Phạm vi phương tễ của đông dược rất rộng chẳng kể là một vị thuốc hay nhiều vị thuốc, phàm tiến hành một phương pháp gia công nhất định để bào chế, kiên chế thành một tễ hình nhất định có thể dùng ở lâm sàng đều có thể gọi là phương tễ.
Trang 1
Hμ néi - 2003
Trang 2Mục lục
Chương 1 Tri thức cơ bản về phương tễ Đông
dược 3
I Tổ thành và phối ngũ của phương tễ 3
II Gia giảm và biến hóa của phương tễ: 6
III Quy loại tác dụng của phương tễ 7
IV Tễ hình và cách dùng của phương tễ: 8
V Phương pháp sắc thuốc và uống thuốc 9
Chương 2 Giải biểu tễ 11
Thông kỹ thang 12
Kinh phòng bại độc tán 13
Hương nhu ẩm 14
Ngân kiều tán 15
Tang cúc ẩm 16
Sài cát giải cơ thang 17
Khương bàng bồ bạc thang 17
Thành dược 18
1 Cảm mạo phiến: 18
2 Ngân kiều giải độc hoàn: 18
3 Ngọ thời trà: 18
4 Phức phương Sài hồ 19
Tiểu kết 19
Chương 3 Thanh nhiệt tễ 21
Chi tử kỹ thang 23
Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên thang 24
Cao cầm thanh đản thang 24
Thạch cao tri mẫu thang 25
Trúc diệp thạch cao thang 26
Thạch cao thục địa tiễn 27
Bạch đầu ông thang 28
Nhân trần cao thang 28
Cam lộ tiêu độc đan 29
Liên phác ẩm 30
Tả tâm thang 31
Hoàng liên giải độc thang 32
Phổ tễ tiêu độc ẩm 32
Tê giác địa hoàng thang 33
Thanh doanh thang 34
Thanh ôn bại độc ẩm 34
Tả phế tán 35
Long đởm tả can thang 36
Thanh cốt tán 37
Thanh cao miết giáp thang 38
Dưỡng âm thanh phế thang 38
Ngân kiều thạch hộc thang 39
Đương quy lục hoàng hoàn 40
Thuốc chế thành 40
1 Nhị diệu hoàn: 40
2 Cảm mạo thoái nhiệt xung tễ 40
3 Hương liên hoàn 40
4 Thượng hải xà dược 41
5 Ngân hoàng phiến – Ngân hoàng thuốc tiêm 42
Tiểu kết 42
Chương 4 Tả hạ tễ 44
Đại thừa khí thang 45
Lương cách tán 48
Phòng phong thông thánh tán 48
Hoàng long thang 49
Tam vật bị cấp hoàn 50
Đại hoàng phụ tử thang 51
Ôn tỳ thang 52
Đại hãm hung thang 53
Cam toại thông kết thang 53
Thập táo thang 54
Kỷ tiêu lịch hoàng hoàn 56
Ngũ nhân hoàn 56
Thuốc chế thành 57
1 Thanh ninh hoàn 57
2 Bán lưu hoàn 57
3 Canh y hoàn 57
Tiểu kết 59
Trang 3Sâm phụ thang 71
Chương 5 Hòa tễ 60
Tiểu sài hồ thang 61 Ôn dương lợi thủy thang 72
Đại sài hồ thang 61 Tiểu kết 73
Bán hạ tả tâm thang 63 Chương 7 Tiêu tễ 74
Hoàng liên thang 64 Bảo hòa hoàn 74
Thống tả yếu phương 64 Chỉ thực đạo trệ hoàn 75
Quế chi thang 65 Mộc hương binh lang hoàn 75
Tiểu kết 66 Chỉ truật hoàn 76
Tiêu thạch phàn thạch tán 77
Chương 6 Ôn tễ 67
Lý trung hoàn 68 Đảm đạo bài thạch thang 78
Ngô thù du thang 69 Nội tiêu loa lịch hoàn 79
Đại kiến trung thang 69 Hải tảo ngọc hũ thang 81
Ngũ tích tán 70 Tiểu kết 81
Tứ nghịch thang 70
Trang 4Chương 1
Tri thức cơ bản về phương tễ Đông dược
I tổ thμnh vμ phối ngũ của phương tễ
Phạm vi phương tễ của đông dược rất rộng chẳng kể là một vị thuốc hay nhiều vị thuốc, phàm tiến hành một phương pháp gia công nhất định để bào chế, kiên chế thành một tễ hình nhất định có thể dùng ở lâm sàng đều có thể gọi là phương tễ
Riêng một vị thuốc chế thành một phương tễ gọi là đơn phương Như đời xưa còn dùng đến ngày nay là: Tỳ bà diệp cao, Kim anh tử cao, Độc sâm thang… Chế tễ hiện nay có: Hoàng liên tố phiến, Diên hồ sách phiến, Thanh nhiệt tiêu viêm phiến (riêng một vị Bồ công anh chế thành) Đơn phương lưu truyền trong dân gian như: Rau sam chữa ỉa chảy, rau rấp cá chữa viêm phổi…đều là phạm vi của phương tễ đông dược
Đặc diểm chủ yếu của đông phương là: phạm vi thích ứng rất rõ ràng, tác dụng rất chuyên một loại bệnh, tiện cho việc lấy tại chỗ, tiện cho nhân dân lao động nắm chắc và lợi dùng, tiện cho việc nghiên cứu phân tích tính năng, tác dụng và các thành phần có hiệu quả của dược vật, là cơ sở tổ thành phức phương của đông dược
Phương tễ do 2 hay nhiều vị phối thành gọi là Phức phương Từ xưa lại đây, vận dụng dược vật
để phòng và chữa bệnh tật đều là bắt đầu từ dược vật riêng lẻ Khi đã phát hiện thấy tác dụng của dược vật riêng lẻ có lúc không đủ tưởng, không thể giải trừ hết bệnh tật cho người bệnh dần dà lấy
đến 2 vị hoặc trên 2 vị dược vật hợp kiêm sử dụng Hai loại dược vật trở lên được sử dụng cộng đồng,
có thể liên kết một loại dược vật chính (như Hoàng liên và Ngô thù cùng dùng), khử độc tính của chúng (như Sinh khương và Bán hạ cùng dùng), hoà hoãn tính quá mạnh của nó (như Đại táo và Đình lịch tử cùng dùng), hoặc giả cùng hiệp đồng lại phát huy càng lớn hiệu lực của nó (như Can khương
và Phụ tử cùng dùng)
Phương tễ cũng là từ thực tiễn chữa bệnh của nhân dân tích luỹ kinh nghiệm mà hình thành và phối ngũ của phương tễ, mới có thể càng vận dụng tốt dược vật, thích hợp với các bệnh tình phức tạp, nâng cao hiệu quả chạy chữa Đó là một đặc điểm của Y dược học phương đông, là một bộ phận tổ
thành trọng yếu của “Biện chứng thí trị”
Một số ít phương tễ có hiệu quả từ ngày xưa lưu truyền đến nay là một bộ phận trong kho báu của nền Y học vĩ đại Phương đông, chúng ta còn phải ra sức khai thác và nâng cao
1 Nguyên tắc để tổ thành phương tễ
Tổ thành một phương tễ kiểu phức phương có 3 phần:
- Một là: vị thuốc chủ yếu (chủ dược) Căn cứ vào bệnh tình mà chọn lấy một hay 2 vị thuốc
nhằm vào nguyên nhân chủ yếu của bệnh, lấy làm trung tâm của chữa bệnh nó là bộ phận chủ yếu tổ
Trang 5thành của cả phương tễ Như bài Tam thừa khí thang lấy Đại hoàng làm thuốc chủ yếu, cũng là xác
định rằng công hạ thực nhiệt ở trường vị là trung tâm trị liệu
- Hai là: vị thuốc bổ trợ Căn cứ vào đặc điểm bệnh tình, tuyển chọn xung lượng của cái lợi, cái
hại của vị thuốc chính, chính dùng tương ứng các dược vật thích đáng làm phối ngũ, làm cho thuốc
phát huy được tác dụng chủ yếu trị liệu, làm cho nó càng sát hợp với bệnh tình, như Ma hoàng
thang lấy Quế chi làm thuốc bổ trợ cho Ma hoàng, thêm mạnh cái tác dụng tân ôn giải biểu, Xạ can
Ma hoàng thang lấy Xạ can làm thuốc bổ trợ chủ yếu cho Ma hoàng làm mạnh thêm công hiệu
tuyên phế định xuyễn
- Ba là: tuỳ chứng mà dùng thuốc Tức là nhằm vào chứng trạng chủ yếu của người bệnh mà
thêm vào các chứng để dùng thuốc, như ho hắng thì thêm Hạnh nhân, tiêu hoa không tốt thì thêm Lục khúc, Mạch nha…
Lại phải nói rõ là: vị thuốc chủ yếu và vị thuốc bổ trợ trong phương tễ gồm không hạn chế ở một hay hai vị Rất nhiều phương tễ có thể mỗi thứ có hai, ba vị tổ thành Nhưng mà khi hai vị hoặc trên hai vị tổ thành chủ dược hoặc bổ trợ dược, trên đại thể có hai tình huống: Một là tăng cường, chế ước hoặc cải biến một ít tác dụng của chủ dược hoặc bổ trợ dược, tiến hành phối ngũ xong mới tổ thành,
như Ngân hoa, Liên kiều cùng dùng trong Ngân kiều tán, cũng là lấy tác dụng của dược vật có cùng
giống nhau sau khi phối ngũ đã làm mạnh thêm tác dụng thanh hiệt Ma hoàng và Thạch cao cùng
dùng trong Ma hạnh thạch cam thang, cũng đem tân ôn giải biểu của Ma hoàng cộng với cái tân
hàn của Thạch cao Dược vật có tính vị tương phản cộng đồng tổ thành chủ dược, chế ước tính tân ôn
của Ma hoàng mà thành phương tễ thanh nhiệt tuyên phế, Quế chi và Bạch hược của Quế chi thang
cũng là cùng dùng dược vật có tính vị tương phản tổ thành chủ dược, mà làm nên tác dụng điều hoà
vinh vệ Ngoài ra còn một loại nữa là từ hai phép trị trở lên được kết hợp ứng dụng như Đại thừa khí
thang lấy Hậu phác, Chỉ thực và Đại hoàng phối ngũ xong, tức là phối hợp hai loại trị pháp công hạ
và hành khí, phá khí tác dụng cũng được tăng lên khá lớn Hoàng long thang lấy Nhân sâm, Đương
quy để ích khí dưỡng huyết, với Đại hoàng để công hạ cùng phối ngũ, công pháp và bổ pháp cùng
phối hợp ứng dụng, thì thành phương tễ công bổ kiêm thí Đến đây gọi là bộ phận “sứ dược” tức là
chọn dùng một số ít dược vật có tác dụng rất mạnh đối với một kinh lạc, tạng phủ nhất định làm cho
đi thẳng tới nơi phát bệnh, như Cát cánh dẫn thuốc đi lên, Ngưu tất dẫn thuốc đi xuống Hoặc có tác dụng điều hòa giữa các dược vật đối với nhau như Cam thảo có tác dụng điều hoà các vị thuốc nhưng
nó không phải tất cả các phương thuốc đều cần dùng cả
Tóm lại, nguyên tắc tổ thành của phương tễ là một bộ phận trong biện chứng luận trị của Đông
y, là sự vận dụng cụ thể của Đông y “Lý - Pháp - Phương - Dược” Chỉ có biện chứng lâm sàng được
đúng, đối với bệnh nặng nhẹ, hoãn cấp, phân biệt chứng trạng chủ thứ được rõ ràng, xác định nguyên tắc chạy chữa, có mục đích chọn dùng chủ dược và bổ trợ dược, mới có thể trở thành một phương tễ cho uống có hiệu quả
2 Nguyên tắc phối ngũ dược vật:
Trang 6Tổ thành một phương tễ là thông qua phối ngũ dược vật mà thực hiện Phối ngũ là đem hai vị hoặc nhiều vị phối hợp làm một, là đều có phương pháp tính khi chọn dùng thuốc Dược đem phối ngũ khác nhau mà có tác dụng riêng biệt; như Quế chi và Ma hoàng cùng phối ngũ với nhau thì có thể phát hãn, với Thược dược cùng phối ngũ thì có thể chỉ hãn Thông qua phối ngũ rõ là có thể tăng cường hiệu lực của thuốc như Đại hoàng phối ngũ với Mang tiêu thì tác dụng tả hạ càng mạnh Thuốc cũng có thể làm giảm bớt dược tính như Phụ tử và Địa hoàng cùng dùng, Địa hoàng có thể làm giảm bớt cái tân nhiệt cương táo của Phụ tử và cái hại cướp âm có thể kiềm chế độc tính của một
số dược vật để giảm bớt phó tác dụng, như Bán hạ và Sinh khương cùng phối thì Sinh khương có thể chế được cái độc của Bán hạ, làm cho càng có thể phát huy tác dụng khu khử đàm
Cần phải chỉ ra rằng tổ chức và phối ngũ của phương tễ không phải là mỗi một phương tễ phải nghiêm ngặt, hoàn chỉnh, mà đối với tác dụng của mỗi một phương tễ, lại cần toàn diện kết hợp lại
có tác dụng hợp đồng, tập trung, ví dụ như Hoàng liên giải độc thang có 4 vị thuốc, toàn là vị thanh nhiệt tả hoả, 8 vị thuốc của Bát chính tán toàn là thuốc thanh nhiệt thông lâm Có tác dụng phản tương thành như Quế chi thang thì Quế chi và Thược dược cùng dùng Có phương tễ thì hàn nhiệt cùng dùng (như Tả kim hoàn), bổ tả kiêm thí (như Hoàng long thang), biểu lý đồng trị (như Phòng
phong thông thánh tán)…là do ở bệnh tình phức tạp phải lấy sự tương ứng để thi thố Có phương tễ
thì thiên về khuynh hướng toàn diện như phương tễ để điều lý khí huyết bên trong cơ thể, và tễ bổ ích…thường dùng thuốc loại đó
Mỗi một phương tễ ở đó dùng nhiều ít vị thuốc chủ yếu là do vào bệnh tình mà định, như bệnh tình rất đơn thuần hoặc khi pháp chữa cần phải chuyên một mặt, thì vị thuốc của phương tễ cần phải
ít mà tinh Như bệnh tình phức tạp khi cần 2 loại cách chữa trở lên phối hợp dùng thì vị thuốc của phương tễ tất nhiên cần nhiều hơn Nhưng vị thuốc quá ư rối tạp có khi cũng tạo thành tác dụng kiềm chế lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, tất cần phải lưu ý cho Tóm lại, xử phương dụng dược tóm tắt là
đột xuất và trọng điểm, lại cần phải thích đáng hướng về các phương diện, làm cho “Nhiều mà không
tạp, ít mà tinh chuyên”
Dùng số lượng nhiều ít các vị thuốc trong một phương tễ nói chung lượng chủ dược có thể lớn hơn lượng phản tá (tức là thuốc có tính vị ngược lại so với chủ dược, thuốc bổ trợ chế ước thiếu lệch phía của chủ dược), thuốc điều hoà, dẫn kinh lượng dùng ít hơn lượng thường dùng nhưng cần xem
tình huống cụ thể của bệnh tình và thuốc men mà định Như Tả kim hoàn Hoàng liên là chủ dược,
Ngô thù là phản tá dược (cũng có thể gọi là dẫn kinh dược) tễ lượng giữa 2 thứ thuốc so sánh tỷ lệ là
6/1 Đại - Tiểu thừa khí thang đều lấy Hậu phác, Chỉ thực làm thuốc bổ trợ, nhưng do bệnh tình khác nhau, tễ lượng của Hậu phác và Chỉ thực trong Đại thừa khí thang cũng tăng hơn 1 lần so với
lượng thường dùng Do đó tễ lượng cần dùng không cần phải phân biệt tầng thứ của chủ dược và bổ trợ dược ở trong một phương tễ mà lại cần dựa vào chứng tình cụ thể của người bệnh mà có chỗ biến hoá
Trang 7ii gia giảm vμ biến hóa của phương tễ:
Tổ thành phương tễ không kể là cổ phương hay kim phương đều có một nguyên tắc nhất định và phạm vi thích ứng nhất định, là phương pháp biện chứng luận trị của bệnh chứng cụ thể, bởi vậy cũng không phải là nhất thành bất biến, khi ứng dụng lâm sàng tuỳ theo bệnh tình mà biến hóa, sự mạnh yếu của thể chất, tuổi tác lớn nhỏ, thêm suy nghĩ về dược vật cũng như nơi tìm kiếm, tính toán vận dụng thêm bớt cho phù hợp và linh hoạt
1 Gia giảm và biến hoá vị thuốc:
Phương tễ thường do gia giảm vị thuốc mà biến đổi công năng và phạm vi thích ứng Ví dụ như
Quế chi thang vốn là phương giải cơ, điều hòa vinh vệ, dùng cho chứng biểu, ra mồ hôi, sợ gió mà
hiện tượng nóng sốt nổi không rõ; giả sử trên cơ sở chứng đó khi thấy thở xuyễn thì gia Hạnh nhân, Hậu phác sẽ kiêm có tác dụng bình xuyễn; giả sử có hiện tượng sốt rất rõ ràng, gia Hoàng cầm sẽ kiêm có tác dụng lui sốt; đây là ở tình huống chủ chứng chưa biến, tuỳ ở kiêm chứng khác nhau mà
thêm bớt phương pháp biến hóa Lại ví dụ như Ma hoàng thang vốn là phương tân ôn phát hãn, giả
sử như biểu hàn không nặng mà ho xuyễn rõ ràng có thể bỏ Quế chi, tức là Tam ảo thang thành ra
phương chỉ khái bình xuyễn, tuy nhiên chỉ giảm có một vị thuốc nhưng mà chứng thích ứng đã có chỗ khác nhau
2 Biến hóa phối ngũ của dược vật:
Phương tễ sau khi biến hoá phối ngũ các dược vật chủ yếu thường thường cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tác dụng chủ yếu của phương đó, như lấy Hoàng kỳ làm ví dụ: phối ngũ với Nhân sâm, Bạch
truật, Thăng ma, Sài hồ là Bổ trung ích khí thang mà có tác dụng ích khí thăng đề; phối với Đương quy tức là Đương quy bổ huyết thang mà có tác dụng nhiếp huyết, bổ huyết; phối ngũ với Phòng
kỷ, Bạch truật tức là Phòng kỷ hoàng kỳ thang mà có tác dụng lợi thuỷ; phối ngũ với Phòng phong, Bạch truật tức là Ngọc bình phong tán mà có tác dụng cố biểu chỉ hãn; phối ngũ với Xuyên sơn giáp, Tạo giác thích tức là Thấu nùng tán mà có tác dụng thác lý thấu nùng; phối ngũ với Quế chi, Thược dược tức là Hoàng kỳ kiến trung thang mà có tác dụng ở trung bổ hư; phối ngũ với Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa tức là Bổ dương hoàn ngũ thang mà có tác dụng khứ ứ thông lạc; phối ngũ với Miết giáp, Địa cốt bì tức là Hoàng kỳ miết giáp tán mà có tác dụng thanh
hư nhiệt
Do đó có thể thấy phối ngũ tổ thành của phương tễ có tác dụng chủ trị là có quan hệ mật thiết, trước hết là sự phối ngũ biến hóa của dược vật, tác dụng của phương tễ hoàn chỉnh và chứng thích ứng, cũng đã có sự khác nhau rất lớn
2 Biến hóa lượng dùng của dược vật:
Lượng dùng của dược vật trong một phương tễ nếu được cải biến rất lớn, tác dụng trọng tâm của
nó rất lớn, tác dụng trọng tâm của nó theo đó mà khác nhau Ví dụ như Chỉ truật thang và Chỉ
truật hoàn cũng là hai vị Chỉ thực và Bạch truật tổ thành, nhưng cái trước là dùng Chỉ thực nhiều
Trang 8hơn Bạch truật cho nên lấy tiêu tích đại trệ làm chủ, cái sau lượng dùng Bạch truật nhiều hơn nên lấy kiện tỳ hoà trung làm chủ Cái trước nguyên là chữa dưới tim có hòn cục, có ung nước, nay có người dùng để chữa sa dạ dày, cho rằng cần phải trọng dụng Chỉ thực mới có thể đem lại kết quả Cái sau thường dùng kiện tỳ hoà trung, giúp đỡ tiêu hoá, do đó có thể lấy cùng vị thuốc như nhau mà khi lượng dùng biến đổi thì tác dụng của vị trí chủ thứ của phương tễ cũng sẽ giúp nhau chuyển hóa, phạm vi thích ứng cũng sẽ có chỗ khác nhau
3 Vấn đề hỗ tương thay thế của dược vật:
Nắm được nguyên tắc biến hóa phối ngũ của phương tễ rồi, địa vị rõ ràng của dược vật ở trong phương tễ hoàn chỉnh mà lấy tác dụng một mặt này để sau đó khi ứng dụng ở lâm sàng có thể chỉ giữ trị pháp và phương nghĩa mà không dùng tất cả thuốc, trước hết là nhằm ở phẩm loại mỏng ít và quí trọng của dược vật, nói chung đều có thể dùng tính vị tác dụng của dược vật gần giống nhau mà thay thế mà không ảnh hưởng đến kết quả chữa
Ví dụ Hoàng liên, Hoàng bá, Hoàng cầm tác dụng của 3 thứ đó có chỗ khác nhau, nhưng đều là khí vị đắng hàn, đều là thanh nhiệt tả hoả, táo thấp, cho nên ở mặt này có thể giúp nhau thay thế mà dùng Chỉ thực với Chỉ sác tuy tác dụng có chia ra hoãn cấp, Nhân sâm và Đẳng sâm tác dụng tuy chia ra mạnh yếu nhưng ở trong lâm sàng có thể thay dùng Lại như trước mắt tại lâm sàng thường dùng Sừng trâu thay Tê giác, Sừng sơn dương thay Sừng linh dương, Trân châu mẫu thay Thạch quyết minh…kết quả chữa vẫn chưa thấy ảnh hưởng lớn Chỉ cần chú ý khi thay thế dược vật, có khi lượng dùng thay đổi, thứ nào sức mỏng lượng dùng phải tăng, thứ lực đầy thì lượng dùng giảm nhẹ Ngoài đó ra, lại có thể căn cứ ở các tác dụng của dược vật mà phân biệt để lấy ở tác dụng của dược vật nó thay thế mỗi một phương diện Như Sơn thù du làm ví dụ, khái quát lại nó có tác dụng 2 mặt là bổ ích can thận và toan liễm thu sáp, cho nên khi dùng có thể căn cứ vào mục đích sử dụng lâm sàng khác nhau mà phân biệt là thuốc gì thay cho nó Nói chung khi dùng lấy bổ có thể dùng Nữ trinh tử, Câu kỷ tử làm thuốc thay thế, khi dùng để toan liễm thu sáp có thể dùng Kim anh tử thay thế
iii quy loại tác dụng của phương tễ
Quy loại tác dụng của phương tễ chủ yếu căn cứ vào đại pháp, ví như căn cứ vào 8 phép: Hãn, Hạ, Hòa, Ôn, Thanh, Tiêu, Bổ mà đã phân ra: Giải biểu tễ, Tả hạ tễ, Hòa giải tễ, Hàn lương tễ, Tiêu
đạo tễ, Bổ dưỡng tễ Bát pháp lại không thể khái quát, sẽ tách riêng ra như Lý khí, lý huyết tễ, Khư phong tễ, Hóa thấp tễ, Khai khiếu tễ, Cố sáp tễ, Ngược tễ, Khu trùng…Nhưng do công dụng của một
số phương không chỉ là một loại, ví dụ như: Tứ vật thang nói rằng có thể bổ huyết, lại có thể hoạt
huyết, thì quy tại bổ huyết tễ cũng được mà quy tại lý huyết tễ cũng được, vì thế các loại phương tễ trong sách phân loại hạng mục có sai khác nhau Ngoài ra phương tễ còn có thể phân thành thông
dụng phương và chuyên dụng phương Thông dụng phương như bổ khí có Kiện tỳ ích khí thang, bổ huyết có Tứ vật thang, bổ âm có Lục vị địa hoàng hoàn, bổ dương có Quế phụ bát vị hoàn, phạm
vi sử dụng những phương đó rất rộng rãi Chuyên dụng phương dùng ở một loại bệnh chứng, ví như
Trang 9Đại hoàng mẫu đơn thang, theo như tác dụng là thanh nhiệt giải độc, nhưng phần lớn dùng vào
trường ung Thập khôi hoàn theo như tác dụng là lương huyết, nhưng nói chung là dùng vào chỉ
huyết Loại có một số phương tễ nữa, do đó phân loại trong quyển Thủ sách n từ ứng dụng thực tế lâm sàng mà rút ra, đối với chuyên dụng phương phân biệt thích đáng riêng rẽ, đối với tác dụng có giao thoa phương tễ thì trước sau giúp nhau thấy rõ để giúp nhau tiện việc kiểm chứng
iv tễ hình vμ cách dùng của phương tễ:
Hình tễ thường dùng của phương tễ Đông dược có 5 loại: Thang, Hoàn, Tán, Cao, Đan Bốn loại
sau thuộc thuốc đã chế thành, thông thường vẫn gọi là “Hoàn - Tán - Cao - Đan”, nhưng mà trong
đó có một số tuy có tên là hoàn tán, nhưng thực tế đều ứng dụng làm thang
1 Thang tễ:
Đem dược vật dùng nước sắc thành nước đun sôi (có khi thêm vào một ít rượu), bỏ bã uống lúc còn nóng, gọi là thang tễ Do Đông dược phần lớn là thuốc có nguồn gốc thực vật, sắc với nước có thể làm cho thành phần hữu hiệu dễ tan trong nước, sau khi uống vào dễ được hấp thu, đã làm tác dụng rất mạnh lại thuận tiện để dùng và linh hoạt sử phương, thích ứng với mọi loại bệnh tình, đó là một loại thường dùng trong các loại tễ hình Đối với bệnh chứng phức tạp mà nhiều biến hóa, lấy dùng thang tễ là hợp Đặc điểm lớn nhất của nó là nấu sắc không thuận tiện, cũng như trẻ em uống cũng không tiện
2 Hoàn tễ
Đem dược vật nghiền nhỏ, hoặc lấy nước vẩy vào, hoặc trộn mật, hoặc lấy hồ bột chế thành viên tròn giống như hạt gọi là hoàn tễ Dùng để uống tuy rất thuận tiện, nhưng do chỗ chứa tễ lượng thuốc sống rất khó hấp thu, cho nên thường dùng vào uống lâu dài chữa bệnh hoãn, nhưng cũng có một số
thuốc có tính nhanh chóng mạnh mẽ như Thập táo hoàn, Để đương hoàn…Lại có thứ dược phẩm
thơm tho như Xạ hương, Băng phiến…không thể sắc uống mà thường ở lúc bệnh cấp đem ứng dụng
tất phải chế thành hoàn tễ để tiện kịp thời sử dụng như Khai khiếu phương
Khuyết điểm của hoàn tễ là thành phẩm có hiệu của dược phẩm chưa qua hấp lên, lọc bã đi, uống vào số lượng ít hiệu quả không cao Uống vào lượng nhiều thì cản trở tiêu hóa, lại thường không dễ hấp thu mà hiệu hiện rất kém Đồng thời cũng có thể do quá trình giữ thuốc không tốt, lâu dài quá mốc hoặc chuyển độc, biến chất mà mất hiệu lực
Trang 10Ngoài ra, còn có các loại hình tễ khác như rượu thuốc (Dược tửu), thuốc sương (Dược lộ), gần
đây do nhu cầu của đời sống và trí tuệ của quần chúng, các loại hình tễ của Đông y đã tiến hành cải cách sáng chế tễ hình như: tễ đậm đặc, tễ xông, tễ phiến, tễ sền sệt như tương, tễ nước… để tiện sử dụng, nâng cao liệu hiệu, được mọi người hoan nghênh
v phương pháp sắc thuốc vμ uống thuốc
1 Khí cụ sắc thuốc: tốt nhất là dùng siêu đất, bởi vì ít gây ra biến tính hoá học
2 Lượng nước dùng để sắc thuốc: căn cứ vào thể tích của dược vật được sử dụng mà định,
nhất thiết lần sắc đầu chừng 2 bát ăn cơm, lần thứ 2 độ 1 bát, nhưng cũng cần xem dược vật nhiều ít, thể tích dược to nhỏ (như Cúc hoa, Hạ khô thảo, có thể tích lớn thì cần dùng lượng nước nhiều), và tình huống hút nước của dược vật (như Phục linh, Sơn dược… dễ hút nước thì cần dùng lượng nước nhiều), để ước lượng mà tăng giảm
3 Sự cố cần chú ý khi sắc thuốc:
- Trước khi đem sắc thuốc, nên lấy nước sạch ngâm thuốc cho ngấm đều nước một lúc làm cho cả trong ngoài vị thuốc đều ẩm ướt, để tiện cho thành phần có hiệu dễ sắc ra
- Thuốc phát tán mùi thơm, đun sôi năm ba dạo thì mới cho vào Nếu trong cả thang thuốc chỉ
có một hai vị thuộc loại này có thể cho vào sau (hậu hạ) hoặc cho vào lúc uống (xung phục)
- Thuốc bổ ích nhất thiết đun nhỏ lửa, sắc từ từ
- Các loại thuốc cứng vỏ hoặc hóa thạch nên giã nát trước khi sắc
- Một số loại thuốc có độc tính như: Phụ tử, Ô đầu, Thảo điểu… nhất thiết phải đun trước 60 phút, rồi mới cho các vị thuốc khác vào sắc
- Một số dược vật sau khi bị nóng, thành phần dễ bị phá hoại như: Câu đằng, Đại hoàng… nhất thiết cần hậu hạ, đun sôi năm ba dạo là được
Trang 11- Dược vật quý hiếm cần sắc riêng, sau khi sắc tốt rồi mới hoà vào nước thuốc khác mà uống, các vị thuốc đặc biệt quý trọng mà lại khó sắc như Tê giác, Linh dương giác cần sắc riêng hoặc mài
ra cho vào uống
- Dược vật dẻo dính như Đường phèn, A giao, Mật ong cần làm cho chảy hóa riêng ra, sau khi các vị thuốc khác sắc tốt bỏ bã rồi mới hòa vào trong nước thuốc mà uống Mang tiêu cũng nên xung phục
- Thuốc cây cỏ tươi, phải giã lấy nước cho vào sau mà uống (xung phục)
- Dược vật loại nhân quả như Toan táo nhân, Bá tử nhân, Hạnh nhân, Đào nhân… nên giã nát rồi mới sắc
- Dược vật loại bột nhỏ tất cần có túi mà sắc, các loại hạt dược vật có thể tích nhỏ như Xa tiền
tử, Tô tử, Đình lịch tử, cũng như các loại dược vật có lông như Toàn phúc hoa, Tỳ bà diệp, có thể kích thích hầu họng, cũng phải có túi riêng mà sắc Khi uống cần phải lọc sạch
- Dược vật có thể tích lớn như Ty qua lạc, Công lao diệp, Thanh kiều diệp, trước hết sắc lấy nước bỏ bã, lại lấy nước thuốc đó thay nước lã mà sắc các vị khác Dược vật nhiều bùn cát như Táo tâm thổ cũng có thể sắc trước lấy nước lọc sạch để sắc các vị khác
4 Phương pháp uống thuốc:
Thang tễ trên tập quán nhất thiết mỗi ngày một tễ, sắc 2 lần sau khi trộn đều vào nhau rồi chia
ra mà uống Nhưng như thế đối với bệnh cấp, bệnh nặng, đặc biệt trong chứng của bệnh nhiệt ngoại cảm là không hợp lý, mà có thể mỗi ngày uống hai ba tễ, mỗi một đầu tễ sắc 2 lần rồi trộn đều chia làm 2 lần uống (khoảng cách 3 đến 4 giờ) thời gian uống thuốc nhất thiết là sau bữa ăn 2 - 3 giờ là vừa, nhưng bệnh cấp uống không câu lệ thời gian Thang dược nhất thiết nên uống nóng, thuốc phát biểu càng cần cố gắng uống nóng cho dễ dàng ra mồ hôi Nhưng khi sốt cao, miệng khát thích uống nước mát thì có thể để thuốc nguội bớt mà uống Thuốc khử hàn để trị bệnh chứng hàn tính, khi ở bệnh nhân lại có bệnh chứng phiền thao, sợ nóng là chứng trạng chân hàn giả nhiệt, có thể uống lạnh được Người bệnh nôn mửa uống thuốc có thể chia làm nhiều lần uống đều đều, để tránh đem thuốc mửa ra hết (trẻ
em uống thuốc cũng cần chia nhiều lần) Điều bổ dùng hoàn tễ, cao tễ nhất thiết vào sáng sớm bụng
đói hoặc uống nuốt khi đi ngủ
5 Phụ: quy đổi đơn vị khối lượng:
1 cân (1 cân chợ) 500g 1 đồng cân (16 lạng chế) 3,125g
1 lạng (16 lạng chế) 31,25g 1 phân (16 lạng chế) 0,3125g
Trang 12Chương 2
Giải biểu tễ
Giải biểu tễ còn gọi là phát biểu tễ, đều có sơ tiết lỗ chân lông tuyên thông phế vệ, phát tán ngoại tà, làm cho có công năng tiết mồ hôi, dùng thích hợp với ngoại tà xâm nhập vệ biểu của cơ thể người ta, mà thấy sợ lạnh, phát sốt, đau đầu, tắc mũi, đau xương, rêu lưỡi mỏng, mạch phù của chứng biểu
Giải biểu tễ là lấy dược vật tân, tán, phát biểu làm bộ phận chủ yếu tổ thành Từ chỗ chọn lấy
khí vị của dược vật là tân ôn hay tân lương, có thể chia làm 2 loại lớn là Tân ôn giải biểu và Tân
lương giải biểu
Tân ôn giải biểu tễ là lấy dược vật có khí vị tân ôn làm bộ phận chủ yếu tổ thành Thường dùng:
Khương hoạt, Phòng phong, Kinh giới, Tế tân, Tô diệp, Hương nhu, Thông bạch, Sinh khương Kinh
phòng bại độc tán là phương tễ đại biểu thường dùng của Tân ôn giải biểu tễ, tác dụng của nó là lấy
khí vị cay ấm của thuốc phát biểu để phát tán phong hàn, khai thông lỗ chân lông, mà đạt đến mục
đích là giải trừ biểu chứng, thường dùng ở phong hàn ngoại cảm thúc vào phế vệ của biểu hàn chứng Tân lương giải biểu tễ là lấy khí vị cay mát của dược vật phát biểu làm bộ phận chủ yếu tổ
thành Thường chọn dùng: Đậu khấu, Ngưu bàng tử, Cát căn, Bạc hà, Phù bình, Tang diệp… Ngân
kiều tán là phương tễ đại biểu thường dùng của Tân ôn giải biểu tễ, tác dụng chủ yếu của nó là lấy
khí vị cay mát của thuốc giải biểu để tán phong, thanh nhiệt, sơ tiết lỗ chân lông, thường dùng cho phong nhiệt ở phế vệ của biểu nhiệt chứng
Vì thế phân biệt chủ yếu của Tân ôn giải biểu và Tân lương giải biểu là ở chỗ chọn dùng dược vật phát biểu có khí vị cay mát hay cay ấm Lại nó về phía tác dụng giải biểu thì cái trước là ôn để tán hàn, tác dụng phát hãn rất lớn mà tác dụng thanh nhiệt rất yếu; cái sau là tác dụng phát hãn rất yếu mà tác dụng thanh nhiệt lại rất mạnh ở trên các sách vở Y học phương Đông đối với Tân ôn và Tân lương thì phân biệt rất khắt khe, cho rằng bệnh do phong hàn tất dùng Tân ôn, do phong nhiệt tất dùng tân lương Nhưng thực tiễn lâm sàng phần lớn trong mấy năm gần đây có nhiều trường hợp cùng dùng Tân ôn và Tân lương mà dùng được kết quả chạy chữa rất mãn ý Nếu chữa bệnh cảm thời
khí (lưu cảm) và cảm nhiễm đường hô hấp trên thời thường dùng Khương bàng bồ bạc thang cũng
là lấy cái cay ấm của Khương hoạt và cay mát của Ngưu bàng, Bạc hà cùng dùng để phát tán ngoại
tà, giải trừ biểu chứng
Dược vật phối ngũ thường dùng trong giải biểu tễ có các loại dược vật tuyên phế, thanh nhiệt, hóa thấp đã thích ứng với các loại ngoại cảm nhiệt bệnh khi mới dấy lên, biểu hiện khác nhau của biểu chứng
Dược vật tuyên phế thường dùng trong giải biểu tễ là Ma hoàng, Hạnh nhân, Tiền hồ, Cát cánh… Tác dụng chủ yếu của nó là tuyên thông phế khí, sau khi phối ngũ với giải biểu dược có tác
Trang 13dụng tăng cường khai phát lỗ chân lông, đuổi tà ra ngoài, ví như Kinh phòng bại độc tán, Ngân
kiều tán trong phương đó có sử dụng Cát cánh cũng là phương pháp phối ngũ kiểu này
Dược vật thanh nhiệt giải độc thường dùng trong giải biểu tễ là Ngân hoa, Liên kiều, Bản lam
căn, Bồ công anh, đó là phương pháp phối ngũ chủ yếu của tân lương giải biểu tễ Ví dụ như Ngân
kiều tán thanh nhiệt giải độc là Ngân hoa, Liên kiều cùng phối ngũ với giải biểu dược là Đậu khấu,
Ngưu bàng, Kinh giới, Bạc hà mà thành, là phương tễ điển hình của giải biểu thanh nhiệt
Dược vật hóa thấp thường dùng trong giải biểu tễ là Hậu phác, Hoắc hương…nó dùng thích hợp
ở ngoại cảm biểu chứng mà kiêm có chứng hậu thấp trọc vướng ở trong (như ngực buồn bằn, ngại mệt, rêu lưỡi dầy trơn) làm cho thấp dược hóa ở trong mà biểu tà dễ giải từ ngoài, như mùa hạ, thu
thường dùng Hương nhu ẩm lấy cái khổ ôn táo thấp của Hậu phác và cái khử thử giải biểu của
Hương nhu cùng phối ngũ cũng là một cách trong phối ngũ này
Phương pháp sắc của phương tễ giải biểu nhất thiết lấy nguyên tắc là ngâm nhiều sắc ít Đó là vì dược vật giải biểu lại hay dùng phẩm chất thơm tho, nhẹ, trong, sạch (phương hương khinh thanh) nếu đun nấu quá lâu dễ bay hơi mất hiệu Có một số dược vật như Bạc hà lại phải cho vào sau (tức là sau khi đun sôi mới lại cho dược vật vào sắc sôi năm ba dạo là được) Khi uống giải biểu tễ, cần uống nóng, kèm thêm thường uống nước sôi, lấy chớm ra mồ hôi làm mức
- Công dụng: Tuyên thông vệ khí, thấu phát biểu tà, phát tán phong hàn, phát hãn thoái nhiệt
- Chứng thích hợp: Thương phong, cảm mạo biểu chứng mới dấy lên có các chứng: sợ gió, phát sốt không có mồ hôi, đau đầu nhức xương, ho hắng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù
- Giải nghĩa của phương: Thông bạch tân ôn có tác dụng thông dương phát tán, Đậu kỹ phát hãn thấu biểu, trừ phiền thoái nhiệt Phương này có tính chất êm dịu (bình hòa) ở trên lâm sàng thường dùng phối ngũ với các dược vật giải biểu thanh nhiệt tuyên phế, hóa thấp khác, ứng dụng với thời kỳ
đầu của ngoại cảm nhiệt bệnh
- Cách gia giảm thường dùng: Sợ gió không có mồ hôi, đau đầu, nhức xương là biểu chứng đã rõ ràng thường phối ngũ với các dược vật giải biểu là: Khương hoạt, Kinh giới, Phòng phong, Bạc hà để tăng tác dụng thấu biểu đạt tà Có phát sốt, đắng miệng, đau họng, sưng Amidan chất lưỡi thiên về hồng hoặc chất lưỡi vàng là chứng hậu của lý nhiệt rất rõ ràng, thì thường phối ngũ với các dược vật thanh nhiệt giải độc như: Sơn chi, Hoàng cầm, Ngân hoa, Liên kiều, Bản lam căn, Bồ công anh mà thành phép thanh nhiệt giải biểu
Trang 14Có ho hắng, đờm khạc ra không dễ dàng, mất tiếng là chứng trạng phế khí bất tuyên đã rõ ràng, thường phối ngũ với các dược vật như: Ngưu bàng, Tiền hồ, Thuyền y, Bạc hà, Cát cánh, Tương bối, Hạnh nhân để tuyên thông phế khí, có giúp vào khu tán biểu tà
Có buồn bằn trong ngực, mỏi mệt chướng bụng, miệng nhạt, miệng dẻo dính, rêu lưỡi dầy trơn
là chứng hậu thấp trọc vướng ở trong rất rõ thường phối ngũ với các dược vật hóa thấp Lợi thấp như: Hoắc hương, Sa nhân, Khấu nhân, Dĩ nhân, Hoạt thạch, Phục linh, Trần bì, Bán hạ, Chỉ sác, Hậu phác mà thành cách khử thấp giải biểu
- Phụ phương:
+ Thông đầu nhũ: dùng thông bạch đầu (liền cả rễ chùm) từ 3-5 nhánh, một ít sữa người,
chưng cách thuỷ, dân gian thường dùng cho trẻ sơ sinh cảm mạo phát sốt
+ Thông khương hồng đường thang: Thông bạch đầu (liền cả rễ chùm) từ 3-7 nhánh, Sinh
khương (bỏ vỏ) từ 3-5 nhát, sắc đậm sau cho thêm đường đổ vừa mức, uống lúc nóng cho ra mồ hôi, dân gian thường dùng ở các chứng cảm mạo bị lạnh mà đau bụng
Kinh phòng bại độc tán
“Nhiếp sinh chúng diệu phương”
- Tổ thành:
Khương hoạt 3-5 đc Xuyên khung 2 đc
- Công dụng: Phát tán phong hàn, thoái nhiệt chỉ thống, chữa cảm cúm, ngoại cảm thời khí, cảm mạo, chứng biểu hàn thời kỳ đầu
- Chứng thích hợp: cảm thời khí, chứng cảm mạo, chứng biểu hàn thời kỳ đầu của ngoại cảm nhiệt bệnh có các chứng: sợ lạnh phát sốt, đau đầu dữ dội, bắp thịt buốt đau, không có mồ hôi, tắc mũi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù sác, ngoài ra đối với đau buốt các khớp, mụn nhọt mới tấy mà
có chứng biểu hàn cũng thường dùng phương này
- Giải nghĩa của phương: Phương này lấy tân ôn giải biểu, phát tán phong hàn của Khương hoạt, Kinh giới, Phòng phong phối ngũ với cái ôn thông kinh lạc của Độc hoạt và hoạt huyết khử phong của Xuyên khung cho nên có thể giải trừ được ngoại cảm đau đầu dữ dội và các chứng khớp đau, cơ bắp đau buốt, đồng thời phương này lại lấy giải cơ thanh nhiệt của Sài hồ, sơ tán phong nhiệt của Bạc
hà cùng phối ngũ với Khương hoạt, Kinh giới, Phòng phong cho nên đều có tác dụng giải biểu thoái
Trang 15nhiệt rất mạnh Trong phương trên lại có Tiền hồ, Cát cánh để thanh tuyên phế khí, Chỉ sác để khoan trung lý khí, Phục linh để lợi thấp Cho nên phương này có tác dụng tuyên phế thư trung lợi thấp
- Cách gia giảm thường dùng: Nhất thiết biểu hàn chứng đều có thể dùng toàn phương, không cần phải làm việc gia giảm, hoặc chỉ dùng Khương hoạt, Độc hoạt, Phòng phong, Kinh giới lại thêm Tô diệp, Ngũ vị tổ thành tân ôn giải biểu tễ (phương đó lưu truyền ở vùng Thượng hải thành phương kinh nghiệm trong các điểm trung dược tên là thang Ngũ hổ), cũng có hiệu quả nhất định Tuy là ngoại cảm biểu hàn chứng mà ở các khớp đốt, cơ bắp sự buốt đau không rõ ràng có thể bỏ Độc hoạt, nếu có buồn bặt trong ngực mệt mỏi có thể bỏ Cam thảo, thêm vào nước gừng và Trúc nhự sao Nếu chứng trạng biểu rõ ràng (sợ lạnh, phát sốt, đau đầu không có mồ hôi) rõ ràng, mà là chứng hậu lý
nhiệt như đau họng, amidan sưng đau, đầu lưỡi hồng, họng khô, cũng rất rõ ràng hơn gọi là “hàn
bao hỏa”, có thể bỏ Độc hoạt, Xuyên khung, thêm Ngân hoa, Liên kiều, Ngưu bàng, Bản lam căn là
những dược vật thanh nhiệt để giải biểu thanh lý Nếu cảm mạo sốt cao, sợ nhảy, vật vã, khi ứng dụng phương này có thể thêm Thuyền y, Câu đằng, Châu sa điều hòa với Đăng tâm
Hương nhu ẩm
(Phụ: Hoàng liên Hương nhu ẩm)
“Hoà tễ cục phương”
- Công dụng: Phát hãn, giải biểu, khử thử, hóa thấp, hòa trung
- Chủ trị: Phương này dùng ở tiết quí hạ thu, dùng hợp với chứng phong hàn khách ở biểu, thử thấp vướng trở ở lý của các loại bệnh tật như chứng cảm mạo của tiết quí hạ thu và vị trường viêm, phong hàn khách ở biểu, có thể thấy: sợ gió, phát sốt, đau đầu, không có mồ hôi, mạch phù của biểu chứng Thử thấp ở lý có thể thấy: tức buồn bằn trong ngực, ngại mệt, quá lắm thì nôn mửa, đau bụng
ỉa chảy, rêu lưỡi trắng trơn, là chứng trạng của thấp trọc vướng trong
- Giảng nghĩa của phương: Khí vị cay ấm của Hương nhu có tác dụng phát hãn giải biểu rất mạnh, đồng thời kiêm có thể lợi thấp, khử thử làm cho thành thuốc giải biểu thường dùng ngày nay
đối với chứng thử thấp, Hương nhu và cái khổ ôn táo thấp của Hậu phác và kiện tỳ hòa trung của Bạch biển đậu, sau khi đã phối hợp với nhau sẽ làm cho phương này không còn là một giải biểu tễ
đơn thuần, mà lại còn có tác dụng hóa thấp trệ, hòa trường vị, cho nên khi chữa trường vị viêm, lỵ amíp cũng như bệnh cảm nhiễm đường tiêu hóa ở tiết quí hạ, thu cũng thường lấy phương này làm cơ
sở rồi tiến hành gia giảm
Trang 16- Cách gia giảm thường dùng: Khi ở ngoài có biểu tà lý thấp hóa nhiệt, chứng thấy sốt cao, miệng khát, rêu lưỡi trắng dầy hoặc rêu lưỡi tuy có trắng trơn mà ven đầu lưỡi hồng tươi, có thể bỏ
Bạch biển đậu, gia Hoàng liên (tức bài Hoàng liên hương nhu ẩm) Khi ngực buồn bằn, bụng
trướng, bụng đau rất rõ rệt có thể gia Mộc hương, Sa nhân, Hoắc hương, Chỉ sác Khi thấy thấp trệ rất nặng mà có bụng đau, ỉa chảy, lý cấp hậu trọng có thể gia Mộc hương, Binh lang, Hoàng cầm, Hoàng liên
- Phụ phương: Hoàng liên Hương nhu ẩm tức Hương nhu ẩm bỏ Bạch biển đậu gia Hoàng
liên (nguyên phương có Bạch biển đậu nhưng lâm sàng thường bỏ đi không dùng) phạm vi thích ứng của phương này là ngoài có biểu hàn, trong có thấp nhiệt, cho nên lấy Hậu phác, Hoàng liên cùng
phối ngũ để thanh nhiệt hoá thấp, so với Hương nhu ẩm là hóa thấp hòa trung cũng có chỗ không
giống nhau Hậu phác, Hoàng liên là vị thuốc chủ yếu để thanh hóa vị trường thấp nhiệt (thực nghiệm ghi nhận nó có tác dụng kháng khuẩn rộng khắp) khi đường tiêu hóa có cảm nhiễm mà thấy chứng Hậu thấp nhiệt thường dùng phương này
- Công dụng: Tân lương, thấu biểu, thanh nhiệt giải độc
- Chủ trị: Ngoại cảm bệnh mới dấy lên, xuất hiện các chứng phát sốt, sợ lạnh, không có mồ hôi,
đau đầu, ho hắng, họng đau, rêu lưỡi mỏng trắng, hoặc ven đầu lưỡi hơi hồng, mạch phù sác Hiện nay trên lâm sàng đối với chứng phát sốt do ngoại cảm sinh ra, thường trước hết lấy phương này tiến hành gia giảm mà sử dụng, trong đó cảm nhiễm đường hô hấp trên dùng rất tốt
- Giải nghĩa của phương: Phương này thường dùng trên lâm sàng là phương tễ đại biểu của tân
ôn giải biểu Trong phương lấy Đậu kỹ, Ngưu bàng tử, Kinh giới, Bạc hà để giải biểu phát hãn đuổi
tà ra ngoài; Ngưu bàng tử, Cát cánh, Sinh cam thảo tuyên thông phế khí mà lợi hầu họng, lấy để trị chứng ho hắng, đau họng Ngân hoa, Liên kiều, Trúc diệp thanh nhiệt tuyên phế mà giải nhiệt độc, Lô căn sinh tân chỉ khát mà trừ vị nhiệt, do đặc điểm của phương này là tân lương thấu phát đối với ngoại cảm nhiệt bệnh mới dấy lên từ phế vệ đều có thể dùng thích hợp
Trang 17- Cách gia giảm thường dùng: Biểu chứng rõ ràng không có mồ hôi, sợ lạnh mà nóng dữ dội có thể gia vào Khương hoạt, Tây hà liễu để tăng tác dụng thấu biểu đạt tà Ra mồ hôi mà sốt không giải
có thể bỏ Kinh giới, Bạc hà, thêm Hoàng cầm, Thanh cao Phế khí không tuyên mà ho hắng dữ dội gia Tiền hồ, Hạnh nhân, Tượng bối để thanh tuyên phế khí Sởi mới bước đầu có thể gia Phù bình, Thuyền y để thấu chẩn đạt tà Hầu họng sưng đau nghiêm trọng gia Xạ can, Mã bột, Quải kim đăng, Bản lam căn để giải độc lợi họng Thấp vướng ở trung tiêu mà thấy ngực buồn bằn hay buồn nôn mửa, có thể bớt đi Lô căn, Cam thảo gia Hậu phác, Hoắc hương, Chỉ sác để hóa thấp thư trung Nếu phế vị nhiệt thịnh mà thấy chảy máu mũi, khạc ra máu thì thường gia Mao căn, Hoàng cầm, Sơn chi
để lương huyết thanh nhiệt Nhiệt bức tân dịch mà thấy miệng khát họng khô táo có thể gia Thiên hoa phấn để sinh tân chỉ khát Ăn trệ vướng ở trong mà thấy bụng trướng, miệng hôi, ỉa chảy hoặc táo bón có thể thêm vào Chỉ thực, Lục khúc, Sơn tra, Mạch nha để tiêu thực đạo trệ
- Cách dùng: Thang tễ sắc nước uống ngày một thang chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế
- Chủ trị: Thương phong, cảm mạo bước đầu, hơi có sợ gió, phát sốt, đau đầu, tắc mũi, ho hắng, rêu lưỡi mỏng, mạch phù
- Giải nghĩa của phương: phối ngũ của phương này gần giống Ngân kiều tán, đều là phương tễ
lấy tân lương giải biểu cùng phối ngũ với thuốc thanh nhiệt Thường dùng để kiêm thanh tuyên phế khí và tuyên tán tà ở phế vệ nhưng do giải biểu được dùng trong phương này rất ít, chưa dùng Kinh giới, Đậu kỹ mà dùng Tang diệp, Bạc hà, cho nên chỉ có thể sơ tán được tà là phong nhiệt rất nhẹ, tác dụng phát hãn giải biểu so với Ngân kiều tán thì kém xa Trong các vị thuốc thanh nhiệt cũng lại dùng Liên kiều mà không dùng Ngân hoa tác dụng thanh nhiệt đó cũng rất yếu, nhưng ở trong thuốc tuyên phế lấy Cát cánh, Sinh cam thảo, và Hạnh nhân cùng phối ngũ thì tác dụng tuyên phế so với Ngân kiều tán là tốt hơn Do đó, phương này là tễ của tân lương giải biểu, thường dùng ở ngoại cảm phong nhiệt bước đầu, sợ lạnh, phát sốt của biểu chứng rất nhẹ mà ho hắng, tắc mũi và chứng trạng của phế khí không tuyên rất rõ ràng
- Cách gia giảm của phương: Ho hắng rất rõ ràng mà kèm có người lạnh nghịch có thể thêm Tiền hồ, Tô tử, Tượng bối, Ngưu bàng tử để thêm mạnh tác dụng tuyên phế giáng nghịch Ho hắng nhiều đờm, rêu lưỡi trắng trơn, có thể gia vào Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Chỉ sác để tuyên hóa thấp
đàm Ho hắng nhiều đờm màu vàng, rêu lưỡi thấy vàng hoặc chất lưỡi biến hồng, có thể thêm Hoàng
Trang 18cầm, Đông qua tử, Tang bạch bì, Trúc lịch, Bán hạ để thanh nhiệt hóa đàm Sợ lạnh phát sốt của biểu chứng tuy không rõ ràng mà đầu đau dữ dội là phong nhiệt nhiễu lên, có thể thêm vào Bạch tật lê, Mạn kinh tử, để sơ tán phong nhiệt mà thanh đầu mặt Ngoài ra khi ngoại cảm nhiệt bệnh sau lúc
uống Ngân kiều tán nhiệt lui chưa mất, có thể đổi dùng phương này để thanh lý dư tà
Sμi cát giải cơ thang
- Cách dùng: Ngày dùng 1 tễ sắc uống chia làm 2 lần
- Công dụng: Giải cơ thanh nhiệt
- Chủ trị: Ngoại cảm phát sốt, biểu chứng chưa giải mà lý nhiệt tích thịnh Chứng sợ lạnh, sốt cao, không có mồ hôi, đau đầu, nhức xương, mũi khô, môi khan, miệng đắng, vật vã không yên, rêu lưỡi trắng mà xác như bột gạo, chất lưỡi hơi hồng, mạch hoạt sác
- Giảng nghĩa của phương: Phương này lấy cái tân lương thanh nhiệt của Cát căn, Sài hồ và cái tân ôn phát biểu của Khương hoạt để thấu phát biểu tà mà trừ nhức xương khắp người, phối ngũ với cái cay thơm tấu tán của Bạch chỉ có thể trừ được đau đầu dữ dội và gáy lưng co cứng Hoàng cầm, Thạch cao thanh nhiệt của phế vị, Thược dược lương huyết thanh nhiệt, Cam thảo, Cát cánh tuyên phế lợi họng Do đó, phương này trên thực tế là thuộc loại phương tễ biểu lý song giải, dùng thích hợp với biểu chứng nghiêm trọng mà lý nhiệt lại tích thịnh
- Cách gia giảm thường dùng: Khi nhiệt thịnh thương tân mà thấy rêu lưỡi khô khan, có thể thêm Thiên hoa phấn, Tri mẫu để thanh tân dưỡng vị Hiệp với nhiệt đi ỉa dễ có thể bỏ Thạch cao thêm Hoàng liên Sợ lạnh không rõ rệt mà lý nhiệt tích thịnh, chất lưỡi thiên về hồng, có thể bỏ Khương hoạt, Bạch chỉ, gia Ngân hoa, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc
Trang 19- Công dụng: Giải biểu, thanh nhiệt, giải độc
- Chủ trị: Ngoại cảm phát nhiệt như cảm thời khí, cảm nhiễm đường hô hấp trên, viêm amidan, viêm quai bị
- Giảng nghĩa của phương: Đặc điểm phối ngũ của phương này là cùng dùng tân ôn và tân lương, có tác dụng phát tán ngoại tà rất mạnh Bồ công anh thanh nhiệt giải độc và Ngưu bàng tử thanh tuyên phế khí sau khi cùng phối ngũ lại có tác dụng tuyên phế thanh nhiệt Do đó, phương này thường dùng ở cảm mạo thời khí, cảm nhiễm đường hô hấp trên Đối với cảm nhiếm đường tiêu hóa hoặc có thấy trệ trở ở trong để cho phù hợp phải thêm vào các thứ thuốc hóa thấp đạo trệ, hòa vị
- Cách gia giảm thường dùng: Khi ho hắng thuộc phế khí bất tuyên rõ ràng, có thể thêm Cát cánh, Hạnh nhân, Tiền hồ Hầu họng sưng đau nghiêm trọng có thể thêm Bản lam căn, Xạ can, Mã bột Buồn bằn ở ngực, dạ dày ậm ạch, uể oải, rêu lưỡi dày trơn do thấp nhiệt vướng ở trong, có thể gia Hậu phác, Bán hạ, Chỉ sác, Lục khúc
Thuốc trên chế thành phiến tễ, mỗi bình 18 miếng
- Cách dùng: Ngày uống 3 lần, mỗi lần 6 miếng, uống với nước sôi
- Cộng dụng: Tân lương giải biểu, thanh nhiệt tuyên phế
- Chủ trị: Thương phong cảm mạo
2 Ngân kiều giải độc hoàn:
- Tổ thành: Kim ngân hoa, Liên kiều, Cam thảo, Kinh giới, Cát cánh, Đạm đậu xị, Bạc hà, Ngưu bàng tử, Đạm trúc diệp (Một phương có Bản lam căn mà không có Ngưu bàng tử)
Thuốc trên chế thành hoàn tễ, mỗi viên 3 đồng cân Hiện nay thành phiến tễ tên là “Ngân kiều
giải độc phiến”, mỗi bao 16 miếng
- Cách dùng: Hoàn tễ mỗi lần uống 1 viên, ngày 2-4 lần Phiến tễ mỗi lần uống 4 miếng, ngày uống 2-4 lần
- Công dụng: Tân lương giải biểu, thanh nhiệt tuyên phế
- Chủ trị: Cảm mạo có sốt
3 Ngọ thời trà:
- Tổ thành: Mao truật, Bạch chỉ, Tiền hồ, Lục khúc, Can khương, Trần bì, Chỉ thực, Phòng phong, Xuyên khung, Tử tô, Sài hồ, Thổ hoắc hương, Sơn tra, Hậu phác, Hồng trà diệp, Liên kiều, Khương hoạt, Cát cánh, Cam thảo
Thuốc trên chế thành khoái (cục) tễ, mỗi bao 2 cục, cũng có thể chế thành tán tễ, gói vào bọc
Trang 20- Cách dùng: Ngày uống 1-2 cục (nửa gói đến một gói), cho vào túi vải sắc uống
- Công dụng: Phát tán phong hàn, hóa thấp tiêu đạo
- Chủ trị: Phong hàn cảm mạo, hàn thấp trở trệ, thực tích nội trở
4 Thuốc nước tiêm - Phức phương Sài hồ
- Tổ thành: Bắc Sài hồ, Tế tân
- Cách dùng: Tiêm bắp mỗi lần 1 - 2 lần, người lớn lần đầu 4 ml, sau đó mỗi lần 2 ml, trẻ em mỗi lần 2 ml
- Công dụng: Giải nhiệt thấu biểu
- Chủ trị: Bệnh độc tính cảm mạo và viêm phổi, viêm họng, thuỷ đậu, quai bị dịch
Tiểu kết
1 Chương này có chọn 13 tễ (bao gồm 2 phụ phương cùng 4 thành dược) đều thuộc vào thứ thường dùng trên lâm sàng Bởi là thuộc vào phương tễ đại biểu của các loại đặc điểm phối ngũ cho nên lại có thể dùng lấy cái sự rõ ràng của các tầng thứ phương pháp giải biểu, căn cứ vào sự nặng nhẹ, hoãn cấp của bệnh biểu chứng ở trên lâm sàng linh hoạt vận dụng
2 Giải biểu tễ có thể chia thành 2 loại lớn, từ mặt đó của phương tễ để mà nhìn nhận, phân biệt tân ôn giải biểu và tân lương giải biểu không hạn chế ở tính vị tân ôn hay tân lương của vị thuốc giải biểu mà là từ tổ thành của phương tễ chỉnh chu đó để tiến hành phân tích toàn diện Ví dụ: trong
Kinh phòng bại độc tán do Khương hoạt và Độc hoạt cùng dùng, lực lượng tân ôn phát tán sẽ rất
mạnh, tuy đồng thời đã dùng Sài hồ, Tiền hồ là khổ hàn tiết nhiệt, nhưng vẫn đương nhiên là phương
tễ đại biểu của tân ôn giải biểu Trong Ngân kiều tán tuy lấy Đậu kỹ, Kinh giới có tính ôn làm bộ
phận tổ thành chủ yếu trong giải biểu dược, nhưng do cùng phối với Kim ngân hoa, Liên kiều, là
dược vật khổ hàn thanh nhiệt sẽ thành phương tễ đại biểu của tân lương giải biểu Lại như Khương
bàng bồ bạc thang tuy đã dùng tân ôn của Khương hoạt nhưng từ sự tổ thành của một phương tễ
chỉnh chu mà phân tích vẫn là thuộc phạm trù tân lương giải biểu
3 Khi sử dụng giải biểu tễ ở lâm sàng, trừ khi để căn cứ ở biểu hàn biểu nhiệt của triệu chứng lâm sàng của người bệnh mà tuyển lựa tân ôn giải biểu hoặc tân lương giải biểu ra, nhất thiết thường căn cứ vào biểu chứng nặng hay nhẹ của người bệnh, có hay không có mồ hôi để chọn lấy dược vật giải biểu cho thích đáng Ví dụ khi có triệu chứng thương phong như cảm mạo, lại thấy đau đầu, sợ gió, tắc mũi, ho hắng là biểu chứng còn nhẹ, thường dùng dược vật giải biểu rất nhẹ như Kinh giới, Phòng phong, Tang diệp, Cúc hoa, Tân di, Thông bạch, Đậu kỹ Khi người bệnh có biến chứng rõ rệt mười mươi, thấy có sợ gió dữ dội, kèm theo không có mồ hôi, sốt cao, đau đầu, các khớp đốt và bắp thịt đau buốt thường chọn dùng giải biểu dược có tác dụng phát biểu rất mạnh như Khương hoạt, Tử tô, Cát căn, Hương nhu, Tây hà liễu, Phù bình, Bạc hà Phát sốt ra mồ hôi không giải thì trọng điểm của cách chữa là thanh nhiệt, mà không phải là giải biểu Có lúc tuy cũng có một ít thuốc giải biểu,
Trang 21nhưng nói chung là chọn lấy dược vật mà lực lượng phát biểu rất yếu như Thanh thuỷ, Đậu quyển, Tang diệp Phát sốt mà mồ hôi không giải mà lại sợ rét, thường là một chứng của biểu tà chưa giải, trừ việc đã chọn dùng giải biểu dược có sức phát biểu rất yếu ra, lại thường chọn dùng dược vật trong thuốc thanh nhiệt kiêm có tác dụng thấu phát như Sài hồ, Thanh cao để phối ngũ sử dụng (chứng này cần phân biệt với khí hư biểu vệ bất cố tự ra mồ hôi)
4 ở trong tễ giải biểu tân ôn và tân lương, lại cần có tư âm (dưỡng huyết) giải biểu, trợ dương (ích khí) giải biểu, hóa ẩm giải biểu, thấu chẩn giải biểu, là những biến pháp
- Gọi là tư âm giải biểu (dưỡng huyết) trên thực tế là sử dụng Đậu kỹ, Cát căn, Tô diệp, Thông bạch, Bạc hà là dược vật giải biểu đồng thời lấy dược vật dưỡng âm tăng dịch như Ngọc trúc, Địa hoàng, Mạch môn cùng phối ngũ Dùng thích hợp ở nguồn gốc có bệnh mất máu, thoát dịch, lại mới cảm ngoại tà mà xuất hiện biểu chứng Nguyên lý chủ yếu là: mồ hôi là ở chỗ tân và huyết hóa ra, khí huyết hư, dịch khô tất nhiên là nguồn mồ hôi không đủ, cho nên cần phải dùng dưỡng âm tăng dịch mới có thể thêm vào cái nguồn của mồ hôi để mà làm cho cái tà theo mồ hôi ra ngoài
- Gọi là trợ dương (ích khí) giải biểu trên thực tế là lấy dược vật trợ dương ích khí như Phụ tử,
Đảng sâm, Hoàng kỳ cùng phối ngũ với dược vật giải biểu là Khương hoạt, Tế tân, dùng thích hợp với người bệnh có cái gốc là dương khí hư nhược, tuy nhiên cảm thụ ngoại tà nhưng cũng đã trình hiện ra mặt nhợt nhạt (thần yếu đuối) chi lạnh, mạch tế nhược, lưỡi nhợt, béo, là những chứng hậu hư hàn Nguyên lý chủ yếu là: do dương khí bất túc, không thể ngăn cản ngoại tà, cho nên lấy trợ dương ích khí cùng dùng với phát hãn giải biểu, dương khí trong cơ thể được đầy đủ mới có thể đuổi tà ra ngoài được, mồ hôi ra mà giải
- Đến hóa ẩm giải biểu tác dụng trên thực tế là ôn phế hóa ẩm, thuộc về loại giáng nghịch bình xuyễn
- Thấu chẩn giải biểu chủ yếu là chọn dùng dược vật có tác dụng phát biểu rất mạnh trong tân
ôn giải biểu dược như: Bạc hà diệp, Phù bình, Cát căn, hoặc lại lấy Thăng ma là dược vật thăng tán
để cùng phối ngũ, thường dùng ở bệnh sởi mọc không tốt, có thể qui vào loại tân lương giải biểu Mấy loại biến pháp kể trên, cơ hội thường dùng trên lâm sàng không nhiều, cho nên không giới thiệu làm chuyên phương
5 Ma hoàng thang và Quế chi thang người xưa cho là tễ đại biểu của tân ôn giải biểu Cái
trước dùng ở phát sốt sợ rét, không có mồ hôi, cái sau dùng ở phát sốt, sợ gió, có mồ hôi Nhưng dựa vào những điều nắm được trong thực tiễn lâm sàng trước mắt thì: Tác dụng giải biểu của nó là phát hãn, thoát nhiệt không được rõ rệt như công hiệu bình xuyễn tuyên phế của nó Cho nên thường dùng
ở chứng xuyễn khái (ho hen), rất ít tác dụng giải biểu Nguồn gốc ý chế phương của Quế chi thang
là điều hòa Vinh vệ, mà không phải là ở giải biểu, do đó chương này chưa tiện kê vào
Trang 22Chương 3
Thanh nhiệt tễ
Thanh nhiệt tễ là dùng dược vật có tính vị hàn lương làm bộ phận chủ yếu tổ thành để thanh tiết
tà nhiệt Chúng đều có công năng thanh nhiệt, tả hỏa, lương huyết, giải độc, ở trong bát pháp nó
thuộc “Thanh pháp”
Thanh nhiệt tễ chủ yếu dùng ở ký nhiệt chứng, như trong quá trình bệnh nhiệt ngoại cảm mà xuất hiện sốt cao hoặc có mồ hôi mà không giải, vật vã, thần chí lơ mơ, phát ban, xuất huyết, là nhiệt nhập huyết phận, và chứng nhiệt nhập doanh huyết Đinh sang, mụn nhọt là cảm nhiễm bì phu, và là tẩu hoàng mà dẫn đến chứng bại huyết, huyết nhiệt vọng hành đã dẫn đến các loại xuất huyết, rắn
độc cắn mà thương, các loại sưng độc, nhiệt độc không có tên Can hoả vị nhiệt là tạng phủ lý nhiệt, trong điều kiện nhất định, cũng có thể dùng ở bệnh kết hạch mãn tính, cảm nhiễm dẫn đến hư nhiệt
Do phạm vi ứng dụng của thanh nhiệt tễ rất rộng, phương thuốc rất nhiều, chương này xuất phát
từ thực tế lâm sàng, cho rằng cần phân thanh nhiệt thành 6 loại: Thanh khí nhiệt, Thanh huyết nhiệt, Tả hỏa giải độc, Thanh tạng phủ nhiệt, Thanh hư nhiệt để tiện tuyển chọn vận dụng
1 Thanh khí nhiệt:
Đặc diểm chủ yếu của phương tễ thanh khí nhiệt là lấy các dược vật có khí vị tân hàn, khổ hàn như: Thạch cao, Chi tử, Liên kiều, Hoàng cầm, làm bộ phận chủ yếu tổ thành, mà phương pháp phối ngũ thì căn cứ vào phát triển của bệnh tình mà có chỗ biến hóa Phương pháp phối ngũ thường dùng trong đó là:
1.1 Với dược vật thanh nhiệt mà có tác dụng tuyên thấu như: Chi tử, Hoàng cầm, Đậu kỹ, Ngưu bàng tử, Thạch cao, Cát căn phối ngũ gọi là thanh khí tuyên thấu pháp Dùng thích hợp với bệnh tà của ngoại cảm nhiệt bệnh Tuy đã từ biểu nhập lý, khí phận có nhiệt mà biểu tà chưa giải hết, vẫn có nhè nhẹ các chứng sợ gió, sợ lạnh, mồ hôi ra không đỡ hoặc không có mồ hôi Phương tễ thường
dùng có Chi tử kỹ thang, Cát căn cầm liên thang, Cao cầm thanh đảm thang
Chi tử kỹ thang là lấy cái khổ hàn tiết nhiệt của Chi tử phối hợp với cái thoái nhiệt tuyên thấu
của Đậu kỹ Cát căn cầm liên thang là lấy cái thanh nhiệt táo thấp của Cầm, Liên cùng phối hợp với cái thấu nhiệt giải cơ của Cát căn Cao cầm thanh đảm thang là lấy cái thanh nhiệt táo thấp của
Hoàng cầm cùng phối ngũ với cái phương hương đạt tà của Thanh cao
1.2 Với dược vật thanh nhiệt mà có tác dụng sinh tân giúp nhau phối ngũ như: Tri mẫu, Thạch cao cùng dùng gọi là thanh nhiệt bảo tân pháp Dùng thích hợp ở khí phần đại nhiệt, chứng thấy sốt
mạnh mẽ, phiền khát, nhiều mồ hôi, mạch đại, cũng là “Dương minh kinh chứng” trong “Thương hàn
luận” Phương tễ thường dùng là Thạch cao tri mẫu thang (ngày xưa tên là Bạch hổ thang)
1.3 Với dược vật tuyên phế như Ma hoàng, Hạnh nhân phối ngũ thường gọi là thanh nhiệt tuyên phế pháp Dùng thích hợp ở chứng nhiệt thịnh mà đàm nhiệt vây cản ở phế, phế khí bế tắc, mà thấy
Trang 23chứng trạng ho hắng xuyễn cấp Phương tễ thường dùng là Ma hạnh thạch cam thang, Ngân vĩ
hợp tễ, (phương kinh nghiệm của Thượng hải thự quang y viện) Cái trước là lấy tân hàn thanh khí
của Thạch cao với cái khai phát phế khí của Ma hoàng, Hạnh nhân cùng phối ngũ Cái sau là lấy thanh nhiệt giải độc của Ngân hoa, Liên kiều, Ngư tinh thảo cùng phối ngũ với khai phế khử đàm của Ma hoàng, Hạnh nhân, Lô căn, Đông qua tử (chương này chưa tuyển vào, có thể xem thêm chương 14 - Chỉ khái bình xuyễn và hóa đàm tễ và chương 23 - Trị ung trường tễ)
Do phạm vi của nhiệt chứng ở khí phận rất rộng, biến hóa rất nhiều cho nên khi xử phương tễ thanh khí nhiệt, lại có thể cùng phối ngũ sử dụng với hóa thấp pháp, tả hỏa giải độc pháp, thanh doanh lương huyết pháp, để thích ứng với đặc điểm của các loại nhiệt chứng ở khí phận
2 Thanh thấp pháp:
Phương tễ Thanh thấp nhiệt là lấy khổ hàn táo thấp thanh nhiệt dược (như Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá) với khổ tân vi ôn dược (như: Hậu phác, Bán hạ), thơm tho tuyên hóa dược (như Hoắc hương, Khấu nhân, Xương bồ), đàm thẩm lợi thấp dược (như: Hoạt thạch, Thông thảo) phối hợp tổ thành
Khi lấy dược vật khổ hàn táo thấp thanh nhiệt làm bộ phận chủ yếu tổ thành của phương tễ, tức là
có tác dụng thanh thấp nhiệt, cũng có tác dụng tả hỏa giải độc, dùng thích hợp với thấp nhiệt hóa hỏa,
mà thấy sốt mạnh mẽ, vật vã, khát uống không nhiều, rêu lưỡi vàng sâu, lỵ tật, hoàng đản Phương tễ
thường dùng như: Hoàng liên giải độc thang, Bạch đầu ông thang, Nhân trần cao thang
Lấy dược vật thơm tho tuyên hóa, thấu đàm lợi thấp làm bộ phận chủ yếu tổ thành, dùng thích hợp với thấp nhiệt lưu luyến, nhiệt có khởi phục, trường kỳ không lui, ngực buồn bằn, bụng trướng, mệt mỏi, dạ không linh hoạt, tiểu tiện ngắn đỏ, rêu lưỡi vàng nhạt mà trơn, thường dùng phương tễ
như: Cam lộ tiêu độc đan
Nếu thấp nhiệt trở trệ ở trường vị, thường lấy khổ hàn táo thấp thanh nhiệt dược và dược vật khổ
tân vi ôn cùng phối ngũ, như Liên phác ẩm
3 Thanh huyết nhiệt:
Phương tễ thanh nhiệt đã đem chia thành 2 loại thanh doanh và lương huyết, nhưng trên thực tế
sự phân biệt đó không nhiều Có thể lấy Thanh huyết nhiệt để khái quát lại Phương tễ thanh huyết nhiệt thường lấy dược vật có khí vị cam hàn (như Sinh địa tươi), hàm hàn (như Huyền sâm, Tê giác)
để tổ thành Nếu nhiệt độc tích thịnh mà thấy sốt mạnh mẽ, vật vã, lưỡi dỏ sẫm, thường lấy dược vật hòa giải độc như Ngân hoa, Liên kiều, Hoàng liên, Đại thanh diệp, Bản lam căn, Tử thảo làm phối ngũ Nếu nhiệt nhập tâm doanh mà thấy thần thức không tỉnh, thường lấy dược vật thanh tâm, khai khiếu, khoát đàm như Nõn lá tre non, Thạch xương bồ, Trần đảm tinh, Uất kim làm phối ngũ Nếu thấy huyết phần rất nhiệt mà hao huyết, đọng huyết thường lấy dược vật lương huyết, tán huyết như
Đan bì, Xích thược làm phối ngũ Thanh doanh thang và Tê giác địa hoàng thang đều là lấy hàm
hàn của Tê giác, và cam hàn của Sinh địa tươi để thanh doanh lương huyết làm bộ phận chủ yếu của
tổ thành Mà Thanh doanh thang lấy dược vật khổ hàn là Liên kiều, Hoàng liên phối ngũ để tả hỏa
Trang 24giải độc, cho nên tác dụng thanh nhiệt giải độc rất mạnh Tê giác địa hoàng thang lấy Đan bì, Xích
thược là dược vật lương huyết rất mạnh, là phương tễ đại biểu của lương huyết giải độc
Tử thảo, Bản lam căn, Ngân hoa tổ thành tả hỏa giải độc tễ Phổ tễ tiêu độc ẩm cũng là dùng Hoàng
cầm, Hoàng liên, Bản lam căn, Liên kiều, Thăng ma để tổ thành tả hỏa giải độc tễ
5 Thanh tạng phủ lý nhiệt:
Phương tễ thanh tạng phủ nhiệt là căn cứ đặc điểm của tạng phủ mà lấy các dược vật khác nhau
tổ thành, như Long đởm tả can thang tả hỏa của can đởm, cũng thanh can đởm thấp nhiệt; Tả phế
tán (trước gọi là tả bạch tán) tả hỏa của phế
6 Thanh hư nhiệt
Phương tễ thanh hư nhiệt thường dùng dược vật tư dưỡng thanh nhiệt mà tổ thành (như Miết
giáp, Thanh cao, Địa cốt bì, Ngân sài hồ, Tần cửu) Ví dụ như: Thanh cao miết giáp thang lấy cái
khổ hàn thấu tà của Thanh cao và hàm hàn của Miết giáp để tư âm thanh nhiệt, làm chủ yếu phối ngũ của phương Phương tễ loại này thường dùng thích ứng với thời kỳ cuối của ngoại cảm nhiệt bệnh, hoặc ở trong quá trình bệnh mãn tính (như lao phổi) thấy đến chứng trạng âm dịch bị tổn thương, tà nhiệt lưu luyến ở âm phần, như sốt nhẹ, sốt về chiều, gò má hồng lên, gầy mòn, lưỡi hồng tươi mà ít rêu Khi sử dụng phương tễ loại này, phải chú ý công năng của tỳ vị, nếu thấy ngực bụng trướng tức,
ỉa lỏng, dạ ậm ạch, có thể giảm thiểu tễ lượng hoặc thêm bớt dược vật kiện tỳ, hòa vị thư trung
Chi tử kỹ thang
“Thương hàn luận”
- Tổ thành: Chi tử 2-4 đc
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước chia 2 lần uống
- Công dụng: Thấu tà, tiết nhiệt, trừ phiền, giải uất
- Chủ trị: Chứng ở khí phần của ngoại cảm nhiệt bệnh ở thời kỳ đầu thấy có sốt, ngực buồn bằn,
tâm bứt rứt, rêu lưỡi vàng, hoặc chất lưỡi hồng Trong “Thương hàn luận” thì phương này chữa bệnh
nhiệt ngoại cảm có các chứng: ra mồ hôi nhẹ, nôn mửa, sau khi hạ mà thấy hư phiền, không ngủ
được, trong tim thổn thức
- Giải nghĩa của phương: Phương này lấy cái khổ hàn của Chi tử để tả hỏa, tiết nhiệt trừ phiền, với cái thấu tà giải nhiệt của Đậu kỹ cùng phối ngũ Cho nên đều có tác dụng tán tà ở biều, tiết nhiệt
Trang 25ở lý, trừ phiền ở trung, là phương tễ thanh khí nhiệt thường dùng Nhưng khi ứng dụng cụ thể, thường trên cơ sở phương này thêm vào các dược vật thanh nhiệt giải độc, hóa thấp, lợi thấp, rất ít đơn độc
sử dụng Khi người bệnh ngoại cảm nhiệt nhập doanh huyết, cũng có thể trên cơ sở phương này thêm
các dược vật thanh doanh lương huyết mà tiến hành trị liệu Như Mạc cao phương (xem trửu hậu
phương) chủ yếu do 2 vị Đậu kỹ và Sinh địa tươi tổ thành, cũng là phương tễ của phương này hợp
dùng dược vật lương huyết Cũng có học thuyết ôn bệnh chỗ nói về cách chữa “Nhập doanh , nhiễu
khả thấu nhiệt chuyển khí”
- Cách gia giảm thường dùng: Ngoại cảm nhiệt bệnh, nhiệt tại khí phần, mà biểu tà chưa sạch,
có thể cùng dùng như Ngưu bàng tử và Bạc hà; miệng khô, miệng đắng, chất lưỡi hồng, râu lưỡi vàng
là lý nhiệt rất thịnh, có thể thêm vào Liên kiều, Hoàng cầm Họng đau, mũi chảy máu cam là vị nhiệt rất dữ, có thể thêm vào Ngân hoa, Lô căn Ngực buồn bằn, uể oải, rêu lưỡi trơn là thấp nặng, có thể thêm vào Hậu phác, Bán hạ, Chỉ thực, Phục linh
Cát căn Hoμng cầm Hoμng liên thang
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Giải cơ, thấu biểu, thanh thấp nhiệt
- Chủ trị: Sốt cao, tâm bứt rứt, cấp tính ỉa chảy, phân ỉa ra hôi tanh, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch sác
- Giải nghĩa của phương: Phương này lấy Cát căn làm chủ dược, tá dược có Hoàng cầm, Hoàng liên để thanh nhiệt táo thấp, Cam thảo để hòa trung, cho nên phương này nói chung có thể giải cơ thấu biểu, lại có thể thanh nhiệt chỉ tả, là tễ biểu lý cùng được giải Vốn là tễ chữa bệnh nhiệt tính biểu chứng chưa giải, tà nhiệt nhập lý, nhiệt hợp lại làm cho đi ỉa dễ, hiện nay dùng để chữa các chứng viêm ruột cấp tính, khuẩn kỵ, thân nóng, ỉa chảy (nhiệt tả)
- Cách gia giảm thường dùng: Kiêm thấy nôn mửa thì gia Bán hạ, hiệp có ăn trệ có thể thêm tiêu Sơn tra, Tiêu lục khúc, đau bụng có thể gia Mộc hương
Cao cầm thanh đản thang
Trang 26Bán hạ 2-3 đc Bích ngọc tán (Tức lục nhất tán
thêm Thanh đại)
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, ngày chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Thanh tiết can đởm thấp nhiệt, hòa vị
- Chủ trị: Ngoại cảm thấp nhiệt tà lưu luyến không giải Chứng thấy hơi sợ rét mà phát sốt, có
mồ hôi mà không giải, chiều nhẹ, sáng nặng, đầu nặng, chân tay mỏi, ngực buồn bằn bĩ tức, uể oải, mồm khô hoặc khát không đòi uống nước, nước đái đỏ hoặc đi ỉa, rêu lưỡi trắng trơn, hoặc vàng trơn, mạch nhu sác
- Giải nghĩa của phương: Phương này lấy cái thơm tho của Thanh cao mà thanh nhiệt thấu tà, cùng phối ngũ với khổ hàn tiết nhiệt của Hoàng cầm để thanh giải tiết nhiệt, Trần bì, Bán hạ, Chỉ sác, Trúc nhự thì lý khí giáng nghịch hòa vị, Phục linh, Bạch ngọc cao thì thấu đàm lợi thấp, kiêm để
tiết nhiệt Do đó, nguyên lý phối ngũ của phương này giống như Cam lộ tiêu độc đan, cùng là
phương tễ đại biểu chi thanh nhiệt lợi thấp, điều thư khí cơ, thường dùng ở các bệnh tật thấp nhiệt trở
ở trong của tiết quý hạ thu, sốt mức vừa hoặc sốt nhẹ và một số cảm nhiễm ở hệ thống tiêu hóa mà dẫn đến thấp nhiệt lưu luyến ở khí phần Phương này coi trọng ở thấu tà, Cam lộ tiêu độc đan coi trọng ở hóa thấp, đó là điểm khác nhau của chúng
- Cách gia giảm thường dùng: Thấp nhiệt mà thấy rêu lưỡi dày trơn, có thể thêm vào Hậu phác, Hoắc hương để tăng cường tác dụng hóa thấp; sốt dữ dội lại có thể thêm vào Ngân hoa, Liên kiều, Hoàng liên, để thanh nhiệt giải độc; sợ lạnh rất rõ rệt mà có đau đầu, ít mồ hôi có thể thêm vào Đậu
kỹ, Bạc hà để thấu phát ngoại tà; ỉa chảy rõ rệt, có thể thêm vào Biển đậu y, Tiêu hà đế (núm cọng sen đốt sém khô đi)
Thạch cao tri mẫu thang
(Xưa gọi là Bạch hổ thang)
Phụ: Thạch cao tri mẫu quế chi thang, Thạch cao tri mẫu thương truật thang,
Thạch cao tri mẫu nhân sâm thang
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, ngày chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Thanh khí nhiệt, tả vị hỏa, sinh tân, chỉ khát
- Chủ trị: Khí nhiệt chứng của ngoại cảm nhiệt bệnh Thấy sốt cao, phiền khát, đòi uống, mặt
đỏ, ra mồ hôi nhiều, sợ nóng, mạch hồng đại hoặc hoạt sác, vị hỏa dẫn đến đau đầu, đau răng, mũi chảy máu cam, chảy máu chân răng
Trang 27- Giải nghĩa của phương: Phương này là phương tễ đại biểu của tân hàn thanh khí nhiệt Trong phương lấy tân hàn thanh khí của Thạch cao và khổ hàn tả hỏa sinh tân của Tri mẫu làm bộ phận chủ yếu của tổ thành Cam thảo, Canh mễ dưỡng vị hòa trung làm bổ trợ, cũng thanh tiết lý nhiệt, sinh tân chỉ khát mà tác dụng trừ phiền
- Cách gia giảm thường dùng: Trước mắt khi sử dụng phương này để chữa chứng nhiệt ở khí phần của ngoại cảm nhiệt bệnh, thường là cùng phối ngũ với dược vật thanh nhiệt giải độc Như khi chữa dịch viêm màng não ất hình (B), sẽ cùng phối ngũ với Đại thanh diệp, Bản lam căn Khi chưa chảy máu chân răng, chảy máu cam, thường phối ngũ với dược vật lương huyết như Sinh địa tươi, Xích thược Khi chữa phong thấp bại đau, thường phối ngũ với Thương truật; Quế chi, Canh mễ nhất thiết không dùng
- Phụ phương:
1 Thạch cao tri mẫu quế chi thang (Bạch hổ quế chi thang): là thang trên gia Quế chi,
nguyên chữa “Ôn ngược, mình không có mồ hôi nhưng nóng, xương khớp đau đớn, có khi nôn”
Trước mắt thường dùng phong thấp tính quan tiết viêm (nhiệt bại), thấy có phát sốt, sợ gió, mồ hôi
ra, vật vã, miệng khát, lưỡi trắng cùng với khớp đốt sưng đau Ngoài ra đối với chứng sốt cao ở mùa hạ, phiền khát, ra mồ hôi, sợ gió…cũng thường dùng phương này
2 Thạch cao tri mẫu thương truật thang (Bạch hổ thương truật thang): tức là Thạch cao tri
mẫu thang gia Thương truật Nguyên trị thấp ôn nhiều mồ hôi, mình nặng, chân lạnh Trước mắt cũng thường dùng ở phong thấp tính khớp đốt viêm và sốt cao ở mùa Hạ thu, thấy đến chứng hậu thấp khối nhiệt dữ dội, đầu nặng như cái bọc, phiền nhiệt, ngực buồn bằn, miệng khát không đòi uống, nhiều mồ hôi, khớp sưng đau, rêu lưỡi trắng trơn, chất lưỡi hồng
3 Thạch cao tri mẫu nhân sâm thang (Bạch hổ nhân sâm thang): tức Thạch cao tri mẫu thang
gia Nhân sâm, nguyên trị nhiệt bệnh ngoại cảm biểu tà đã giải, nhiệt dữ dội ở lý, chứng tân khí lưỡng thương, trước mắt có người dùng để trị chứng nhiệt thử ở trẻ em có hiệu quả nhất định
Trúc diệp thạch cao thang
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, ngày chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Thanh nhiệt dưỡng vị, sinh tân chỉ khát
- Chủ trị: Sau khi bi nhiệt bệnh, dư nhiệt chưa hết, khí âm lưỡng thương, xuất hiện chứng miệng khô hôi khan, chất lưỡi hồng sáng, ít rêu, mệt mỏi, ngại ăn, mạch tế sác Hoặc chứng vị âm bất túc,
vị hỏa thượng nghịch, thấy miệng lưỡi lở loét, chất lưỡi hồng sẫm mà khô, miệng khát, mạch tế sác
Trang 28Hoặc bệnh tiêu khát vị hỏa tích thịnh, tiêu đồ ăn mau đói Ngoài ra cũng có thể dùng để thanh thử nhiệt
- Giải nghĩa của phương: Tổ thành của phương này có thể chia ra làm 4 mặt:
+ Trúc diệp, Thạch cao là thanh vị nhiệt, tả vị hỏa
+ Nhân sâm, Mạch đông là ích khí, dưỡng âm sinh tân
+ Bán hạ là hòa vị giáng nghịch
+ Canh mễ, Cam thảo là điều dưỡng vị khí
- Cách gia giảm thường dùng: Đối với khi nhất thiết vị khí, vị âm bất túc, mà chứng hậu vị nhiệt không rõ rệt (như miệng hôi, miệng lưỡi lở loét…) có thể bỏ Thạch cao Chất lưỡi sãng sủa khô đỏ như gương có thể gia Thạch hộc, Thiên hoa phấn để sinh tân tăng dịch Nếu tiêu khát mà không có thực nhiệt ở vị kinh, nhưng lại có thấy chứng thận hao đái nhiều có thể bỏ Thạch cao gia vào Hoàng tinh, Thiên hoa phấn, Sinh địa, Thục địa, Sơn thù nhục
Thạch cao thục địa tiễn
(Xưa gọi là Ngọc nữ tiễn)
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, ngày chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Thanh vị nhiệt, tả vị hỏa, bổ thận tư âm
- Chủ trị: Phương này chủ yếu dùng ở thận âm bất túc, vị hỏa nhiệt tích thịnh mà dẫn tới các loại chứng như đau đầu, miệng khô khát, miệng lưỡi lở loét, chân răng sưng đau, mũi chảy máu cam, và tiêu khát, mau đói, tiêu thức ăn
- Giải nghĩa của phương: phương pháp phối ngũ của phương này là một trong những phương tễ
đại biểu cùng kết hợp bổ hư tả thực Thạch cao tân hàn thanh nhiệt, tả vị hỏa, với Thục địa bổ thận chấn âm, là bộ phận chủ yếu của tổ thành Lờy Mạch đông, Tri mẫu để tư âm giáng hỏa, lại tăng
cường tác dụng: “Tráng thủy chi chủ, rĩ chế dương quang”, Ngưu tất dẫn các vị thuốc đi xuống
Tóm tắt các vấn đề trên, phương này thuộc phạm vi tư âm tả hỏa, nhưng có chỗ khác với Tri bá
địa hoàng hoàn ở chỗ phương này tả hỏa lấy vị nhiệt là chính mà Tri bá điạ hoàng hoàn lấy âm hư hỏa vượng là chính, kiêm có tác dụng thanh lợi hạ tiêu
- Cách gia giảm thường dùng: Khi vị hỏa tích thịnh mà thận âm hao tổn không rõ ràng :như trong úa trình ngoại cảm nhiệt bệnh thấy có sốt cao, lưỡi đỏ, miệng khô mà khát là khí huyết lưỡng phiên (cùng bị đốt nóng cả hai), có thể lấy Sinh địa tươi thay Thục địa, lấy Huyền sâm thay Ngưu tất
để tăng mạnh tác dụng tăng dịch sinh tân, lương huyết thanh nhiệt Khi cấp tính viêm vòm mồm,
Trang 29viêm lưỡi mà thấy miệng lưỡi lở loét, cũng dùng cách gia giảm này Nếu thấy chất lưỡi hồng đỏ mà khô, nứt nẻ hoặc như mặt gương không có rêu, Sa sâm, Thạch hộc cũng có thể gia thêm ứng dụng
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, ngày chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Lỵ tật, viêm ruột, ỉa ra máu mủ, lý cấp hậu trọng, giang môn nóng như hun
- Giải nghĩa của phương: Phương này dùng Bạch đầu ông để thanh nhiệt ở huyết phần, phụ có Tần bì lương sáp, hai vị là yếu dược để lương huyết chỉ lỵ, lại thêm Hoàng bá, Hoàng liên thanh thấp nhiệt giải độc, toàn phương dùng là thanh lý nhiệt, chuyên phương để chưa bệnh lỵ hiệu quả rõ ràng
- Cách gia giảm thường dùng: Bụng đau, lý cấp hậu trọng quá lắm có thể gia Mộc hương, Chỉ sác, Binh lang Hiệp có thực trệ gia Sơn tra, Thần khúc Có biểu chứng gia Kinh giới Người yếu hoặc lỵ tật quá lâu ngày mà thương âm, có thể gia Cam thảo, A giao Ngoài ra, các loại dược vật thanh nhiệt giải độc khác như Hoàng cầm, Ngân hoa, Mã xỉ hiện đều có thể dùng làm thuốc thay Hoàng liên ở phương này
- Phụ phương:
1 Cúc dược thang: Gồm Hoàng cầm, Hoàng liên, Xích thược, Đương quy, Đại hoàng, Binh
lang, Cam thảo, Mộc hương, Nhục quế tổ thành Trị lỵ tật ỉa ra máu mủ, bụng đau, lý cấp hậu trọng Trong thang có Tam hoàng tả hỏa giải độc, thường có thể khử trệ, phụ có Xích thược, Đương quy,
Nhục quế hành huyết, “hành huyết thì ỉa ra máu tự khỏi”, Mộc hương, Binh lang điều khí “điều khí
thì hậu trọng tự khử”, Cam thảo điều hòa các vị thuốc lại có tác dụng hoãn cấp chỉ thống
2 Khuẩn lỵ thảo dược phương: Gồm Thiết diện thái, Địa cẩm thảo, Phượng vĩ thảo mỗi thứ
đều 1 lạng tổ thành Công năng thanh thấp nhiệt, lương huyết, giải độc, trị vi khuẩn tính lỵ tật, viêm ruột, phát sốt, ỉa chảy, đau bụng, ỉa ra máu mủ, lý cấp hậu trọng, khống chế chứng trạng và phân chuyển âm suất rất rõ ràng
Trang 30Đại hoàng 1-5 đc
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, ngày chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Thanh thấp nhiệt, thoái hoàng đản
- Chủ trị: Dương hoàng, thân nhiệt, mặt, mắt khắp người vàng như màu quả quất, đi đái tiểu vàng đỏ ngắn và rít, đi ỉa không thoải mái (hoặc bế kết), miệng khát, ngực bụng trướng, buồn bằn, rêu lưỡi vàng trơn
- Giải nghĩa của phương: Phương này là chuyên chữa thấp nhiệt hoàng đản, Nhân trần thanh thấp nhiệt, lợi đởm là yếu dược để chữa hoàng đản là chủ dược của phương này Phối lấy Chi tử khổ hàn tả hỏa làm cho thấp nhiệt theo nước đái mà ra, Đại hoàng rửa sạch trường vị, làm cho thấp nhiệt theo phân ỉa mà ra Ba thứ thuốc hợp lại dùng thanh lợi thấp nhiệt, chia ra mà tiêu theo 2 đường trước sau, do đó chủ trị tất cả hoàng đản dương chứng, thực chứng, nhiệt chứng
- Cách gia giảm thường dùng: Phương này bỏ Chi tử, Đại hoàng hợp dùng với Ngũ linh tán gọi
là Nhân trần ngũ linh tán coi trọng ở khử thấp lợi niệu, dùng ở hoàng đản mà đi ỉa phân nát là hợp
Bỏ Chi tử, Đại hoàng mà thêm Thương truật (hoặc Bạch truật), Phụ tử gọi là Nhân trần truật phụ
thang hoặc gia Can khương, Phụ tử gọi là Nhân trần phụ tử can khương thang trị âm hoàng, sắc
vàng mờ tối kiêm thấy sợ lạnh, ngực bĩ bụng trướng, miệng nhạt, ỉa nát, rêu lưỡi trắng trơn Nhân trần tuy tính vị khổ hàn nhưng được cái ấm của Truật, Phụ, Khương có công lui hoàng lợi thấp mà không có cái hại khổ hàn làm tổn thương tỳ
- Phụ phương Chi tử bá bì thang: Do Chi tử, Hoàng bá, Cam thảo, là ba thứ thuốc tổ thành coi
trọng ở thanh thấp lợi niệu, chủ trị dương hoàng thân nhiệt, bụng không đầy trướng, đại tiện tự điều, cho nên trong phương không dùng Đại hoàng ý nghĩa của việc dùng Hoàng bá và dùng Nhân trần cơ bản giống nhau (cũng có thể gia Nhân trần) Dùng Cam thảo tức hòa hoãn tính khổ hàn của Chi tử
và Hoàng bá cũng có tác dụng thanh nhiệt giải độc
Cam lộ tiêu độc đan
- Cách dùng: Tễ lượng kể trên là tỷ lệ của hoàn tễ Mỗi lần uống 2-3 đồng cân, mỗi ngày 2 lần Hoặc dùng túi vải cho thêm vào các phương tễ khác mà sắc uống Lượng dùng là 3 đồng cân đến 1 lạng, cũng có thể lấy lượng vừa phải làm thang tễ sắc uống
- Công dụng: Thanh hóa nhiệt thấp, giải độc, tuyên thông khí cơ
Trang 31- Chủ trị: thấp nhiệt lưu luyến, sốt nhẹ (hoặc sốt vừa) dấy lên phục xuống, ra mồ hôi mà nhiệt không giải, đi đái ngắn đỏ, ngực buồn bằn, chi mỏi mệt, đi ỉa lỏng mà không dễ dàng, hoặc có hoàng
đản nhẹ, hoặc thấy đau họng, má sưng, rêu lưỡi trắng mỏng, hoặc khô trơn, hoặc vàng nhạt
- Giải nghĩa của phương: Phương này dùng Hoắc hương, Khấu nhân, Thạch xương bồ để hóa thấp Hoạt thạch, Nhân trần, Mộc thông để lợi thấp Hoàng cầm, Xạ can, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc Xuyên bối hóa đàm tán kết, Bạc hà sơ tán ngoại tà, dùng để chữa thấp nhiệt trở trệ ở giữa mùa hạ và mùa thu, nhiệt nặng ở thấp không giải (để nhiệt bất thoái), kiêm thấy có một loạt chứng như ngực buồn bằn, chi mỏi, ăn vào ậm ạch, đi đái ngắn đỏ có hiệu quả nhất định
- Cách gia giảm thường dùng: Phương này dùng thang tễ Xuyên bối, Xạ can nhất loạt không dùng Mộc thông cũng đổi dùng Thông thảo Hạnh nhân, Dĩ nhân, Hậu phác cũng có thể liệu mời thêm vào
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, ngày chia làm 2 lần uống
- Công dụng: thanh nhiệt hóa thấp, điều hòa trường vị
- Chủ trị: Trường vị thấp nhiệt vướng ở trong, như các chứng cấp tính trường vị viêm, hoắc loạn, thương hàn, khuẩn lỵ, và thấp trở mùa hạ thấy các chứng: ngực buồn bằn, mệt mỏi, dạ ậm ạch, ỉa chảy, rêu lưỡi vàng trơn
- Giải nghĩa của phương: Hoàng liên khổ hàn phối ngũ với Hậu phác tân khổ ôn, là bộ phận chủ yếu tổ thành của phương này Phụ lấy Sơn chi, Đậu kỹ giải uất đạt tà Bán hạ, Xương bồ hóa trọc hòa
vị Lô căn thanh vị bảo tân mà không thêm béo Tác dụng chủ yếu của phương này là tân khai khổ giáng Gọi là tân khai tức là dùng các dược vật có khí vị tân (cay) như Xương bồ, Hậu phác, Bán hạ
để khai thấp Gọi là khổ gián tức là dùng dược vật có khí vị khổ (đắng) như Hoàng liên, Chi tử để giáng hỏa, thấp khai hỏa giáng thì khí trong được thăng mà khí trọc được giáng, khí cơ của vị trường
được điều, thổ tả tự dứt Phương này nguồn gốc mà nói là để chữa hoắc loạn (bao quát chân tính hoắc loạn và trường vị viêm) Hiện tại trên lâm sàng thường dùng phương này trị cảm nhiễm đường tiêu hóa đồng thời kèm có các loại bệnh chứng tán loạn công năng trường vị
- Cách gia giảm thường dùng: ỉa chảy mà lý cấp hậu trọng (tả) có thể thêm Mộc hương, Binh lang để hành khí, phá khí Ăn trệ vướng ở trong có thể thêm vào Chỉ thực, Lục khúc, Sơn tran để tiêu thực đạo trệ Khi nôn mửa nghiêm trọng có thể thêm vào một chút Ngô thù du làm phản tá Nặng sốt
Trang 32ở thấp mà thấy sốt cao, chất lưỡi hồng có thể thêm vào Ngân hoa, Liên kiều, Hoàng cầm để thanh nhiệt giải độc
Tả tâm thang
(Phụ: Phụ tử tả tâm thang)
“Kim quỹ yếu lược”
- Tổ thành: Đại hoàng 1,5-3 đc
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, ngày chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Tả hỏa, thanh nhiệt, giải độc
- Chủ trị: Tất cả mọi chứng nhiệt Nhưng quá trình bệnh nhiệt ngoại cảm mà thấy xuất hiện sốt cao, mặt hồng, mắt đỏ, vật vã, thần mê mệt, phát cuồng, rêu lưỡi vàng trơn, chất lưỡi hồng đỏ, và sốt dữ dội ép huyết vọng hành mà thấy thổ huyết, chảy máu mũi Thấp nhiệt uất chưng mà thấy sinh ra vàng da, mụn nhọt chạy thành vòng đơn độc ung sưng, chứng hại huyết, mặt mắt sưng đỏ, miệng lưỡi sinh nhọt, và đi ỉa mủ máu đều có thể dùng phương này
- Giải nghĩa của phương: Phương này tuy lấy tên là Tả tâm thang nhưng trên thực tế không
chuyên tả tâm hỏa, mà là một phương tễ tả nhất thiết thực hỏa, giải nhiệt độc, thanh thấp nhiệt Trong phương tuy lấy Đại hoàng làm chủ dược, đó không phải là mục đích là chuyên ở tác dụng
công hạ, mà là dùng để tiết nhiệt, tả hỏa, giải độc Phương này dùng “Tam hoàng” đều là khí vị khổ
hàn, có thể tiết nhiệt táo thấp Cho nên đối với thấp nhiệt vướng ở trong trường vị uất mà hóa hỏa, râu lưỡi vàng trơn hoặc vàng như cám, sốt cao vật vã, ngực buồn bằn, ngại mệt, bí ỉa rất là thích nghi
“Thương hàn luận” dùng phương này để tiết nhiệt trừ bĩ tức, là theo đó Đến “Kim quỹ yếu lược”
dùng phương này để trị thổ huyết, nục huyết cũng là lấy tác dụng tả hỏa, tiết nhiệt, giải độc Tà mất
thì chính an, nhiệt độc giải thì huyết tự chỉ, nó có chỗ khác với lương huyết tán huyết của Tê giác
địa hoàng thang, khi sử dụng cần phải phân biệt
Đối với một số dược vật khổ hàn, gần đây thực nghiệm ức khuẩn ngoài cơ thể đã chứng minh
đều có tác dụng ức khuẩn rất rõ ràng Kết quả ứng dụng lâm sàng cũng đều có tác dụng kháng khuẩn như thế
- Cách gia giảm thường dùng: Khi ứng dụng phương này chữa thấp nhiệt biến trở, tất theo như hoặc nặng ở thấp hoặc thấp nhiệt hóa hỏa rất thích nghi Nếu thấp nhiệt hóa hỏa, hỏa hun tân dịch, khi thây chứng hậu tân dịch bị tổn thương (miệng khô, lưỡi táo), có thể gia thêm vào Thiên hoa phấn, Lô căn, quá lắm thì có thể gia Thạch hộc tươi, Sinh địa tươi Nếu thấp nhiệt hóa hỏa mà thấp nhiệt kiêm nặng, thấy rêu lưỡi vàng dày trơn, ngực buồn bằn, mệt mỏi có thể gia vào Hậu phác, Bán hạ Nếu kèm nôn ác nghiêm trọng mà khó uống thuốc có thể gia vào 3 lát gừng tươi Ngực bụng chướng tức không nhiều, đại tiện như thường, có thể dùng Đại hoàng chế Bụng trên đau đớn kịch liệt (như
Trang 33cấp tính đởm nang viêm) có thể gia vào dược vật lý khí chỉ thống như Chỉ sác, Chỉ thực, Xuyên luyện tử, Diên hồ sách…
- Phụ phương Phụ tử tả tâm thang: là phương này gia Phụ tử, chủ yếu là dùng cho người bệnh
tà nhiệt tích thịnh mà dương khí bất túc, thấy có nhiều mồ hôi, chi lạnh, mạch nhỏ
Hoμng liên giải độc thang
“Ngoại đài bí yếu”
- Tổ thành: Hoàng liên 1-3 đc
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, ngày chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Nhất thiết chứng hỏa thực nhiệt, nhảm cuồng, mê loạn, thấp nhiệt, hoàng đản,
đinh nhọt tẩu hoàng, nhiệt quá lắm mà thổ huyết nục huyết
- Giải nghĩa của phương: Phương này lấy Hoàng liên, Hoàng bá, Hoàng cầm là thuốc có khí vị khổ hàn để tả thực nhiệt ở tam tiêu lại cùng phối ngũ với cái khổ hàn tiết nhiệt của Chi tử, tác dụng
cùng một dạng với Tả tâm thang la phương tễ có sức mạnh tả hỏa giải độc, thanh thấp nhiệt Nhưng
là bởi phương này chưa dùng Đại hoàng mà dùng Hoàng bá tả hạ tiêu thấp nhiệt, Chi tử thông tả hỏa
của tam tiêu, làm cho tà nhiệt theo nước tiểu mà ra So với Tả tâm thang lấy Đại hoàng làm chủ dược, là cho tà nhiệt theo đại tiện mà ra thì có chỗ khác nhau Do đó Tả tâm thang tgf dùng thích
hợp ở trường vị tích nhiệt, mà phương này dùng thích hợp với hạ tiêu thấp nhiệt (như bế niệu đạo cảm nhiễm, viêm đường tiết niệu) Còn phương này chưa thân fhôn mê cuồng, thổ huyết nục huyết
Đay so với Tả tâm thang thì nguyên lý giống nhau là lấy tác dụng chuyên tả tà nhiệt
- Cách gia giảm thường dùng: Phương này khi ứng dụng ở lâm sàng thường phối ngũ với Ngân hoa, Liên kiều thì tác dụng thanh nhiệt giải độc càng tốt Khi chữ hoàng đản có thể gia Nhân trần, đại tiện không thoải mái hoặc tiện bé lại có thể dùng thêm Đại hoàng Khi chữa đinh nhọt tẩu hoàng, có thể gia
Bồ công anh, Tử hoa địa đinh Miệng lưỡi sinh mụn có thể gia vào Cam trung hoàng Thổ huyết nục huyết có thể thêm vào Sinh địa, Đan bì, Xích thược ỉa lỵ máu mủ, lý cấp hậu trọng có thể thêm Mộc hương, Binh lang Đái đều nhiều lần, đái cấp, đái đau có thể gia Xa tiền, Mộc thông, Phượng vĩ thảo
Trang 34Huyền sâm 2-4 đc Trần bì 1,5-3 đc Bản lam căn 3-5 đc Cát cánh 1-1,5 đc
Ngưu bàng tử 3-5 đc Bạc hà 1-1,5 đc
- Cách dùng: Nguyên phương là dùng tán tễ, đem dược vật giã thành bột khô mỗi lần dùng 5
đồng cân đến 1 lạng, sắc với nước Hiện nay làm thang tễ sắc với nước chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Sơ tán phong nhiệt, thanh nhiệt giải độc
- Chủ trị: Chứng thích ứng của nguyên phương là “Đại đầu ôn” (thường thuộc đơn độc ở khu
vực đầu mặt) Hiện nay trên lâm sàng ngoài việc đã dùng ở đơn độc vùng đầu mặt, lại dùng ở viêm quai bị, viêm tai giữa cấp, sốt cao, răng lợi sưng đau mà có phát sốt, cũng như các loại thũng độc không tên ở vùng đầu mặt
- Giải nghĩa của phương: Phương này là phương tễ đại biểu của sự cùng phối ngũ giữa thanh nhiệt giải độc và sơ tán phong tà Trong phương có Hoàng cầm, Hoàng liên, Liên kiều, Huyền sâm Bản lam căn, Thang ma là bộ phận tổ thành thanh nhiệt giải độc Bạc hà, Ngưu bàng tử, Cương tam, Sài hồ là bộ phận tổ thành sơ tán phong tà Do đã thanh nhiệt độc ở vùng đầu mặt tốt, lại có Cát cánh, Cam thảo, Mã bột để thanh lợi hầu họng, do đó lại có thể trị được hầu họng sưng đau
- Cách gia giảm thường dùng: Bí ỉa có thể gia Đại hoàng để tả hỏa tiết nhiệt Không có mồ hôi, sốt cao, đau đầu là lúc biểu chứng rõ rệt, có thể gia Khương hoạt để tăng cường tác dụng tân tán thấu
tà Trẻ em bị bệnh khi kiêm có co giật điềm báo trước kinh quyết có thể gia Câu đằng, Thuyền y
Tê giác địa hoμng thang
- Cách dùng: Ngày uống 1 tễ
- Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, lương huyết tán ứ, thanh tâm
- Chủ trị: Ngoại cảm nhiệt bệnh nhiệt nhập doanh huyết, tâm bào mà có sốt cao, thần chí không
rõ ràng, động huyết (bao quát thổ huyết, nục huyết, tiện huyết), phát ban, phát chẩn, chất lưỡi hồng
đỏ, mạch tế sác
Trước mắt trên lâm sàng thường dùng ở cấp tính hoàng sắc, gan teo, hôn me gan, chứng đái độc
ra máu, các loại chứng bại huyết, đinh nhọt tẩu hoàng và xuất huyết của huyết dịch bệnh, mà thuộc
về huyết nhiệt
- Giải nghĩa của phương: Phương này là phương tễ đại biểu của lương huyết giải độc, có rất nhiều phương tễ thanh doanh, lương huyết giải độc đều từ phương này xung hóa Tê giác thì thanh tâm lương huyết giải độc, Sinh địa lương huyết dưỡng âm thanh nhiệt, làm bộ phận tổ thành chủ yếu
Trang 35của phương này Phụ lấy Thược dược, Đan bì lương huyết tiết nhiệt, hoạt huyết tán ứ Thuốc cần có 4
vị mà có thể thanh được nhiệt của doanh huyết, lại vừa có hiệu thanh tâm chỉ huyết Thược dược ở phương này nhất loạt dùng Xích thược, lý do là bởi tác dụng lương huyết tán ứ của Xích thược so với Bạch thược thì tốt hơn Chỗ dùng Sinh địa cũng là cớ bởi tác dụng lương huyết chỉ huyết rất mạnh
Tê giác quý giá nhưng sản lượng không nhiều cho nên thường lấy Ngưu hoàng do người chế tạo thành hoặc Sừng trâu dùng thay (cai trước lấy 1-2 phân cho vào uống, cái sau mỗi lần 5 đồng cân đến
1 lạng sắc nước uống)
- Cách gia giảm thường dùng: Nhiệt nhập tâm bào mà thấy thần chí hôn mê, có thể đồng htời ứng dụng Tử linh đơn, hoặc với Thạch xương bồ tươi, Trần đảm tinh, Thiên trúc hoàng cùng dùng
Khi kinh quyết thường dùng cùng An doanh ngưu hoàng hoàn, Chí bảo đan Sốt dữ dội mà trpnhf
độ hôn mê chưa sâu, có thể dùng Ngưu hoàng thanh tâm hoàn hoặc với Ngân hoa, Liên kiều,
Hoàng liên, Hoàng cầm, Đại thanh diệp, Tử thảo cùng dùng để tăng cương tác dụng thanh nhiệt giải độc
Thanh doanh thang
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước, ngày chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, lương huyết thanh tâm
- Chủ trị: Ngoại cảm nhiệt bệnh, nhiệt nhập doanh huyết, chứng thấy sốt cao, vật vã, thần chí không rõ ràng, nói mê, lưỡi hồng đỏ, mạch tế sác
- Giải nghĩa của phương: Phương này là từ Tê giác địa hoàng thang xung hóa mà thành Tê
giác, Sinh địa là chủ dược của phương này, phối ngũ với Ngân hoa, Liên kiều thanh nhiệt giải độc, Hoàng liên, Trúc diệp tâm thanh tâm tả hỏa, Đan sâm thanh tâm lương doanh, Huyền sâm, Mạch
đông dưỡng âm sinh tân cho nên tác dụng thanh nhiệt giải độc của phương này so với Ngưu giác địa
hoàng hoàn thì mạnh hơn, do ở chỗ chưa dùng Đan bì, Xích thược cho nên tác dụng lương huyết tán
ứ chỉ huyết sẽ rất yếu Bởi thế phương này rất thích ứng ở chứng nhiệt nhập doanh huyết (lấy doanh làm chủ) thấy sốt cao, vật vã, thần chí mơ hồ, mà không có tình huống hao huyết, động huyết rõ ràng
ở người bệnh
- Cách gia giảm thường dùng: Cũng giống như Ngưu giác địa hoàng thang
Thanh ôn bại độc ẩm
Trang 36Hoàng liên 1-3 đc Liên kiều 2-4 đc
Hoàng cầm 2-4 đc Trúc diệp 1-2 đc
- Cách dùng: Sắc với nước, chia làm 2 lần uống, Thạch cao sắc trước, sau khi đun sôi mươi phút thì cho các vị thuốc khác vào Tê giác mài với nước cho vào sau, hoặc dùng Ngưu hoàng nhân tạo hoặc 1 lạng Ngưu giác thay dùng
- Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, tả hỏa lương huyết, dưỡng âm
- Chủ trị: Nhất thiết các chứng đại nhiệt hỏa thịnh, như đột phát cao nhiệt, thần mờ mịt cuồng thao, đầu đau như phá, phát ban, mửa nục, co quắt kinh quyết, lưỡi đỏ, môi khô sáp Trước mắt đối với viêm màng não B, lưu hành tính viêm màng não tuỷ sống, chứng bại huyết, thường lấy phương này chữa chạy
- Giải nghĩa của phương: Phương này là tổng hợp dược vật của 3 phương: Thạch cao tri mẫu
thang, Tê giác địa hoàng thang, Hoàng liên giải độc thang mà thành Cho nên đều có tác dụng đại
thanh khí nhiệt, tả vị hỏa của Thạch cao tri mẫu thang, lương huyết giải độc của Tê giác địa
hoàng thang và tả hỏa giải độc của Hoàng liên giải độc thang Do đó ở “Ôn nhiệt kinh vĩ” khi luận
thuật về phương này có nói: “Thử thập nhị kinh tiết hỏa chi dược dã…Trọng dụng vu Thạch cao,
trực nhập vị kinh, sử kỳ phủ bố vu thập nhị kinh, rĩ thoái kỳ dâm nhiệt, tá rĩ Hoàng liên, Tê giác, Hoàng cầm tiết tâm phế chi hỏa vu thượng tiêu; Đan bì, Chi tử, Xích thược tiết can kinh chi hỏa; Liên kiều, Huyền sâm giải tán phù du chi hỏa; Sinh địa, Tri mẫu ức dương phù âm, tiết kỳ cang thậm chi hỏa nhi cứu dục tuyệt chi thuỷ;…thử đại hàn giải độc chi tễ, trọng dụng Thạch cao, tắc thậm giả tiên bình, nhi chư kinh chi hỏa tự vô bất an lữ”
- Cách gia giảm thường dùng: Nhiệt độc tính thịnh, phát ban hoặc sắc da đỏ bầm, gia Đại thanh diệp, Tử thảo để thanh huyết nhiệt, lương huyết tán ứ; như khi thấy kinh quyết, co quắp, gia vào Cương tàm, Thuyền y, Thạch xương bồ tươi là thuốc tức phong khai khiếu, cũng có thể cùng dùng
với Chi bảo đan hoặc An cung ngưu hoàng hoàn Nếu thấy nhiệt uất phát hoàng (hoàng đản) có
thể gia vào Long đởm thảo, Nhân trần, Hoàng bá để tả can đởm thấp nhiệt
Tả phế tán
(Tên cũ là Tả bạch tán)
“Tiểu nhi dược chứng trực quyết”
- Tổ thành: Địa cốt bì 2-4 đc
Trang 37- Công dụng: Tả phế hỏa, thanh hư nhiệt, chỉ khái, bình xuyễn
- Chủ trị: Phế nhiệt ho hắng, quá lắm thì khí xuyễn, lạc huyết, miệng khô môi táo, chất lưỡi hồng đỏ, rêu lưỡi mỏng, mạch tế sác
- Giải nghĩa của phương: Trong phương có Tang bạch bì khí vị tân cam mà hàn, tốt cho tả phế hỏa mà bớt ho, bình xuyễn, thanh phế khí mà lợi thuỷ khử đàm Địa cốt bì khí vị khổ hàn, tốt cho việc thanh hư nhiệt, trừ cốt chưng Cam thảo, Canh mễ nhuận phế dưỡng vị Cho nên phương này là phương tễ tả phế hỏa thanh hư nhiệt Đối với chứng âm hư phế nhiệt, ho xuyễn ít đờm rất là thích hợp Khi vận dụng cụ thể, nếu lấy đàm nhiệt làm chủ thì Tang bạch bì lượng dùng nên nặng Nếu lấy
âm hư sốt về chiều, ho hắng, lạc huyết làm chủ thì Địa cốt bì lượng dùng nên nặng
- Cách gia giảm thường dùng: Đàm nhiệt toả thịnh mà ho xuyễn, có thể gia vào Hoàng cầm,
Đình lịch tử để tả phế nhiệt Khi táo nhiệt ho hắng, có thể gia vào Tri mẫu, Qua lâu bì, Hạnh nhân, Xuyên bối mẫu để nhuận phế Khi âm hư sốt về chiều, có thể gia Thanh cao, Miết giáp, NGân sài hồ
để thanh hư nhiệt Khi can hỏa phạm phế, sườn đau lạc huyết, có thể gia Đại cáp tán (con sò đen) để thanh tiết can hỏa
Long đởm tả can thang
“Y tông kim giám”
- Cách dùng: Ngày một tễ, sắc với nước chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Tả can hỏa, thanh lợi can đởm thấp nhiệt
- Chủ trị: Can đởm thực hỏa dẫn đến đau đầu, mắt đỏ, miệng đắng, sườn đau, tai sưng đau Cũng như can đởm thấp nhiệt đi xuống gây ra bộ máy sinh dục ngoài ngứa gãi sưng đau, đái đục, chứng
đàn bà ra khí hư
- Giải nghĩa của phương: Phương này là phương tễ đại biểu để tả can đởm thực hỏa Long đởm thảo trong phương là thuốc khổ hàn tiết nhiệt chuyên tả can hỏa và hạ tiêu thấp nhiệt, cùng phối hợp với Hoàng cầm, Chi tử là thuốc thanh nhiệt tả hỏa, mà thành tễ thanh nhiệt tả hỏa rất mạnh Sài hồ,
Đương quy, Sinh địa tách riêng ra có tác dụng sơ can, hoạt huyết, lương huyết, dưỡng âm, cùng phối
Trang 38ngũ với thuốc thanh nhiệt tả hỏa là dụng ý trong tả có bổ, trong sơ có dưỡng, làm cho thuốc tả không
đến chỗ khổ táo thương âm, lại phối với dược vật thanh lợi là Mộc thông, Trạch tả, Xa tiền làm cho thấp nhiệt theo nước tiểu mà ra Cho nên phương này lại có tác dụng thanh lợi hạ tiêu thấp nhiệt
- Cách gia giảm thường dùng: Khi tiện bế có thể gia vào Đại hoàng hoặc Đương quy long hội
hoàn (Đương quy, Long đởm thảo, Chi tử, Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, Đại hoàng, Thanh
đại, Lô hội, Mộc hương, Xạ hương) hợp lại mà dùng
Thanh cốt tán
“Chứng trị chẩn thằng”
-Tổ thành:
Ngân sài hồ 2-4 đc Địa cốt bì 2-4 đc
Hồ hoàng liên 1-3 đc Thanh cao 1-3 đc
- Cách dùng: Ngày uống 1 tễ, sắc với nước chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Thanh hư nhiệt, thoái cốt chưng, dưỡng âm thanh hỏa
- Chủ trị: Âm hư, sốt về chiều, nóng trong xương (cốt chưng) như bệnh lao và một số bệnh mạn tính Trong quá trình xuất hiện chứng sốt nhẹ, sốt về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng, lại vừa có chứng hỏa thăng lên gò má hồng, toàn thân gầy mòn, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi mỏng, mạch tế sác, nhu sác hoặc hư sác
- Giải nghĩa của phương: phương này tuy do dược vật hàn lương tổ thành nhưng không phải là thuốc đại khổ hàn, là phương tễ đại niểu thanh hư nhiệt, thoái cốt chưng triều nhiệt Trong phương lấy Ngân sài hồ và Thanh cao, Tần cửu (phương này dùng Tần cửu là trừ cốt chưng không phải là khử phong thấp) hợp lại để thanh huyết nhiệt mà trừ cốt chưng Lại lấy Địa cốt bì để thanh phế hỏa,
Hồ hương liên để thanh tâm hỏa, Tri mẫu thanh thận hỏa, nhưng tác dụng thanh hỏa của 3 thứ thuốc
đó là thanh hư hỏa chứ không phải thanh thực hỏa, làm cho hư hỏa của tạng phủ được thanh thì sốt
về chiều tự lui Miết giáp để tư âm bổ can thận, thận trị hư lao, Cam thảo câm bình hòa trung để tránh cái thuốc khổ hàn làm hai vị khí
- Cách gia giảm thường dùng: Phương này sức thoái nhiệt rất mạnh, mà sức tư âm dưỡng huyết rất nhẹ, nếu chứng trạng âm hư, huyết hư suy khi đột xuất hoặc có khí âm lưỡng hư phải lấy gia giảm
sử dụng Nhất lạot có thể bỏ Ngân sài hồ, Hồ hoàng liên thêm vào Đương quy, Sinh địa, Tần cửu,
Miết giáp tán ở “Vệ sinh bảo giám” Như khi thấy mặt bợt ra, tiếng thấp đi, ít hơi, nói lắp là khí âm lưỡng hư, có thể gia Đẳng sâm, Hoàng kỳ (tẩm mật đốt), (Tần cửu phù luy thang ở “Trực chỉ
phương” tức là Tần cửu, Miết giáp, Địa cốt bì, Sài hồ, Đương quy, Nhân sâm, Tử uyển, Bán hạ, Cam
thảo, Khương, Táo Hoàng kỳ miết giáp tán ở “Vệ sinh bảo giám” tức Hoàng kỳ, Nhân sâm, Miết
giáp, Tần cửu, Địa cốt bì, Sinh địa, Thược dược, Tri mẫu, Thiên đông, Phục linh, Sài hồ, Tang bạch bì, Tử uyển, Bán hạ, Cát cánh, Cam thảo, Nhục quế) Nếu thấy dạ dày và miệng không tốt, đi ỉa lỏng
Trang 39là lúc chứng trạng tỳ vị hư nhược, có thể bỏ Tần cửu, Hồ hoàng liên là hạng khổ hàn, gia vào Đảng sâm, Bạch truật, Sơn dược, Biển đậu, Lục khúc là thuốc kiện tỳ hòa vị
Thanh cao miết giáp thang
- Cách dùng: Ngày uống 1 tễ, sắc với nước, chia 2 lần uống
- Công dụng: Dưỡng âm lương huyết, thanh nhiệt sinh tân
- Chủ trị: Âm hư sốt về chiều hoặc sốt nhẹ, ở giai đoạn của ngoại cảm nhiệt bệnh hoặc trong quá trình tật bệnh mãn tính thấy xuất hiện tà nhiệt lưu luyến, ở âm huyết, âm nhiệt tổn thương mà hư nhiệt không lui, xuất hiện chứng sau giờ Ngọ sốt đều đặn như thế, hoặc sốt nhẹ, gày mòn, lưỡi hồng
ít rêu, miệng khô, môi khan, mạch tế sác
- Giải nghĩa của phương: Phương này là phương tễ đại biểu của dưỡng âm thanh nhiệt, dùng
thích hợp ở âm huyết bất túc là chủ mà kiêm có sốt về chiều Đây cũng có chỗ khác với Thanh cốt
tán chuyên thanh cốt chưng Bởi vậy, phương này lẫy Miết giáp hàm hàn, tư âm, thanh huyết nhiệt
với Thanh cao khổ hàn thanh nhiệt, thấu tà ngoại đạt là bộ phận tổ thành chủ yếu của toàn phương,
đồng htời phối lấy Sinh địa, Mạch đông, Đan bì là loại thuốc dưỡng âm sinh tân, lương huyết giáng
hỏa, tức là trọng điểm ở “dưỡng âm”, âm dịch khôi phục mà huyết nhiệt tự lui Thanh cốt tán thì
trọng điểm ở “thanh hỏa” Khi ứng dụng lâm sàng phải nắm vững chỗ khác nhau để mà biện chứng
- Cách dùng: Nhất loạt ngày uống 1 tễ, sắc với nước chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Dưỡng âm thanh phế, lương huyết giải độc, thanh yết
- Chủ trị: Âm hư ho khan, bạch hầu, viêm họng mạn tính
Trang 40- Giải nghĩa của phương: phương này là phương kinh nghiệm chữa bệnh Bạch hầu Gần đây lại
có không ít bài báo về lấy phương này trị Bạch hầu mà thu được kết quả Y học phương đông cho
rằng Bạch hầu thuộc về “táo nhiệt chi tà”, dễ dàng hao thương âm dịch cho nên phương này lấy Sinh
địa, Mạch đông, Huyền sâm hợp dùng (tức là tăng dịch thang) dưỡng âm nhuận táo, là chủ dược
Đan bì, Xích thược lương huyết thanh nhiệt, Bối mẫu tán kết nhuận phế, Cam thảo thanh nhiệt giải
độc, Bạc hà tân lương thấu biểu tiết phế vệ nhiệt, lợi họng tiêu thũng, là thuốc bổ trợ trong phương
- Cách gia giảm thường dùng: Nhiệt quá lắm có thể gia Ngân hoa, Liên kiều; táo quá lắm có thể gia Thiên đông, Tri mẫu, Lô căn; hầu họng sưng đau quá lắm có thể gia Bản lam căn, Bồ công anh, Xạ can, Cát cánh, Cương tàm, Mã bột Có biểu chứng có thể gia Ngưu bàng tử, Thuyền y Bệnh viện lây ở thị Thiên tân là đơn vị đã lấy ba vị thuốc Sinh địa, Huyền sâm, Mạch đông trong phương này thêm vào Hoàng cầm, Hoàng liên chế thành kháng Bạch hầu hợp tễ và xông tán chữa Bạch hầu, kết quả chữa rất tốt, không những lui sốt nhanh mà vừa là rụng màng giả rất nhanh Cũng có thể với dược vật hữu quan để tăng thêm thanh nhiệt giải độc
- Cách dùng: Ngày uống một tễ, sắc với nước, chia làm 2 lần uống
- Công dụng: Dưỡng âm tư thận, thanh nhiệt giải độc
- Chủ trị: Mãn tính viêm đường tiết niệu, thấy thanh thận âm hao tổn
- Giải nghĩa của phương: Phương này là trong thực tiễn lâm sàng phát hiện thấy phần lớn người bệnh mãn tính viêm đường tiết niệu đều có chứng trạng thận hư (đặc biệt là thận âm hư), mà nuôi
cấy nước tiểu lại thường dương tính Do đó, lấy Lục vị địa hoàng hoàn dưỡng âm tư thận; lấy Ngân
hoa, Liên kiều, để thanh nhiệt giải độc, gia vào Thạch hộc là bởi vì người bệnh loại này phần lớn có chứng miệng khô môi táo, dùng đã tăng cường dưỡng âm sinh tân, nhất loạt sau khi uống phương này một thời kỳ, chứng trạng lâm sàng có chuyển tốt rõ rệt, phần bệnh án nuôi cấy nước tiểu chuyển thành âm tính
- Cách gia giảm thường dùng: Khi sốt về chiều, mặt hồng hỏa lên, tiểu tiện hun nóng, có thể gia vào Hoàng bá, Tri mẫu để tư âm giáng hỏa, thanh lợi hạ tiêu thấp nhiệt Khi bể thận chứa nước (mặt phù, tiểu tiện không dễ) có thể gia Ngưu tất, Xa tiền Khi rêu lưỡi dầy trơn, vị nạp không tốt, phải bỏ Thục địa, gia vào Thương truật, Hậu phác, Lục khúc Khi mặt nhợt nhạt, thân gày guộc, sợ lạnh, chất lưỡi nhạt có thể gia vào Tiên mao, Tiên linh tỳ, Hồ lô ba là thuốc ôn thận Khi đái nhiều lần, đái gấp,