1.1.1. Khái quát về TCDN và hoạt động của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ. Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng cần có một lượng tiền tệ nhất định. Mỗi loại hình doanh nghiệp, thậm chí từng doanh nghiệp trong những thời kỳ khác nhau, có phương thức khác nhau để tạo lập nguồn vốn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bắt đầu từ việc dùng số vốn tiền tệ ban đầu để mua sắm các yếu tố đầu vào cho đến khi sản xuất xong, bán hàng hóa và thu được tiền. Số tiền bán hàng đó được doanh nghiệp sử dụng để trang trải các chi phí, nộp thuế, sau đó tiếp tục phân phối. Do vậy, quá trình hoạt động kinh doanh từ góc độ tài chính cũng chính là quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Trong quá trình đó luôn diễn ra sự vận động và chuyển hóa liên tục các nguồn tài chính, tạo ra các luồng chuyển dịch giá trị mà biểu hiện của nó là các luồng tiền tệ đi vào hoặc đi ra khỏi chu kỳ kinh doanh. Gắn liền với quá trình phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các mối quan hệ tài chính phản ánh bản chất của TCDN. Bao gồm: + Nhóm các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Quan hệ này được thực hiện chủ yếu ở chỗ doanh nghiệp nộp thuế, phí, lệ phí vào ngân sách Nhà nước. + Nhóm các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và tổ chức xã hội khác: Đây là mối quan hệ rất đa dạng, phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể khác như nhà cung cấp, nhà đầu tư, khách hàng…thực hiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau. + Nhóm mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp: Quan hệ này thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương, thưởng phạt vật chất với người lao động. + Nhóm mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và các chủ sở hữu của doanh nghiệp: Quan hệ này phát sinh khi các chủ sở hữu đầu tư, góp vốn hay rút vốn đối với doanh nghiệp và trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế. + Nhóm quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Quan hệ này được thể hiện trong việc hình thành và sử dụng các quỹ trong doanh nghiệp. Từ những vấn đề trên có thể rút ra một số điểm sau: + Xét về hình thức: TCDN là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động. Xét về bản chất, TCDN là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. + Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động không thể thiếu của doanh nghiệp. Nó gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động của quỹ tiền tệ.
Trang 1CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN
TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP (TCDN)
1.1.1 Khái quát về TCDN và hoạt động của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nềnkinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nềnkinh tế hàng hóa tiền tệ
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanhcũng cần có một lượng tiền tệ nhất định Mỗi loại hình doanh nghiệp, thậmchí từng doanh nghiệp trong những thời kỳ khác nhau, có phương thức khácnhau để tạo lập nguồn vốn Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpbắt đầu từ việc dùng số vốn tiền tệ ban đầu để mua sắm các yếu tố đầu vàocho đến khi sản xuất xong, bán hàng hóa và thu được tiền Số tiền bán hàngđó được doanh nghiệp sử dụng để trang trải các chi phí, nộp thuế, sau đó tiếptục phân phối Do vậy, quá trình hoạt động kinh doanh từ góc độ tài chínhcũng chính là quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ củadoanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Trong quá trìnhđó luôn diễn ra sự vận động và chuyển hóa liên tục các nguồn tài chính, tạo racác luồng chuyển dịch giá trị mà biểu hiện của nó là các luồng tiền tệ đi vàohoặc đi ra khỏi chu kỳ kinh doanh
Gắn liền với quá trình phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệcủa doanh nghiệp là các mối quan hệ tài chính phản ánh bản chất của TCDN.Bao gồm:
+ Nhóm các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước:Quan hệ này được thực hiện chủ yếu ở chỗ doanh nghiệp nộp thuế, phí, lệ phívào ngân sách Nhà nước
Trang 2+ Nhóm các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thểkinh tế và tổ chức xã hội khác: Đây là mối quan hệ rất đa dạng, phong phúđược thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp vàcác chủ thể khác như nhà cung cấp, nhà đầu tư, khách hàng…thực hiện cungcấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau.
+ Nhóm mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao độngtrong doanh nghiệp: Quan hệ này thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toántiền lương, thưởng phạt vật chất với người lao động
+ Nhóm mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và các chủ sở hữucủa doanh nghiệp: Quan hệ này phát sinh khi các chủ sở hữu đầu tư, góp vốnhay rút vốn đối với doanh nghiệp và trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế
+ Nhóm quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Quan hệ nàyđược thể hiện trong việc hình thành và sử dụng các quỹ trong doanh nghiệp
Từ những vấn đề trên có thể rút ra một số điểm sau:
+ Xét về hình thức: TCDN là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phânphối, sử dụng và vận động Xét về bản chất, TCDN là các quan hệ kinh tếdưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệcủa doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
+ Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động không thể thiếu của doanhnghiệp Nó gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động của quỹtiền tệ
1.1.2 Nội dung tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
a Lựa chọn quyết định đầu tư.
Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vàoquyết định đầu tư dài hạn với quy mô lớn như: quyết định đầu tư đổi mới thiếtbị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, sản xuất sản phẩm mới…Để điđến quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét nhiều mặt về kinh
Trang 3tế, kỹ thuật và tài chính Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoảnchi tiêu vốn cho đầu tư và thu nhập do đầu tư mang lại hay nói cách khác làxem xét dòng tiền ra và dòng tiền vào liên quan đến khoản đầu tư để đánh giá
cơ hội đầu tư về mặt tài chính Đó là quá trình hoạch định, dự toán vốn đầu tưvà đánh giá hiệu quả tài chính của việc đầu tư
b Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động doanh nghiệp.
Để có thể huy động vốn kịp thời và đầy đủ, điều đầu tiên các doanhnghiệp phải xác định được nhu cầu vốn cho các hoạt động sản xuất kinhdoanh Nguồn vốn huy động cả nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.Tiếp theo là tổ chức huy động kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt độngcủa doanh nghiệp Để có được cơ cấu nguồn vốn thích hợp nhất, cần xem xétcân nhắc kỹ về nhiều mặt như kết cầu nguồn vốn hiện tại của doanh nghiệp,chi phí sử dụng từng nguồn, phân tích điểm lợi và bất lợi của từng phươngthức huy động
c Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là việc huy động cácnguồn vốn mà điều quan trọng và khó khăn hơn là sử dụng số vốn đó như thếnào để đem lại hiệu quả cao nhất Tiến hành phân loại số vốn hiện có củadoanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau nhằm thuận tiện cho công tác quảnlý vốn, đồng thời tránh tình trạng ứ đọng vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.Theo dõi các khoản thu chi trong quá trình hoạt động kinh doanh Tìm cácbiện pháp nhằm lập lại sự cân bằng giữa thu chi bằng tiền mặt để đảm bảokhả năng thanh toán
Trang 4d Thực hiện việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp.
Phân phối lợi nhuận là việc giải quyết mối quan hệ lợi ích kinh tế giữacác bên Việc phân phối lợi nhuận vừa đảm bảo nguồn lực cho sự phát triểnlâu dài của doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng đảm bảo lợi ích của chủ sởhữu doanh nghiệp, của người lao động
e Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
Công tác kiểm soát được thực hiện thông qua các chứng từ, hóa đơn, sổsách ghi chép và các báo cáo tài chính Mặt khác, cần định kỳ tiến hành phântích tình hình tài chính của doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh như khả năngthanh toán, tốc độ luân chuyển của vốn, khả năng sinh lời…Qua đó thấy đượcđiểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp từ đó có sự điều chỉnh thích hợp
f Thực hiện kế hoạch tài chính
Các hoạt động của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việclập kế hoạch tài chính Thực hiên tốt kế hoạch tài chính là công việc cần thiếtđể doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra các giải pháp khi thị trường có biếnđộng Đồng thời kế hoạch tài chính là cơ sở để đề ra các quyết định tài chínhnhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
1.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.2.1 Sự cần thiết của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.2.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích TCDN là tổng thể các phương pháp công cụ cho phép thuthập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanhnghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng triển vọng của doanhnghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định quản lý phù hợp.Phân tích TCDN bao gồm các bước chủ yếu:
- Thu thập thông tin
- Xử lý thông tin
Trang 5- Dự đoán và quyết định.
Chúng ta đã biết hoạt động tài chính và hoạt đông kinh doanh có mốiquan hệ khăng khít với nhau Kết quả của hoạt động tài chính có tác động tíchcực hoặc tiêu cực đến kết quả hoạt động kinh doanh và kết quả hoạt độngkinh doanh là nhân tố có tính quyết định đến hoạt động tài chính Do vậy, khiviệc phân tích hoạt động kinh doanh kết thúc chính là lúc cần thiết hơn baogiờ hết là lúc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Sự cần thiết của việcphân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xuất phát từ ý nghĩa thực tế của nóđối với các bên có liên quan tới hoạt động tài chính của doanh nghiệp
1.2.1.2 Ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp.
Có rất nhiều đối tượng quan tâm sử dụng thông tin tài chính của doanhnghiệp Mỗi đối tượng quan tâm dưới một góc độ, mục đích khác nhau để đưa
ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ Có thể chia các đối tượng quantâm đến thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp thành 2 nhóm:Nhóm có quyền lợi trực tiếp và nhóm có quyền lợi gián tiếp
+ Nhóm có quyền lợi trực tiếp bao gồm các nhà quản trị doanh nghiệp,các nhà đầu tư, người cho vay
+ Nhóm có quyền lợi gián tiếp bao gồm các cơ quan quản lý Nhà nước,người lao động, đối thủ cạnh tranh, nhà phân tích tài chính…
Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra cácquyết định với mục tiêu khác nhau Vì vậy, phân tích tài chính đối với mỗiđối tượng khác nhau sẽ đáp ứng các vấn đề chuyên môn khác nhau
- Phân tích TCDN đối với nhà quản lý doanh nghiệp:
Các nhà quản lý công ty, doanh nghiệp là những người trực tiếp quản lýcông ty, họ cần các thông tin để nắm bắt, kiểm soát và chỉ đạo tình hình sảnxuất, kinh doanh của công ty Các thông tin do báo cáo tài chính thườngkhông đáp ứng đủ nhu cầu thông tin của họ, chính vì vậy họ cần được cungcấp thông tin phục vụ cho việc quản lý doanh nghiệp và đưa ra các quyết định
Trang 6quản lý sản xuất kinh doanh của công ty Phân tích tài chính doanh nghiệp đốivới các nhà quản lý công ty nhằm đáp ứng các mục tiêu sau:
Một là: Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý
trong những giai đoạn đã qua, việc thực hiên cân bằng tài chính, khả năngsinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính của công ty…
Hai là: Hướng các quyết định của doanh nghiệp theo chiều hướng phù
hợp với tình hình thực tế của công ty như quyết định về đầu tư, tài trợ, phânphối lợi nhuận…
Ba là: Phân tích tài chính của các doanh nghiệp là cơ sở cho các dự
đoán tài chính
Bốn là: Phân tích tài chính là một công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt
động quản lý trong công ty
- Phân tích TCDN đối với nhà đầu tư:
Đối với các nhà đầu tư, mục đích của họ là xem xét thực trạng tài chínhcủa doanh nghiệp có lành mạnh hay không? Lợi tức cổ phần là bao nhiêu?Mức tăng trưởng là cao hay thấp? Nhà đầu tư luôn mong muốn mỗi đồng vốnbỏ ra sinh lời cao nhất, đồng thời họ phải tìm cách bảo vệ an toàn cho đồngvốn của mình Vì vậy ngoài việc quan tâm đến cổ tức, mức độ hoàn vốn, tỷ lệtăng trưởng, các nhà đầu tư còn quan tâm nhiều đến mức độ rủi ro của các dựán đầu tư Phân tích TCDN sẽ giúp cho họ biết được giới hạn an toàn củađồng vốn đến mức nào và khả năng sinh lời của nó là cao hay thấp Từ đó cácnhà đầu tư sẽ có cơ sở để xem xét tiếp có nên quyết định đầu tư hay không.Nếu có thì mức độ đầu tư là bao nhiêu thì hợp lý
- Phân tích TCDN đối với người cho vay:
Người cho vay bao gồm các ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng cóthể là các doanh nghiệp khác, đây là những người cho doanh nghiệp vay vốnđể đảm bảo nhu cầu sản xuất kinh doanh Mục đích của họ là muốn biết đượckhả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào Phân tích TCDN sẽ cho
Trang 7họ biết được những thông tin cần thiết về năng lực tài chính của khách hàng,từ đó đưa ra quyết định đúng đắn về việc có nên cho doanh nghiệp vay haykhông Các chủ ngân hàng quan tâm đến vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp,coi đó như nguồn đảm bảo cho ngân hàng có thể thu hồi nợ khi doanh nghiệpthua lỗ hay phá sản Ngân hàng sẽ hạn chế cho các doanh nghiệp vay khi nócó dấu hiệu không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Cũng giốngnhư các chủ ngân hàng, các nhà cung cấp tín dụng khác như các doanhnghiệp cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cần thông tin để quyết định có bánhàng trả chậm cho doanh nghiệp hay không.
- Phân tích tài chính đối với các cơ quan quản lý Nhà nước:
Bao gồm các cơ quan quản lý cấp bộ, cơ quan thuế, thanh tra tàichính… Các cơ quan dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phântích, đánh giá tình hình tài chính nhằm mục đích kiểm tra, giám sát hoạt độngsản xuất kinh doanh, đồng thời qua đó giúp các cơ quan Nhà nước hoạch địnhcác chính sách vĩ mô phù hợp với tình hình chung của doanh nghiệp
- Phân tích tài chính đối với người lao động:
Đó là những người hưởng lương của doanh nghiệp Đây là nhữngngười có nguồn thu nhập duy nhất là tiền lương được trả và các khoản tiềnthưởng hoặc phụ cấp theo quy định Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcó tác động trực tiếp tới người lao động Do vậy, phân tích TCDN giúp chohọ định hướng việc làm ổn định, yên tâm trong công việc
- Phân tích tài chính đối với các đối thủ cạnh tranh:
Họ là những người rất quan tâm đến tình hình tài chính của công ty, cácchỉ tiêu thể hiện khả năng sinh lời, doanh thu bán hàng và các chỉ tiêu tàichính khác phục vụ cho việc đề ra các biện pháp cạnh tranh với công ty
Các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp nói chung còn được cảcác nhà nghiên cứu, các sinh viên Kinh tế quan tâm phục vụ cho việc nghiêncứu và học tập
Trang 8Như vậy, thông qua việc phân tích TCDN giúp cho người sử dụngthông tin ra quyết định, lựa chọn các phương án kinh doanh tối ưu để đạtđược mục đích Đồng thời đó là công cụ để đánh giá hoạt động kinh doanhđược các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý Nhà nước và các đối tượng khácquan tâm sử dụng Do đó phải phân tích TCDN đã trở thành công cụ khôngthể thiếu và có ý nghĩa thiết thực trong nền kinh tế thị trường.
1.2.1.3 Mục tiêu chủ yếu của việc phân tích TCDN.
- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ các thông tin hữuích cho các nhà đầu tư, người cho vay và những người sử dụng thông tin tàichính khác để giúp họ có những quyết định đúng đắn
- Phân tích TCDN phải cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tincần thiết để đánh giá khả năng thanh toán, tình hình sử dụng tài sản…
- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp những thông tin về nguồnvốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, cácsự kiện và tình huống làm biến đổi kết cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
Các mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó góp phần cungcấp các thông tin nền tảng đặc biệt phục vụ cho công tác quản trị TCDN
1.2.2 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.2.1 Tài liệu sử dụng trong phân tích TCDN.
Để phân tích một cách hoàn thiện và đầy đủ về tình hình TCDN, chúng
ta sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau, từ nhiều nguồn khác nhau Đó là thôngtin chung về tình hình kinh tế, tiền tệ, các thông tin về ngành kinh tế củadoanh nghiệp… Tuy nhiên tài liệu liên quan đến tình hình TCDN chủ yếu làcác báo cáo tài chính: bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh và các báo cáo khác
1.2.2.2 Phương pháp phân tích.
Phương pháp phân tích TCDN bao gồm hệ thống các công cụ và biệnpháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên
Trang 9trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tình hình hoạt động tàichính doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêutổng quát chung, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn diệnthực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp như: phươngpháp so sánh, phương pháp liên hệ đối chiếu, phương pháp phân tích nhân tố,phương pháp đồ thị, phương pháp biểu đổ, phương pháp toán tài chính , kểcả các phương pháp phân tích các tình huống giả định Tuy nhiên, trong phântích TCDN người ta thường sử dụng các phương pháp sau: phương pháp sosánh và phương pháp tỉ lệ
a, Phương pháp so sánh:
So sánh là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xácđịnh mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích Để áp dụng phương pháp
so sánh cần chú ý các vấn đề sau:
Thứ nhất: Điều kiện so sánh.
- Phải tồn tại ít nhất hai đại lượng (hai chỉ tiêu)
- Các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được Đó là sự thốngnhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất vềthời gian và đơn vị đo lường
Ngoài ra, trong trường hợp so sánh hai doanh nghiệp với nhau, ngoàicác điều kiện trên thì phải đảm bảo các điều kiện khác như cùng quy mô,cùng loại hình hoạt động, có điều kiện kinh doanh tương tự nhau
Thứ hai: Xác định gốc để so sánh.
Kỳ gốc so sánh tùy thuộc vào mục đích của phân tích
- Gốc so sánh là kỳ kế hoạch khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu,nhiệm vụ đặt ra
Trang 10- Gốc so sánh là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳtrước (năm trước) nếu mục đích của phân tích nhằm xác định xu hướng và tốcđộ phát triển của chỉ tiêu phân tích.
- Gốc so sánh có thể là số liệu của một doanh nghiệp hoặc có thể là sốliệu trung bình của ngành khi đánh giá vị trí của doanh nghiệp so với doanhnghiệp khác hoặc tổng thể một ngành
Thứ ba: Kỹ thuật so sánh.
- So sánh về số tuyệt đối: Là việc xác định \chệnh lệch giữa trị số của chỉtiêu phân tích với trị số của kỳ gồc Kết quả so sánh cho thấy sự biến động vềsố tuyệt đối của chỉ tiêu hiện tượng kinh tế đang nghiên cứu
- So sánh tương đối: là xác định số phần trăm tăng (giảm) giữa thực tế sovới kỳ gốc để so sánh
b, Phương pháp tỷ lệ:
Là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích Các tỷsố thông thường được thiết lập bởi hai chỉ tiêu khác nhau Các chỉ tiêu nàyphải có mối quan hệ với nhau Để phân tích được bằng phương pháp này bắtbuộc người phân tích phải hiểu được ý nghĩa của các tỷ số tức là hiểu đượcmối quan hệ giữa các chỉ tiêu cấu thành Phân tích tỷ lệ yêu cầu phải xác địnhđược ngưỡng, định mức chuẩn để so sánh
Trong phân tích tài chính các tỷ lệ tài chính được chia thành các nhómtỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động củadoanh nghiệp như: khả năng thanh khoản, tốc độ luân chuyển, cơ cấu vốn,khả năng sinh lời Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, tỷ lệ phản ánhhiệu quả hoạt động, tỷ lệ về cơ cấu vốn và nhóm tỷ lệ khả năng sinh lời
Trang 111.3 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính.
Phân tích khái quát tình hình tài chính nhằm đưa đến cái nhìn tổng quátvề tình hình TCDN Để phân tích khái quát tình hình TCDN dựa chủ yếu vàohệ thống báo cáo tài chính, trong đó chủ yếu là báo cáo kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh được soạn thảo và cuối kỳ thực hiện
1.3.1.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổngquát toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo hai cách đánh giá là tài sản vànguồn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo
Bảng cân đối kế toán là một tài liệu quan trọng đối với việc nghiên cứuđánh giá khái quát tình hình tài chính, trình độ quản lý và sử dụng vốn cũngnhư triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Các vấn đề cần xem xétđánh giá khi phân tích khái quát tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kếtoán bao gồm:
- Thứ nhất: Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại
tài sản thông qua việc so sánh giữa số cuối kỳ với số đầu năm cả về số tuyệtđối và số tương đối Qua đó thấy được quy mô vốn, năng lực sản xuất, cạnhtranh của doanh nghiệp Trong đó:
+ Sự biến động của TSLĐ và ĐTNH ảnh hưởng đến khả năng ứng phóvới các khoản vay ngắn hạn
+ Sự biến động của TSCĐ và ĐTDH phản ánh năng lực sản xuất củadoanh nghiệp Nó cho biết doanh nghiệp có chú trọng đến đầu tư theo chiềusâu hay không
+ Sự biến động của khoản mục các khoản phải thu do chính sách bánchịu của doanh nghiệp hoặc do công tác thu hồi nợ
+ Sự biến động hàng tồn kho có thể xuất phát từ nguyên nhân kháchquan từ sự biến động của thị trường, giá cả đầu vào và có thể từ nguyên nhân
Trang 12chủ quan từ phía doanh nghiệp như doanh nghiệp chủ động tăng lượngnguyên vật liệu đáp ứng yêu cầu của sản xuất, hay do công tác tiêu thụ sảnphẩm…
- Thứ hai: Xem xét tính hợp lý của cơ cấu vốn, cơ cấu nguồn vốn tác
động như thế nào đến quá trình kinh doanh Thực chất là đi phân tích kháiquát tình hình đầu tư và huy động vốn của doanh nghiệp Để làm được điềuđó, trước hết phải xác định tỷ trọng từng loại tài sản trong tổng tài sản , tỷtrọng của từng nguồn vốn trong tổng nguồn vốn Sau đó so sánh tỷ trọng từngloại giữa cuối kỳ với đầu kỳ để thấy được sự biến động của cơ cấu vốn vànguồn vốn.Khi phân tích cần chú ý các vấn đề sau đây
+ Về cơ cấu vốn: Khi phân tích cần tập trung vào khoản mục có tỷ
trọng lớn hoặc có sự biến động lớn để tìm hiểu nguyên nhân trong đó đặc biệtquan tâm đến khoản mục hàng tồn kho, các khoản phải thu, tiền mặt Việcđánh giá cơ cấu vốn cần xem xét đến tính chất ngành nghề kinh doanh củadoanh nghiệp kết hợp với việc xem xét tác động của từng loại tài sản đến quátrình sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh đạt được trong kỳ
+ Về cơ cấu nguồn vốn : Việc phân tích cần chú trọng vào hai vấn đề :
mức độ độc lập (hay phụ thuộc) về mặt tài chính, và sự ổn định của nguồn tàitrợ Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng lêncho thấy khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp là cao, mức độ phụthuộc về tài chính với các chủ nợ là thấp và ngược lại Để đánh giá tính ổnđịnh của nguồn tài trợ cần quan tâm đến nguồn vốn thường xuyên và nguồnvốn tạm thời Trong đó :
Nguồn vốn thường xuyên = Nợ dài hạn + Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ trọng nguồn vốn thường xuyên càng cao cho thấy sự ổn định củanguồn vốn tài trợ trong một thời gian nhất định vì doanh nghiệp không chịuáp lực phải thanh toán ngay Ngược lại, khi tỷ trọng nguồn vốn thường xuyêncàng thấp cho thấy nguồn tài trợ chủ yếu của doanh nghiệp là vay ngắn hạn,
Trang 13áp lực thanh toán các khoản vay lớn Bên cạnh đó, khi xem xét cần để ý đếnchính sách tài trợ của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệpđạt được, những thuận lợi và khó khăn trong tương lai mà doanh nghiệp cóthể gặp phải.
1.3.1.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính thông qua bảng báo cáo
kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng quáttình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, chi tiết theo hoạtđộng kinh doanh và tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế và cáckhoản khác phải nộp
Số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh được sử dụng để tính toán cácchi tiêu về khả năng sinh lời, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước vàcác khoản phải nộp Cùng với số liệu trên Bảng cần đối kế toán, số liệu trênbáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được sử dụng để tính toán hiệu quả sửdụng vốn, các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận …
Khi phân tích khái quát báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cầnxem xét xác định các vấn đề cơ bản sau :
Xem xét sự biến động của từng chi tiêu trên phần lãi – lỗ giữa kỳ nàyvới kỳ trước thông qua việc so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối Đặtbiệt chú ý tới các chi tiêu như: Doanh thu, Doanh thu thuần, Lơi nhuận trướcthuế và lợi nhuận sau thuế …
1.3.2 Phân tích tình hình tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính đặc
trưng.
Số liệu trên báo cáo tài chính chưa lột tả được hết thực trạng tài chínhcủa doanh nghiệp Do vậy việc phân tích tài chính thông qua các chỉ tiêu tàichính đặc trưng được coi là cách hiệu quả để thêm các mối quan hệ tài chính.Mỗi doanh nghiệp khác nhau có các hệ số tài chính khác nhau, thậm chí mộtdoanh nghiệp ở những thời điểm khác nhau cũng có các hệ số tài chính không
Trang 14giống nhau Do vậy, người ta coi hệ số tài chính là hệ số đăc trưng nhất vềtình hình tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định.
Các hệ số tài chính được chia ra thành nhiều nhóm hệ số khác nhau baogồm: Nhóm hệ số khả năng thanh toán, nhóm hệ số phản ánh cơ cấu nguồnvốn và cơ cấu tài sản , các chỉ số về hoạt động và nhóm chỉ tiêu sinh lời Tìnhhình tài chính được đánh giá là lành mạnh trước hết phải được thể hiện ở khảnăng chi trả, vì vậy chúng ta phải bắt đầu đi từ việc phân tích khả năng thanhtoán
1.3.2.1 Các hệ số về khả năng thanh toán.
Đây là chỉ tiêu rất quan trọng trong các vấn đề tài chính của doanhnghiệp và nó được rất nhiều đối tượng quan tâm như người cho vay, ngườicung cấp, nhà đầu tư Họ luôn đặt ra câu hỏi rằng liệu doanh nghiệp có đủ khảnăng thanh toán các khoản nợ đến hạn hay không Để trả lời câu hỏi đó, cácnhà phân tích thường sử dụng một số chỉ tiêu sau đây để phân tích khả năngthanh toán của doanh nghiệp
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát.
Là chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán một cách tổng quát các khoảnnợ nần của doanh nghiệp Chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ tổng giá trị tài sảncủa doanh nghiệp thừa để thanh toán hết các khoản nợ hiện tại của doanhnghiệp
Hệ số khả năng thanh toán
Tổng giá trị tài sảnTổng nợ phải trả
- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời
Là mối tương quan giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn, làthước đo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Trang 15Hệ số khả năng thanh toán
Tổng tài sản ngắn hạnNợ ngắn hạnTỷ số này cho biết công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thànhtiền mặt để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này thấp thể hiện khảnăng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp ở mức độ thấp và cũng là dấu hiệubáo trước những khó khăn tiềm ẩn về tài chính có thể xảy ra Hệ số này caocho thấy tạo thời điểm phân tích doanh nghiệp sẵn sàng thanh toán các khoảnnợ đến hạn Tuy nhiên hệ số này quá cao chưa chắc là tốt bởi vì có thể xảy rakhả năng doanh nghiệp đã để quá nhiều lượng tiền mặt dự trữ, công tác quảnlý và thu hồi nợ hay do công tác bán hàng không hiệu quả…Những nguyênnhân này sẽ làm giảm đi hiệu quả sử dụng của vốn vì có một bộ phận VLĐkhông vận động Mặt khác, tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngànhnghề kinh doanh, ngành nghề nào mà TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tàisản thì hệ số này lớn và ngược lại Do vậy, trong quá trình xem xét phải dựavào hệ số trung bình của ngành hoặc của các doanh nghiệp tiên tiến
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh.
Đây là thước đo khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn củadoanh nghiệp trong kỳ không dựa vào việc bán vật tư hàng hóa
Hệ số khả năng thanh
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạnTại thời điểm đầu năm và cuối kỳ, nếu hệ số khả năng thanh toán nhanhđều lớn hơn 1, phản ánh tình hình thanh toán của doanh nghiệp tương đối khảquan Ngược lại nếu hệ số khả năng thanh toán này nhỏ hơn 1 thì tình hìnhthanh toán của doanh nghiệp gặp khó khăn, doanh nghiệp không đủ tài sản cóthể chuyển đổi nhanh thành tiền để thanh toán các khoản nợ nần ngắn hạn
Trang 16Nhìn chung hệ số này càng cao càng tốt, nhưng nếu quá cao sẽ cần xemxét lại, vì có thể xảy ra trường hợp quá cao do trong TSLĐ các khoản phải thukhó đòi chiếm tỷ trọng lớn Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp, gây tình trạng vòng quay của vốn chậm, phát sinh một sốchi phí Do vậy, chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán tức thời được thiết lậpnhằm giúp chúng ta đánh giá khả năng thanh toán trong ngắn hạn của doanhnghiệp loại trừ ảnh hưởng của hàng tồn kho và các khoản phải thu.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh toán
Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạnHệ số này cho biết doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhanh (gầnnhư tức thời) các khoản nợ ngắn hạn hay không Nhận thấy rằng số tài sảndùng để thanh toán nhanh được xác định là tiền và các khoản tương đươngtiền Trong đó tương đương tiền là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn vềchứng khoán, các khoản đầu tư ngắn hạn khác có thể dễ dàng chuyển đổithành tiền trong thời hạn dưới 3 tháng Để đánh giá hệ số này chính xác cầncăn cứ vào loại hình doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp tư vấn, nghiên cứuthì hệ số này lớn Ngược lại với doanh nghiệp xây lắp thì hệ số này tương đốinhỏ
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay.
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lợinhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng.Hệ số khả năng thanh toán lãi vay phản ánh mối quan hệ giữa nguồn để trả lãivay và lãi vay phải trả
Hệ số khả năng thanh toán
Lợi nhuận trước lãi vay và thuếLãi vay phải trả trong kỳ
Trang 17Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốnđể trả lãi cho các chủ nợ Nói cách khác, hệ số khả năng thanh toán lãi vaycho chúng ta biết được việc doanh nghiệp sử dụng nợ có hiệu quả đến mức độnào và đem lại một khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phảitrả hay không Chú ý khi phân tích chỉ số này cần quan tâm đến chính sách tàitrợ của doanh nghiệp.
1.3.2.2 Các hệ số phản ánh cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn.
Nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn, tỷ suất tự tài trợ sẽcung cấp cho các nhà quản trị tài chính một cách nhìn tổng quát về sự pháttriển của doanh nghiệp
Để đánh giá về cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp tacó thể sử dụng một số chi tiết sau:
- Các chỉ tiêu về cơ cấu nguồn vốn.
Cơ cấu nguồn vốn là thành phần và tỷ trọng từng nguồn vốn so vớitổng nguồn vốn tại một thời điểm Cơ cấu vốn phản ánh bình quân trong mộtđồng vốn doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vốn vay nợ, hoặc có mấyđồng vốn chủ sở hữu Hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu là hai hệ số quantrọng phản ánh cơ cấu nguồn vốn
Tổng nguồn vốnHệ số nợ phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổngnguồn vốn của doanh nghiệp hay trong tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêuphần trăm được hình thành từ nguồn nợ phải trả
Hệ số vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốnHệ số này phản ánh vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trongtổng nguồn vốn của doanh nghiệp Hệ số vốn chủ sở hữu đo lường sự góp vốn
Trang 18của chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp Vì vậy, hệ sốvốn chủ sở hữu người ta còn gọi là hệ số tự tài trợ.
Cả hai hệ số này cho biết mức độ độc lập hay phụ thuộc về tài chínhcủa doanh nghiệp Hệ số tự tài trợ cao chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tựcó, có tính độc lập với các chủ nợ, do đó không bị sức ép của các khoản vaynợ Nhưng nếu hệ số nợ lớn doanh nghiệp sẽ tận dụng được đòn bẩy tài chính,có cơ hội khuyếch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, việc sửdụng nhiều nợ vay như con dao hai lưỡi, trường hợp doanh nghiệp làm ănkhông hiệu quả có thể dẫn đến tình trạng phá sản
- Các chỉ tiêu về cơ cấu tài sản.
Các chỉ tiêu về cơ cấu tài sản phản ánh mức độ đầu tư vào các loại tàisản của doanh nghiệp: tài sản lưu động và tài sản ngắn hạn khác, tài sản cốđịnh và tài sản dài hạn khác
Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn = Tài sản dài hạn
Tổng tài sản
Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn
1.3.2.3 Các hệ số hiệu suất hoạt động.
Các hệ số hoạt động có tác dụng đo lường năng lực quản lý và sử dụngsố vốn hiện có của doanh nghiệp Sau đây là các hệ số thường sử dụng đểđánh giá mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 19- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
+ Vòng quay hàng tồn kho:
Số vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần hàng tồn kho luân chuyểnđược trong kỳ
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn củadoanh nghiệp Nếu số vòng quay hàng tồn kho cao so với doanh nghiệp trongngành cho biết việc tổ chức và quản lý hàng tồn kho là tốt, công tác bán hànghiệu quả Nếu số vòng quay hàng tồn kho thấp có thể do doanh nghiệp dự trữnguyên vật liệu quá mức gây ứ đọng vốn, sản phẩm bị tiêu thụ chậm Từ đó,có thể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính trong tương lai.Như vậy, để phân tích chỉ tiêu này chúng ta cần xem xét nhiêu khía cạnh nhưyếu tố thị trường đầu vào, đầu ra, chính sách tiêu thụ sản phẩm
+ Vòng quay các khoản phải thu:
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu tiêu thụ (có thuế)
Số dư bình quân các khoản phải thu
Các khoản phải thu bao gồm các khoản người mua mua hàng chịu, cáckhoản tạm ứng, hay các khoản trả trước người bán
Vòng quay của các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi cáckhoản phải thu nhanh Doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoảnphải thu từ đó giảm áp lực lên chính sách tài trợ
Trang 20+ Kỳ thu tiền bình quân.
Đây là hệ số phản ánh độ dài thời gian thu tiền bán hàng kể từ lúc xuấtgiao hàng đến khi thu được tiền bán hàng hay nó cho biết trung bình để hàngtồn kho quay hết một vòng hết bao nhiêu ngày
Kỳ thu tiền bình quân =
Số dư bình quân các khoản phải thuDoanh thu tiêu thụ bình quân một ngày
trong kỳ
Kỳ thu tiền bình quân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chính sách bánchịu của doanh nghiệp, công tác tổ chức thu hồi nợ, đặc điểm sản xuất kinhdoanh và phụ thuộc vào thời điểm nghiên cứu Chú ý khi phân tích chỉ tiêunày cần đặt trong mối liên hệ với tốc độ tăng trưởng của doanh thu
+ Số vòng quay vốn lưu động
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết tốc độ luân chuyển của vốn lưu động của doanhnghiệp Số vòng quay càng lớn thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanhnghiệp càng cao và ngược lại Cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng hợp lý, tiếtkiệm vốn lưu động Tuy nhiên, để đánh giá chính xác chỉ tiêu này cần phải sosánh với chỉ tiêu chung toàn ngành
+ Số ngày một vòng quay vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động còn được thể hiện qua chỉ tiêu sốngày một vòng quay vốn lưu động Công thức tính toán như sau:
Số ngày một vòng quay VLĐ = Số ngày trong kỳ
Số vòng quay vốn lưu động trong kỳSố ngày một vòng quay vốn lưu động phản ánh trung bình một vòngquay hết bao nhiêu ngày Vòng quay vốn lưu động càng nhanh thì số ngàymột vòng quay càng giảm và chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có
Trang 21hiệu quả Chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh,
do đó khi đưa ra kết luận cần xem xét cụ thể hơn
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định nhằm đo lường việc sử dụng vốn cốđịnh hiệu quả như thế nào
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
và vốn dài hạn khác =
Doanh thu trong kỳ
Vốn cố định và vốn dài hạn khác
bình quânÝ nghĩa: Cho biết trung bình một đồng vốn cố định tham gia trong kỳtạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Để đánh giá đúng mức kết quả quản lý và sử dụng vốn cố định trongkỳ, ta phải đi tìm hiểu sâu từng loại tài sản cũng như hiệu quả hoạt động củatừng loại tài sản hiện có trong doanh nghiệp
- Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn.
+ Vòng quay toàn bộ vốn
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:
Vòng quay toàn bộ vốn = Doanh thu thuần trong kỳ
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳVòng quay toàn bộ vốn phản ánh tổng quát hiệu suất sử dụng tài sảnhay toàn bộ số vốn hiện có của doanh nghiệp Hệ số này chịu ảnh hưởng củađặc điểm ngành nghề kinh doanh, chiến lược kinh doanh và trình độ sử dụngtài sản vốn của doanh nghiệp
1.3.2.4 Hệ số sinh lời.
Các chỉ tiêu sinh lời luôn được các nhà quản trị tài chính, nhà đầu tư,các nhà cung cấp tín dụng quan tâm vì nó gắn liền với lợi ích của họ Chúnglà cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhấtđịnh Hệ số sinh lời gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Trang 22- Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản.
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanhkhông tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc củavốn kinh doanh hay chính sách tài trợ
Tỷ suất sinh lời kinh tế
của tài sản (ROAE) =
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Tài sản hay vốn kinh doanh bình quân
- Tỷ suât lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh.
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn tham gia vào hoạt động sảnxuất kinh doanh trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế
trên vốn kinh doanh =
Lợi nhuận trước thuế
Vốn kinh doanh bình quân
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trong vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời
ròng của tài sản (ROA)
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
trên vốn kinh doanh (ROA) =
Lợi nhuận sau thuế
Vốn kinh doanh (tài sản) bình quânChỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của đồng vốn sau khi đã trang trảicả lãi vay và tiền thuế Ngoài ra theo phương pháp phân tích Dupont chỉ tiêunày còn được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
trên vốn kinh doanh =
Lợi nhuận sau thuế
trên doanh thu x
Vòng quay toànbộ vốnNhìn vào công thức trên ta thấy tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinhdoanh phụ thuộc vào hai yếu tố là lợi nhuận sau thuế trên doanh thu và vòngquay toàn bộ vốn
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
doanh thu (hệ số lãi ròng) =
Lợi nhuận sau thuế trong kỳDoanh thu trong kỳ
Trang 23Chỉ tiêu này thể hiện một đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiệntrong kỳ có mấy đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả trong côngtác quản lý chi phí trong doanh nghiệp Sự biến động của tỷ suất này do nhiềunguyên nhân, nếu do doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí dẫn đến hạ giáthành là tín hiệu tốt, nhưng nếu do doanh nghiệp tăng giá bán điều này có thểảnh hưởng đến tính cạnh tranh của sản phẩm.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
Hệ số này đo lường mức lợi nhuận thu được trên đồng vốn chủ sở hữutrong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
vốn chủ sở hữu (ROE) =
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quânNgoài ra thông qua phương pháp phân tích Dupont, tỷ suất lợi nhuậnvốn chủ sở hữu còn được thể hiện bằng phương trình sau:
LN sau thuế
= LN sau thuế x Doanh thu thuần x VKD bình quânVốn chủ sở hữu Doanh thu thuần VKD bình quân Vốn chủ sở hữu
Như vậy, để tăng lợi nhuận trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu thì:
+ Tăng lợi nhuận sau thuế trên mỗi đồng doanh thu
+ Tăng doanh thu từ một đồng vốn
+ Sử dụng đòn bẩy tài chính
1.3.3 Phân tích diễn biến vốn và sử dụng vốn.
Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là một trong nhữngnội dung cơ sở và công cụ các nhà quản trị tài chính để hoạch định tài chínhcho kỳ tới, bởi lẽ mục đích chính của nó là trả lời cho câu hỏi vốn được hìnhthành từ đâu và được sử dụng vào mục đích gì Thông tin mà bảng kê diễn
Trang 24biến và sử dụng vốn cho biết doanh nghiệp đang tiến triển hay gặp khó khăn.Thông tin này còn rất hữu ích đối với người cho vay, nhà đầu tư…họ muốnbiết doanh nghiệp đã làm gì với số vốn của họ.
Để lập bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn người tathường tổng hợp sự thay đổi của các khoản mục trong bảng cân đối kế toángiữa hai thời điểm là đầu kỳ và cuối kỳ Mỗi một sự thay đổi của từng khoảnmục trong bảng cân đối kế toán đều được xếp vào một cột diễn biến nguồnvốn và sử dụng vốn theo hai cách thức sau:
+ Tăng các khoản nợ phải trả, tăng vốn chủ sở hữu, cũng như làm giảmtài sản của doanh nghiệp chỉ ra sự diễn biến của nguồn vốn và được xếp vàocột diễn biến nguồn vốn
+ Tăng tài sản của doanh nghiệp, giảm các khoản nợ và nguồn vốn chủsở hữu được xếp vào cột sử dụng vốn
1.4 GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN
XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.
Việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp giúp cho các nhàquản trị thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp để có thể đưa rađược những quyết định, những giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Giải pháp kinh tế nói chung và giải pháp tài chính nói riêng có thểmang tính chất đường lối lâu dài, có thể mang tính chất sách lược ngắn hạn.Trong phạm vi quản lý của doanh nghiệp thì các giải pháp tài chính thườngđược áp dụng là:
+ Chủ động huy động vốn sản xuất kinh doanh, đảm bảo đầy đủ kịpthời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Tổ chức sử dụng vốn hợp lý vàcó hiệu quả, tránh để ứ đọng gây lãng phí vốn
+ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, tổ chức và sử dụng vốn lưuđộng hợp lý, tăng nhanh vòng quay vốn lưu động
Trang 25+ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định, thực hiện trích khấu hao hợplý để đảm bảo thu hồi vốn Thường xuyên đổi mới, nâng cao máy móc thiết bịsản xuất.
+ Phấn đấu sử dụng tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thànhsản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
+ Thúc đẩy tiêu thụ, tăng doanh thu là lợi nhuận của doanh nghiệp.+ Thường xuyên xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp, có cácbiện pháp để thu hồi nợ, có kế hoạch trả nợ đến hạn làm tăng khả năng thanhtoán, tăng uy tín của doanh nghiệp
Trên đây là các giải pháp tài chính mà các nhà quản trị tài chính thườngsử dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuynhiên, tùy theo tình hình cụ thể của mỗi doanh nghiệp mà tài chính đưa ra cácgiải pháp cho phù hợp
Đánh giá tình hình tài chính là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm, vừalà khoa học vừa là nghệ thuật, phụ thuộc vào chủ quan các nhà quản lý tàichính doanh nghiệp Vì vậy, để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận ở trên cầnphân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp cụ thể để từ đó có những giảipháp tài chính cho phù hợp với thực tế của doanh nghiệp
1.2.5 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh là thước đo chất lượng phản ánh trình độ
tổ chức quản lý kinh doanh Hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp về lao động, vật tư tiền vốn để đạt kết quả cao nhất với chi phí ít nhất.
Về mặt định lượng hiệu quả kinh doanh phải được thể hiện ở mối tương quan giữa thu và chi theo hướng tăng thu giảm chi,
Trang 26có nghĩa là tối đa hoá lợi nhuận, đồng thời với khả năng sẵn có làm ra nhiều sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là điều kiện sống còn đối với một doanh nghiệp Nó là mối quan hệ hàng đầu đối với các nhà quản trị, là mục tiêu của những chiến lược kinh doanh dù ngắn hạn hay dài hạn Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì mới có thể tồn tại và khẳng định vị trí, chỗ đứng của mình trên thương trường.
Xét trên phạm vi rộng hơn, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng rất cần thiết, bởi lẽ mỗi doanh nghiệp
là đơn vị kinh tế cơ sở và quan trọng của xã hội Nếu các doanh nghiệp không đảm bảo được yếu tố hiệu quả kinh doanh, làm ăn thua lỗ và tất yếu dẫn tới sự phá sản, thì xã hội
sẽ bị ảnh hưởng lớn như nạn thất nghiệp và hàng loạt các mtổn thất khác…
Như vậy nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là rất cần thiết và là mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp và các cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh Đó là tiền đề phát triển đối với bản thân doanh nghiệp cũng như toàn
xã hội Để có thể nâng cao được hiệu quả kinh doanh trước hết nhà quản trị phải nắm được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thông qua việc tiến hành phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp nói riêng Qua đó cần đưa ra được các giải pháp thiết thực , hữu dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà trước hết là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn về cơ cấu vốn tình hình đảm bảo công nợ.
Trang 272.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
- Tên công ty: Công ty cổ phần xây dựng Vinashin
- Tên tiếng anh: Vinashin Joint Stock Company
- Trụ sở chính : Số 109 Quán Thánh, phường Quán Thánh, quận BaĐình, thành phố Hà Nội
Tell: (84-04)37322647 Fax: (84-04)37320264
- Văn phòng giao dịch của công ty:
A53- ngõ 61 Trần Duy Hưng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
- Mã số thuế : 0101194048
- Tài khoản tiền Việt Nam: 09 0000 331 466 tại ngân hàng thươngmại cổ phần nhà Hà Nội, chi nhánh Trung Hòa, Nhân Chính
- Tài khoản tiền ngoại tệ: 09 0000 378 470 tại ngân hàng thương mạicổ phần nhà Hà Nội, chi nhánh Trung Hòa, Nhân Chính
- Thông tin pháp lý của công ty:
Số đăng ký kinh doanh: 0103000709
Ngày cấp: 12/04/2001
Vốn điều lệ: 50.000.000.000 đồng (năm mươi tỷ đồng)
Trong đó: Tỷ lệ góp vốn của Tập đoàn Kinh tế Vinashin 51% vốn điềulệ
Tỷ lệ cổ phần bán cho các đối tượng khác 49% vốn điều lệ
Trang 28- Cho tới nay, Công ty có 3 chi nhánh:
+ Chi nhánh Công ty Cổ phần Xây dựng Vinashin – Trung tâm tư vấnthiết kế Vinashin được thành lập tại Thành phố Hà Nội theo quyết địnhsố 120A/2006/QĐ-DN ngày 15/05/2006 của hội đồng quản trị công tycổ phần xây dựng Vinashin và hoạt động theo giấy chứng nhận đăng kýhoạt động chi nhánh số 0113012751 ngày 09/06/2006 do Sở kế hoạnhvà đầu tư Thành phố Hà Nội cấp
+ Chi nhánh Công ty Cổ phần Xây dựng Vinashin (thành phố Hà Nội )được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh, và hoạt động theo giấychứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 4113024690 ngày07/11/2006 do Sở kế hoạc và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp.+ Chi nhánh Tư vấn thiết kế Công ty Cổ phần Xây dựng Vinashin đượcthành lập tại Hà Nội, hoạt động theo giấy chứng nhận đang ký hoạt động chinhánh số 0113018554 ngày 19/07/2007 do Sở kế hoạch và đầu tư Thành phốHà Nội cấp
- Cổ phiếu của công ty:
Số lượng cổ phiếu đăng ký phát hành : 5.000.000
Số lượng cổ phiếu đã bán ra công chúng (31/12/2009) : 4.387.540.Số lượng cổ phiếu đang lưu hành (31/12/2009): 4.387.540
Mệnh giá cổ phiếu đang lưu hành: 10.000 đồng/cổ phiếu
Công ty cổ phần xây dựng Vinashin được thành lập theo quyết định số555/QĐ-TCCB-LĐ ngày 17/12/2001 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổngcông ty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (hiện nay là Tập đoàn kinh tếVinashin) Theo quyết định số 60/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủban hành ngày 18 tháng 4 năm 2003 về việc thí điểm Tổng công ty Côngnghiệp tàu thủy Việt Nam sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công tycon, Tổng công ty đã có nhiều thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức quản lý với
Trang 29các công ty con Trong đó Công ty Cổ phần xây dựng Vinashin là một trongcác công ty cổ phần do Tổng công ty giữ cổ phần chi phối 51%.
Trong hệ thống công ty con của Tổng công ty Công nghiệp Tàu thuỷViệt Nam, Công ty Cổ phần xây dựng Vinashin là một trong những công tyđược thành lập với lĩnh vực hoạt động chính là mảng xây dựng cơ sở hạ tầngcho hoạt động đóng tàu, vận tải biển, các công trình thuỷ lợi, … Năm 2001công ty được thành lập và phải đương đầu với nhiều khó khăn thử thách, vìngành công nghiệp tàu thuỷ tuy là ngành có truyền thống lâu đời ở Việt Namsong lĩnh vực xây dựng cơ sở phục vụ cho nền công nghiệp này còn chưa đápứng đủ yều cầu và mục tiêu ngành đặt ra Công ty vừa phải đương đầu vớikhó khăn chung của ngành, vừa phải đối mặt với thực trạng thiếu thốn vềnguồn vốn, về máy móc, về trình độ chuyên môn xây dựng công trình thuỷ,đầu tư xây dựng nhà máy xi măng, kinh doanh đầu tư và phát triển nhà, sảnxuất vật liệu xây dựng và cấu kiện bê tông đúc sẵn… nhưng vẫn luôn hoànthành tốt những hợp đồng nhận được Đồng thời công ty cũng tích góp và tiếpthu được nhiều kinh nghiệm, tăng dần các nguồn lực phục vụ phát triển hơnhoạt động xây lắp của mình Năm 2003 với định hướng và hành động củaChính phủ trong tổ chức lại ngành tàu thuỷ Việt Nam, đưa ngành tàu thuỷViệt Nam ngày càng phát huy được thế mạnh vốn có và tạo thương hiệu trênthị trường trong nước cũng như quốc tế, ngành tàu thuỷ có được nhiều cơ hội
ưu tiên phát triển cả về nguồn vốn lẫn máy móc thi công, nguồn nhân lực.Cầu của thị trường ngành công nghiệp tàu thuỷ càng lớn thúc đẩy quá trìnhcung phải được đầu tư mạnh hơn, và một trong những trọng tâm đầu tư pháttriển là xây dựng cơ sở cho ngành Công ty nhận được nhiều hợp đồng xâydựng lớn từ Tổng công ty mẹ Công ty cũng đã và đang ký kết được nhiềuhợp đồng xây dựng từ các đối tác trên thị trường Tư vấn thiết kế xây dựngcũng được đẩy mạnh phát triển, cùng với hoạt động xây dựng đã đưa công tytrở thành một trong những công ty có tiếng tăm trong ngành xây dựng
Trang 302.1.2 Tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý sản xuất
kinh doanh của công ty.
2.1.2.1 Tổ chức sản xuất kinh doanh.
Nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
Mặc dù công ty hoạt động ở rất nhiều lĩnh vực nhưng công ty tập trungvào lĩnh vực xây lắp, chủ yếu là nhận thầu vào tiến hành xây dựng các côngtrình, hạng mục công trình lớn, đơn chiếc
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty:
− Xây dựng công trình giao thông, thủy lợi, công nghiệp và dân dụng, cáccông trình cảng, công trình hạ tầng, công trình cấp thoát nước, côngtrình điện, trạm điện có điện áp đến 35 KV;
− Tư vấn, khảo sát, thiết kế các loại: công trình cảng, công trình xây dựngdân dụng và công nghiệp, công trình hạ tâng, công trình giao thông vậntải, công trình thủy lợi, công trình cấp thoát nước, công trình âm thanhvà ánh sáng, thông gió;
− Kinh doanh vận tải: đường sông, đường biển, vận tải ô tô
− …
Đặc điểm về quy trình công nghệ:
Sau khi phòng thi công chuẩn bị các dự án và dự toán, công ty đăng kýtham gia đấu thầu Khi trúng thầu, hợp đồng giữa công ty và đơn vị chủ đầu
tư được thống nhất về giá trị thanh toán của công trình cùng với các điều kiệnkhác Căn cứ theo hợp đồng, dự toán đã được duyệt và kế hoạch công tác dophòng thi công lập, các đội xây dựng bắt đầu thi công Quá trình quản lý chiphí nguồn nhân lực, nguyên vật liệu, vốn được phòng Tài chính kế toán thựchiện Nghiệp vụ bàn giao công trình, hạng mục công trình… hoàn thành chobên giao thầu chính là quá trình tiêu thụ sản phẩm xây lắp
Việc sản xuất ra những sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng như thế nào đãđược xác định cụ thể, chi tiết trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật được duyệt
Trang 31Công ty phải đảm bảo về kỹ thuật, chất lượng xây lắp công trình Công tycó bộ phận kiểm tra kỹ thuật và chất lượng trong phòng thi công để thựchiện công tác quản lý kỹ thuật và chất lượng xây lắp công trình theo thiếtkế được duyệt.
Sơ đồ 2.1: Mô hình hóa quy trình sản xuất kinh doanh
Việc thi công công trình nói chung có thể là kết quả của việc Tổng công tythắng thầu, sau đó giao cho công ty thực hiện hoặc việc ký kết hợp đồng cũngcó thể là đơn vị tự tìm kiếm dự án qua các phương tiện truyền thông hoặc dođược giới thiệu
− Về trình độ công nghệ:
Công ty thực hiện đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ để đáp ứng đượctình hình sản xuất kinh doanh và tăng tính cạnh tranh nhưng vẫn đảm bảonguyên tắc:
+ Đầu tư thận trọng, đúng hướng và có tính chất dự báo để nắm bắtđược thời cơ và cơ hội kinh doanh
Chủ đầu tư
mời thầu
Nhận hồ sơ Lập dự án thi công và
lập dự toán
Nghiệm thu, bàn giao,
xác lập kết quả
Tiến hành xây dựng Chuẩn bị nguồn nhân
lực, NVL, vốn
Thắng thầu Tham gia đầu thầu
Trang 32+ Quá trình mua sắm thực hiện cân đối phù hợp với nhu cầu và khảnăng tài chính, hạn chế đầu tư dàn trả, kém hiệu quả Không mua sắm máymóc thiết bị thi công mà công ty có năng lực thiết kế chế tạo, đảm bảo chấtlượng và giá thành.
+ Đầu tư máy móc thiết bị đồng bộ, bổ sung kịp thời nhu cầu máy mócthiết bị thi công
Đặc điểm các yếu tố đầu vào:
Nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản tạo nên các công trình xây dựng, baogồm gạch đá, cát sỏi, sắt thép, xi măng… và một số loại nhiên liệu phục vụcho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho phương tiện và các loại máy móc thiếtbị như xăng dầu, khí đốt… Với quy mô sản xuất ngày càng lớn yêu cầu nguồnnguyên liệu phải đảm bảo thường xuyên, ổn đinh, chất lượng tốt và khốilượng lớn Nước ta với lợi thế giàu tài nguyên, khoáng sản nên những nguyênvật liệu này chủ yếu được mua trong nước Hiện tại công ty đang có nhữngnhà cung cấp uy tín và có mối quan hệ làm ăn tốt đẹp như:
− Công ty cổ phần thép Kansai Vinashin
− Công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy SHINEC
− Công ty cổ phần bê tông xây dựng Hà Nội
− Nhà máy cao su 75- Bộ Quốc Phòng
− …
Thị trường các yếu tố đầu ra và vị thế cạnh tranh:
Sản phẩm của công ty là các công trình, hạng mục công trình, các dựán… đạt tiêu chuẩn chất lượng và được các chủ đầu tư chấp nhận và thanhquyết toán
Công ty hoạt động trên phạm vi toàn quốc Hiện nay có nhiều công tyxây lắp lớn nên sản phẩm của công ty ngày càng chịu sức ép lớn từ thị trường.Các đối thủ cạnh tranh chính của công ty trong lĩnh vực này là Tổng công tySông Đà, Tổng công ty Vinaconex Song công ty là đơn vị mà Tập đoàn kinh
Trang 33tế Vinashin chiếm cổ phần chi phối, nên nhận được sự quan tâm, hỗ trợ đángkể góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh.Thương hiệu Vinashin ngày càng được nâng cao, được các đối tác biết đến vàtin tưởng giúp công ty thắng thầu trong các dự án lớn.
Để xây dựng hình ảnh thương hiệu công ty đã thực hiện các biện phápsau:
− Đẩy mạnh công tác nghiên cứu tìm kiếm và mở rộng thị trường để xâydựng các kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả và khả thi
− Tăng cường tiếp thị đấu thầu , chiếm lĩnh thị phần xây dựng công trìnhtrong cả nước,từng bước khẳng định vị thế của mình trên thị trường
− Khẳng đinh thương hiệu bằng chất lượng sản phẩm
2.1.2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý
Tổ chức nhân sự trong công ty :
- Tổng số CBCNV tại thời điểm 31/12/2009 là 1.235 người, trong đó:+ Lao động trình độ đại học và trên đại học : 193 người chiếm 15.6%+ Lao động trình độ cao đẳng và trung cấp : 96 người chiếm 7.8%+ Lao động có trình độ sơ cấp, công nhân kỹ thuật, lao động phổ thông:
946 người chiếm 76.6%
Mô hình tổ chức của công ty:
Là công ty cổ phần hoạt động đa dạng nghành nghề, lĩnh vực với địabàn hoạt động rộng Cơ cấu tổ chức của công ty bao gồm :
- Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, baogồm các cổ đông có quyền biểu quyết Đại hội đồng cổ đông sẽ quyết địnhphương hướng hoạt động kinh doanh phát triển của công ty Bầu hoặc bãinhiệm thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát Các quyềnvà nhiệm vụ khác theo quy định của điều lệ công ty
- Hội đồng quản trị do đại hội đồng cổ đông bầu ra gồm ba thành viên, gồmmột chủ tịch và hai ủy viên, đây là cơ quan quản lý của công ty có toàn
Trang 34quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan tới mục tiêuquyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hộiđồng cổ đông.
- Ban giám đốc gồm một giám đốc và hai phó giám đốc Giám đốc là ngườiđại diện theo pháp luật của công ty, điều hành hoạt động của công ty, chịutrách nhiệm trước hội đồng quản trị về quyền hạn và nhiệm vụ được giao
Sơ đồ 2.2 : Mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại công ty cổ phần xây dựng
Vinashin
- Ban kiểm soát do đại hội đồng cổ đông bầu ra, có ba thành viên thay mặtcổ đông để kiểm soát mọi hoạt động của công ty như thực hiện giám sáthội đồng quản trị, giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty, kiểmtra sổ sách kế toán và báo cáo tài chính Kiểm tra việc thực hiện nghị
Trang 35quyết, nghị định của đại hội đồng cổ đông Ban kiểm soát chịu tráchnhiệm trước đại hội đồng cổ đông và phát luật.
- Các phòng ban chức năng :
+Phòng hành chính nhân sự : Tổ chức tuyển chọn lao động, phân công
lao động, sắp xếp điều phối lao động cho các đội công trình Phụ trách côngtác hành chính của đơn vị; triển khai, thực hiện các chế độ chính sách, cáccông văn thư từ báo chí của đơn vị
+Phòng kế hoạch dự án: Có chức năng thẩm định dự án đầu tư, lập dự
toán công trình để tham gia đấu thầu, tham mưu cho giám đốc ký kết hợpđồng, tìm việc làm cho công ty Đồng thời, phòng kế hoạch kết hợp với cácđơn vị giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong thi công tạo điềukiện thuận lợi nhất cho sản xuất
+ Phòng kỹ thuật thi công: Chức năng kiểm tra giám sát chất lượng công
trình
+ Phòng thiết kế: Công ty có 2 phòng thiết kế dân dụng và thiết kế thủy
công, có trách nhiệm thiết kế các công trình công ty trúng thầu hoặc chỉ địnhthầu theo đề cương kỹ thuật được duyệt, đề xuất những giải pháp kỹ thuậttiên tiến nhất vào trong lĩnh vực thiết kế các công trình xây dựng cả về dândụng và thủy công
+ Phòng tài chính – kế toán: Tổ chức bộ máy kế toán, phản ánh các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh; tham mưu cho ban giám đốc về mặt quản lý hạchtoán kinh tế, điều hoà, phân phối, tổ chức sử dụng vốn và nguồn vốn sản xuấtkinh doanh, thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước; theo dõi hoạtđộng sản xuất kinh doanh dưới hình thức vốn tiền tệ, tính toán, phân phối kếtquả hoạt động kinh doanh của công ty; tổ chức lưu trữ các văn bản, tài liệuthống kê, kế toán
Trang 36 Tổ chức bộ máy kế toán của công ty:
Bộ máy kế toán của công ty cổ phần xây dựng Vinashin được tổ chứcthành các bộ phận theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.3: Tổ chức bộ máy kế toán của công ty cổ phần xây dựng
Vinashin.
Phòng tài chính kế toán hiện tại có một kế toán trưởng, các kế toán viênvà kế toán tại các công trình thi công Công ty áp dụng mô hình kế toán tậptrung, toàn bộ công việc hạch toán kế toán thực hiện ở phòng Tài chính kếtoán Hiện tại công ty đang áp dụng hình thức kế toán máy và sử dụng phầnmềm kế toán CADS
2.2 THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG
VINASHIN
2.2.1 Thực trạng tình hình tạo lập và sử dụng vốn.
Kế toán trưởng
Kế toán vồn bằng
tiền và
công nợ
Kế toán TSCĐ, CCDC
Kế toán lương, NVL, chi phí, giá
thành
Kế toán doanh thu tiêu thụ
Kế toán tổng hợp (Thủ quỹ)
Nhân viên hạch toán ban đầu, báo sổ từ đơn vị
trực thuộc
Trang 37Trước hết, để có được cái nhìn khái quát ta cần xem xét qua về bảng
cân đối kế toán (cơ cấu tài sản – nguồn vốn) của công ty tại ngày 31/12/2009
Số tiền (Trđ)
Tỷ trọng (%)
Số tiền (Trđ)
Tỷ lệ ( % ) TÀI SẢN
A TÀI SẢN NGẮN
I Tiền và các khoản
tương đương tiền 17.549,3 3,07 6.721,0 1,13 -10.828,3 -61,70
II Các khoản phải thu
ngắn hạn 330.605,4 57,84 205.736,8 34,73 -124.868,6 -37,77
1, Phải thu của khách hàng 147.148,5 44,51 117.790,9 57,25 -29.357,6 -19,95
2, Trả trước cho người bán 35.987,4 10,89 36.062,2 17,53 74,8 0,21
3, Phải thu theo tiến độ kế
4, Các khoản phải thu khác 15.431,0 4,66 4.716,7 2,29 -10.714,3 -69,43
III Hàng tồn kho 219.419,1 38,38 373.719,3 63,08 154.300,2 70,32
IV Tài sản ngắn hạn
3, Thuế và các khoản phải
4, Tài sản ngắn hạn khác 3.137,5 77,25 2.261,9 36,16 -875,6 -27,91
B TÀI SẢN DÀI HẠN 65.029,0 10,21 63.327,5 9,66 -1.701,5 -2,62
I Tài sản cố định 36.904,7 56,75 28.214,6 44,55 -8.690,1 -23,55
1, Tài sản cố định hữu hình 22.654,7 61,39 14.714,6 52,15 -7.940,1 -35,05
− Giá trị hao mòn lũy kế -9.095,9 -28,65 -13.344,0 -90,69 4.248,1 46,70
2, Tài sản cố định vô hình 14.250,0 38,61 13.500,0 47,85 -750,0 -5,26
Trang 38− Nguyên giá 15.000,0 105,26 15.000,0 111,11 0,0 0,00
− Giá trị hao mòn lũy kế -750,0 -5,26 -1.500,0 -11,11 750,0 100,00
II Các khoản đầu tư tài
chính dài hạn 26.836,8 41,27 35.022,7 55,30 8.185,9 30,50
1, Đầu tư dài hạn khác 26.836,8 100,00 35.022,7 100,00 8.185,9 30,50
III Tài sản dài hạn khác 1.287,5 1,98 90,2 0,14 -1.197,3 -92,99
1, Chi phí trả trước dài hạn 1.287,5 100,00 90,2 100,00 -1.197,3 -92,99
TỔNG CỘNG TÀI SẢN 636.664,3 655.759,8 19.095,5 3,00 NGUỒN VỐN
A NỢ PHẢI TRẢ 584.394,4 91,79 603.803,5 92,08 19.409,1 3,32
I Nợ ngắn hạn 565.260,0 96,73 591.248,7 97,92 25.988,7 4,60
1, Vay và nợ ngắn hạn 179.373,2 31,73 151.497,8 25,62 -27.875,4 -15,54
2, Phải trả người bán 273.096,2 48,31 318.521,8 53,87 45.425,6 16,63
3, Người mua trả tiền trước 73.328,6 12,97 105.333,5 17,82 32.004,9 43,65
4, Thuế và các khoản phải
5, Phải trả người lao động 1.646,4 0,29 5,1 0,01 -1.641,3 -99,69
7, Các khoản phải trả phải
II Nợ dài hạn 19.134,4 3,27 12.554,8 2,18 -6.579,6 -34,39
1, Phải trả dài hạn người
3, Thuế thu nhập hoãn lại
B VỐN CHỦ SỞ HỮU 52.269,9 8,21 51.956,3 7,92 -313,6 -0,60
I Vốn chủ sở hữu 51.673,4 98,86 49.835,0 95,92 -1.838,4 -3,56
1, Vốn đầu tư của chủ sở
3, Quỹ dự phòng tài chính 371,1 0,72 2.026,0 4,07 1.654,9 445,94
4, Lợi nhuận sau thuế chưa
Trang 39Qua bảng trên ta thấy: Trong kỳ, tổng tài sản tăng từ 636.664,3 triệuđồng lên 655.759,8 triệu đồng, tăng lên 19.095,5 triệu đồng tương ứng với tỷlệ tăng là 3,0% Trong đó tài sản ngắn hạn tăng 20.797 triệu đồng, tăng3,64%, nhưng tài sản dài hạn lại giảm 1.701,5 triệu đồng tương ứng giảm2,62% Điều đó cho thấy trong kỳ công ty chú trọng đầu tư vào tài sản ngắnhạn hơn là đầu tư vào tài sản dài hạn Cụ thể hơn sẽ được phân tích ở phầnsau.
Về nguồn vốn cũng tăng lên một lượng tương ứng, và qua bảng cân đốikế toán ta thấy được trong kỳ nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn 92,08% cao hơntỷ trọng nợ phải trả kỳ trước (91,79%) Nguồn được huy động chủ yếu lànguồn ngắn hạn (chiếm 97,92% tổng nợ phải trả), trong đó phải trả người bánlà nguồn có tỷ trọng lớn (53,87%) và trong kỳ tăng tới 45.425,6 triệu đồng.Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (chiếm 7,92%), sovới kỳ trước, tỷ trọng vốn chủ sở hữu đã giảm 0,29 Cũng như tài sản, cơ cấunguồn vốn đã hợp lý hay chưa và nguyên nhân của việc huy động từ cácnguồn khác nhau sẽ được xem xét kỹ dưới đây
Đánh giá tình hình tạo lập vốn của công ty:
- Trong hoạt động tài chính, việc tạo lập và sử dụng vốn là một trongnhững nội dung căn bản và quan trọng Để đánh giá nội dung này ta đi sâuxem xét tình hình biến động nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn công ty thông
qua bảng số 2.5.
Qua bảng phân tích ta thấy tổng nguồn vốn của công ty vào thời điểm đầunăm là 636.664,3 triệu đồng, cuối năm là 655.759,8 triệu đồng, tăng 19.095,5triệu đồng với tỷ lệ tăng 3,0% so với đầu năm Trong đó, nợ phải trả tăng19.409,1 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 3,32%, còn vốn chủ sở hữu lạigiảm 0,6% với số tiền là 313,6 triệu đồng Như vậy tốc độ tăng của nợ phảitrả lớn hơn tốc độ giảm của vốn chủ sở hữu Xem xét về cơ cấu nguồn vốn tathấy công ty có tỷ lệ nợ phải trả chiếm tỷ trọng cao 91,79% đầu năm 2009 và
Trang 40tăng lên 92,08% cuối năm 2009, tăng thêm 0,29%, qua đó thấy được công tysử dụng chủ yếu nguồn vốn bên ngoài và gia tăng sử dụng vào cuối năm Vớiviệc sử dụng này ta thấy công ty sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức cao, điềunày đồng nghĩa với rủi ro tài chính tăng cao, giảm khả năng tự chủ về tàichính Tuy nhiên để đánh giả việc huy động và sử dụng vốn như thế này cóhợp lý hay không cần phải đi sau xem xét thêm.
+ Nợ phải trả tăng là do nợ ngắn hạn tăng, còn nợ dài hạn lại giảm Cụ thể:Nợ ngắn hạn tăng 25.988,7 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 4,6% đã làm cho tỷtrọng nợ ngắn hạn tăng thêm 1,19%, điều này thể hiện nghĩa vụ thanh toántrong ngắn hạn của công ty tăng lên Nguyên nhân tăng nợ ngắn hạn chủ yếulà do khoản phải trả người bán và khoản chiếm dụng do người mua trả tiềntrước tăng nhanh với quy mô lớn
So với đầu năm, phải trả người bán tăng 45.425,6 triệu đồng, tỷ lệ tăng16,63% làm cho tỷ trọng phải trả người bán trong tổng nợ ngắn hạn tăng thêm5,56% Khoản người mua trả tiền trước thời điểm cuối năm là 105.333,5 triệuđồng, tăng 32.004,9 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 43,65%, so với đầu năm tỷ trọngkhoản này trong nợ ngắn hạn đã tăng lên 4,84% Bên cạnh đó các khoản phảitrả phải nộp khác cũng tăng 111,43% Việc tăng sử dụng nợ ngắn hạn đã làmtăng gánh nặng nợ cho công ty, tuy nhiên các khoản tăng với quy mô lớn lạichủ yếu là nguồn nợ chiếm dụng của khách hàng và nhà cung cấp, đây lànhững nguồn vốn mà công ty không phải trả lãi mà công ty đã tận dụng rất tốtchứng tỏ công ty có uy tín tạo lòng tin được với nhà cung cấp và thu hút đượcnhiều đơn đặt hàng Trong kỳ, một số khoản nợ ngắn hạn cũng biến động vớitốc độ lớn như: vay và nợ ngắn hạn cuối năm là 151.497,8 triệu đồng, chiếm25,62% trong nợ ngắn hạn, so với đầu năm nó đã giảm 27.875,4 triệu đồng,tốc độ giảm 15,54% làm cho tỷ trọng vay và nợ ngắn hạn cuối năm thấp hơn6,11% so với đầu năm Đây là điều thuận lợi của công ty vì đồng nghĩa vớiviệc giảm vay và nợ ngắn hạn là công ty đã giảm được khá nhiều lãi vay phải