thời tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế để có những biệnpháp quản lý đúng đắn, qua đó đã khắc phục được tình trạng trốn thuế, biển thủthuế, gian lận về thuế của nhi
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa(XHCN), Ngân sách Nhà nước (NSNN) được sử dụng như một công cụ tàichính rất quan trọng, góp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế-xã hội ThuNSNN (chủ yếu là thuế) không chỉ đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước màcòn là công cụ hữu hiệu để điều tiết, điều chỉnh nền kinh tế Trong xu thế hộinhập của kinh tế thế giới, đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thươngmại thế giới, nguồn thu chủ yếu của NSNN là thuế có sự biến động mạnh, sốthu một số loại thuế bị sụt giảm, đồng thời số thu một số loại thuế lại tăng lên;vấn đề đặt ra là làm sao trong mọi hoàn cảnh đều phải thu đúng, thu đủ, thukịp thời các loại thuế để đảm bảo sự ổn định cho NSNN Hoạt động xuấtkhẩu, nhập khẩu đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế, và thuế xuất khẩu,nhập khẩu được coi như một công cụ để quản lý hoạt động này có hiệu quả.Nhà nước sử dụng chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu như một công cụ đểđiều tiết vĩ mô nền kinh tế , bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, khuyến khíchđầu tư, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hơn nữathuế xuất khẩu, nhập khẩu còn góp phần tăng ngân sách nhà nước
Trước năm 1990, việc thu thuế nói chung và thu thuế xuất khẩu, nhậpkhẩu nói riêng do hệ thống Ngân hàng đảm nhận Từ ngày 01/04/1990, hệthống KBNN được thành lập, toàn bộ các khoản thuế đều phải nộp trực tiếpvào Kho bạc Với vai trò quản lý quỹ NSNN, việc trực tiếp thu thuế vào Khobạc đã khắc phục được những khiếm khuyến trong công tác quản lý thu thuếdưới thời kỳ thu nộp thuế tại Ngân hàng Tốc độ nộp các loại thuế vào NSNNnhanh hơn, việc hạch toán các loại thuế vào NSNN được thực hiện kịp thời; đặcbiệt với vai trò kế toán NSNN, số liệu thuế do cơ quan Kho bạc cung cấp luônđảm bảo sự chính xác cao, giúp ích hữu hiệu cho các cơ quan quản lý nắm kịp
Trang 2thời tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế để có những biệnpháp quản lý đúng đắn, qua đó đã khắc phục được tình trạng trốn thuế, biển thủthuế, gian lận về thuế của nhiều đối tượng.
Tuy đã thu được nhiều kết quả tốt trong công tác thu thuế nói chung vàthu thuế xuất, nhập khẩu nói riêng, nhưng cùng với sự phát triển của nển kinh
tế đất nước, trong xu thế hội nhập thế giới, công tác thu thuế xuất khẩu, nhậpkhẩu qua hệ thống KBNN vẫn còn những tồn tại nhất định Công tác phối kếthợp giữa hai cơ quan Hải quan và Kho bạc để tạo điều kiện thuận lợi chongười nộp thuế, để thu đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời các khoản thu thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu còn nhiều hạn chế đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện hơn nữacông tác phối kết hợp thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua Kho bạc để phù hợpvới sự phát triển của đất nước, tiếp tục thực hiện mục tiêu: đảm bảo tập trungnguồn thu, thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, tăng cường bồi dưỡng nguồn thucho NSNN, qua đó bảo đảm đủ nguồn lực, phục vụ tốt các nhiệm vụ chiếnlược của Đảng và Nhà nước
Luận văn “ Cơ chế phối kết hợp trong quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu giữa cơ quan Hải quan và KBNN Bắc Giang” được thực hiện
với hy vọng từ môi trường và thực tế công việc để nghiên cứu và tìm tòinhững ý tưởng và định hướng nói riêng, và ít nhiều hoàn thiện cơ chế phốihợp thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu giữa cơ quan hải quan và KBNN nóichung và KBNN Bắc Giang nói riêng trong giai đoạn hiện nay và trong nhữngnăm sắp tới
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Mục đích của Luận văn là đưa ra cái nhìn tổng quát nhất các vấn đề lýluận về cơ chế phối kết hợp trong công tác thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu giữa
cơ quan Hải quan và KBNN; thực trạng công tác thu thuế xuất, nhập khẩu quaKho bạc nhà nước Bắc Giang Từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa cơ quan Hải
Trang 3quan và Kho bạc trong việc thực hiện thu thuế qua KBNN nói chung vàKBNN nói riêng.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Luận văn nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn quản lý thu thuếxuất khẩu, nhập khẩu qua hệ thống KBNN Bắc Giang Trong hệ thống các cơquan quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, luận văn chủ yếu tập trungnghiên cứu sự phối kết hợp giữa hai cơ quan Hải quan và Kho bạc, phân tíchsâu vai trò của KBNN trong công tác quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thứ nhất: Hệ thống hoá và làm rõ thêm những vấn đề chung như khái
niệm, đặc điểm và vai trò của thuế xuất khẩu, nhập khẩu Vai trò, nhiệm vụcủa cơ quan Hải quan và Kho bạc trong việc thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Thứ hai: Nghiên cứu, phân tích, đánh giá có hệ thống thực trạng công
tác quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua KBNN Bắc Giang và chỉ rõnguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩuqua KBNN Bắc Giang thời gian qua
Thứ ba: Đề xuất được các giải pháp có tính khả thi, đổi mới công tác
phối kết hợp trong quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua KBNN nóichung và KBNN Bắc Giang nói riêng
6 Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận các quanđiểm triết học Mác – Lê nin về chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện
Trang 4chứng, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về các chính sách xây dựngNhà nước.
Tác giả sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với các chính sách,chế độ của Nhà nước Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu từ các báo cáođịnh kỳ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đánh giá một cách chínhxác, khách quan thực trạng công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thu thuếxuất khẩu, nhập khẩu
7 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày thành 3chương:
- Chương 1 : Một số vấn đề cơ bản về cơ chế kết hợp giữa cơ quan Hảiquan và KBNN trong công tác quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
- Chương 2: Thực trạng công tác phối kết hợp trong thu thuế xuất khẩu,nhập khẩu giữa cơ quan Hải quan và KBNN Bắc Giang
- Chương 3: Hoàn thiện cơ chế phối kết hợp giữa cơ quan Hải quan vàKBNN Bắc Giang trong quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua KBNN
Trang 5Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHỐI KẾT HỢP GIỮA CƠ QUAN HẢI QUAN VÀ KBNN TRONG QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT
KHẢU, NHẬP KHẨU
1.1 Một số vấn đề cơ bản về quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
1.1.1 Những vấn đề chung về thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
1.1.1.1 Khái niệm thuế xuất khẩu, nhập khẩu, quản lý thu thuế.
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một loại thuế gián thu, một yếu tố cấuthành trong giá cả hành hóa; do các tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩuhang hóa thuộc đối tượng chịu thuế, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng gópcho Nhà nước theo Luật định Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một bộ phậnquan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế tài chính, thương mại vĩ mô tổnghợp, gắn liền với cơ chế quản lý xuất khẩu, nhập khẩu và chính sách đối ngoạicủa một quốc gia
- Quản lý thu thuế là quá trình tổ chức, điều khiển các hoạt động thuthuế do cơ quan thu thực hiện dựa trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với các cơquan hữu quan nhằm hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán thu thuế đãđược các cơ quan có thẩm quyên thông qua Đó là quá trình sử dụng cácphương pháp, biện pháp và các công cụ thích hợp
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo nghĩarộng là việc Nhà nước tác động có tổ chức và bằng pháp quyền đối với cácquá trình kinh tế - xã hội và hành vi của con người nhằm thực hiện các mụctiêu chung thông qua công cụ thuế quan Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nướctrong lĩnh vực thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu là việc cơ quan Hải quan, Khobạc sử dụng quyền lực Nhà nước để tổ chức thực hiện các quy định về thuthuế xuất khẩu, nhập khẩu đối với hành hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Trang 61.1.1.2 Bản chất và vai trò của thuế xuất khẩu, nhập khẩu
1.1.1.2.1 Bản chất của thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu hay thuế quan là tên gọi chung để gọi hailoại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế Đó là thuế xuất khẩu và thuếnhập khẩu Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu, thuế xuấtkhẩu là thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu
Trong thời cổ đại và trung cổ, thuế xuất khẩu, nhập khẩu được thu bởi cácchính quyền địa phương, nhưng hiện nay điều này là rất hiếm và thông thường
nó được nhà nước giao cho một tổ chức nhà nước chuyên trách về thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu là hải quan thực hiện công việc kiểm tra,tính thuế và thu thuế.Thuế xuất khẩu, nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong chính sách ngoạithương của mỗi quốc gia Đây là công cụ quan trọng trong việc kiểm soát hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo hộ sảnxuất trong nước Các quốc gia ngoài công cụ thuế quan, còn có thể sử dụng hàngrào phi thuế quan( như hạn ngạch nhập khẩu,tài trợ xuất khẩu,thu chênh lệch giánhập khẩu,dùng bảng giá tối thiểu để áp giá hàng nhập khẩu…) để bảo hộ nềnsản xuất trong nước Tuy nhiên, một khi đã tham gia hội nhập kinh tế quốc tế thì
về nguyên tắc hàng rào phi thuế quan phải được thực hiện để loại bỏ Trong tiếntrình hội nhập, đòi hỏi các quốc gia phải tuân thủ các nguyên tắc ràng buộc vềthuế xuất khẩu, nhập khẩu và phải xác lập lộ trình để thực hiện các cam kết đó
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là công cụ quan trọng của nhà nước trongchính sách ngoại thương, thuế xuất khẩu, nhập khẩu có đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là thuế gián thu Nhà nước sử
dụng thuế xuất khẩu, nhập khẩu để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thôngqua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Vìvậy, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một yếu tố cấu thành trong giá của hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu Người nộp thuế là người thực hiện hoạt động xuất
Trang 7khẩu, nhập khẩu hàng hóa, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng.Việc tăng, giảm thuế xuất thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ tác động trực tiếp tớigiá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu và việc lựachọn hàng hóa của người tiêu dùng, buộc các nhà sản xuất và xuất khẩu, nhậpkhẩu hàng hóa phải điều chỉnh sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp.
Thứ hai, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là thuế gắn liền với hoạt động ngoại
thương Hoạt động ngoại thương giữ một vai trò quan trọng trong sự pháttriển của nền kinh tế quốc dân, tuy nhiên hoạt động này đòi hỏi phải có sựquản lý chặt chẽ của nhà nước Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một công cụquan trong của nhà nước nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương thông quaviệc triển khai, kiểm tra, tính thuế đối với các hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.Việc đánh thuế xuất khẩu, nhập khẩu thường căn cứ vào giá trị và chủng loạihàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Giá trị của hàng hóa được xác định làm căn
cứ tính thuế xuất khẩu, nhập khẩu là giá trị của hàng hóa tại cửa khẩu đầutiên Giá trị tính thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải phản ánh khách quan, trungthực giá trị giao dịch thực tế của hàng hóa nhập khẩu
Thứ ba, thuế xuất khẩu, nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của các
yếu tố quốc tế như: sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc
tế, những quy định của các tổ chức kinh tế, tài chính của thế giới… Thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu điều chỉnh vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa củamột quốc gia Sự biến động của kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tếtrong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu củacác quốc gia, nhất là trong xu thế tự do hóa thương mại, mở cửa và hội nhậpkinh tế như hiện nay Từ đó, các yếu tố quốc tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tớichính sách thuế nhập khẩu từng quốc gia Để đạt được những mục tiêu đặt ra,đòi hỏi chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải có tính linh hoạt cao, có sựthay đổi phù hợp tùy theo sự biến động của kinh tế thế giới và thương mại
Trang 8quốc tế, ngoài ra chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu còn phải đảm bảo phùhợp với hiệp định, cam kết quốc tế mà mỗi quốc gia ký kết, tham gia.
1.1.1.2.2 Vai trò của thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu đóng vai trò hết sức quan trọng trong việcđiều tiết nền kinh tế đất nước, bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nướcphát triển, đóng góp số thu cho ngân sách.Thuế quan là thuế chính phủ đánhvào hàng hóa chuyên chở qua biên giới quốc gia hoặc lãnh thổ hải quan Thuếquan gồm thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu ( thuế nhập khẩu
và thuế xuất khẩu) Thuế xuất khẩu là một công cụ mà các nước phát triển,hay sử dụng để đánh vào một số mặt hàng nhằm tăng lợi ích quốc gia Mụcđích của áp dụng thuế xuất nhập khẩu nhằm:
- Huy động nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước
- Hạn chế xuất khẩu các mặt hàng cần thiết và những loại vật tư, nguyênliệu quý hiếm để phát triển nền kinh tế trong nước, thỏa mãn nhu cầuthị trường hay bảo vệ môi trường sinh thái
- Thúc đẩy sản xuất nội địa
- Tăng cường hoặc hạn chế hàng hóa ra vào thị trường trong nước
- Thông qua công cụ thuế Nhà nước khuyến khích và thu hút đầu tư nướcngoài Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
- Góp phần hướng dẫn tiêu dùng trong nước
- Góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hợp tác quốc tế
Do thuế xuất khẩu, nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế,nên nhà nước phải có chính sách phù hợp để quản lý đối với loại thuế này.Nhìn chung chính sách thuế quan của các quốc gia trong điều kiện hiện nayđều có ảnh hưởng nới lỏng sự hạn chế thương mại, từng bước giảm dần cácmức thuế trên cơ sở các hiệp định đa phương và song phương Thương lượngtrong việc xây dựng biểu thuế quan được coi như là một đặc trưng cơ bản của
Trang 9chính sách thuế nhập khẩu trong những thập kỷ gần đây Sự hình thành củaliên minh thuế quan có ảnh hưởng nhất định đến lượng hàng hóa được traođổi giữa các nước trong liên minh và các nước ngoài liên minh Chính sáchliên minh thuế quan đã có tác động làm tăng đáng kể khối lượng thương mạigiữa các nước liên minh, trong khi đó nó lại tạo ra một hàng rào ngăn cảnhàng hóa các nước ngoài liên minh Do đó, Việt Nam đang nỗ lực mở rộngquan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới để tạo điều kiện cho hoạt độngxuất nhập khẩu.
1.1.1.3 Đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế
Đối tượng chịu thuế: là hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua
cửa khẩu, biên giới, kể cả hàng hóa trong nước đưa vào khu chế xuất và từkhu chế xuất đưa ra thị trường trong nước
- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam.Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và
từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước
- Hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu
Một số hàng hóa sau đây không chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
- Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu, biêngiới việt nam, hàng hóa vận chuyển theo quy định của chính phủ
- Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại
- Hàng hóa từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài, hàng hóa nhậpkhẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phithuế quan, hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuếquan khác
- Hàng hóa là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của nhà nước khi xuấtkhẩu
Trang 10Đối tượng nộp thuế: là tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa hoặc
nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
- Chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Tổ chức nhận ủy thác xuất, nhập khẩu
- Cá nhân có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh;gửi hay nhận hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Vệt Nam
1.1.2 Những vấn đề chung về quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
1.1.2.1 Khái niệm, mô hình quản lý thu thuế
Quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu là nội dung quan trọng trongcông tác quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm việc tổ chức bộ máy thuthuế và xây dựng quy trình quản lý thu Hay có thể hiểu quản lý thu thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu là việc tổ chức các biện pháp hành thu nhằm tập trung đầy
đủ, kịp thời số thuế xuất khẩu, nhập khẩu vào Ngân sách nhà nước
Cho đến nay trên thế giới nhìn chung tồn tại hai mô hình quản lý thuthuế: Mô hình quản lý thu thuế do cơ quan thuế tính thuế và mô hình quản lýthu thuế theo cơ chế người nộp thuế tự kê khai, tự nộp
Với mô hình thu thuế theo cơ chế cơ quan thuế tính thuế thì nhiệm vụcủa cơ quan thuế là phải tự tính thuế dựa trên những số liệu có được từ việckiểm tra toàn bộ tờ khai của đối tượng nộp thuế, trên cơ sở số thuế đã xácđịnh cơ quan thuế ra thông báo số thuế phải nộp cho từng đối tượng nộp thuế.Nhận được thông báo nộp thuế, đối tượng nộp thuế có trách nhiệm thực hiệnđầy đủ nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Mô hình này có nhược điểm là:Không có niềm tin đối với đối tượng nộp thuế; mang tính chất áp đặt, chủ yếudựa vào quyền lực của cơ quan thuế; gây tranh cãi giữa người nộp thuế và cơquan thu thuế trong quá trình tính tính số thuế phải nộp; tiến độ thu thuế diễn
ra chậm chạp; gia tăng chi phí nộp thuế nhất trong điều kiện đối tượng nộpthuế phát triển nhiều
Trang 11Với mô hình quản lý thu thuế theo cơ chế đối tượng tự khai tự nộp,người nộp thuế căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh của mình tự khaibáo và tự tính số thuế mà mình phải thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Nhìn chung so với mô hình quản lý thu thuế theo cơ chế cơ quan tự tínhthuế ra thông báo số thuế thì mô hình quản lý thu thuế theo cơ chế người nộp
tự khai nộp có nhiều ưu điểm hơn: thủ tục quản lý thuế rõ ràng minh bạch;trách nhiệm của đối tượng nộp thuế được nâng cao; cơ quan thuế có nhiềuthời gian và nguồn lực hoạt động hiệu quả hơn; khắc phục được nhược điểmcủa cơ chế cơ quan thuế tự tính thuế, ra thông báo số thuế phải nộp Tuynhiên, để thực hiện được cơ chế tự khai tự nộp đòi hỏi phải có những điềukiện nhất định Những điều kiện đó là: Người nộp thuế phải hiểu rõ nghĩa vụnộp thuế của mình; Thủ tục nộp thuế phải đơn giản; Hệ thống thưởng phạtphải nghiêm minh và công bằng; Công tác thanh tra giám sát việc thu nộpthuế phải được đẩy mạnh; Đội ngũ cán bộ thuế và cán bộ các cơ quan liênquan đến lĩnh vực thu nộp thuế phải tinh thông nghiệp vụ, có đạo đức nghềnghiệp Thực hiện quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai nộp, cơ quan thuế phải
có trách nhiệm: Hỗ trợ, hướng dẫn người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa
vụ đối với Nhà nước; xử lý tờ khai, kế toán thuế; thu nợ và cưỡng chế thuế;thực hiện QLRR thuế
1.1.2.2 Đặc điểm, nội dung, tổ chức thực hiện thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
1.1.2.2.1 Đặc điểm của quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu là giai đoạn khó khăn và phứctạp bởi việc giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong việc thực thi pháp luậtthuế và mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế Các biệnpháp quản lý thu thuế phải được thể chế hóa bằng những văn bản pháp quy đểchuẩn hóa các khâu quản lý thu thuế, đảm bảo tính công bằng, công khai, dân
Trang 12chủ trong quản lý thuế.Việc tổ chức quy trình quản lý thu thuế xuất khẩu,nhập khẩu chịu sự chi phối bởi tư duy quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu, cácđiều kiện kinh tế - xã hội, trình độ quản lý, trình độ trang thiết bị quản lý của
cơ quan hải quan, trình độ nhận thức của người nộp thuế, tổ chức bộ máy thuthuế của cơ quan Hải quan và các quy định của pháp luật Đó là những đặcđiểm cơ bản của quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Mục tiêu, yêu cầu và nguyên tắc quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩunói riêng đểu phải thực hiện cho được các mục tiêu, yêu cầu và những nguyêntắc nhất định
• Mục tiêu đặt ra cho công tác quản lý thu thuế là:
- Bảo đảm hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán thu thuế do cơquan có thẩm quyền phê duyệt;
- Bảo đảm các văn bản pháp luật về thuế được thực hiện nghiêm từ đốitượng nộp thuế cũng như đối tượng thu thuế;
- Phát huy được vai trò tích cực của công cụ thuế trong việc thực hiện cácmục tiêu của kinh tế vĩ mô
• Nhằm đạt được các mục tiêu trên, công tác quản lý thu thuế phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau đây:
- Quán triệt đầy đủ các quy định của các văn bản pháp luật về thuế, tổ chứctriển khai các biện pháp, phương pháp thu đúng quy định trong các văn bảnpháp luật về thuế
- Các biện pháp và phương pháp thu thuế phải được hoạch định và triểnkhai thực hiện sát với yêu cầu của thực tiễn
- Thực hiện đầy đủ các yêu cầu về điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nướctrong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội
• Các nguyên tắc cần quán triệt trong quá trình quản lý thu thuế
Trang 13Nhằm thực hiện có kết quả những mục tiêu và yêu cầu trên, trong quátrình triển khai các biện pháp quản lý thu thuế, cần phải quán triệt đầy đủ cácnguyên tắc sau:
- Nguyên tắc thống nhất tập trung dân chủ Nội hàm của nguyên tắc này là:Bảo đảm đầy đủ các quy định trong các văn bản pháp luật về thuế trong quátrình triển khai các biện pháp quản lý thu thuế; Thống nhất quy trình, nghiệp
vụ quản lý thu thuế và vận dụng thống nhất các văn bản pháp luật về thuế;Thống nhất về trình tự, thời gian, yêu cầu và hình thức mẫu biểu trong lập dựtoán và quyết toán thuế; Thống nhất việc chỉ đạo thu thuế từ trung ương đếnđịa phương; Phát huy tính chủ động linh hoạt của cơ sở trong việc khai thácnguồn thu của thuế; Tôn trọng quy trình xây dựng dự toán thuế bắt nguồn từ
- Nguyên tắc phù hợp Trong quá trình quản lý thu thuế đòi hỏi các biệnpháp triển khai công tác thu thuế phải: Phù hợp với những quy định trong cácvăn bản pháp luật về thuế hiện hành; Phù hợp với thực tế diễn biến tình hìnhkinh tế tài chính của đất nước nói chung và tính hình thực tế sản xuất kinhdoanh của đối tượng nộp thuế nói riêng; Phù hợp với những quy định mangtính chất thông lệ quốc tế trong lĩnh vực quản lý thu thuế được áp dụng phổbiến ở các nước
Quy trình quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
Trang 14Một hệ thống thuế hiện đại phải được thể hiện ở quy trình quản lý thuthuế hiện đại, tối ưu Quy trình quản lý thu thuế bao gồm nhiều khâu, mỗikhâu đều có gắn bó hữu cơ với nhau
• Đăng ký đối tượng nộp thuế
Mục tiêu của việc kê khai đăng ký thuế là nhằm giúp cho cơ quan hảiquan quản lý chặt chẽ đối tượng nộp thuế, quản lý hồ sơ đối tượng nộp thuế,lưu giữ, tra cứu, kiểm tra khi cần thiết
- Theo phương thức thủ công, mỗi đối tượng nộp thuế được cấp sổ đăng
ký riêng lẻ Quá trình lập sổ bộ được thực hiện thông qua sổ sách, giấy tờ vàlưu giữ hồ sơ Nhược điểm của phương thức này là khó tra cứu khi cần thiết,
dễ bị thất lạc, tốn thời gian và chi phí
- Trong phương thức hiện đại là phải xây dựng một hệ thống mã số đốitượng nộp thuế thống nhất trên toàn quốc Mỗi đối tượng nộp thuế được gắnvới một mã số duy nhất Hệ thống mã số đối tượng nộp thuế là tiền đề choviệc ứng dụng tin học trong quản lý thu thuế, việc tra cứu, cung cấp thông tin,quản lý đối tượng nộp thuế trở nên nhanh chóng, thuận tiện và chính xác
• Tiếp nhận xử lý tờ khai
Nếu một đơn vị hoặc một cá nhân muốn xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoáthì chủ hàng đó phải khai báo các thông tin liên quan tới lô hàng (số lượngmặt hàng, trị giá, trọng lượng, tiền thuế) thông qua tờ khai hải quan
Trong mô hình quản lý thủ công, toàn bộ các thủ tục để mở tờ khai hảiquan được thực hiện tại các Chi cục hải quan Nhưng trong phương pháp quản
lý hải quan hiện đại áp dụng tin học hóa, các doanh nghiệp có thể khai báotrực tiếp tại các Chi cục hải quan hoặc có thể đăng kí mở tờ khai hải quan quamạng Việc tin học hoá hải quan điện tử đã làm cho các thủ tục hải quan đượcrút ngắn, giảm bớt chi phí thu của cơ quan Hải quan và chi phí của các doanhnghiệp khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Trang 15• Kiểm tra hàng hóa
Trong phương pháp quản lý hải quan truyền thống, áp dụng cách thứcquản lý thủ công thực hiện kiểm tra đối với toàn bộ hàng hóa ra vào lãnh thổ.Phương pháp quản lý này dẫn tới sự thiếu thống nhất, tùy tiện, thiếu kháchquan trong quá trình làm thủ tục thông quan cho hàng hóa; các chủ hàng gặpnhiều bất lợi khi phải mất nhiều thời gian thông quan cho một lô hàng Ngoài
ra cũng là một kẽ hở để chủ hàng có thể lợi dụng, dễ dẫn tới một số hành vitiêu cực từ phía lực lượng hải quan
Theo phương pháp quản lý hải quan hiện đại, hệ thống xử lý dữ liệucủa cơ quan hải quan sẽ tự động xác định lô hàng được phân vào luồng xanh(miễn kiểm tra), luồng vàng (kiểm tra toàn bộ chứng từ) hoặc luồng đỏ (kiểmtra thực tế hàng hóa) đã tạo nên sự khách quan trong xử lý và tăng khối lượngcông việc được giải quyết, giảm bớt phần việc của công chức hải quan đồngthời hạn chế được những tiêu cực xảy đến với lực lượng hải quan
• Tính thuế và thông báo thuế
Theo quy trình nộp thuế truyền thống, cơ quan Hải quan tính thuế và rathông báo số thuế phải nộp Định kì theo thời gian hoặc theo chuyến hàng,trên cơ sở những quy định trong luật thuế và các hoạt động sản xuất kinhdoanh, các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế và nộp tờ khai thuế cho cơquan Hải quan
Trong phương pháp quản lý hải quan hiện đại, các đối tượng nộp thuếphải tự kê khai, tự tính thuế, và nộp thuế Số thuế phải nộp căn cứ vào thôngbáo nộp thuế của các cơ quan Hải quan Cơ quan Hải quan có trách nhiệmkiểm tra sự chính xác trong kê khai và tính thuế của đối tượng nộp thuế, trên
cơ sở đó phát hành thông báo thuế
• Thông quan hàng hóa
Trang 16Khi các doanh nghiệp hoàn thành những thủ tục trên thì tuỳ theo mặthàng mà các cơ quan Hải quan ra quyết định thông quan hàng hoá được bảoquản trong kho vận của hệ thống.
• Kiểm tra sau thông quan
Với mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính, cơ quan Hải quan đãgiảm bớt việc kiểm tra thực tế hàng hóa mà chuyển sang quá trình kiểm trasau thông quan Đây là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm thẩmđịnh tính chính xác, trung thực của nội dung các chứng từ mà các đối tượngnộp thuế đã xuất trình với cơ quan Hải quan để ngăn chặn kịp thời các trườnghợp vi phạm chính sách quản lý đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đãđược thông quan Đối tượng kiểm tra sau thông quan là các chứng từ, sổ sách
kế toán, các chứng từ khác có liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu;hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được thông quan Việc kiểm tra sau thôngquan chỉ được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quanvới hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan
1.1.2.2.2 Nội dung quản lý thu thuế.
Nội dung cơ bản của quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu bao gồm:Quản lý đối tượng nộp thuế; quản lý căn cứ tính thuế; quản lý thu nộp tiềnthuế; quản lý miễn, giảm, hoàn thuế
- Quản lý đối tượng nôp thuế
Quản lý đối tượng nộp thuế là khâu đầu tiên và quan trọng nhất đối vớicông tác quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu Để quản lý đối tượng nộpthuế xuất khẩu, nhập khẩu, cơ quan Hải quan cần quản lý chặt chẽ các đốitượng kinh doanh có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thường xuyên thông quaviệc cấp mã số thuế Cơ quan Hải quan sẽ xây dựng các cơ sở dữ liệu vê quátrình chấp hành pháp luật, đặc điểm kinh doanh của đối tượng nộp thuế Trên
cơ sở các thông tin thu thập được, cơ quan Hải quan có căn cứ để phân loại
Trang 17các đối tượng nộp thuế để áp dụng hình thức kiểm tra hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu phù hợp theo quy định và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đôn đốc,thu nộp tiền thuế sau này.
- Quản lý thu nộp tiền thuế
Đây là nội dung quan trọng trong công tác quản lý thu thuế, do vậy cần
có những cách thức quản lý phù hợp để tập trung đầy đủ, kịp thời số thu thuếvào Ngân sách Bên cạnh việc đẩy mạnh quá trình cải cách thủ tục hànhchính: Tự kê khai, tính và thu nộp tiền thuế của các đối tượng nộp thuế, cơquan Hải quan cần tổ chức chặt chẽ khâu tổ chức thu nộp Mối quan hệ giữaHải quan, Thuế, Kho bạc và Ngân hàng phải được tăng cường; đẩy nhanhviệc nối mạng giữa các cơ quan này để thuận lợi cho quá trình trao đổi thôngtin, đảm bảo việc thanh khoản, xác định nộp thuế kịp thời
Ngoài ra, cơ quan Hải quan cần tập trung quản lý chặt chẽ các đốitượng kinh doanh nhập khẩu không thường xuyên, hoặc mới ra kinh doanh,các đối tượng có hàng hóa xuất, nhập khẩu được hưởng thời hạn nộp thuế kéodài,… để đảm bảo việc đôn đốc, thu nộp thuế; phát hiện các trường hợp viphạm như: sử dụng hàng hóa nhập khẩu sai mục đích đã đăng ký, dây dưa, nợđọng tiền thuế… Từ đó, có các biện pháp xử lý triệt để
- Quản lý miễn, giảm, hoàn thuế
Chính sách miễn, giảm, hoàn thuế xuất, nhập khẩu nhằm thực hiện cácmục tiêu, chính sách ưu đãi thuế của nhà nước đối với một số đối tượng vàđảm bảo thực hiện đúng các thông lệ, tập quán thương mại quốc tế Tuynhiên, đây cũng là yếu tố để các đối tượng lợi dụng trốn thuế Vì vậy, cơ quanHải quan cũng cần phải quản lý chặt chẽ các trường hợp này
Căn cứ vào những nguyên tắc mang tính phổ biến, các nước tùy theohoàn cảnh cụ thể mà đưa ra những nội dung quản lý thu thuế khác nhau
Trang 18Ở Việt Nam theo Luật quản lý thuế được Quốc hội thông qua năm
2006, thì nội dung quản lý thu thuế bao gồm:
+ Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế
+ Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
+ Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
+ Quản lý thông tin về người nộp thuế
+ Kiểm tra thuế, thanh tra thuế
+ Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
+ Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuế
Tóm lại, thuế và quản lý thu thuế là một lĩnh vực rất nhạy cảm đối vớiquá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Trong bối cảnh phát triển kinh
tế thị trường, hội nhập, mở cửa hầu hết các quốc gia đều theo đuổi con đườngcải cách, đổi mới hệ thống thuế bao gồm cải cách đổi mới hệ thống chính sáchthuế và cải cách, đổi mới cơ chế quản lý thu thuế nhằm làm cho thuế thực sự
là công cụ quan trọng trong quản lý vĩ mô của nền kinh tế Quá trình cải cách,đổi mới công tác quản lý thu thuế là một quá trình phối kết hợp chặt chẽ giữacác cơ quan hữu quan, trong đó có cơ quan Kho bạc nhà nước
1.1.2.3 Sự cần thiết tăng cường công tác quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.
Trong điều kiện giao lưu kinh tế với nước ngoài, tăng cường công tácquản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa đối với nước ta là một đòi hỏikhách quan, xuất phát từ các lý do sau:
Xuất phát từ tầm quan trọng thuế xuất khẩu, nhập khẩu khẩu hàng
hóa
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu với vai trò quan trọng là công cụ bảo hộ sảnxuất trong nước, là công cụ để kiểm soát hoạt động ngoại thương và là nguồn
Trang 19thu chủ yếu của NSNN Đảm bảo nguồn thu cho NSNN là một yêu cầu quantrọng của thuế xuất khẩu, nhập khẩu, trong điều kiện nước ta hiện nay donguồn thu thuế, phí khác còn hạn chế Trong tiến trình hội nhập kinh tế, việccắt giảm thuế suất theo các cam kết quốc tế dẫn đến xu hướng giảm về tỷtrọng thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong tổng số thu ngân sách nhà nước,đòi hỏi công tác quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải được tăng cườnghiệu quả kết hợp với việc mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng, thu hẹp ưu đãithuế xuất khẩu, nhập khẩu để đảm bảo thuế xuất khẩu, nhập khẩu vẫn là mộtnguồn thu lớn và có vai trò quan trọng trong tổng số thu NSNN ở nước tatrong tương lai ngắn và trung hạn.
Xuất phát từ tính phức tạp của quá trình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
Xuất khẩu, nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá với nước ngoài nhằmphát triển sản xuất kinh doanh và đời sống Song việc mua hàng ở đây cónhững nét riêng phức tạp hơn mua bán trong nước: như giao dịch với nhữngngười có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớn khó kiểm soát, mua bánqua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh,hàng hoá phải vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu các quốc gia khác nhau,phải tuân thủ các tập quán, thông lệ quốc tế cũng như của địa phương Chính
vì vậy, quá trình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế lại càng đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với việc tổ chức quản lýthu thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, đảm bảo được mục tiêu kiểm soátchặt chẽ hoạt động ngoại thương cũng như thu đúng, thu đủ số thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu vào NSNN
Xuất phát từ thực tế công tác quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hóa.
Thực tế ở nước ta cho thấy công tác quản lý thu thuế xuất khẩu, nhậpkhẩu hiện nay tuy đã có những cải tiến quan trọng theo hướng cải cách thủ tục
Trang 20hành chính, đơn giản hóa, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuấtkhẩu, nhập khẩu, song vẫn có nhiều lỗ hổng nhất định dẫn tới Ngân sách nhànước bị thất thoát hàng chục, hàng trăm tỉ đồng mỗi năm Những quy định vềthuế xuất khẩu, nhập khẩu chưa đảm bảo tính chặt chẽ làm giảm hiệu lực, hiệuquả và gây nên tình trạng nợ đọng thuế kéo dài; Các quy định liên quan đến thủtục thu, nộp thuế còn rườm rà, gây cản trở đến tiến trình cải cách hành chính,hiện đại hóa hệ thống Thuế, Kho bạc và Hải quan; Để đáp ứng được yêu cầuphát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo nguồn thu cho ngânsách, đảm bảo tính ổn định, rõ ràng và minh bạch; phù hợp với tiến trình cảicách đồng bộ hệ thống chính sách thuế thì công tác quản lý thu thuế xuất khẩu,nhập khẩu cần được hoàn thiện, tăng cường hiệu quả là một yêu cầu tất yếu.
1.2 Quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua KBNN.
1.2.1 Sự cần thiết quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua KBNN
Ở Việt Nam, việc chuyển một phần công tác quản lý thu thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu sang Kho bạc được coi là một yêu cầu cần thiết Sự cần thiết
đó bắt nguồn từ những lý do chủ yếu sâu đây:
Thứ nhất, trong những năm gần đây Việt Nam đã có sự chuyển mạnh
sang mô hình quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp Một trong nhữngyêu cầu thực hiện cơ chế tự khai tự nộp là tạo điều kiện thuận lợi cho đốitương nộp thuế thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN Nhận thấy việc nộp thuếqua kho bạc có nhiều thuận lợi cho người nộp thuế bởi lẽ đa phần các đốitượng nộp thuế đều có tài khoản tiền gửi ở Kho bạc hoặc Ngân hàng thươngmại Mặt khác, giữa Ngân hàng thương mại và KBNN có mối quan hệ kháchặt chẽ trong hoạt động tài chính, tiền tệ Vì vậy, việc nộp thuế qua kho bạc
sẽ tạo được điều kiện thuận lợi về thời gian và chi phí cho người nộp thuế
Thứ hai, việc chuyển một phần công tác quản lý thu thuế xuất khẩu,
nhập khẩu cho kho bạc đảm nhận sẽ tạo ra sự giám sát lẫn nhau giữa cơ quan
Trang 21Hải quan, Kho bạc và đối tượng nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ đốivới NSNN
Thứ ba, về phía cơ quan Hải quan, chuyển một phần công tác quản lý
thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu sang KBNN tạo điều kiện thuận cho cơ quanHải quan có thời gian để thúc đẩy công tác kiểm tra, thanh tra thuế, tăngcường công tác tư vấn thuế cho đối tượng nộp thuế, đồng thời giảm đượcnguồn nhân lực và chi phí hành thu
Từ những lý do trên có thể nói, việc chuyển một phân công tác quản lý thuthuế xuất khẩu, nhập khẩu sang kho bạc đảm nhận được coi là một trong nhữngđiểm có tính chất đột phá của công tác quản lý thu thuế và hết sức cần thiết
Ở Việt Nam, hệ thống KBNN được thành lập vào năm 1990, thực hiệnchức năng quản lý Nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính Nhà nước vàcác quỹ khác của Nhà nước được giao theo quy định của pháp luật; thực hiệnviệc huy động vốn cho NSNN, cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hànhcông trái, trái phiếu theo quy định của pháp luật Do vậy, nhiệm vụ hàng đầucủa hệ thống KBNN là tập trung các khoản thu NSNN (trong đó thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu là một trong những khoản thu chủ yếu của NSNN), thực hiệnhạch toán số thu NSNN cho các cấp Ngân sách theo quy đinh của pháp luật
Theo quy định của luật NSNN, mọi khoản thu NSNN đều được nộptrực tiếp tại KBNN Vì thế, KBNN là cơ quan trực tiếp thu thuế, trực tiếphạch các khoản thuế vào các cấp Ngân sách Qua số liệu thu thuế của KBNN,
ta nắm được tình hình thực tế của số thuế đã huy động được của từng loạithuế, và tình hình hoàn thành nhiệm vụ thuế của từng cấp Ngân sách, trên cơ
sở đó đề ra các văn bản, chính sách, chế độ thuế phù hợp với tình hình thực tế.Vậy cần thiết quản lý tốt công tác thu thuế qua KBNN để góp phần huy độngtối đa các khoản thuế cho NSNN
1.2.2 Nội dung quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua KBNN
Trang 22*Thu và nộp thuế vào NSNN
Trường hợp đối tượng nộp thuế tự tính thuế thì đối tượng nộp thuế tự
kê khai, tính số thuế phải nộp và nộp số thuế phải nộp vào KBNN; đồng thờigửi hồ sơ khai thuế cho cơ quan Hải quan Cơ quan Hải quan có trách nhiệmthực hiện công tác kiểm tra, thanh tra việc tự khai, tính và nộp thuế của cácđối tượng nộp thuế thuộc phạm vi quản lý Đối tượng nộp thuế tự chịu tráchnhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác cua việc tự kê khai, tính
và nộp thuế
Cơ quan Hải quan phối hợp với KBNN tổ chức quản lý, tập trung đầy
đủ kịp thời các khoản thuế vào KBNN Các tổ chức cá nhân có nghĩa vụ nộpthuế đầy đủ, đúng hạn vào NSNN theo đúng quy định của pháp luật Trườnghợp chậm nộp mà không được phép sẽ bị cưỡng chế nộp và xử lý theo quyđịnh của pháp luật, pháp lệnh thuế và các văn bản luật khác của Nhà nước.Theo Luật Quản lý thuế, thời hạn nộp thuế được quy định như sau:
Trường hợp đối tượng nộp thuế tự tính thuế: thời hạn nộp thuế chậm
nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
Trường hợp cơ quan quảnlý thuế tính thuế hoặc ấn định thuế: thời hạn
nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan quản lý thuế
Thời hạn nộp thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là ba mươi
ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu; trướckhi nhập hàng hoặc không quá ba mươi ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai Hảiquan nếu có bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp đối với hàng hoá nhập khẩu làhàng tiêu dùng; hai trăm bảy lăm ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai Hải quan đốivới hàng hoá nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu,trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ có thể kéo dài hơn hai trămbảy lăm ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái
Trang 23nhập; ba mươi ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai Hải quan đối với hàng hoákhác Trường hợp hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu bị tạm giữ chờ xử lý của cơquan Hải quan hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì thời hạn nộp thuếđược tính từ ngày ra quyết định xử lý Ngày nộp thuế được xác định là ngàyKBNN, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng hoặc tổ chức dịch vụ xácnhận trên chứng từ nộp thuế của đối tượng nộp thuế trong trường hợp nộp thuếbằng chuyển khoản; KBNN; cơ quan quản lý thuế hoặc tổ chức được uỷ nhiệmthu thuế cấp chứng từ thu tiền trong trường hợp nộp thuế bằng tiền mặt.
1.3 Cơ chế phối kết hợp giữa cơ quan Hải quan và KBNN trong quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
1.3.1 Sự cần thiết phối kết hợp giữa cơ quan Hải quan và KBNN trong quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
- Xuất phát từ sự gia tăng của đối tương nộp thuế xuất, nhập khẩu.
Trong những năm gần đây, Nhà nước tăng cường chủ trương mở cửa hộinhập quốc tế nên giao dịch quốc tế ngày càng tăng, khối lượng giao dịch ngàycàng lớn, kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt nam hàng năm tăng lên đã tácđộng tới số thu thuế từ hoạt động xuất, nhập khẩu Người nộp thuế xuất, nhậpkhẩu ngày càng tăng về cả số lượng người nộp và doanh số thu nộp Do đóđòi hỏi sự phối kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan Kho bạc và cơ quan Hải quantrong việc bố trí các điểm thu, phương thức thu hợp lý, đảm bảo tạo điều kiệnthuận lợi cho người nộp
- Xuất phát từ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Việc triển khai phối hợp giữa Kho bạ và Hải quan trong việc thu thuếxuất, nhập khẩu thông qua chương trình mở rộng hiện đại hóa thu ngân sách
sẽ giúp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về ngành Hải quan chuyển từphương thức hải quan thủ công sanh Hải quan hiện đại, là tiền đề để triển khai
Trang 24cơ chế một cửa Đó chính là con đường tất yếu cho sự phát triển tất yếu trướcyêu cầu thực tiễn việc gia tăng hoạt động xuất, nhập khẩu.
- Xuất phát từ yêu cầu cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ.
Hiện nay nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan hànhchính sự nghiệp nói chung và cơ quan Kho bạc và Hải quan nói riêng là mộtyêu cầu cấp thiết vì còn nhiều thủ tục rườm rà và phúc tạp đối với người nộpthuế Vì vậy việc phối kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan và Kho bạctrong việc thu thuế xuất, nhập khẩu sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho ngườinộp thuế, giảm thiểu được các thủ tục không cần thiết, tiết kiệm được chi phícho cả cơ quan Kho bạc, Hải quan và người nộp thuế
1.3.2 Nội dung phối kết hợp giữa cơ quan Hải quan và KBNN trong quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
Quá trình thực hiện cơ chế thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu tại KBNN cóliên quan đến nhiều cơ quan chức năng Cụ thể nhiêm vụ của các cơ quan liênquan trong quá trình tổ chức thu thuế và trao đổi thông tin số liệu thuế như sau:
a Cơ quan Hải quan:
- Tính toán, xác định mức thu và ra thông báo thu; chịu trách nhiệm vềtính chính xác về chương, loại, khoản, mục, tiểu mục theo mục lục ngân sáchnhà nước đối với từng khoản thu ghi trong thông báo thu
- Theo dõi, quản lý, đôn đốc các đối tượng nộp thuế vào Ngân sách nhànước
- Trực tiếp thu các khoản thuế theo nhiệm vụ được giao và nộp vàoKho bạc Nhà nước đầy đủ, kịp thời theo quy định
- Quyết định các trường hợp tạm thu để Kho bạc Nhà nước làm căn cứhạch toán kế toán; quyết định xử lý các khoản tạm thu theo chế độ quy định
- Kiểm tra, xem xét và ra lệnh hoàn trả đối với các khoản thu sai chế độhoặc được hoàn trả theo chế độ quy định
Trang 25- Kiểm tra và giải quyết các khiếu nại về thu nộp thuế; quyết định xửphạt các hành vi vi phạm chế độ thu nộp thuế theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức kế toán thu ngân sách nhà nước theo chế độ kế toán thống kê
b Kho bạc Nhà nước
Tập trung các khoản thuế vào Ngân sách Nhà nước và phân chia cáckhoản thuế cho ngân sách các cấp theo đúng tỷ lệ phần trăm (%) phân chiađược cấp có thẩm quyền quyết định đối với từng khoản thu;
- Tổng hợp, lập báo cáo thu thuế gửi cơ quan Tài chính và các cơ quanhữu quan theo chế độ quy định
Phối hợp kiểm tra và đối chiếu số liệu thu thuế với các cơ quan Hảiquan bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời; xác nhận số liệu thu NSNN theoyêu cầu của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Thực hiện hoàn trả các khoản thuế theo lệnh của cơ quan Hải quan
c Cơ quan Tài chính:
- Phối hợp với cơ quan thu, KBNN trong việc tập trung các khoản thuếvào NSNN; đôn đốc các đối tượng thuộc phạm vi quản lý nộp đầy đủ, kịp thờicác khoản thuế vào KBNN
Trang 26d Ngân hàng nơi đối tượng nộp mở tài khoản:
- Có trách nhiệm chuyển tiền theo yêu cầu của đối tượng nộp vàoKBNN để nộp NSNN; lập và gửi các chứng từ đầy đủ, kịp thời, đúng mẫubiểu do Bộ Tài chính quy định để KBNN làm căn cứ hạch toán thu NSNN
- Thực hiện trích tài khoản tiền gửi của đối tượng nộp theo yêu cầu(bằng văn bản) của cơ quan thu để nộp ngân sách nhà nước
1.3.3 Tổ chức thực hiện thu thuế Hải quan
Để tiến hành thu thuế Hải quan, một hệ thống quản lý thu thuếđược thiết lập và vận hành, từ cấp trung ương (là Tổng cục Hải quan)đến từng điểm thu (là tất cả các Cục Hải quan) Bên cạnh đó, cơ quanHải quan được cơ quan Kho bạc nhà nước hỗ trợ trong việc tiếp nhậncác tài khoản thu nộp vào NSNN Đến nay, Tổng cục Hải quan và Khobạc Nhà nước còn phối hợp với các Ngân hàng thương mại để đẩynhanh tốc độ xử lý thông tin thu nộp, tạo điều kiện cho việc thông quanhàng hóa được nhanh chóng hơn
Việc phối kết hợp giữa ba cơ quan, về cơ bản được mô tả nhưsau:
Trang 27- Người nộp thuế khai báo số thuế phải nộp trên tờ khai Hải quan.Nếu được cơ quan Hải quan chấp nhận, hoặc phải có điều chỉnh, ngườinộp thuế ghi nhận và ra lệnh cho Ngân hàng phục vụ chuyển tiền vàotài khoản của cơ quan Hải quan tại Kho bạc Nhà nước.
- Ngân hàng phục vụ thực hiện lệnh chuyển tiền, đồng thời gửi thôngtin nộp thuế vào hệ thống quản lý của cơ quan Hải quan Trên cơ sởthông tin nộp thuế từ Ngân hàng chuyển đến, cơ quan Hải quan thựchiện giải phóng hàng hóa và thông quan lô hàng
- Khi Kho bạc Nhà nước nhận được số tiền từ Ngân hàng chuyển đến,Kho bạc Nhà nước gửi thông tin đối chiếu đến cơ quan Hải quan đểquan để xác nhận số tiền thuế đã thực nộp Cơ quan hải quan căn cứvào thông tin của Kho bạc Nhà nước để quyết toán khoản tiền thuếtrên hệ thống quản lý của cơ quan Hải quan
Khai báo số thuế phải nộp
ạc Thông tin nộp thuế
Chuyển tiền vào tài khoản hải quan
Ngân
hàng
Kho bạc nhà nước
Người
nộp
thuế
Cơ quan hải quan
Trang 28- Nếu trong thời gian quy định, Kho bạc Nhà nước chưa nhận được sốtiền, và chưa đối chiếu được với cơ quan Hải quan, thông tin sẽđược cơ quan Hải quan gửi đến Ngân hàng để Ngân hàng tự độngtrích tài khoản của người nộp thuế để chuyển tiền vào cho Kho bạcNhà nước Ngân hàng có trách nhiệm tự thông báo về yêu cầu thanhtoán của người nộp thuế.
Việc thu thuế hải quan phải đảm bảo một số yêu cầu cơ bản:
Một là, cơ quan Hải quan được đảm bảo số thu đủ số thuế trước khi giải
phóng hàng, đối với những hàng hóa phải nộp thuế trước khi giải phónghàng, hoặc trong thời gian ân hạn nộp thuế của hàng hóa, đối với nhữngloại hàng hóa có ân hạn nộp thuế
Hai là, Thông tin thu nộp thuế trên cơ sở dữ liệu của cơ quan phải cân
đối với số tiền thực thu thuế trên tài khoản thu ngân sách của cơ quanHải quan tại Kho bạc Nhà nước, do Kho bạc Nhà nước quản lý
Ba là, Thông tin thu nộp thuế phải thể hiện rõ được số tiền thuế phải
nộp theo từng sắc thuế của từng tờ khai hải quan cụ thể
Bốn là, Kết quả thu nộp thuế chỉ có hiệu lực khi giữa cơ quan Hải quan
và Kho bạc Nhà nước đã có thông tin đối chiếu Kho bạc Nhà nước đãbáo với cơ quan Hải quan số tiền đã được ghi nhận vào tài khoản của
cơ quan Hải quan về số tiền đã được ghi nhận vào tài khoản của cơquan Hải quan tại Kho bạc Nhà nước
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỰ PHỐI KẾT HỢP GIỮA CƠ QUAN HẢI QUAN VÀ
KBNN BẮC GIANG TRONG QUẢN LÝ THU THUẾ
XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
2.1 Giới thiệu khái quát về KBNN Bắc Giang
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của KBNN Bắc Giang
Cùng với sự ra đời của nước Việt nam dân chủ cộng hoà (năm 1945), Nhangân khố trực thuộc Bộ Tài chính đã được thành lập theo sắc lệnh số 45/TTg củaThủ tướng Chính phủ, với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là in tiền, phát hành tiềncủa Chính phủ, quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước, quản lý một số tài sản quý củaNhà nước bằng hiện vật như vàng, bạc, kim khí quý, đá quý
Từ năm 1951, nhiệm vụ của Nha Ngân khố được chuyển giao sang hệthống Ngân hàng cùng với việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (sauđổi tên là Ngân hàng Nhà nước) Trong giai đoạn này, trên nền tảng của cơ chế
kế hoạch hóa tập trung, Ngân hàng Nhà nước vừa thực hiện chức năng: Quản
lý Nhà nước và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, thực hiện vai trò là 3trung tâm tiền tệ - tín dụng - thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, vừa thựchiện nhiệm vụ của Nha Nhân khố bao gồm các công việc như chấp hành quĩNgân sách Nhà nước, tập trung các nguồn thu của Ngân sách nhà nước, tổ chứccấp phát chi trả các khoản chi Ngân sách Nhà nước theo lệnh của cơ quan Tàichính, làm nhiệm vụ kế toán thu, chi quỹ Ngân sách Nhà nước, in tiền, pháthành tiền, quản lý dự trữ Nhà nước về vàng bạc kim khí đá quý
Những năm cuối của thập kỷ 90, công cuộc đổi mới cơ chế quản lýkinh tế đất nước diễn ra một cách sâu sắc và toàn diện Ðể phù hợp với cơ chếquản lý kinh tế mới, cơ chế quản lý tài chính tiền tệ đã có sự thay đổi, đặc biệt
là các vấn đề có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của Tài chính và Ngân
Trang 30hàng Hệ thống Ngân hàng được tổ chức lại thành hệ thống Ngân hàng haicấp : Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên lĩnhvực tiền tệ tín dụng, các Ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh tiền tệ - tín dụng Nhiệm vụ quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước, các quỹ tài chính Nhànước được chuyển giao từ Ngân hàng Nhà nước cho Bộ Tài chính để hệ thốngTài chính thực hiện chức năng quản lý và điều hành Ngân sách Nhà nước tàichính quốc gia.
Quan điểm thành lập hệ thống Kho bạc trực thuộc Bộ Tài chính đểquản lý quỹ Ngân sách Nhà nước và tài sản quốc gia đã được Hội đồng Bộtrưởng (nay là Chính phủ) quyết định tại Nghị định số 155/HÐBT ngày15/10/1988 về chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính.Thực hiện nghị định của Hội đồng Bộ trưởng, từ năm 1988 - 1989, Bộ Tàichính đã có đề án thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước và tiến hành thửnghiệm tại hai tỉnh Kiên Giang (từ tháng 10/1988) và An Giang (từ tháng7/9189); kết quả cho thấy: việc quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước tại địa bànhai tỉnh trên thực hiện tốt, tập trung nhanh các nguồn thu, đáp ứng đầy đủ kịpthời các nhu cầu chi Ngân sách Nhà nước, trợ giúp đắc lực cho cơ quan Tàichính và chính quyền địa phương trong việc quản lý và điều hành Ngân sáchNhà nước, mặt khác đã tạo điều kiện cho các Ngân hàng Thương mại trên địabàn sắp xếp tổ chức lại hoạt động theo hướng kinh doanh trong lĩnh vực tiền
Trang 312.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của KBNN Bắc Giang
Cũng như hệ thống KBNN, KBNN Bắc Giang có các chức năng quản
lý tiền, tài sản của Nhà nước và một chức năng quan trọng và ngày càng đượckhẳng định là quản lý quỹ NSNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Từ Quyết định 07/QĐ-HĐBT ngày 04/01/1990 của Hội đồng Bộtrưởng (nay là Chính phủ) đến nay, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống KBNNnói chung và KBNN Bắc Giang nói riêng ngày càng được hoàn thiện và địnhhình rõ nét hơn, qua Nghị định 25/CP ngày 5/4/1995 của Chính phủ và gầnđây là Quyết định 235/2003/QĐ-TTg ngày 13/11/2003 của Thủ tướng chínhphủ Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, KBNN Bắc Giang là tổ chứctrực thuộc KBNN, có chức năng thực hiện nhiệm vụ KBNN trên địa bàn tỉnhBắc Giang Như vậy, KBNN Bắc Giang có chức năng, nhiệm vụ: thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và cácquỹ khác của nhà nước được giao theo quy định của pháp luật, huy động vốncho NSNN, cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếutheo quy định của pháp luật Do đó, nhiệm vụ của KBNN Bắc Giang có liênquan đến công tác thu NSNN nói chung và thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu nóiriêng trên địa bàn tỉnh trong cả chu trình NSNN
2.2 Khái quát công tác quản lý NSNN đối với thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua KBNN
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của công tác quản lý NSNN đối với thu thuế xuất khẩu nhập khẩu qua KBNN
Ngay từ những ngày đầu thành lập năm 1990, hệ thống KBNN BắcGiang đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan Thuế, Hải quan và cơ quan được uỷquyền thu và chính quyền các cấp bước đầu tổ chức thí điểm thành công thutrực tiếp qua KBNN tại những nơi có nguồn thu lớn và có số hộ kinh doanh
Trang 32tương đối tập trung, trên cơ sở đó mở rộng công tác thu thuế qua KBNN cả vềđịa điểm và đối tượng
Hệ thống Hải quan Việt Nam được thành lập theo Nghị định 16/CPngày 7/3/1994 của Chính phủ Mục đích là để thực hiện chức năng quản lýNhà nước về Hải quan trên phạm vi cả nước Hệ thống Hải quan Việt Nam cócác nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu là: Xây dựng các dự án luật pháp (luật,pháp lệnh), chính sách, chế độ và các văn bản pháp qui khác về quản lý hảiquan; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện công tác nghiệp vụ hải quannhư: thu các loại thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu như thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu và các khoản thu thuế khác theo qui định của Chínhphủ; kiểm soát chống buôn lậu; kiến nghị với Nhà nước các chủ trương, biệnpháp đối với hoạt động quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quácảnh, mượn đường Việt Nam, chính sách thuế quan, biện pháp chống buônlậu và vận chuyển trái phép qua biên giới có liên quan đến quản lý hải quan
Chi cục Hải quan các khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang trực thuộc CụcHải quan Bắc Ninh Cũng như hệ thống Hải quan, Chi cục Hải quan các khucông nghiệp tỉnh Bắc Giang có nhiệm vụ phối kết hợp với Kho bạc và các cơquan chức năng trên địa bàn thu các loại thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các khoản thu thuế kháctheo qui định của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; kiểm soát chốngbuôn lậu; kiến nghị với Nhà nước các chủ trương, biện pháp đối với hoạtđộng quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, xuất nhập trên địa bàn tỉnh
Trang 33Bảng 1 KIM NGẠCH XNK CỦA BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2008 - 2012
Nguồn: Báo cáo Chi Cục Hải quan
Từ ngày thành lập đến nay, các chế tài về quản lý thu NSNN nói chung
và thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng qua hệ thống KBNN trong đó cóKBNN Bắc Giang đã có nhiều thay đổi qua các giai đoạn khác nhau của cơchế quản lý tài chính của đất nước Theo số liệu tại Bảng 1, kim ngạch xuấtkhẩu, nhập khẩu của tỉnh Bắc Giang ngày càng tăng qua các năm, năm 2012tăng 44% so với năm 2011, trong đó nhập khẩu tăng 47%, xuất khẩu tăng42% Từ sự gia tăng của kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu trên địa bàn, công tác
tổ chức thu của KBNN Bắc Giang cần phải đáp ứng một cách kịp thời, đồng thờicần phải có những giải pháp triển khai thực hiện một cách hữu hiệu Trongnhững năm qua, Hệ thống KBNN Bắc Giang luôn quan tâm xây dựng và mởrộng các điểm thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu để phù hợp với khối lượng gia tăngcủa đối tượng nộp cũng như số thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu trên địa bàn; đồngthời, cùng với sự tiến bộ, phát triển của khoa học, phương thức và quy trình quản
lý thu luôn luôn được đổi mới nhằm tập trung nhanh nhất các khoản thu vàoNSNN và quản lý các khoản thu một cách hiệu quả nhất
2.2.2 Vận hành cơ chế quản lý nhà nước đối với thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua KBNN Bắc Giang
Trang 34Theo Luật NSNN 2002 (có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004)
và các văn bản dưới luật khác, thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua hệ thốngKBNN được thực hiện thống nhất theo những quy định cụ thể Vì vậy qua cácquy định đó có thể xem xét cơ chế quản lý nhà nước đối với thu thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu qua KBNN thông qua hiện trạng việc vận hành cơ chế tạiKBNN Bắc Giang
Sơ đồ vận hành thu thuế xuất khẩu nhập khẩu qua KBNN Bắc Giang
(1) Cơ quan thu ra thông báo thu
(2) Đối tượng nộp tiền theo các trường hợp:
2a Đối tượng nộp tiền mặt vào KBNN
2b Đề nghị ngân hàng chuyển tiền vào tài khoản của KBNN
2c Nộp tiền mặt cho cơ quan thu, sau đó cơ quan thu nộp cho KBNN (3) Hoạch toán thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
(4) Đối chiếu, kiểm tra giữa KBNN và cơ quan thu
(5) Hoạch toán, báo cáo và quyết toán thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Qua sơ đồ trên có thể thấy cơ chế quản lý thu thuế xuất khẩu, nhậpkhẩu qua KBNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã phản ánh khá đầy đủ cơ chếquản lý thu NSNN nói chung và thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng
KBNN
tỉnh,huyện
Cơ quan thu
Hoạch
toán thu
thuế
Đối chiếu kiểm tra
Đối tượng nộp
Ngân hàng
2c 5
4
1 c
2c 2a
2b 4
3
2c
Trang 35Từ khi thành lập đến nay dưới sự chỉ đạo, điều hành của KBNN, Hộiđồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bắc Giang, KBNN Bắc Giang đã phốikết hợp với cơ quan Hải quan và các cơ quan khác có liên quan thực hiện thuthuế xuất khẩu, nhập khẩu theo cơ chế quản lý nhà nước đối với thu ngân sáchvới kết quả thu NSNN ngày càng tăng (Bảng 2) Trong 5 năm thực hiện theo
cơ chế quản lý được quy định tại luật NSNN năm 2002, công tác thu thuếxuất, nhập khẩu qua KBNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã đạt được kết quả
cụ thể như sau:
Bảng 2 SỐ THU THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU CỦA BẮC
GIANG GIAI ĐOẠN NĂM 2008 – 2012
Đơn vị: Triệu đồng
Thuế GTGT hàng nhập khẩu 39.826 56.894 72.941 88.953 160.140GTGT NK qua biên giới đất
Thuế xuất khẩu qua biên giới
đất liền
Thuế nhập khẩu 2.188 6.251 15.247 30.495 117.380Thuế nhập khẩu qua biên giới
đất liền
Nguồn: Kho bạc nhà nước Bắc Giang
Trang 362.2.2.1 Nguyên tắc thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua KBNN
Nguyên tắc thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu qua KBNN được quy địnhtại Thông tư số 128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 của Bộ Tài chính Cácnguyên tắc này được vận hành cụ thể ở địa bàn tỉnh Bắc Giang với các nộidung:
- Các tổ chức, cá nhân, kể cả các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạtđộng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có trách nhiệm và nghĩa vụ nộp đầy đủ,đúng hạn các khoản thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật
- Cơ quan Hải quan; cơ quan Tài chính phối hợp với các đơn vị KBNNtrên địa bàn tổ chức quản lý, tập trung các khoản thu thuế xuất khẩu, nhậpkhẩu, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, bảo đảm mọi khoản thu phải được tậptrung đầy đủ, kịp thời vào NSNN
- Toàn bộ các khoản thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu được nộp qua Ngânhàng hoặc nộp trực tiếp vào KBNN
- Mọi khoản thu NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam
- Các khoản thu thuế được phân chia cho ngân sách các cấp theo đúng
tỷ lệ phần trăm (%) phân chia do Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh Bắc Giangquyết định đối với các khoản thu
Để thực hiện nguyên tắc này Hội đồng Nhân dân tỉnh Bắc Giang đãban hành Nghị quyết số 30/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 quy định phâncấp ngân sách các cấp chính quyền địa phương tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011– 2015
- Các khoản thu không đúng chế độ phải được hoàn trả cho đối tượngnộp Các khoản thu đã tập trung vào NSNN, nhưng được miễn giảm hoặchoàn trả, KBNN hoàn trả cho các đối tượng nộp theo lệnh của cơ quan Hảiquan
Trang 372.2.2.2 Trách nhiệm của các cơ quan trong quá trình thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở tỉnh Bắc Giang.
Theo quy định hiện hành của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫnLuật các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thu thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu qua KBNN Bắc Giang có trách nhiệm:
a Cơ quan Hải quan
Chi cục Hải quan quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang trựcthuộc Cục Hải quan Bắc Ninh Tháng 01 năm 2013 tách Chi cục Hải quan cáckhu công nghiệp Bắc Giang từ Cục Hải quan Lạng Sơn và sát nhập vào CụcHải quan tỉnh Bắc Ninh
Theo quy định tại Quyết định 1027/QĐ_BTC ngày 19/5/2009 của Bộtrưởng Bộ Tài chính và Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 của
Bộ Tài chính, trách nhiệm của các cơ quan Hải quan trong việc thực hiện quytrình thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu là:
+ Cơ quan Hải quan có trách nhiệm hướng dẫn thủ tục hải quan, cungcấp thông tin, tài liệu, công khai các thủ tục hải quan, thủ tục thuế để ngườikhai hải quan, người nộp thuế thực hiện đúng các quy định của pháp luật hảiquan, pháp luật thuế, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quyđịnh của pháp luật
+ Xác định mã mục lục ngân sách cho từng người nộp thuế, chịu tráchnhiệm điều chỉnh mã mục lục ngân sách khi phát hiện xác định mục lục ngânsách cho người nộp có sai sót
+ Tính toán, xác định mức thu và ra thông báo thu;
+ Hướng dẫn cho người nộp thuế lập một bảng kê thuế cho một tờ Hảiquan
+ Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về mã số thuế, tờ khai hải quan,mục lục ngân sách cho Kho bạc, Ngân hàng được Kho bạc ủy quyền thu
Trang 38+ Theo dõi, quản lý, đôn đốc các đối tượng nộp tiền vào NSNN
+ Quyết định các trường hợp tạm thu để KBNN làm căn cứ hạch toán
kế toán; quyết định xử lý các khoản tạm thu theo chế độ quy định
+ Kiểm tra, xem xét ra lệnh hoàn trả đối với các khoản thu sai chế độhoặc được hoàn trả theo chế độ quy định
+ Kiểm tra và giải quyết các khiếu nại về thu nộp NSNN; quyết định xửphạt các hành vi vi phạm chế độ thu nộp NSNN theo quy định của pháp luật
+ Truyền và nhận dữ liệu danh mục dùng chung theo quy định
b Kho bạc Nhà nước
- Hệ thống KBNN Bắc Giang gồm: Văn phòng KBNN tỉnh và 09KBNN huyện trực thuộc Tuy nhiên số thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu chỉ phátsinh tại Văn phòng KBNN tỉnh
Trang 39Sơ đồ tổ chức bộ máy Văn phòng KBNN tỉnh Bắc Giang
- Trách nhiệm của KBNN Bắc Giang và Ngân hàng nông nghiệp thànhphố Bắc Giang được KBNN Bắc Giang ủy quyền thu:
+ Tổ chức các điểm thu thuế đảm bảo thu đầy đủ, nhanh chóng, an toàn
và thuận lợi cho người nộp thuế
+ In, quản lý chứng từ phục vụ cho việc nộp tiền
+ Phối hợp với Ngân hàng để nhận đầy đủ, kịp thời thông tin về chứng
từ nộp thuế của người nộp thuế qua Ngân hàng
BAN GIÁM ĐỐC
Phòng
Tổ chức cán bộ
Phòng Kho quỹ
Phòng Hành chính
Phòng Tin học
Phòng giao dịch
Trang 40+ Hướng dẫn người nộp thuế kê khai mối tờ hải quan vào một bảng kênộp thuế để lập Giấy nộp tiền vào NSNN.
+ Truyền và nhận dữ liệu dung chung theo quy định
+ Truyền thông tin về số thuế đã thu và gửi Bảng kê nộp thuế cho cơquan Hải quan
+ Tập trung các khoản thu và phân chia các khoản thu cho ngân sáchcác cấp theo đúng tỷ lệ phần trăm (%) phân chia được cấp có thẩm quyềnquyết định đối với từng khoản thu
+ Tổng hợp, lập báo cáo thu thuế gửi cơ quan Tài chính và các cơ quanhữu quan theo chế độ quy định
+ Phối hợp kiểm tra và đối chiếu số liệu thu thuế xuất khẩu, nhập khẩuvới các cơ quan hải quan bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời; xác nhận sốliệu thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền
+ Thực hiện hoàn trả các khoản thu thuế theo lệnh của cơ quan Hảiquan
d Ngân hàng nơi đối tượng nộp NSNN mở tài khoản
Các Ngân hàng nơi đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế xuất khẩu, nhậpkhẩu mở tài khoản có trách nhiệm: Chuyển tiền theo yêu cầu của đối tượngnộp vào KBNN để nộp NSNN; lập và gửi các chứng từ đầy đủ, kịp thời, đúngmẫu biểu do Bộ Tài chính quy định để KBNN làm căn cứ hạch toán thuNSNN Thực hiện trích tài khoản tiền gửi của đối tượng nộp theo yêu cầu(bằng văn bản) của cơ quan Hải quan để nộp NSNN theo quy định tại Điều 46Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ
e Tổ chức cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Các đơn vị, tổ chức, cá nhân nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu có tráchnhiệm: