Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng qua chế định ly hôn
Trang 1MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con
người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân
cách Đề cao vai trò gia đình trong đời sống xã hội Nhà nước đã ban hành Luật Hôn nhân và gia đình Qua nhiều thời kỳ khác nhau Luật Hôn nhân và gia đình được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp Nếu như việc kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng thì
ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề bình đẳng giới qua chế định
ly hôn, em xin chọn đề tài “Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng qua chế định ly hôn”
Do khả năng nghiên cứu còn có hạn và vốn kiến thức thực tế không nhiều nên bài viết của em còn nhiều sai sót Mong thầy cô đánh giá, bổ sung giúp em hoàn thiện bài viết này
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I Khái niệm ly hôn, căn cứ và bản chất pháp lý của ly hôn.
1 Khái niệm ly hôn
Quyền kết hôn và quyền ly hôn là một trong những quyền cơ bản của mỗi cá nhân, quyền nhân thân gắn liền với cá nhân
không thể chuyển giao, ủy quyền cho người khác khi thực hiện quyền này Quyền ly hôn là một trong những quyền dân sự cơ bản của công dân được quy định trong pháp luật dân sự, pháp luật
Trang 2hôn nhân và gia đình Điều 42 BLDS 2005 quy định “ Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly
hôn.”
Theo từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý_- Bộ Tư
pháp thì ly hôn được hiểu là “ Chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa
án nhân dân công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”
Điều 3 khoản 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng
quy định: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Ly hôn là một mặt của hôn nhân Nếu kết hôn là một hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là quan hệ bất thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ Trong trường hợp đó ly hôn là giả pháp cần thiết cho cả hai vợ chồng
2 Căn cứ pháp lý
Xét về mặt pháp lý thì ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt các nghĩa vụ, quyền giữa vợ chồng trên cơ sở yêu cầu của vợ chồng và được Tòa án công nhận
Nhà nước ta giải quyết ly hôn căn cứ vào “ tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không thể đạt được Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được
Phán quyết của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức; bản án hoặc quyết định
3 Bản chất pháp lý
Trang 3Cùng với tiến trình lịch sử, gia đình luôn được coi là nền tảng của xã hội Việt Nam, do đó gia đình đã sớm được tổ chức chặt chẽ
và những quy định của pháp luật về nó qua từng thời kỳ phát triển của đất nước mang những nét chung nhất của lịch sử và thời đại Là nội dung quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, chế định ly hôn ngoài việc mang những nét chung đó còn mang những đặc điểm thể hiện sắc thái thuần tuý của dân tộc Việt Nam
Dưới chế độ phong kiến, pháp luật và tục lệ phong kiến Việt Nam có nhiều quy định mang tính luân lý, nho giáo đặc biệt là quy định phạm về hôn nhân và gia đình mà theo đó, người phụ nữ phải sống theo thuyết tam tòng Cuộc đời người phụ nữ gắn với công việc gia đình, với chồng con trên cơ sở địa vị thấp hèn và nhẫn nhục Trong luật cổ phong kiến Việt Nam, quyền ly hôn
thường do người chồng quyết định, dựa vào tội của vợ ( thất
xuất) Do lễ giáo phong kiến không có sự bình đẳng nam nữ nên nhiều phụ nữ mặc dù không có tình cảm với chồng và cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho họ vẫn không được phép ly hôn
Đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa, do tác động của tư tưởng các mạng tư sản là tự do và bình đẳng, nên pháp luật nói chung và pháp luật trong hôn nhân và gia đình nói riêng cũng không nằm ngoài xu hướng đó Các nhà tư sản luật gia cho rằng tự do hôn nhân phải được thừa nhận như một quyền pháp định Hiện nay, hầu như pháp luật tư sản đều thừa nhận quyền ly hôn, tuy nhiên quan điểm và quy định về ly hôn của các nước cũng có nhiều điểm khác nhau
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, bản chất của ly hôn là sự tan
vợ của cuộc hôn nhân, do vậy, pháp luật hôn nhân gia đình không phải là yếu tố có thét hàn gắn sự rạn nứt về tình cảm của các bên
Trang 4trong cuộc sống gia đình mà trái lại việc Toà án công nhận thuận tình ly hôn hay xử cho ly hôn chỉ là một việc ghi nhận một cách khách quan, một thực tế đối với cuộc hôn nhân tan vợ mà thôi
Ở nước ta, mục đích của cuộc hôn nhân trong chế độ ta là xây dựng gia đình dân chủ hoà thuận, bền vững hạnh phúc
Nhưng vì lẽ này hay lẽ khác khiến cho vợ chồng hết tình nghĩa, cuộc sống chung không thể tiếp tục thì ly hôn là biện pháp cần thiết đêt giải phóng cho họ
Hiến pháp 1980 đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp nước nhà, nó quy định đầy đủ và chặt chẽ quyền bình đằng giữa nam và nữ ( Điều 36) về sở hữu riêng của công dân được pháp luật bảo hộ ( Điều 27) Tinh thần ấy được các nhà làm luật lấy làm cơ sở xây dựng luật hôn nhân và gia đình
II Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng qua chế định ly hôn
1 Quyền yêu cầu ly hôn
Điều 51 Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1 Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải
quyết ly hôn.
2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng,
vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3 Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Với đặc điểm của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, quyền kết hôn, quyền ly hôn là quyền nhân thân không thể
Trang 5chuyển giao, chỉ có chủ thể của quan hệ pháp luật mới có quyền yêu cầu giải quyết Quyền yêu cầu ly hôn nhằm chấm dứt quan
hệ vợ chồng trước pháp luật là quyền nhân thân gắn liền với vợ chồng, chỉ có vợ hoặc chồng hay cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn và cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu ly hôn là Toà án nhân dân Trong quá trình hôn nhân, khi tình cảm vợ chồng không còn dẫn đến tình trạng vợ chồng không thể sống chung thì cả vợ và chồng đều có quyền yêu cầu Toà án cho họ ly hôn, chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật
Quyền yêu cầu ly hôn vừa là quyền riêng của cá nhân vợ hoặc chồng, vừa là quyền chung của vợ chồng trong trường hợp
vợ chồng thuận tình ly hôn
Vợ chồng bình đẳng về quyền yêu cầu ly hôn Vấn đề thời hiệu không áp dung đối với quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình Trong mọi khoảng thời gian của thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng hoặc cả hai người đều bình đẳng về quyền yêu cầu ly hôn ( trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ 2014) Vợ chồng không được cưỡng ép, lừa dối, cản trở nhau trong việc thực hiện quyền yêu cầu ly hôn Người khác không được can thiệp, không được lừa dối, cưỡng ép, bắt buộc hoặc cản trở vỡ chồng ly hôn Luật HNGĐ của Nhà nước ta không đặt ra điều kiện ngăn cấm quyền ly hôn của vợ chồng Tuy nhiên xuất pháp từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, khác với việc thực hiện các quyền dân sự cơ bản khác, khi thực hiện quyền yêu cầu ly hôn người chồng bị hạn chế trong trường hợp người vợ có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi nhằm bảo vệ quyền phụ nữ, tạo mọi điều kiện cho người phụ nữ thực hiện thiên chức làm mẹ đảm bảo tâm lý ổn định khi mang thai và nuôi con nhỏ
2 Quan hệ nhân thân của vợ chồng sau ly hôn
Trang 6Theo nguyên tắc chung, khi bản án, quyết định ly hôn cuả Tòa án có hiệu lực pháp luật, quan hện vợ chồng chấm dứt, người
vợ người chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác Sau khi ly hôn các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng sẽ hoàn toàn chấm dứt, dù vợ chồng có thỏa thuận hay không thỏa thuận được thì Tòa án cũng sẽ quyết định Nghĩa là quyền và nghĩa vụ nhan thân của vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn gắn bó tương ứng giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ( như nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau tiến bộ, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng, quyền đại diện cho nhau….) sẽ đương nhiên chấm dứt Một số quyền nhân thân của vợ chồng với tư cách là công dân thì không ảnh hưởng, không thay đổi dù vợ
chồng ly hôn ( như quyền về họ tên Tôn giáo, dân tộc quốc tịch, nghề nghiệp)
3 Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn
Điều 58 Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này.
Pháp luật quy định về trách nhiệm chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng giáo dục con cái sau khi ly hôn của vợ và chồng là ngang bằng nhau
Điều 81 Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1 Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã
Trang 7thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2 Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ
07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3 Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ pháp lý
ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi
dưỡng đối với con chung của hai vợ chồng và con chung đó phải
là “con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rõ sau khi quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng chấm dứt trước pháp luật thì
họ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Quy định này nhằm đảm bảo cho cuộc sống của con sau khi cha,mẹ ly hôn và xây dựng môi trường, điều kiện tốt nhất để con phát triển
Trang 8Pháp luật cũng tôn trọng ý kiến của con trong trường hợp lựa chọn người trược tiếp nuôi dưỡng nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì xem xét nguyện vọng của con đồng thời cũng quy địbh con dưới
36 tháng tuổi giao trực tiếp cho mẹ nuôi bởi đây là giai đoạn con còn rất bé và vai trò của người mẹ lúc này hết sức quan trọng
Về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng có quy định
Điều 82 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1 Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2 Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3 Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa
vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Sau khi ly hôn,
Trang 9người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con
mà không ai được cản trở Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó
Điều 83 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1 Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
2 Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Điều 84 Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1 Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2 Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trang 103 Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
4 Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.
5 Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.
Quyền đại diện cho con là bình đẳng như nhau đối với cả cha
và mẹ, dù là người trực tiếp nuôi dưỡng hay không trực tiếp nuôi con
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha, mẹ đối với hành vi gây thiệt hại có lỗi của con gây ra vẫn không hề thay đổi Người trực tiếp nuôi dưỡng và người không trực tiếp nuôi dưỡng đều phải
có trách nhiệm bồi thường ngang nhau đối với khoản bồi thường thiệt hại của con gây ra
4 Chia tài sản sau khi ly hôn
Việc chia tài sản sau khi ly hôn là vấn đề phức tạp, có nhiều tranh chấp giữa vợ chồng khi ly hôn và gặp nhiều vướng mắc trong thực tiễn xét xử nhiều năm qua ở nước ta Khi ly hôn vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản, nếu vợ chồng không tự thỏa thuận với nhau thì yêu cầu tòa án giải quyết Tòa án sẽ quết định
Trang 11chia tài sản giữa vợ và chồng dựa trên Điều 59 Luật HNGĐ năm 2014
Điều 59 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1 Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ
chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60,
61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2 Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.