1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lợi nhuận và các biện pháp nâng cao lợi nhuận tại công ty cổ phần đông đô

80 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 437 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp, phải tự lo liệu các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình từ việc đầu tư vốn, tổ chức kinh doanh đến công tác tiêu thụ sản phẩm.. Nó không

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập

Tác giả luận văn Nguyễn Văn Lập

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 4

Danh Mục Các Bảng Biểu

*****

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động của Công ty một số năm gần đây

Bảng 2.2: Tình hình tài sản của CTCP Đông Đô năm 2012

Bảng 2.3: Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn của CTCP Đông Đô năm 2012 Bảng 2.4: Khái quát kết quả kinh doanh của CTCP Đông Đô năm 2011-2012 Bảng 2.5: Bảng khả năng thanh toán năm 2012

Bảng 2.6: Bảng hệ số cơ cấu tài sản của công ty năm 2012

Bảng 2.7: Bảng hệ số cơ cấu nguồn vốn của công ty năm 2012

Bảng 2.8: Bảng lợi nhuận từ các loại hoạt động kinh doanh năm 2011 - 2012 Bảng 2.9: Bảng cơ cấu doanh thu của CTCP Đông Đô năm 2011 - 2012

Bảng 2.10: Khối lượng, và giá bán của công ty năm 2011 - 2012

Bảng 2.11: Bảng chi phí sản xuất và giá thành của CTCP Đông Đô năm 2011 - 2012

Bảng 2.12: Bảng tình hình quản lý và sử dụng vốn của CTCP Đông Đô năm 2012

2011-Bảng 2.13: 2011-Bảng tình hình sử dụng tài sản của CTCP Đông Đô năm 2012

Bảng 2.14: Bảng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của CTCP Đông Đô năm 2011 - 2012

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc chuyển mình từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước là một tất yếu khách quan Nền kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp, phải tự lo liệu các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình từ việc đầu tư vốn, tổ chức kinh doanh đến công tác tiêu thụ sản phẩm Do đó cạnh tranh để tồn tại là điều không thể tránh khỏi đối với các doanh nghiệp trong thời đại ngày nay Muốn tồn tại, doanh nghiệp phải năng động, biết tận dụng thế mạnh của mình và biết chớp thời cơ để sản xuất kinh doanh có hiệu quả và không ngừng nâng cao vị thế của mình trên thị trường

Tự chuyển mình và thay đổi hoàn toàn để thích nghi được với môi trường và không ngừng phát triển đó là một quy luật tất yêu đối với doanh nghiệp khi bước chân vào nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, để làm được điều

đó thì đòi hỏi mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải thu được lợi nhuận Lợi nhuận đã trở thành nền tảng cho sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp, lợi nhuận được coi là một tiêu chí quan trọng và là mục tiêu cuối cùng mà tất cả các doanh nghiệp đều phải hướng tới

Có lợi nhuận, doanh nghiệp mới có thể đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên trong đơn vị, đảm bảo khả năng thanh toán vào tạo nguồn tích lũy quan trọng cho nền kinh tế Có lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ có khả năng chiếm lĩnh thị trường, đánh bại các đối thủ cạnh tranh và khẳng định được vị trí của mình Vì vậy có thể khẳng định, lợi nhuận có vai trò rất quan trọng đối với mọi đơn vị sản xuất kinh doanh, nó

Trang 6

đã và đang trở thành mục tiêu hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường Nó không những là thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh mà còn là nhân tố quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp.

Để củng cố thêm kiến thức lý luận và thực tế, em thực sự quan tâm đến vấn đề lợi nhuận ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trưòng để có điều kiện áp dụng sơ sở lý luận cũng như các kiến thức được nghiên cứu và học tập trong suốt 4 năm học tại trường “Học Viện Tài Chính” vào quá trình sản xuất kinh doanh

Đề tài “Lợi nhuận và các biện pháp nâng cao lợi nhuận tại Công ty

cổ phần Đông Đô ” là một đề tài có tính chất thiết thực và cấp bách, chính vì vậy trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần Đông Đô, em đã quyết định

chọn đề tài này

2 Mục đích nghiên cứu

Để làm sáng tỏ bản chất và vai trò bản chất và vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế tế thị trường, từ đó đánh giá kết quả lợi nhuận của công ty cổ phần đông đô năm 2012 so với năm 2011 Sau khi đánh giá thì rút ra những thành tựu cũng như hạn chế trong quá trình phấn đấu gia tăng lợi nhuận từ đó đưa ra giải pháp góp phần gia tăng lợi nhuận của Công ty cổ phần Đông Đô trong thời gian tới

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tình hình lợi nhuận và các giải pháp chủ yếu để phấn đấu gia tăng lợi nhuận của Công ty cổ phần Đông Đô

Phạm vi nghiêm cứu: Thực trạng lợi nhuận của Công ty cổ phần Đông

Đô năm 2012 so với năm 2011

Trang 7

4 Phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ bản chất và vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường Em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp duy vật biện chứng, so sánh, tỷ lệ, thống kê, điều tra… qua đây đánh giá khái quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận của Công ty trong năm 2012 và so sánh với năm 2011 Từ đó đưa ra một số giải pháp tài chính hữu hiệu cho việc gia tăng lợi nhuận của Công ty trong những năm tới

5 Kết luận

Trên cơ sở này, ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm có

3 chương như sau:

Chương 1: Lợi nhuận và sự cần thiết phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh

nghiệp trong điều kiện hiện nay

Chương 2: Thực trạng lợi nhuận và các biện pháp phần đấu tăng lợi

nhuận của Công ty cổ phần Đông Đô

Chương 3: Một số biện pháp tăng lợi nhuận ở Công ty cổ phần Đông Đô

trong những năm tới

Qua thời gian thực tập tại Công ty, với sự giúp đỡ tận tình của cán bộ và lãnh đạo phòng kế toán tài chính và được sự hướng dẫn của cô giáo, Tiến sĩ: Phạm Thị Vân Anh em đã hoàn thành luận văn này Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu và phân tích nhưng do lượng kiến thức tích luỹ còn chưa nhiều, thời gian cũng như điều kiện nghiên cứu còn hạn chế không tránh khỏi những thiếu sót

Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cám ơn cô giáo hướng dẫn, ban lãnh đạo, phòng kế toán tài chính Công ty cổ phần Đông Đô

Trang 8

CHƯƠNG 1 LỢI NHUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẤN ĐẤU TĂNG LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

1.1 LỢI NHUẬN VÀ TỶ SUẤT LỢI NHUẬN.

1.1.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp.

1.1.1.1 Khái niệm.

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời

Ngay từ khi bắt đầu dự định tiến hành một hoạt động kinh doanh bất kỳ, các chủ thể kinh doanh luôn mang một hy vọng về lợi nhuận, về sự thành công cho hoạt động của mình Lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận đã trở thành mục tiêu theo đuổi của hầu hết các doanh nghiệp

Từ góc độ của doanh nghiệp, có thể thấy rằng lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp

bỏ ra để đạt được doanh thu đó trong một thời kỳ nhất định”

Lợi nhuận nói chung được xác định bởi công thức:

Lợi nhuận = Doanh thu – chi phí tạo ra lợi nhuận

Doanh thu là biểu hiện bằng tiền của các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt động kinh doanh của doanh của doanh nghiệp trong một

Trang 9

thời kỳ nhất định bao gồm: doanh thu về tiêu thụ sản phẩm , doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập từ các hoạt động khác.

Chi phí tạo ra lợi nhuận là những khoản chi mà doanh nghiệp bỏ ra để có được doanh thu đó Nó bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phi nhiên liệu, động lực, tiền lương và các khoản trích nộp theo quy định, khấu hao TSCĐ, chi phi dịch vụ mua ngoài, các khoản dự phòng giảm giá, các khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động…

Tóm lại, doanh nghiệp muốn có lợi nhuận thì toàn bộ các khoản doanh thu của doanh nghiệp thu về phải đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra, đây là mục tiêu

và cũng là nhiệm vụ mà bất cứ doanh nghiệp nào đều phải cố gắng thực hiện,

có như vậy mới đảm bảo cho doanh nghiệp đứng vững và phát triển

1.1.1.2 Nội dung lợi nhuận

Để tìm kiếm lợi nhuận, doanh nghiệp có thể tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau, song dưới góc độ tài chính các hoạt động này có thể chia làm ba loại là:

+ Hoạt động sản xuất kinh doanh

+ Hoạt động tài chính

+ Hoạt động khác

Tương ứng với từng hoạt động ta có lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động khác Lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ là tổng hợp lợi nhuận từ các hoạt động đó Như vậy nội dung lợi nhuận doanh nghiệp gồm:

Trang 10

Thứ nhất là: Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh trừ đi chi phí tạo ra doanh thu

Các cách xác định lợi nhuận hoạt động kinh doanh như sau:

Lợi nhuận hoạt động kinh doanh =Doanh thu thuần – GVHB – CPBH –CPQLDN

Trong đó doanh thu thuần được xác định:

Doanh thu thuần =Tổng DT bán hàng - Các khoản giảm giá hàng bán - Trị giá hàng bán bị trả lại - Chiết khấu thương mại - Thuế gián thu trong giá bán(nếu có)

Trong đó:

- Trị giá vốn hàng bán phản ánh trị gía vốn của thành phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ xuất bán trong kỳ bao gồm các khoản chi phí: nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung

- Chi phí bán hàng: là những chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ bao gồm: Tiền lương nhân viên, chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển, quảng cáo, bảo hành sản phẩm…

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các chi phí liên quan đến quản lý chung của doanh nghiệp bao gồm lương nhân viên văn phòng, chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao tài sản cố định chung cho toàn doanh nghiệp, thuế, phí, lệ phí…

- Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, trị giá hàng bán bị trả lại, các khoản chiết khấu thương mại và thuế gián thu

Trang 11

- Lợi nhuận gộp của doanh nghiệp = Doanh thu thuần – GVHB.

- Lợi nhuận gộp sau khi trừ đi chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng gọi là lợi nhuận trước thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ hai là: Lợi nhuận từ hoạt động tài chính.

Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là khoản chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính với chi phí hoạt động tài chính

Lợi nhuận hoạt động tài chính = Doanh thu hoạt động tài chính – Chi phí hoạt động tài chính –Thuế gián thu (nếu có)

Thu nhập hoạt động tài chính gồm: thu nhập từ các khoản lãi tiền vay, hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, thu nhập từ hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán ngắn và dài hạn, thu nhập về tài sản cố định

Chi phí hoạt động tài chính phản ánh những khoản chi phí và các khoản

lỗ liên quan đến các hoạt động về vốn như chi phí liên doanh, chi phí liên quan đến vay vốn …

Thứ ba là: Lợi nhuận khác

Là khoản chênh giữa thu nhập và chi phí của các hoạt động bất thường

và thuế gián thu (nếu có), các hoạt động khác là các hoạt động như : Thanh lý tài sản cố định, phạt vi phạm các hợp đồng kinh tế , các khoản nợ khó đòi đã

Trang 12

Lợi nhuận = Lợi nhuận + Lợi nhuận hoạt + Lợi nhuận hoạt

Trước thuế HĐSXKD động tài chính động khác

Lợi nhuận sau thuế thu nhập được xác định như sau:

Lợi nhuận sau thuế thu nhập =Lợi nhuận trước thuế thu nhập x (1-thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành)

1.1.1.3 Ý nghĩa của lợi nhuận

Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh

và có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, được thể hiện ở chỗ:

- Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, “Tối đa hóa lợi nhuận” là mục tiêu hàng đầu mà doanh nghiệp phải đạt được khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh

- Lợi nhuận là nguồn tài chính cơ bản để bổ sung vốn kinh doanh cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng một cách vững chắc Từ đó đảm bảo cho doanh nghiệp tăng trưởng một cách ổn định và bền vững trong tương lai Lợi nhuận còn là nguồn lực tài chính chủ yếu để cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động trong đơn vị thông qua chỉ tiêu quỹ khen thưởng phúc lợi được trích lập từ lợi nhuận sau thuế

- Lợi nhuận của doanh nghiệp còn là một nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước Đối với các doanh nghiệp làm ăn có lãi, dưới hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước thu một phần lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế để đáp ứng nhu cầu chi tiêu công, thực hiện tái sản xuất mở rộng trên quy mô toàn xã hội

Trang 13

- Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khi các điều kiện khác không thay đổi thì việc tăng doanh thu tiêu thụ hoặc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên một cách trực tiếp.

1.1.2 Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp

Lợi nhuận được xác định ở trên cho chúng ta biết tổng quát về kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp từ các hoạt động Để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh một cách toàn diện ngoài việc sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận (chỉ tiêu tuyệt đối) cần phải sử dụng kết hợp với các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận (chỉ tiêu tương đối) vì:

- Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, có những nhân tố thuộc về chủ quan, có những nhân tố khách quan

Hiện nay có nhiều cách tiếp cận và xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi cách

có nội dung kinh tế khác nhau, sau đây là một số cách tính tỷ suất lợi nhuận:

1.1.2.1 Sự cần thiết phải sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận (còn gọi là mức doanh lợi) phản ánh kết quả của một loạt chính sách và quyết định của doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu

Trang 14

trả lời cho câu hỏi cuối cùng doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả như thế nào,

là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Tỷ suất lợi nhuận là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh doanh và là một luận cứ quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra quyết định tài chính trong tương lai

1.1.2.2 Các chỉ tiêu hệ số sinh lời của doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng

Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp

Công thức xác định:

Tỷ suất lợi nhuận sau

thuế trên Doanh thu

= Lợi nhuận sau thuế trong kỳ

Doanh thu trong kỳ

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này thể hiện 100 đồng doanh thu thuần trong kỳ đem

lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao

Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROA e)

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh

Trang 15

Tỷ suất sinh lời kinh tế

của tài sản ROAe)

= Lợi nhuận trước lãi vay và thuế

Tài sản hay Vốn kinh doanh bình quân

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng vốn kinh doanh bình quân

dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quan sử dung vốn kinh doanh càng lớn

Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh (VKD)

Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ có khả sinh lời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay

Công thức xác định:

Tỷ suất lợi nhuận trước

thuế trên VKD

= Lợi nhuận trước thuế

Vốn kinh doanh bình quân

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả 100 đồng VKD bình quân trong

kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)

Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm Hệ số này đo mức lợi nhuận thu được trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu

Tỷ suất lợi nhuận vốn

chủ sở hữu (ROE)

= Lợi nhuận sau thuế

vốn chủ sở hữu bình quân

ý nghĩa:Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra 100 đồng vốn chủ sở hữu bình

quân thu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế

Thu nhập một cổ phần (EPS)

Trang 16

Đây là chỉ tiêu rất quan trọng,nó phản ánh mỗi cổ phần thường (hay cổ phần phổ thông) trong năm thu được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế.

Thu nhập một

cổ phần (EPS) =

Lợi nhuận sau thuế-cổ tức trả cho cổ đông ưu đãi (nếu có)

tổng số cổ phần thường đang lưu hành

Hệ số EPS cao hơn so với các doanh nghiệp cạnh tranh là mục tiêu hướng tới của các nhà quản lý doanh nghiệp

Tóm lại: lợi nhuân là chỉ tiêu tuyệt đối còn tỉ suất lợi nhuận là chỉ tiêu

tương đối Khi đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải kết hợp cả chỉ tiêu tương đối và chỉ tiêu tuyệt đối, để có thể thấy được một cách chính xác, đúng đắn chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.2 PHẤN ĐẤU GIA TĂNG LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.2.1 Sự cần thiết phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế thị trường đã và đang tác động mạnh mẽ tới từng đơn vị sản xuất kinh doanh, thông qua sự hoạt động mạnh

mẽ của các quy luật như: quy luật cạnh tranh , quy luật cung cầu , quy luật giá

Trang 17

trị…Chính vì vậy, doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững trên thị trường chỉ có một sự lựa chọn duy nhất là đạt lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả Do đó , việc phấn đấu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay là hết sức cần thiết xuất phát từ:

1.2.1.1 Vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận có vị thế hàng đầu và đặc biệt quan trọng với nền kinh tế xã hội nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng cũng như đối với bản thân mỗi người lao động Trong phạm vi luận văn này em xin được nêu những vai trò của lợi nhuận mà các doanh nhân nào cũng phải nghĩ tới

- Thứ nhất: lợi nhuận là thước đo, là chỉ tiêu chất lượng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, nói cách khác thông qua chỉ tiêu lợi nhuận cho phép đánh giá nhiều mặt hoạt động của doanh nghiệp từ khâu chuẩn bị sản xuất đến khâu tiêu thụ thụ sản phẩm

- Thứ hai: Lợi nhuận của doanh nghiệp là một khoản thu quan trọng của ngân sách Nhà nước dưới hình thức thuế thu nhập của doanh nghiệp và các loại thuế khác Nếu sản xuất càng phát triển thì lợi nhuận càng tăng và do đó, nguồn thu chi ngân sách càng tăng lên và ngược lại

- Thứ ba: lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp đầu tư tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng

- Thứ tư: lợi nhuận là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng hoàn thiện các mặt hoạt động của doanh nghiệp Sử dụng lợi nhuận một cách đúng đắn, hợp lý sẽ góp phần giải quyết mối quan hệ giữa ba lợi ích: lợi ích người lao động, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội

Trang 18

Qua bốn vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta thấy lợi nhuận có vị trí hết sức to lớn đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung Tuy nhiên, ta cũng cần lưu ý rằng không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng không thể dùng chúng để so sánh chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp với nhau.

1.2.1.2 Yêu cầu của việc phát huy quyền tự chủ của các doanh nghiệp trong cơ chế quản lý mới.

Trong nền kinh tế thị trường, không có sự bao cấp về vốn của Nhà nước cho các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể sản xuất kinh doanh độc lập, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình Điều này đã khiến cho các doanh nghiệp không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc tự khẳng định mình trong nền kinh tế quốc dân Muốn làm được điều đó thì doanh nghiệp phải bảo toàn vốn và phát triển được vốn sản xuất kinh doanh, làm ăn có lãi và số vốn tích lũy hằng năm phải không ngừng tăng lên

Trên thực tế, khi bước vào nền kinh tế thị trường hầu hết các doanh nghiệp đã từng bước thích nghi, tìm ra những hướng đi đúng đắn và từng bước làm ăn có hiệu quả Trên cơ sở đó có thể tự tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước

Nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như: chưa linh hoạt trong việc xây dựng hoạt động sản xuất kinh doanh, vẫn còn một số doanh nghiệp chậm thích ứng với cơ chế thị trường dẫn đến kinh doanh kém hiệu quả Nhà nước và các nhà quản lý cần phải có các chính sách quan tâm hơn nữa để từng bước ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh

Trang 19

Thực tiễn cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới đòi hỏi các quốc gia phải hợp tác với nhau Điều này đặt ra vấn đề tháo gỡ dần sự bảo hộ của Nhà nước với các doanh nghiệp trong nước để kích thích tính sáng tạo, tự chủ của các doanh nghiệp, đồng thời xóa bỏ tính ỷ lại của một số doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả Hơn nữa, kể từ khi Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mang đến cho các doanh nghiệp nhiều

cơ hội và thách thức rất lớn, các doanh nghiệp phải cạnh tranh trong môi trường phức tạp hơn và chỉ có kinh doanh hiệu quả; lợi nhuận ngày càng tăng mới giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển Ngược lại, nếu doanh nghiệp không nhanh chóng đổi mới cách nghĩ và cách làm thì sẽ có nguy cơ bị tụt hậu, thậm chí có thể dẫn đến phá sản doanh nghiệp

Vì vậy, phấn đấu tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp là một vấn đề hết sức cần thiết, rất quan trọng; đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp

Như chúng ta đã biết, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là bộ phận chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được trong kinh doanh Nên lợi nhuận là mục đích cuối cùng của việc sản xuất kinh doanh, nó là động cơ chủ yếu của các nhà đầu tư, là tiêu chuẩn cao nhất đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, mức lợi nhuận cao hay thấp là căn cứ trực tiếp để người ta quyết định có nên sản xuất hay không? Để phấn đấu tăng lợi nhuận tại các doanh nghiệp cần thiết phải nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm

1.2.2.1 Nhóm nhân tố thuộc về doanh thu

- Khối lượng sản phẩm tiêu thụ

Trang 20

Về nguyên tắc, việc tăng khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ sẽ làm doanh thu và lợi nhuận tăng lên (nếu ta cố định các nhân tố khác) Sản phẩm sản xuất ra càng nhiều thì khả năng về doanh thu sẽ càng lớn Việc tăng khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, tình hình tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm, việc ký kết hợp đồng tiêu thụ đối với khách hàng, việc giao hàng, vận chuyển và thanh toán tiền hàng

- Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ

Cùng với sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế, mức sống của con người ngày càng được nâng cao, kéo theo nhu cầu tiêu dùng cũng ngày càng đa dạng và phong phú, đòi hỏi sản phẩm tiêu dùng phải tốt, chất lượng cao, giá cả vừa phải, hợp thị hiếu Cho dù sử dụng trong thời gian ngắn hay dài, hình thức sản phẩm ra sao thì người tiêu dùng vẫn luôn mong muốn được sử dụng những sản phẩm có chất lượng Do vậy yếu tố chất lượng sản phẩm bị đòi hỏi gắt gao

và là yếu tố cạnh tranh cơ bản của doanh nghiệp Chất lượng sản phẩm là yếu

tố giúp doanh nghiệp có thể thu hút được đông đảo khách hàng, làm tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng giá bán sản phẩm một cách hợp lý, đó chính là con đường gia tăng lợi nhuận hiệu quả và bền vững

Chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ tổ chức quản lý sản xuất và lao động, kỹ thuật công nghệ, đặc điểm thu nhập và tiêu dùng của mỗi vùng thị trường Cũng phải thấy rằng, việc hoàn toàn chú trọng vào chất lượng sản phẩm chưa chắc đã đem lại hiệu quả như mong muốn, nó

có thể đẩy giá bán lên quá cao và sẽ làm thị trường tiêu thụ bị thu hẹp Rõ ràng, nâng cao chất lượng sản phẩm vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu và nó phụ thuộc rất nhiều vào tính toán chủ quan của doanh nghiệp

Trang 21

tố này doanh nghiệp sẽ phải nắm bắt nhu cầu thị trường để đưa ra những quyết định điều chỉnh hợp lý Như vậy, để có được kết cấu mặt hàng tiêu thụ hợp lý các doanh nghiệp cần phải bám sát thị trường.

- Giá cả sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ

Giá cả tỷ lệ thuận với doanh thu và ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu bán hàng Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, nếu giá cả tăng thì doanh thu bán hàng tăng và ngược lại (đối với từng mặt hàng) Cùng một loại sản phẩm nhưng nếu doanh nghiệp bán ở các mức giá khác nhau thì doanh thu khác nhau Để đạt được doanh thu mong muốn doanh nghiệp phải linh hoạt trong việc xác định mức giá hợp lý, vừa khuyến khích được mọi người tiêu dùng, vừa trang trải được chi phí bỏ ra Nhìn chung, nếu đảm bảo được chất lượng sản phẩm thì giá cả sẽ trở thành một vũ khí cạnh tranh khá sắc bén của mỗi doanh nghiệp

- Thị trường tiêu thụ và phương thức tiêu thụ, thanh toán tiền hàng

Trang 22

Thị trường tiêu thụ có ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu bán hàng của doanh nghiệp Nói đến thị trường phải xét đến cả phạm vi thị trường và khả năng thanh toán (sức mua) của thị trường Nếu sản phẩm của doanh nghiệp có thị trường tiêu thụ rộng lớn không chỉ trong nước mà cả thị trường quốc tế, khả năng cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp cao ngay tại những thị trường đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao và có sức mua lớn thì doanh nghiệp

sẽ có điều kiện tăng doanh thu nhanh

Việc lựa chọn phương thức tiêu thụ và thanh toán tiền hàng cũng có ảnh hưởng tới doanh thu bán hàng của doanh nghiệp Thông thường trong tiêu thụ sản phẩm sự vận động của hàng hóa và sự vận động của tiền vốn là đồng thời Song trong điều kiện cạnh tranh thị trường các doanh nghiệp bán hàng thường phải dành sự ưu đãi nhất định với người mua, ví dụ cho thanh toán theo kỳ hạn hoặc kỳ hạn, có chiết khấu hàng bán cho khách hàng Những vấn đề trên đều ảnh hưởng tới doanh thu của doanh nghiệp

1.2.2.2 Nhóm nhân tố thuộc về chi phí

Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, chi phí có quan hệ tỷ lệ nghịch với lợi nhuận: chi phí tăng lợi nhuận giảm và ngược lại

- Giá vốn hàng bán

Như chúng ta đã biết, giá thành sản xuất phẩm cao hay thấp, tăng hay giảm chủ yếu là tùy thuộc vào kết quả của việc quản lý và sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp (sau khi loại bỏ các yếi tố khách quan làm cho giá của các yếu tố đầu vào tăng), do đó nó chịu tác động lớn của nhân tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh nghiệp

- Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí lãi vay

Trang 23

Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí lãi vay về thực chất cũng giống như ảnh hưởng của nhân tố giá vốn hàng bán, tức là chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí lãi vay cao hay thấp, tăng hay giảm xhủ yếu là tùy thuộc vào kết quả của việc quản lý và sử dụng, vật

tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, do đó nó cũng chịu tác động lớn của nhân tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh nghiệp

Ngoài các nhóm nguyên nhân trên còn có rất nhiều các nhân tố khác tác động đến chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận như: Sự thay đổi về môi trường tự nhiên địa lý, khí hậu; sự thay đổi về cơ chế chính sách quản lý kinh tế của nhà nước ở tầm vĩ mô vv Sự biến động về tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng rất lớn đến những doanh nghiệp có nhiều giao dịch liên quan đến ngoại tệ như các doanh nghiệp vận tải quốc tế, doanh nghiệp thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu vv

Trên đây là các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp và qua sự phân tích trên có thể giúp doanh nghiệp có các biện pháp, phương hướng thích hợp để tăng lợi nhuận

1.2.3 Các biện pháp chủ yếu phấn đấu gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

1.2.3.1 Hạ giá thành sản phẩm

Ngày nay hạ giá thành sản phẩm cũng là vũ khí lợi hại của các doanh nghiệp, nó thúc đẩy cạnh tranh tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp, hạ giá thành sản phẩm cũng là biện pháp cơ bản và lâu dài trong chiến lược phát triển sản xuất và kinh doanh Để hạ giá thành sản phẩm cần thực hiện tốt một

số biện pháp như: sử dụng tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, phấn đấu tăng năng suất lao động, tổ chức sắp xếp lao động hợp lý, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân viên …

Trang 24

- Sử dụng tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu

Tiết kiệm chi phí nguyên liệu, vật liệu , năng lượng, giảm tỷ lệ hao hụt, mức tiêu hao nguyên liệu, vật liệu , tổ chức cung ứng vật tư kịp thời phục vụ sản xuất , sử dụng vật liệu thay thế thích hợp góp phần hạ thấp giá thành sản xuất của doanh nghiệp Nên chi phí nguyên liệu, vật liệu thường chiếm tỷ lệ lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của mỗi doanh nghiệp Do đó giảm được chi phí nguyên liệu , vật liệu là một trong những biện pháp chủ yếu để giảm giá thành sản phẩm Để giảm được chi phí nguyên liệu, vật liệu cần phải thực hiện được các vấn đề sau:

+ Phải có kế hoạch cung ứng nguyên liệu, vật liệu phù hợp với quy hoạch sản xuất Đó là cần phải kết hợp hài hòa giữa quá trình sản xuất và cung ứng nguyên liệu, vật liệu phù hợp, có kế hoạch dự trữ nguyên liệu, vật liệu hợp lý, tránh trường hợp dự trữ nguyên liệu, vật liệu quá lớn dẫn tới tồn kho nguyên liệu, chu kỳ chu chuyển nguyên liệu, vật liệu chậm làm cho ứ đọng vốn

+ Cần phải có kế hoạch quản lý, bảo quản nguyên liệu, vật liệu Để làm tốt vấn đề này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những biện pháp tài chính, cụ thể là: giao trách nhiệm đến từng người lao động, có chế độ thưởng phạt công minh đối với những nguời lạm dụng nguyên liệu, vật liệu làm thất thoát và hư hỏng nguyên liệu, vật liệu Từ đó có thể làm cho nguyên liệu, vật liệu không

bị hao hụt, không bị giảm chất lượng

Bên cạnh đó cần phải kiểm tra thường xuyên các định mức tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, tỷ lệ hao hụt nguyên liệu, vật liệu và tỷ lệ phế phẩm Muốn vậy cần phải tổ chức kiểm tra thường xuyên, đồng thời cải tiến công nghệ, nâng coa tay nghề: nâng cao ý thức tự giác của công nhân trong sản xuất

Trang 25

- Phấn đấu tăng năng suất lao động

Phấn đấu tăng năng suất lao động là để giảm mức tối thiểu thời gian hao phí sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hay tăng số lượng sản phẩm cùng trong một đơn vị thời gian Để tăng năng suất lao động cần áp dụng các biện pháp sau:

+ Cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ mới đồng thời đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân viên, cán bộ quản lý và hành chính

+ Phải có biện pháp quản lý và sử dụng có hiệu quả máy móc thiết bị

Đó là định kỳ hay thường xuyên phải kiểm tra và sửa chữa máy móc thiết bị

để khắc phục kịp thời những hỏng hóc và thanh lý những máy móc thiết bị kém hiệu quả để từ đó quyết định đầu tư máy móc thiết bị mới Bên cạnh việc quản lý trên ta cần phải kết hợp khai thác hết công suất máy móc, tính năng của khoa học công nghệ như: giảm tối thiểu số giờ nghỉ của máy, tổ chức vừa

đủ số máy hoạt động… từ đó làm cho quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục

+ Tổ chức sắp xếp lao động hợp lý với khả năng của từng công nhân viên, luôn nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động cũng như ý thức trách nhiệm của họ, tăng cường kỷ luật lao động, sử dụng đòn bẩy kinh tế để khuyến khích người lao động nhiệt tình với công việc

1.2.3.2 Tăng số lượng, nâng cao chất lượng sản xuất và tiêu thụ

Đây là biện pháp mà doanh nghiệp nào cũng muốn thực hiện để tăng thêm lợi nhuận cũng như chiếm lĩnh được thị trường lâu dài Để làm được điều này thì các doanh nghiệp cần kết hợp chặt chẽ với biện pháp (1) đã nêu ở trên như: chú trọng đến việc nâng cao công dụng máy móc thiết bị, nâng cao

Trang 26

tay nghề cho công nhân viên, tổ chức hợp lý quá trình sử dụng, cung ứng vật

tư hàng hoá, đồng thời phải có chính sách giá cả hợp lý (như một đòn bẩy kích cầu ) để tiêu thụ được nhiều sản phẩm Do đó để thực hiện tốt biện pháp này các doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt các công việc sau:

- Nội dung cũng giống như biện pháp trên nhưng cần chú trọng đầu tư vào chiều sâu: nghĩa là các doanh nghiệp cần ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến vào sản xuất một số sản phẩm có ưu thế nhất của doanh nghiệp để tạo một sức bật lớn Nếu bước trên thực hiện tốt, có uy tín cao thì tiếp tục đẩy mạnh và mạnh dạn ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để hiện đaị dây chuyền sản xuất để sản xuất toàn bộ các sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng cao Có như vậy mới tăng năng suất lao động, tăng sản lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ

- Tổ chức tốt công tác quản lý và sử dụng lao động Tổ chức tốt công tác quản lý và có một quy mô sản xuất hợp lý sẽ làm cho tính linh hoạt được nâng cao trong sản xuất từ đó giảm bớt thời gian rỗi, tập trung vào sản xuất nâng cao số lượng sản phẩm Bên cạnh đó doanh nghiệp còn có chính sách sử dụng lao động hợp lý, đó là mạnh dạn bỏ bớt lực lượng lao động gián tiếp mà không còn có tác dụng sắp xếp lực lượng lao động trực tiếp và hợp lý và chú trọng đào tạo định kỳ, đặc biệt chú ý tới đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của công nhân viên

- Thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có biện pháp như: nghiên cứu thị trường, phân loại thị trường, xây dựng một chính sách marketing thích hợp (như chi một khoản chi phí lớn cho quảng cáo

và giới thiệu sản phẩm ), đồng thời doanh nghiệp phải có chính sách giá cả hợp lý với từng mặt hàng nhưng chất lượng phải đảm bảo và khối lượng sản phẩm sản xuất phải luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường

Trang 27

1.2.3.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là nhân tố tác động rất nhạy cảm tới lợi nhuận của doanh nghiệp Vì khi nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ đảm bảo vốn ổn định cho sản xuất,

mở rộng quy mô sản xuất đồng thời tác động đến mọi mặt trong doanh nghiệp Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành hai bộ phận chính Đó là vốn cố định và vốn lưu động Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp phải quan tâm quản lý và sử dụng vốn cố định và vốn lưu động một cách hợp lý, doanh nghiệp phải chú ý đến các yếu tố làm tăng (giảm) vốn cố định và vốn lưu động và các đặc trưng cuả chúng, thúc đẩy vòng quay vốn góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Ngày nay, trong

cơ chế thị trường các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trước pháp luật Để thuận tiện cho việc quản lý và sản xuất kinh doanh thì vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện rõ như sau:

- Một bộ phận được dùng cho sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, hình thành vốn cố định và vốn lưu động đó là bộ phận vốn chủ yếu phục vụ cho mục đích kinh doanh chính Để sử dụng có hiệu quả bộ phận vốn này, doanh nghiệp có thể sử dụng các biện pháp sau:

+ Tăng tối đa công suất tài sản cố định nhằm thúc đẩy tăng năng suất lao động, đồng thời sử dụng tài sản hợp lý sẽ tránh được hao mòn vô hình, thanh

lý tài sản kém hiệu quả, đầu tư tài sản mới vào sản xuất, phát huy tối đa vai trò của tài chính trong việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

+ Tăng cường công tác kiểm tra, giám đốc tài chính đối với các bộ phận vốn lưu động như vốn dư sau sản xuất, vốn sản phẩm đang chế tạo và vốn

Trang 28

thành phẩm Kiểm tra chặt chẽ các định mức tiêu hao, phát huy tính năng động sáng tạo, tự giác và tự chủ của người lao động Từ đó khẳng định được trình độ quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

- Bộ phận thứ hai là bộ phận vốn đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp như: đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư mua cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường vốn

Như vậy trên đây là một số biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận, không phải các doanh nghiệp áp dụng một cách máy móc dập khuôn mà tuỳ từng điều kiện sản xuất của các doanh nghiệp, cũng như tuỳ thuộc vào lợi thế riêng của mình để lựa chọn linh hoạt, tìm các biện pháp cho thích hợp để kích thích tăng lợi nhuận góp phần phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, việc phấn đấu tăng lợi nhuận phải được thực hiện một cách lành mạnh, tránh trường hợp vì chạy theo lợi nhuận mà bất chấp mọi thủ đoạn hay cố tình sản xuất ra những sản phẩm kém phẩm chất để tiêu thụ

Để nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết hơn vấn đề lợi nhuận, chúng ta

sẽ tiến hành xem xét quá trình thực hiện lợi nhuận ở Công Ty cổ phần Đông Đô

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LỢI NHUẬN Ở

CÔNG TY CỔ PHẦN ĐÔNG ĐÔ

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐÔNG ĐÔ

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Đông Đô

Công ty cổ phần Đông Đô là công ty cổ phần thành lập và hoạt động theo giấy chứng nhận và đăng ký thuế công ty số 2300224999 Công ty đăng

ký lần đầu vào ngày 18 tháng 4 năm 2002; đăng ký thay đổi lần 03 ngày 10 tháng 5 năm 2011 do sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp, với vốn điều

lệ của công ty: 26.868.000.000 đồng

Điạ chỉ: Số 170, Nguyễn Trãi, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

- Số điện thoại: 02413721533

- Fax: 02413721533

Tổng số lao động: 87 lao động

Trong đó:

- Lao động không xác định giới hạn: 56 lao động

- Lao động hợp đồng dưới 3 tháng: 26 lao động

( 5 thành viên hội đồng quản trị không ký kết hợp đồng lao động)

Công ty ngoài các phòng ban quản lý còn có 12 đội thi công, xây dựng trực thuộc, các đội được giao khoán toàn bộ Các hợp đồng sau khi ký kết sẽ được giao cho từng đội Các đội chịu trách nhiệm thi công và hoàn thành

Trang 30

công trình Đội trưởng trực tiếp quản lý công việc của đội cũng như chi trả tiền công cho cán bộ công nhân trực thuộc đội của minh Mỗi đội có một kế toán riêng.

Công ty hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật theo luật doanh nghiệp năm 2005 Đến năm 2012 vốn điều lệ công ty: 35.068.000.000 đồng

Trong đó:

Vốn góp của ông Nguyễn Toàn Thịnh: 32.259.000.000 đồng

Vốn góp của ông Nguyễn Thanh Thuỷ: 919.000.000 đồng

Vốn góp của bà Nguyễn Thị Hoa: 1.250.000.000 đồng

Vốn góp của ông Nguyễn Văn Sâm: 440.000.000 đồng

Vốn góp của ông Trần Đinh Sáu: 200.000.000 đồng

2009, bất động sản đóng băng năm 2011, nợ đọng các công trình kéo dài ảnh hưởng và tác động rất lớn đến hoạt động xây dựng nói chung và công ty nói riêng

Trang 31

Bằng sự cố gắng và quyết tâm của tập thể cán bộ công nhân viên (CBCNV) những năm qua Công ty đều hoàn thành nhiệm vụ đề ra Công ty thường xuyên có đủ việc làm cho CBCNV, đời sống của CBCNV ổn định.Công ty duy trì và bảo toàn vốn trong hoạt động SXKD

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ kinh doanh

 xây dựng công trình dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình thuỷ lợi và công trình điện đến 35KV

 San lấp mặt bằng, sản xuất và kinh doanh vật lệu xây dựng và các sản phẩm từ kim loại

 Kinh doanh vận tải hành khách hàng hoá bằng ô tô

 Kinh doanh bất động sản với quyền sở hữu hoặc đi thuê, môi giới đấu giá bất động sản

 Mua bán đồ dùng cá nhân và gia đình

 Mua bán máy móc thiết bị và phụ tùng thay thế

 Kinh doanh vật tư thiết bị điện, điện tử, điện lạnh và đồ điện gia dụng

Trong các lĩnh vực kinh doanh trên thì lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Công ty là xây lắp Nó đem lại thu nhập yếu cho CTCP Đông Đô

Khi cần thiết thì đại hội đồng cổ đông Công ty hoặc hội đồng quản trị quyết định chuyển hay mở rộng các ngành, nghề kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật

Nhiệm vụ: Sử dụng và quản lý nguồn vốn hiệu quả, đúng mục đích,

tiến hành sản xuất thi công theo đúng thiết kế, quy trình công nghệ đáp ứng

Trang 32

nhu cầu của khách hàng nhằm nâng cao uy tín của doanh nghiệp để góp phần đưa công ty ngày càng phát triển lớn mạnh.

2.1.3 Cơ cấu tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Đông Đô

2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý và bộ máy quản lý

Hội đồng quản trị: 5 thành viên

Ban kiểm soát: 3 thành viên

Điều hành quản lý:

Lãnh đạo : 01 Tổng giám đốc

01 Phó tổng giám đốc

Bộ máy tổ chức quản lý của công ty cổ phần (CTCP) Đông Đô

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CTCP ĐÔNG ĐÔ

dự án

Phòngkếtoántàivụ

Phòng

tổ chứchànhchính

Các độixâydựng

Trang 33

Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty

•Phòng tài chính – Kế toán gồm có một Kế toán trưởng và một số kế toán viên như: kế toán tổng hợp, kế toán công nợ; kế toán lương, BHXH, TSCĐ, thủ quỹ làm công tác nghiệp vụ theo sự phân công điều hành trực tiếp của Kế toán trưởng

•Phòng kế toán tài vụ có chức năng tham mưu, giúp việc cho Giám đốc Công ty về công tác tài chính kế toán, tổ chức hướng dẫn và chỉ đạo toàn bộ hoạt động tài chính kế toán của Công ty

•Phòng kỹ thuật quản lý dự án có chức năng tham mưu cho tổng Giám đốc trong công tác quản lý xây lắp, giám sát chất lượng công trình, quản lý kỹ thuật, tiến độ, biện pháp thi công và an toàn lao động, tham gia lập hồ sơ dự thầu và đấu thầu, thực hiện việc kiểm tra khối lượng dự toán, quyết toán của các đội, kiểm tra công tác chuẩn bị mặt bằng thi công, thực hiện nhiệm vụ thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công các công trình

•Phòng tổ chức hành chính có cơ cấu gồm một trưởng phòng và một số cán bộ nhân viên làm công tác chuyên môn nghiệp vụ theo sự phân công của Công ty

Các đội xây dựng (từ đội 1 đến đội 12) có trách nhiệm tổ chức thi công theo đúng thiết kế, tổ chức tốt kỷ luật lao động, bảo vệ trật tự trị an và tài sản trong phạm vi công trường Trong quá trình thi công nếu gặp khó khăn vướng mắc phải báo cáo, đề xuất với Công ty thông qua đầu mối tiếp nhận là Phòng

Kỹ thuật quản lý dự án để báo cáoTổng Giám đốc Công ty kịp thời chỉ đạo giải quyết

Mỗi bộ phận phòng ban đảm nhiệm những chức năng khác nhau song cùng giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch thi công của công ty đã đề ra

Trang 34

Việc phân cấp quản lý đối với các bộ phận như mô hình trên giúp công

ty tận dụng được lợi thế như cho phép việc chuyên môn hóa tiến hành giúp thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất Đồng thời qua đó phân

rõ được trách nhiệm, nhiệm vụ giữa các bộ phận, phòng ban Làm cho quá trình điều hành trở lên thuận tiện, dễ dàng

2.1.3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của CTCP Đông Đô

Đặc điểm công tác kế toán tại công ty cổ phần Đông Đô:

Công ty cổ phần Đông Đô có 1 kế toán trưởng, 3 kế toán viên và 1 thủ quỹ làm việc tại phòng kế toán tài vụ của công ty cùng với 12 kế toán của 12 đội xây dựng tương ứng

Kế toán trưởng chịu trách nhiệm chung

Do Công ty có các đội thi công đều đã được giao khoán, nên mỗi đội thi

kế toán tại Công ty được tiến hành trên Excel và thủ công là chính

Công ty sử dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ, tập trung tại văn phòng Công ty trên cơ sở tập hợp các chứng từ của các đội

Trang 35

2.1.4 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh của CTCP Đông Đô

2.1.4.1 Đặc điểm về tổ chức hoạt động kinh doanh

- Tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn xây dựng Cụ thể là trong xây dựng con người và công cụ lao động luôn phải di cuyển từ công trình này đến công trình khác, còn sản phẩm xây dựng (công trình xây dựng) thì hình thành và dứng yên tại chỗ, một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành sản xuất vật chất khác

- Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài, đặc điểm này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của Công ty thường bị ứ đọng lâu tại các công trình đang xây dựng yếu tố bất lợi này đòi hỏi Công ty phải chọn lựa phương án có thời gian xây dựng hợp lý, kiểm tra chất lượng chặt chẽ, phải có chế độ thanh toán giữa kỳ và dự trữ vốn hợp lý

- Sản phẩm xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trường hợp cụ thể, thông qua hình thức ký hợp đồng sau khi thắng thầu, vì sản phẩm xây dựng rất đa dạng và có tính cá biệt cao, có chi phí lớn ở nhiều ngành sản xuất khác, người ta có thể sản xuất hàng loạt sản phẩm để bán, nhưng với các công trình xây dựng thì không thể như vậy Đặc điểm này dẫn đến yêu cầu là phải định giá của sản phẩm xây dựng trước khi sản phẩm được làm ra

- Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, có nhiều đơn vị cùng tiến hành trên công trường xây dựng theo trình tự nhất định về thời gian và không gian Đặc điểm này đòi hỏi Công ty phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, coi trọng công tác chuẩn bị xây dựng và thiết kế tổ chức thi

công, phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức xây dựng nhận thầu chính và tổng

thầu với các tổ chức nhận thầu phụ

Trang 36

- Sản xuất xây dựng chủ yếu phải tiến hành ngoài trời, do đó bị ảnh hưởng của khí hậu Công việc sản xuất, thi công công trình thường bị gián đoạn do những thay đổi bất thường của thời tiết, điều kiện lao động, điều kiện làm việc nặng nhọc Đặc điểm này yêu cầu Công ty phải chú ý đến nhân tố rủi

ro về thời tiết khi lập tiến độ thi công, phấn đấu tìm cách hoạt động đều đặn trong một năm, sử dụng kết cấu lắp ghép làm sẵn trong xưởng một cách hợp

lý, bảo đảm độ an toàn bền chắc của máy móc trong quá trình sử dụng

- Sản phẩm xây dựng chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch cao do điều kiện của địa điểm xây dựng mang lại

2.1.4.2 Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất

Giai đoạn chuẩn bị xây dựng của công trình: ngay sau khi nhận được

thông tin về đấu thầu hoặc mời thầu đối với một công trình, Công ty đã phải tiến hành lập phương án tổ chức thi công công trình để tham gia đấu thầu Sau khi thắng thầu, Công ty mới thực sự bước vào giai đoạn chuẩn bị xây dựng

Giai đoạn xây dựng, đây là giai đoạn cơ bản trực tiếp xây dựng lên

công trình tính từ khi khởi công đến khi hoàn tất công việc xây lắp cuối cùng

Giai đoạn vận hành thử, nghiệm thu bàn giao, sau khi đã hoàn tất

công tác thi công xây lắp công trình, Công ty phải làm đủ thủ tục để nghiệm thu bàn giao công trình để đưa công trình vào khai thác và sử dụng

2.1.4.3 Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật

Tốc độ phát triển kỹ thuật ngành xây dựng thường chậm hơn các ngành khác, nền đại công nghiệp cơ khí hoá ở nhiều ngành sản xuất đã hình thành từ thế kỷ 18, trong khi đó cơ khí hoá ngành xây dựng mới xuất hiện từ đầu thế

kỷ 20

Trang 37

Công ty cổ phần Đông Đô có hệ thống máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại, điều đó giúp công ty nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tăng khả năng canh tranh đối với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành tuy nhiên vẫn chịu ảnh hưởng bởi không gian và thời gian xây dựng.

2.1.4.4 Tình hình thị trường và đối thủ cạnh tranh

Tình hình cung cấp vật tư: Việt Nam có nguồn vật liệu xây dựng, nguồn nguyên vật liệu phong phú phục vụ tốt cho ngành sản xuất xây lắp từ đó có thể giảm được chi phí sản xuất mà chất lượng công trình vẫn đảm bảo theo quy định

thị trường hoạt động rộng nên công ty có điều kiện để thực hiện các đơn đặt hàng về xây dựng, xây lắp của các tổ chức, cá nhân trong tỉnh và thành phố Bắc Ninh; trong các tỉnh, thành phố lân cận

Còn phải chịu áp lực canh tranh mạnh mẽ của các doanh nghiệp trong cùng ngành xây dựng

2.1.5 Tình hình tài chính chủ yếu của công ty

2.1.5.1 kết quả hoạt động của công ty một số năm gần đây

Nhìn vào bảng 2.1 ta thấy: quy mô sản xuất kinh doanh của Công ty đã

không ngừng tăng lên nó thể hiện ở chỗ:

- Tổng vốn kinh doanh bình quân năm 2012 là 49,420,272,750 đồng( tăng từ 33,424,021,841.5 lên 49,420,272,750 đông) điều đó là do trong năm 2011 công ty đã gia tăng vốn đầu tư của chủ sở hữu và nó đã làm cho vốn chủ sở hữu bình quân cũng tăng từ 27,338,616,983 đồng lên 37,054,076,851 đồng Việc gia tăng vốn của vốn kinh doanh và vốn đầu tư chủ sở hữu của Công ty là nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Chính điều đó đã kéo doanh thu năm 2012 tăng lên

Trang 38

thành 102,704,096,074 đồng ( năm 2011 doanh thu là 70,789,000,000 đồng) Doanh thu tăng lên với tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí( tốc độ tăng của doanh thu 45.08%, tốc độ tăng của giá vốn 44.39%) chính điều đó đã làm cho lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2012 đạt 3,316,229,208 đồng tăng 369,342,955 đồng so với năm 2011 Tuy nhiên việc gia tăng vốn chủ sở hữu và vốn kinh doanh năm 2012 với tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế điều đó đã kèo theo ROA giảm từ 8.82% xuống còn 6.71%, và ROE giảm từ 10.78% xuống 8.95%

- Thu nhập bình quân của người lao động năm 2012 là 4,100,00 đồng tăng 600,000 đồng so với năm 2011 điều đó cho ta thấy đời sống công nhân viên không ngừng được cải thiện

2.1.5.2 Tình hình tài chính chủ yếu của công ty năm 2011-2012

Được thành lập từ năm 2002 tính đến nay đã được 10 năm, sau những vướng mắc ban đầu, hiện tại hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty đã dần đi vào ổn định Đặc biệt trong 2 năm trở lại đây tình hình tài chính của Công ty đã được cải thiện và có xu hướng phát triển mạnh trong tương lai, để thấy rõ điều này chúng ta sẽ phân tích khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả sản xuất kinh doanh và một số chỉ tiêu tài chính của CTCP Đông Đô trong 2 năm qua

2.1.5.2.1 Đánh giá về tài sản của CTCP Đông Đô

Qua bảng số liệu 2.2 ta thấy: tổng tài sản cuối năm 2012 đạt

60,150,312,750 đồng tăng 21,460,080,000 đồng ứng với tỷ lệ 55.46% so với đầu năm 2012 đây là cơ sở để công ty mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh tăng khả năng canh tranh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành

Trang 39

- Tổng tài sản tăng là do: tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp cuối năm

2012 tăng 21,138,790,098 đồng với tỷ lệ 69.65% so với đầu năm 2012 nguyên nhân chủ yếu là do các khoản phải thu doanh nghiệp tăng 13,685,477,100 đồng (82.03%) và hàng tồn kho tăng 10,293,174,567 đồng (262,88%) so với đầu năm

+ Tài sản dài hạn cuối năm 2012 của doanh ngiệp tăng 321,289,902 đồng (3.85%) chủ yếu là do tài sản dài hạn tăng 1,500,000,000 đồng (1513,55%) còn tài sản cố định thì giảm so với đầu năm 2012

- Cơ cấu tài sản có sự thay đổi : tỷ trọng đầu tư vào tài sản ngắn hạn cuối năm 2012 tăng so với đầu năm 2012 (7.15%), tỷ trọng đầu tư vào tài sản dài hạn giảm tuy tỷ lệ đầu tư tăng so với đầu năm 2012 nhưng tốc độ tăng chậm hơn rất nhiều tốc độ tăng tài sản

+ Trong năm 2012 hàng tồn kho tăng 10,293,174,567 đồng là do quy mô

sản xuất của Công ty tăng Mặt khác do sự biến động thị trường giá cả nguyên nhiên liệu, thiết bị sử dụng trong xây dựng, có xu hướng biến động tăng giá

và chi phí đầu tư xây dựng cơ bản tăng Vì vậy công ty đã thực hiện tích trữ vật liệu xây dựng với khối lượng hợp lý đảm bảo cho sản xuất diễn ra bình thường, chi phí sản xuất được tiết kiệm tuy nhiên tốc độ tăng của hàng tồn kho lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu do vậy trong thời gian tới doanh nghiệp cần tính toán kỹ lưỡng hơn trong quá trình dự trữ nguyên vật liệu và đẩy nhanh tiến độ thi công để thu hồi vốn nhằm tránh ứ đọng vốn và tăng chi phí quản lý

+ Các khoản phải thu tăng 13,685,477,100 đồng chủ yếu là do phải thu

của khách hàng tăng từ 16,683,396,762 đồng vào đầu năm 2012 lên thành 30,368,873,862 đồng vào cuối năm 2012 do doanh thu tăng nhưng tốc độ tăng phải thu lớn hơn chứng tỏ doanh nghiệp đang bị khách hàng chiến dụng vốn

Trang 40

nhiều Từ đó làm phát sinh thêm các khoản chi phí về quản lý các khoản phải thu, và các khoản chi phí lãi vay do thiếu vốn để đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

+ Lượng tiền mặt trong năm 2012 giảm là do công ty đã chi cho việc

mua nguyên nhiên liệu, vật tư cho việc tích trưc hàng tồn kho.Vì vậy lượng tiền mặt giảm trong năm là khá hợp lý

+ Về tài sản dài hạn thì trong năm 2012 tăng 321,289,902 đồng là do tài

sản dài hạn khác tăng 1,500,000,000đồng, còn tài sản cố định giảm 1,178,710,098 đồng là do khấu hao tài sản tăng

Nhận xét: Sau khi đánh giá khái quát tài sản và kết cấu tài sản của

CTCP Đông Đô ta thấy: so với cuối năm 2011 thì năm 2012 tổng tài sản của Công ty tăng lên điều đó chứng tỏ quy mô sản xuất của doanh nghiệp được

mở rộng, năng lực kinh doanh của công ty tăng nhưng mức dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp còn cao và các khoản phải thu nhiều và mức đầu tư đổi mới tài sản cố định ít trong thời gian tới doanh nghiệp cần phải cải thiện xem xét lại cho hợp lý để tăng khả năng cạnh tranh tăng lợi nhuận

2.1.5.2.2 Đánh giá về nguồn vốn của CTCP Đông Đô

Nhìn vào bảng số liệu 2.3 ta thấy: tổng nguồn vốn của công ty cuối

năm 2012 đặt 60,150,312,750 đồng tăng 21,460,080,000 (55.46%) so với đầu năm 2012 Quy mô nguồn vốn tăng mạnh đây là cơ sở để doanh nghiệp tài trợ cho các dự án đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh điều đó cho ta thấy khả năng huy động vốn của doanh nghiệp cuối năm 2012 tăng hơn so với cuối năm 2011, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp đã không ngừng nâng cao được uy tín với khách hàng và nhà đầu tư

Ngày đăng: 15/04/2016, 08:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w