý, theo đúng mục đích, hướngdẫn trong những nguyên tắc, qui tắc, quy định, quy chế của Nhà nước đã quiđịnh đối với tài sản được Nhà nước giao
- Chức năng tổ chức, điều tiết việc quản lý tài sản công tại các đơn vị
sự nghiệp: Chức năng này thể hiện ở bằng các qui định, hướng dẫn thôngqua văn bản qui phạm pháp luật và các biện pháp kinh tế kết hợp với biệnpháp hành chính, Nhà nước qui định việc tổ chức thực hiện đầu tư, mua sắm
Trang 16tài sản công trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, việc sử dụng, việc xử lýbán, điều chuyển, thanh lý tài sản để các đơn vị hành chính sự nghiệp, các tổchức và cá nhân có liên quan tổ chức thực hiện Đồng thời cũng điều tiết việcquản lý sử dụng tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp cân đối, phù hợp vớikhả năng nguồn tài sản hiện có của Nhà nước, khả năng của Ngân sách nhànước; cân đối, phù hợp với tài sản công tại các lĩnh vực khác, cũng như trongtừng loại hình đơn vị sự nghiệp để bảo đảm phục vụ nhu cầu công tác hoạtđộng của các đơn vị sự nghiệp vừa duy trì phát triển có hiệu quả và tiết kiệmtài sản công
- Chức năng pháp lý làm căn cứ, cơ sở cho việc quản lý tài sản côngtại các đơn vị sự nghiệp: Thể hiện ở chỗ, cơ chế tạo lập các chuẩn mực, cácquy phạm để làm căn cứ, cơ sở cho việc xây dựng qui chế, qui định quản lý
sử dụng, kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm trong quản lý tài sản công tạicác đơn vị sự nghiệp Bằng thể chế quản lý bao gồm những quy tắc, qui định,quy chế, trong cơ chế quản lý, được ban hành thông qua các văn bản quiphạm pháp luật, thiết lập nên các căn cứ, cơ sở pháp lý cho việc huy độngcác nguồn tài sản, nguồn vốn để trang bị tài sản công phục vụ cho các hoạtđộng sự nghiệp; là căn cứ, cơ sở để thực hiện việc quản lý, sử dụng, xử lý tàisản công tại các đơn vị sự nghiệp từ khi hình thành đến quá trình sử dụng vàkết kết thúc; đồng thời đó cũng là công cụ pháp lý để các cơ quan chức năngcủa nhà nước, tổ chức và nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giám sát việcquản lý sử dụng và xử lý những vi phạm trong việc quản lý sử dụng tài sảncông trong các đơn vị sự nghiệp
2.2.2 Tác dụng của qui chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
- Củng cố vai trò của nhà nước trong việc thực hiện các chức năngphát triển văn hóa xã hội và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhândân Với cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp để phục vụ tốtcho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, môitrường, …, bảo đảm cơ sở vật chất cho không chỉ bộ máy của các đơn vị sự
Trang 17nghiệp hoạt động mà còn bảo đảm cho các hoạt động sự nghiệp do các đơn
vị sự nghiệp đảm nhận thực hiện ngày càng được nâng cao phục vụ ngàycàng tốt hơn cho xã hội và mọi người dân; từ đó khẳng định và thể hiện rõvai trò của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do dân và vì dân, củng
cố vững chắc vai trò của nhà nước không chỉ là bộ máy quản lý xã hội, màcòn là bộ máy phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích của toàn xã hội
- Góp phần nâng cao cả về chất lượng và số lượng của các hoạt động
sự nghiệp phục vụ lợi ích chung của quốc gia, lợi ích công cộng Với cơ chếquản lý tài sản tại các đơn vị sự nghiệp phù hợp, sẽ tạo điều kiện huy độngtối đa các nguồn lực hiện có cho việc đầu tư tài sản tại các đơn vị sự nghiệpbảo đảm đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất để thực hiện các chức năng,nhiệm vụ được giao, tạo lập nên hệ thống cơ sở vật chất hiện đại để phục vụgiáo dục, nghiên cứu khoa học, cải tạo môi trường, phát triển văn hóa, thểthao, … ;từ đó mở rộng các hoạt động sự nghiệp phục vụ cho xã hội, đồngthời từng bước nâng cao chất lượng và kết quả của các hoạt động sự nghiệp
- Phát huy và nâng cao hiệu quả của tài sản công tại các đơn vị sựnghiệp nói riêng và tài sản công nói chung phục vụ cho sự nghiệp xây dựng
và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Cơ chế quản lý tài sản công tại cácđơn vị sự nghiệp định ra những nguyên tắc, quy chế, qui định, trong việc sửdụng tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp một cách phù hợp, tiết kiệm, hiệuquả, hạn chế những thất thoát, lãng phí; bảo đảm cho toàn bộ cơ sở vật chấttrong các đơn vị sự nghiệp ngày càng phục vụ tốt cho công tác của các đơn
vị sự nghiệp, phục vụ tốt các hoạt động sự nghiệp với mức cao nhất; từ đógóp phần phát huy và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản phục vụ cho cáchoạt động sự nghiệp và sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ngày càng cao
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
2.3.1 Cơ chế thị trường
Trang 18Hiện nay nước ta đang phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường,tức nền kinh tế vận động và phát triển phải tuân theo các quy luật của thịtrường, đồng thời có sự điều tiết, quản lý của Nhà nước Các quy luật của thịtrường không những chi phối tác động trong nền kinh tế, mà còn ảnh hưởngđến các lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh vực hoạt động sự nghiệp Vì vậy, cơchế thị trường cũng là nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động sự nghiệp
và cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp Nhân tố này ảnhhưởng đến các quy định trong cơ chế về trang bị, đầu tư, mua sắm đến theodõi quản lý tài sản hay xử lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp cũng phảiđược thể chế phù hợp với các quy luật cung cầu, quy luật giá trị, Điềunày thể hiện ở quy định đấu thầu trong đầu tư, xây dựng, xác định giá trị tàisản tại đơn vị, định giá tài sản khi chuyển giao, đấu giá tài sản khi xử lý bán,thanh lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp đều phải bảo đảm thể hiệnđúng giá trị của tài sản theo giá thị trường, hay nói khác là phải thực hiệntheo quy luật cung cầu, quy luật giá trị,
2.3.2 Chủ trương, chính sách phát triển hoạt động sự nghiệp của Đảng
và Chính phủ
Đây là nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành, xây dựng, sửa đổi vàhoàn thiện cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp Trên cơ sởchủ trương, chính sách phát triển hoạt động sự nghiệp của Đảng và Chínhphủ, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hoạt động sự nghiệptrong các lĩnh vực, khoa học, giáo dục, môi trường, văn hóa, thể thao, vàcác mục tiêu phát triển hoạt động sự nghiệp được xác định; từ đó cơ chếquản lý tài sản tại các đơn vị sự nghiệp sẽ phải xây dựng, sửa đổi, hoàn thiệncho phù hợp để bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ công tác của các đơn vị sựnghiệp, phục vụ cho các hoạt động sự nghiệp theo chiến lược, quy hoạch, kếhoạch phát triển hoạt động sự nghiệp và đạt được các mục tiêu đã đề ra
2.3.3 Thể chế về quản lý kinh tế, quản lý tài chính và quản lý tài sảncông
Trang 19Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến những nguyên tắc, quy chế,qui định, trong cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp Thểchế quản lý về kinh tế, về tài chính và quản lý tài sản công qui định chuẩnmực hành vi của các chủ thể tham gia trong hệ thống kinh tế, qui định tráchnhiệm và thẩm quyền của chủ thể quản lý về tài chính, tài sản và nghĩa vụ,trách nhiệm của đối tượng quản lý Thể chế quản lý kinh tế, quản lý tài chính
và quản lý tài sản công qui định cái gì được làm, cái gì không được làm, các
gì làm phải có điều kiện; đồng thời cũng xác lập các công cụ cưỡng chế, chếtài hành vi của các tổ chức, của các đơn vị trong lĩnh vực kinh tế, tài chính,tài sản công Thể chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp phải căn
cứ các thể chế quản lý kinh tế, quản lý tài chính và quản lý tài sản công đểsửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp; đồng thời lấy các thể chế quản lý kinh tế,quản lý tài chính và quản lý tài sản công làm cơ sở để xây dựng, bổ sung vàthể chế để quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
2.3.4 ý thức, năng lực của cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý và
các đơn vị sự nghiệp
Đây là nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của cơ chế Do
cơ chế quản lý do chủ thể quản lý hoạch định thông qua các quan hệ pháp lý,
tổ chức theo luật định; Về nguyên tắc, cơ chế quản lý do bộ máy quản lýsoạn thảo và được quy chế hoá theo quy trình ban hành các văn bản quyphạm pháp luật để tác động vào đối tượng quản lý, cơ chế quản lý là sảnphảm mang tính chủ quan, nhưng đòi hỏi phải phù hợp với các đòi hỏi kháchquan trong điều kiện cụ thể Việc thực hiện cơ chế cũng do các tổ chức, đơn
vị thuộc phạm vi chi phối của cơ chế và các đơn vị sự nghiệp tổ chức thựchiện Vì vậy, ý thức trách nhiệm, trình độ năng lực chuyên môn, v.v củađội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý, cơ quan soạn thảo các vănbản quy phạm pháp luật để quy chế hoá cơ chế quản lý tài sản công tại cácđơn vị sự nghiệp và trong các đơn vị được giao chức năng quản lý, trong các
Trang 20đơn vị sự nghiệp được giao tài sản trực tiếp quản lý sử dụng là nhân tố ảnhhưởng lớn đến chất lượng của cơ chế và hiệu quả thực hiện cơ chế
3 Quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp của một số nước
và kinh nghiệm vận dụng cho Việt Nam
3.1 Quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp của một số nước
Ở Trung Quốc: Năm 2003 đã thành lập Bộ Quản lý tài sản quốc gia
thuộc Chính phủ Bộ này được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó cónhiệm vụ là đại diện quyền sở hữu tài sản nhà nước tại tất cả các cơ quan sựnghiệp, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của tài sản nhà nước tại các đơn vị
sự nghiệp, ngăn chặn mọi trường hợp hư hao, tổn thất mất mát tài sản bằngcác biện pháp theo qui định của pháp luật
Ở Trung Quốc tài sản sự nghiệp là tổng hợp các nguồn kinh tế tínhthành tiền, được pháp luật công nhận là sở hữu nhà nước và do đơn vị sựnghiệp được quyền chiếm hữu và sử dụng, gồm có tài sản của Nhà nước cấpcho đơn vị sự nghiệp, tài sản của đơn vị sự nghiệp được hình thành từ nguồnthu của tổ chức tài sản nhà nước sử dụng theo quy định của chính sách nhànước, cũng như những tài sản quyên góp, biếu tặng và tài sản khác đượcpháp luật xác nhận là sở hữu nhà nước Hình thức biểu hiện của tài sản sựnghiệp cụ thể là: tài sản lưu động, đầu tư dài hạn, tài sản cố định, tài sản vôhình và các loại tài sản khác
Nhiệm vụ chủ yếu của quản lý tài sản sự nghiệp là: xây dựng và hoànthiện các loại điều lệ, chế độ, xác định rõ quan hệ về quyền sở hữu tài sản,thực hiện quản lý quyền sở hữu tài sản một cách hợp lý, sử dụng tài sản mộtcách tiết kiệm và có hiệu quả, thực hiện chế độ sử dụng có hoàn trả đối vớitài sản kinh doanh, giám sát việc bảo toàn vốn và phát triển vốn đối với tàisản kinh doanh
Nội dung quản lý tài sản sự nghiệp gồm có: đăng ký, xác định giớihạn, thay đổi quyền sở hữu tài sản và xử lý tranh chấp về quyền sở hữu tài
Trang 21sản; sử dụng, xử lý, đánh giá, thống kê báo cáo và giám sát về tài sản, thôngbáo cho cơ quan tài chính cùng cấp về tình hình tài sản.
Nhà nước quản lý mọi tài sản sự nghiệp, giữ vững nguyên tắc tách biệtgiữa quyền sở hữu với quyền sử dụng, thực hiện chế độ quản lý nhà nước doNhà nước nắm quyền sở hữu thống nhất, chính quyền giám sát và quản lýtheo từng cấp và đơn vị được quyền chiếm hữu và sử dụng tài sản này
Trong quá trình sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp, một số đơn
vị sự nghiệp được phép chuyển tài sản không kinh doanh sang kinh doanhvới điều kiện các đơn vị này phải đảm bảo hoàn thành công tác bình thườngđược Nhà nước giao và phải thu hồi vốn đầu tư mua sắm tài sản Cơ quanquản lý tài sản nhà nước các cấp có quyền giám sát, kiểm tra hiệu quả kinh
tế, tình hình chia lời của tài sản không kinh doanh chuyển thành tài sản kinhdoanh của đơn vị, kịp thời xử lý những vấn đề còn vướng mắc
Ở Pháp: Tài sản công là toàn bộ các tài sản gồm động sản và bất
động sản cấu thành tài sản của nhà nước trung ương và chính quyền địaphương các cấp Tài sản nhà nước chia thành tài sản công của Nhà nước vàtài sản tư của Nhà nước:
- Tài sản công của Nhà nước là tất cả các tài sản dưới dạng động sản
và bất động sản thuộc về Nhà nước và không thể chuyển quyền sở hữu tưnhân do tính chất của chúng hay chức năng sử dụng của chúng như: tài sảncông có thuộc tính tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên, sông hồ, vùng biển,vùng trời…); tài sản công có thuộc tính nhân tạo (cơ sở hạ tầng, đường xá,cầu cảng, hệ thống phân phối điện, nhà máy, điện nguyên tử, các công trìnhtôn giáo, văn hoá, công trình công cộng…)
- Tài sản tư của Nhà nước là các tài sản được sử dụng cho cơ quan, tổchức, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng Nhóm tài sản công này bao gồm cáctài sản được đại diện của từng cơ quan, tổ chức nhà nước nắm giữ như mộtchủ sở hữu tư nhân và chịu trách nhiệm về tài sản cũng như hưởng lợi từ tàisản theo thẩm quyền quản lý của mình
Trang 22Cơ quan quản lý công sản là cơ quan duy nhất được trao thẩm quyềnbán tài sản từ các nguồn sau:
- Tài sản không cần dùng,
- Tài sản do cơ quan toà án chuyển sang để phát mãi sung công,
- Tài sản vô thừa nhận, tài sản vô chủ, vắng chủ, được xác lập sở hữuNhà nước,
- Tài sản bị tịch thu sung quĩ Nhà nước
Ngoài ra các đơn vị cũng có thể yêu cầu cơ quan công sản bán cácđộng sản không còn sử dụng cũng như các sản phẩm sản xuất thử…
Việc bán tài sản nhà nước được tiến hành bằng nhiều phương thứckhác nhau như bán theo thoả thuận, bán chỉ định hoặc bán theo hình thức gọithầu, bán đấu giá công khai, trong đó bán đấu giá công khai là hình thức cơbản nhất
Ở Đức: Tài sản công được chia làm 2 loại: tài sản quản lý và tài sản
tài chính
Tài sản quản lý là những tài sản được Liên bang, Bang sử dụng chocông tác của các cơ quan Nhà nước Tài sản do cơ quan nào sử dụng thì cơquan đó có quyền quản lý; song cũng có bang, cơ quan tài chính quản lý toàn
bộ tài sản của các cơ quan được giao sử dụng Mặc dù, cách giao quản lýkhác nhau, nhưng đều thống nhất là:
- Bộ Tài chính quyết định mua bán đất đai công, mua bán hoặc xâydựng công sở của mọi cơ quan Nhà nước (trừ xã) Riêng các trường hợp bánnhà thuộc trụ sở làm việc và đất có giá trị trên 3 triệu DM thì Bộ Tài chínhphải trình Quốc hội quyết định (tất nhiên phải thông qua Chính phủ); quyếtđịnh thu hồi cơ sở nhà đất là trụ sở làm việc của các cơ quan nhà nước khicác cơ quan này không còn nhu cầu sử dụng tài sản hoặc cơ quan giải thể;
- Các bộ, ngành muốn thay đổi mục đích diện tích đất và nhà (thuộctrụ sở) dư thừa phải xin ý kiến của Bộ Tài chính Bộ Tài chính kiểm tra, xemxét và cho phép mới được sử dụng;
Trang 23- Đối với các động sản là tài sản quản lý thì giao cho các bộ, ngànhquản lý theo chế độ, định mức, tiêu chuẩn do Bộ Tài chính qui định
- Toàn bộ việc bảo dưỡng, sửa chữa tài sản Nhà nước đều thực hiệntheo định mức cố định và giao cho cơ quan quản lý sử dụng tự tổ chức thựchiện sau khi đã được Bộ Tài chính đồng ý và được Quốc hội phê chuẩn.Trường hợp tài sản bị hư hỏng đột xuất thì cơ quan sử dụng phải bàn bạc với
Bộ Tài chính để xử lý, có thể cho sửa chữa tạm thời sau mới sửa chữa hoặcthay thế hoàn toàn
Tài sản tài chính bao gồm toàn bộ đất đai (bất động sản) không sửdụng xây dựng nhà, công trình được giữ lại phục vụ cho mục tiêu chung như:đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp, đất bảo vệ môi trường, đất chưa sử dụng trong đó, chủ yếu là đất rừng Toàn bộ tài sản tài chính do Bộ Tài chính quản
lý trực tiếp (Vụ Công sản): Quyết định mua, bán, cho thuê hoặc đi thuê và cótrách nhiệm giữ vốn đất (khi bán hoặc đưa vào sử dụng thì phải tìm cáchmua để bù vào)
Ở Hàn Quốc: Tài sản công được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các tài
sản do Chính phủ sở hữu phục vụ cho các mục đích công cộng Theo nghĩahẹp là các tài sản được mô tả trong mỗi mục dưới đây và do Chính phủ sởhữu thông qua việc thu, mua hoặc chiếm dụng đã được quy định trong cácLuật chung (Luật tài sản quốc gia, Luật quy hoạch đô thị) và Luật riêng(Luật đường sá, sông ngòi, đất đai…) như:
+ Bất động sản và các tài sản kèm theo;
+ Tàu lớn, cầu phao, máy bay và các phụ kiện;
+ Các máy móc và dụng cụ quan trọng cho các Công ty của Chính phủhay cơ sở vật chất của Chính phủ;
+ Quyền khai thác mỏ và các quyền tương đương khác
Chính phủ Hàn Quốc thông qua cơ quan quản lý tài sản quốc hữu trựcthuộc cơ quan tài chính để thực hiện vai trò chủ sở hữu và quản lý nhà nướcđối với tài sản quốc hữu với các nội dung sau:
Trang 24- Xây dựng các văn bản pháp luật về quản lý tài sản quốc hữu như luậtcủa Quốc hội, luật của Tổng thống và Nghị định của Chính phủ về tài sảnquốc hữu;
- Quyết định các khoản chi tiêu tài chính về xây dựng, mua sắm, sửachữa tài sản quốc hữu tại các cơ quan;
- Thực hiện điều động tài sản công hữu giữa các cơ quan, đơn vị, góp
cổ phần bằng tài sản quốc hữu;
- Xác định giá tài sản quốc hữu theo định kỳ 5 năm và thống kê tài sảnquốc hữu báo cáo Chính phủ
Ở các đơn vị sự nghiệp muốn mua sắm, xây dựng mới tài sản và trụ sởlàm việc hàng năm phải căn cứ vào tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản vàquy chế cung cấp tài sản công để lập kế hoạch trình phê duyệt Khi kế hoạch
đã được phê duyệt thì đơn vị chủ động ký hợp đồng với đơn vị xây dựng đểxây dựng (đối với trụ sở làm việc) và đơn vị tổ chức cung cấp hàng hoá đểmua và thanh toán trực tiếp
Trong quá trình quản lý và sử dụng tài sản công, các đơn vị sự nghiệpphải đảm bảo thực hiện nguyên tắc: không được cho thuê, nhượng bán, traođổi và phải giao lại cho Chính phủ (Bộ Tài chính) những bất động sản cácđơn vị xét thấy không cần dùng; nhưng được phép tổ chức chuyển đổi,nhượng bán các tài sản máy móc, dụng cụ mà đơn vị xét thấy không cầndùng hoặc cần thanh lý, sau khi được cơ quan điều hành chung về tài sảncông đồng ý Việc bán thanh lý thông qua tổ chức đấu giá, số tiền thu đượcnộp vào một tài khoản đặc biệt của Chính phủ
Ở Quebéc - Canađa: Việc quản lý, sử dụng đối với bất động sản (nhà
đất) và phương tiện vận tải, đi lại trong các cơ quan sự nghiệp, trước năm
1995 được giao trực tiếp cho các Bộ, ngành, cơ quan nhà nước trực tiếp quản
lý, sử dụng Từ cuối năm 1994, Chính phủ Quebéc thực hiện đổi mới côngtác quản lý sử dụng trụ sở làm việc và phương tiện đi lại, không giao cho các
Trang 25cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý tài sản, Chính phủ thành lập đơn vịchuyên quản lý tài sản là:
+ Công ty (Hãng) bất động sản Quebéc – là doanh nghiệp nhà nướctrực thuộc Chính phủ để thực hiện quản lý toàn bộ nhà đất văn phòng và nhàchuyên dùng
+ Trung tâm quản lý thiết bị vận tải để quản lý xe ôtô của các cơ quanChính phủ và thực hiện cho các cơ quan Chính phủ thuê theo hợp đồng kinhtế
- Các bộ, ngành, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp chỉ được thuêtrụ sở làm việc, phương tiện đi lại theo tiêu chuẩn, định mức hoặc theo yêucầu, nhiệm vụ được giao và phải sử dụng tài sản theo đúng mục đích Quan
hệ này được thực hiện theo hợp đồng thuê tài sản Các đơn vị phải thuê trụ
sở làm việc của Công ty quản lý bất động sản song không nhất thiết phảithuê phương tiện vận tải của Trung tâm để sử dụng Khi các cơ quan có sựthay đổi về nhu cầu sử dụng diện tích làm việc, phương tiện đi lại hoặckhông còn nhu cầu sử dụng sẽ ký lại hợp đồng thuê sử dụng (thuê tăng lênhay giảm đi) cho phù hợp với nhu cầu, tiêu chuẩn, định mức sử dụng hoặcchấm dứt hợp đồng thuê
Việc quản lý, sử dụng đối với máy móc, trang thiết bị phương tiện làmviệc khi đầu tư mua sắm trong các cơ quan ở Quebéc, do bộ phận chuyêntrách mua sắm tài sản thực hiện và mua sắm từng kỳ 3 năm để trang bị chocác cơ quan quản lý, sử dụng trên cơ sở nhu cầu, đề nghị của các đơn vị và ýkiến thẩm định của Bộ Tài chính
- Các đơn vị được giao tài sản có trách nhiệm bảo dưỡng, sửa chữa tàisản và bố trí sử dụng theo tiêu chuẩn, định mức Chính phủ quy định để bảođảm phục vụ nhu cầu công tác và sử dụng tài sản có hiệu quả và tiết kiệm.Việc điều chuyển tài sản giữa các đơn vị hầu như không có, nếu có do cácđơn vị tự thoả thuận với nhau
Trang 26- Khi các đơn vị có nhu cầu bán tài sản (kể cả bán thanh lý), các đơn
vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản có văn bản đề nghị với bộ phận chuyêntrách mua sắm tài sản để xem xét quyết định; căn cứ vào quyết định các đơn
vị tổ chức thực hiện việc bán, thanh lý tài sản
3.2 Hiệu quả trong quản lý tài sản ở các nước và kinh nghiệm vận dụng cho Việt Nam
Từ nghiên cứu quản lý tài sản công của các nước, rút ra một số nhậnxét về hiệu quả và kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam, như sau:
- Việc thể chế cơ chế quản lý tài sản bằng văn bản quy phạm pháp luật
ở cấp độ Luật và các qui định, quy chế được thể chế cụ thể bằng các văn bảndưới luật tạo thành hệ thống pháp luật về quản lý tài sản công đã bảo đảmcho việc quản lý và sử dụng tài sản công nói chung và tài sản công tại cácđơn vị sự nghiệp trong toàn quốc gia đi vào nề nếp, bảo đảm việc sử dụng tàisản tại các đơn vị đúng mục đích, ít xảy ra thất thoát hoặc sử dụng lãng phítài sản
Từ đó rút ra kinh nghiệm có thể vận dụng vào nước ta là Nhà nước cầnphải thực hiện quản lý tài sản công bằng pháp luật với mức cao là Luậtchung về quản lý tài sản nhà nước, bên cạnh đó còn có các Luật khác quyđịnh quản lý một số tài sản cụ thể như Luật đất đai, Luật tài nguyên khoángsản, … ,cùng các văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật hợp thành một hệthống thống nhất về quản lý tài sản công của Nhà nước; và trong các lĩnhvực hoặc nhóm tổ chức, đơn vị thực hiện các chức năng nhiệm vụ khác nhau,cũng cần có cơ chế, qui định, quy chế cụ thể về quản lý tài sản khác nhau
- Với cơ chế quản lý tài sản được thể chế bằng các nguyên tắc, quyđịnh, quy chế, chế độ, càng đầy đủ, cụ thể, thì việc quản lý tài sản côngvừa chặt chẽ, vừa thuận lợi, hạn chế được những sai phạm trong cả quản lý
và sử dụg; đồng thời việc cho phép các cơ quan quản lý tài sản công đượckhai thác tài sản công dư thừa chưa bố trí cho các cơ quan, tổ chức của nhànước sử dụng và cho các đơn vị sự nghiệp được Nhà nước giao quản lý sử
Trang 27dụng tài sản công phục vụ công tác, được phép chuyển tài sản hoặc sử dụngtài sản công vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, từ đó đã đem lại nguồn kinh
tế không nhỏ để tái đầu tư tài sản hoặc sửa chữa, nâng cấp tài sản công
Từ đó rút ra kinh nghiệm để có thể vận dụng vào nước ta là cơ chếquản lý tài sản công nói chung và cơ chế quản lý tài sản công ở từng lĩnhvực, từng nhóm tổ chức, đơn vị cần được thể chế bằng các nguyên tắc, quyđịnh, quy chế, chế độ, một cách đầy đủ, cụ thể sẽ bảo đảm hướng dẫn,điều tiết, tổ chức, việc quản lý tài sản công phục vụ cho các mục tiêu củanhà nước đã đề ra một cách hiệu quả
- Việc Chính phủ thành lập cơ quan ở trung ương và địa phương cóchức năng, nhiệm vụ chuyên quản lý tài sản công và các tổ chức chuyêntrách thực hiện việc mua sắm tài sản công để trang bị cho các đơn vị sử dụnghoặc quản lý tài sản công (nhà, xe ô tô) để bố trí, cho các cơ quan, tổ chức,đơn vị sự nghiệp thuê sử dụng đã bảo đảm cho việc sử dụng của các cơ quanphù hợp với nhu cầu, không có hiện tượng thiếu tài sản sử dụng hay sử dụngtài sản dư thừa; vừa tiết kiệm được trong sử dụng tài sản và vừa phát huyđược hết công suất sử dụng của tài sản phục vụ cho công tác và các hoạtđộng sự nghiệp
Từ đó rút ra kinh nghiệm có thể vận dụng vào nước ta là cần xây dựng
cơ cấu tổ chức quản lý tài sản của Nhà nước và trong các đơn vị sử dụng tàisản thành hệ thống hoàn chỉnh; thành lập các tổ chức chuyên trách về quản
lý và khai thác tài sản công sẽ làm cho tài sản công phát huy được hiệu quảcao trong phục vụ công tác, phục vụ hoạt động sự nghiệp cũng như đem lạinguồn thu cho Ngân sách nhà nước
Trang 29CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
1 Thực trạng tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp.
1.1 Hiện trang tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
1.1.1 Quá trình vận động của tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp từnăm 1990 đến nay
Tài sản công là cơ sở vật chất quan trọng để cho các đơn vị sự nghiệphoạt động Do vậy, trong những năm từ 1990 - đến 1998, tài sản công trongkhu vực hành chính sự nghiệp nói chung và các đơn vị sự nghiệp nói riêngđược Nhà nước quan tâm trang bị bằng các phương thức giao, đầu tư, muasắm; tính đến ngày 01/01/1998 tổng giá trị còn lại của tài sản công trong khuvực hành chính sự nghiệp ước khoảng 280 nghìn tỷ đồng, trong đó tài sảncông không phải là đất đạt 70.130 tỷ đồng tăng 13 lần so với giá trị tài sảncông, không kể đất có đến năm 1990 Trong đó, giá trị tài sản công dùngtrong các đơn vị sự nghiệp chiếm khoảng 45% tổng giá trị tài sản công củakhu vực hành chính sự nghiệp
Tiếp đó, những năm (1998-2002) nhà nước tiếp tục ưu tiên đầu tư muasắm tài sản công cho các hoạt động sự nghiệp từ Ngân sách nhà nước với tốc
độ năm sau cao hơn năm trước Tổng số Ngân sách nhà nước dành để đầu tưmua sắm tài sản công cho hoạt động sự nghiệp hàng năm chiếm từ 73-78%tổng vốn đầu tư cho khu vực hành chính sự nghiệp Giá trị tài sản công dùngvào hoạt động sự nghiệp trong những năm (1998 – 2002) không ngừng tăng,năm sau cao hơn năm trước và chiếm khoảng 74% - 87% giá trị tài sản cốđịnh tăng thêm của khu vực hành chính sự nghiệp Điều này có thể chứngminh bằng tốc độ tăng vốn đầu tư và giá trị tài sản cố định tăng thêm củalĩnh vực sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, y tế và văn hoáthể thao trong các năm (1998 – 2002) dưới đây:
Trang 30Vốn đầu tư phát triển và giá trị TSC tăng thêm trong lĩnh vực giáo đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hoá trong các năm (1998 - 2002)
1/ Vốn đầu tư phát triển cho
giáo dục-đào tạo, khoa học
công nghệ, y tế, văn hoá
- So với tổng số vốn đầu tư
2/ Giá trị tài sản tăng thêm
- So với giá trị TSCĐ tăng
tại khu vực hành chính sự nghiệp nói chung
1.1.2.2 Tài sản là nhà làm việc và công trình khác
Quĩ nhà làm việc và công trình vật kiến trúc của khu vực hành chính
sự nghiệp là một tài sản lớn thứ hai sau đất đai với tổng diện tích 65,878triệu m2, với trị giá 81.482 tỷ đồng, chiếm 25,2% tổng giá trị tài sản cố địnhkhu vực hành chính sự nghiệp và chiếm 72,3% tổng trị giá các tài sản cốđịnh không kể đất Chỗ làm việc của các cơ quan, đơn vị hành chính sựnghiệp từng bước được cải thiện nhiều so với thời kỳ trước đổi mới
Trang 311.1.2.3 Tài sản là phương tiện vận tải
Số phương tiện vận tải là xe ô tô trong các đơn vị sự nghiệp khoảng
15.0000 xe, với giá trị nguyên giá theo sổ sách kế toán gần 6.000 tỷ đồng.Tổng trị giá các phương tiện vận tải chiếm khoảng 2,2% tổng trị giá các tàisản cố định kể cả đất và bằng 6,2 % tổng giá trị tài sản cố định không baogồm đất của các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp Phương tiện vận tảitrang bị cho các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp chủ yếu là xe ô tô conchiếm gần 62% và xe gắn máy chiếm khoảng 10,5% tổng giá trị các phươngtiện vận tải trang bị cho các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, còn lại làcác phương tiện vận tải chuyên dùng cho hoạt động sự nghiệp như xe car, xecứu thương, xe thông tin,
1.1.2.4 Tài sản là trang thiết bị làm việc
Tổng giá trị máy móc thiết bị là 11.699 tỷ đồng, chiếm 3,3% tổng giátrị của các tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp và bằng10,37% tổng giá trị tài sản nhà nước không kể đất Một số ngành nhưphát thanh, truyền hình, hàng không, địa chính, khoa học công nghệ đượcquan tâm đầu tư mua sắm máy móc thiết bị hơn các ngành khác Tuy nhiênmức trang bị máy móc thiết bị cho các đơn vị sự nghiệp còn có chênh lệchgiữa cấp Trung ương và địa phương, cụ thể ở cấp Trung ương đạt 44 triệuđồng/người, địa phương chỉ đạt 5,58 triệu đồng/người
1.2 Thực trạng sử dụng tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp
1.2.1 Những ưu điểm và kết quả sử dụng tài sản công tại các đơn vị
sự nghiệp đem lại
- Hầu hết các bộ, ngành, địa phương và các đơn vị sự nghiệp đã quản lýkiểm tra, giám sát được việc đầu tư mua sắm các tài sản lớn như xây dựng trụ
sở làm việc, mua ô tô và tài sản khác của các đơn vị sự nghiệp thuộc bộ,ngành địa phương quản lý và tại đơn vị; Tài sản công là phương tiện đi lại,điện thoại đã được mua sắm, trang bị sử dụng theo đúng tiêu chuẩn, định mứcđáp ứng đúng nhu cầu công tác, phục vụ hoạt động sự nghiệp của đơn vị
Trang 32- Việc bố trí sử dụng tài sản tại các đơn vị sự nghiệp đã từng bướcdược cân đối hài hoà, tài sản dư thừa, không có nhu cầu sử dụng tại các đơn
vị đã được điều chuyển kịp thời cho các đơn vị còn thiếu hoặc có nhu cầu để
sử dụng; Trong các đơn vị sự nghiệp đã thực hiện bố trí sử dụng tài sản đúngmục đích và khai thác sử dụng có hiệu quả hơn nguồn tài sản công hiện cóphục vụ cho công tác và các hoạt động sự nghiệp của đơn vị Từ đó bảo đảm
sử dụng tài sản một các tiết kiệm và hiệu quả
- Các đơn vị sự nghiệp đã từng bước thực hiện sắp xếp các cơ sở nhàđất thuộc sở hữu Nhà nước tại đơn vị đang trực tiếp quản lý sử dụng, rút raquĩ nhà đất dôi dư chuyển sang cho đơn vị khác sử dụng hoặc lập phương ánchuyển nhượng để sử dụng tiền thu từ chuyển nhượng nhà đất phục vụ chođầu tư mua sắm tài sản, tăng cường cơ sở vật chất tại đơn vị theo dự án đượcduyệt; Việc thanh lý tài sản hư hỏng, lạc hậu về kỹ thuật, tài sản không cònphù hợp đã được quan tâm hơn và thực hiện kip thời, để thu hồi tiền về Ngânsách nhà nước hoặc sử dụng phục vụ cho việc trang bị, nâng cấp, sửa chữatài sản tại đơn vị Từ đó hạn chế bớt sự lãng phí thất thoát tài sản
Với việc đầu tư phát triển tài sản công cho các đơn vị sự nghiệp củaNhà nước trong những năm qua, cùng với kết quả quản lý sử dụng tài sản tạicác đơn vị sự nghiệp ngày càng được nâng cao đã tạo cơ sở vật chất quantrọng và phát huy càng cao vai trò của tài sản công phục vụ cho các hoạtđộng sự nghiệp phát triển, cung cấp cho sự phát triển kinh tế-xã hội các sảnphẩm công ích ngày càng tốt hơn Kết quả này được thể hiện qua cơ sở vậtchất và những thành quả của hoạt động sự nghiệp trong những năm qua, cụthẻ như sau:
- Tính đến năm học 2002 – 2003, cả nước đã có 87.400 lớp mẫu giáo,25.825 trường phổ thông và 179 trường đại học, cao đẳng và 231 trườngtrung học chuyên nghiệp, bảo đảm cho các hoạt động sự nghiệp trong lĩnhvực đào tạo Kết quả trong năm 2002 – 2003 cả nước đã có 2.143.900 trẻ emđến lớp mẫu giáo, 17.700.000 học sinh đến trường và 908.000 sinh viên học
Trang 33đại học, cao đẳng và tính đến 7/2003 số lao động được đào tạo có trình độchuyên môn kỹ thuật tính từ sơ cấp hoặc có chứng chỉ nghề trở lên chiếm tới20,1% tổng số lao động của cả nước.
- Nhà nước đã đầu tư, mua sắm các tài sản công trang bị cho các hoạtđộng sự nghiệp y tế, thể thao tính đến năm 2002 cả nước đã có 13.095 cơ sởkhám chữa bệnh, 192,3 ngàn giường bệnh, 156 đơn vị nghệ thuật chuyênnghiệp, 108 rạp chiếu bóng, 653 thư viện các cấp từ Trung ương đến huyện.Với những cơ sở vật chất đã có để nâng cao thể chất và tinh thần cho conngười lao động phù hợp với xu hướng phát triển khoa học công nghệ, đếnnăm 2000 nước ta, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,688, xếp thứ109/174 nước trên thế giới và xếp hàng thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á;trong đó năm 2000 Việt Nam đã hoàn thành chương trình xoá nạn mù chữ vàphổ cập giáo dục tiểu học, nhiều học sinh đạt giải thưởng cao trong các kỳthi quốc tế, về y tế cứ 10.000 dân có 5,6 bác sĩ Tuổi thọ bình quân cả nướcđến 2001 đạt 67,8 tuổi
- Với tài sản công Nhà nước đã trang bị tại 300 cơ quan nghiên cứu làđiều kiện vật chất cần thiết để thực hiện các công trình khoa học công nghệ và
áp dụng các thành tựu khoa vào phát triển kinh tế - xã hội, đã góp phần đemlại những kết quả lớn như: sản xuất nông nghiệp đã làm tăng năng suất từ 15 –20%, góp phần đưa nước ta từ nước thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu lươngthực hàng thứ 2 trên thế giới; đưa tốc độ tăng trưởng các ngành chăn nuôi đạttrung bình từ 3,5 – 5%/năm; đã giải quyết các công nghệ cơ bản về hàn, đúc,chế tạo và lắp đặt tổ bơm công suất 36.000 m3/giờ thay thế sản phẩm cùngloại do các nước Nhật bản, Italia và Trung Quốc sản xuất với giá thành cao; tựsản xuất các phụ tùng chi tiết thay thế của các tổ máy thủy điện của Liên Xôtrước đây với giá thành chỉ bằng 40% giá nhập của Cộng hoà liên bang Nga
và các mô hình điện mặt trời công suất từ 30w đến 1.500w phục vụ cho vùngsâu, vùng xa, miền núi, hải đảo; áp dụng thành công việc kết nối và cung cấp
Trang 34thông tin hàng ngày qua các trang chủ của hơn 10 cơ quan thông tấn báo chí,các dịch vụ thông tin trên mạng internet, phương pháp bảo mật thông tin…
1.2.2 Một số hạn chế trong quản lý sử dụng tài sản công tại các đơn vị
sự nghiệp
Trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tácquản lý sử dụng tài sản trong các đơn vị sự nghiệp cũng còn hạn chế biểuhiện ở những mặt sau:
1.2.2.1 Việc quản lý và sử dụng đất đai trong các đơn vị sự nghiệp
còn ảnh hưởng bởi cơ chế bao cấp trong quản lý đất đai, nên các đơn vị chưa
tổ chức theo dõi về diện tích, chưa được tính giá trị tài sản khi Nhà nướcgiao đất và lập hồ sơ về đất theo qui định của Luật Đất đai, cụ thể là quakiểm kê đã phát hiện 14.430 ha đất chưa theo dõi trên sổ sách, chiếm 6,3%tổng quĩ đất và mới có 173.822 ha đất, chiếm 75% tổng quĩ đất giao cho các
cơ quan đơn vị sự nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đấtcấp cho các đơn vị sự nghiệp không tính toán sát với nhu cầu sử dụng đất,dẫn đến đất đai chưa sử dụng và không có nhu cầu sử dụng của tất cả các cơquan, đơn vị sự nghiệp lên tới 17.646 ha, chiếm 8% tổng quĩ đất được giao.Một số cơ quan, đơn vị sự nghiệp dùng quĩ đất được giao vào các mục đíchsản xuất kinh doanh, cho thuê và làm nhà ở chiếm tới 26% tổng quỹ đấtđược giao; thậm chí đất trong khuôn viên trụ sở làm việc của các cơ quanđơn vị sự nghiệp vẫn dùng vào các mục đích khác Đất trong khuôn viên trụ
sở của 6.190 cơ quan, đơn vị sự nghiệp đem dùng vào mục đích khác chiếmtới 2,8 % tổng quĩ đất trong khuôn viên trụ sở
1.2.2.2 Việc quản lý và sử dụng nhà thuộc trụ sở làm việc của cơ
quan, đơn vị hành chính sự nghiệp vẫn còn bất hợp lý về qui mô và diện tíchtrong nội bộ cùng lĩng vực hoạt động, giữa các bộ, ngành và giữa các địaphương; ở cấp các đơn vị sự nghiệp thuộc trung ương quản lý diện tích nhàlàm việc (kể cả diện tích phụ trợ) tính trên một đầu biên chế mức thấp nhất làkhoảng 13 m2/người, mức cao nhất là 65 m2/người; tương tự ở địa phương