1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực

153 945 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 11,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực học sinh trong học tập, góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học Địa lí ở trường phổ thông. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực. Xác định yêu cầu và nguyên tắc xây dựng và sư dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12. Xây dựng quy trình thiết kế Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12. Sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12. Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của đề tài nghiên cứu. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên của đề tài hướng tới việc: Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT Phạm vi tiến hành thực nghiệm ở một số trường THPT của TP. Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nội. 4. Giả thiết khoa học Nếu xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT đảm bảo nguyên tắc và quy trình hợp lí thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực của học sinh, góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học Địa lí ở trường phổ thông. 5. Tổng quan vấ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chúng ta đang sống ở hai cuộc cách mạng: Cách mạng khoa học - kĩ thuật

và cách mạng xã hội Những cuộc cách mạng này đang phát triển như vũ bãovới nhịp độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người, thúc đẩy nhiều lĩnhvực, có bước tiến mạnh mẽ và đang mở ra nhiều triển vọng lớn lao khi loàingười bước vào thế kỉ XXI

Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and CommunicationsTechnology – ITC) không ngừng tác động mạnh mẽ đến giáo dục và đào tạo.Làm thay đổi cách suy nghĩ của giáo viên và học sinh Quá trình dạy hoc trởnên tích cực hơn, sinh động hơn, linh hoạt hơn, trực quan hơn khi nó đượcgắn liền với những phương tiện nghe nhìn hiện đại Công nghệ thông tintruyền thông vừa như một phương tiện vừa như một nhân tố mới trong quátrình dạy học, chi phối toàn bộ quá trình này nhằm đạt đến mục tiêu nhanhnhất và hiệu quả nhất Với ưu thế của một nguồn thông tin khổng lồ, đầy màusắc, sống động phản ánh sự đa dạng của thế giới, Internet đã trở thành mộtcông cụ hỗ trợ tích cực trong việc dạy và học Địa lí ở trường phổ thông Tuynhiên, làm thế nào để khai thác Internet một cách có hiệu quả đang là vấn đềđặt ra đối với giáo viên

Đặc biệt đối với môn Địa lí là môn học luôn đòi hỏi tính cập nhập về nộidung và hình thức, nên kĩ năng khai thác internet một cách hiệu quả đang làvấn đề đặt ra đối với giáo viên Đặc biệt đối với môn Địa lí là môn học luônđòi hỏi tính cập nhập về nội dung kiến thức, nên kĩ năng khai thác Internetlàm sao có hiệu quả nhất có vai trò ngày càng quan trọng

Trước những biến đổi về thời đại mới, một yêu cầu đặt ra đối với con người

là muốn chiếm lĩnh được tri thức của nhân loại phải tự chủ, sáng tạo và có tưduy khoa học Trước tình hình đó đã đã đặt ra cho nền giáo dục nước ta phảu

có những đổi mới căn ản, toàn diện và đồng bộ, vươn tới ngang tầm với sự

Trang 2

phát triển chung trên Thế giới và giới và khu vực Trong đó đổi phương phápdạy học yếu tố quan trong, cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu trên.

Phát triển giáo dục là chìa khóa, là đòn bẩy tạo nên sự phát triển nhanh chóng

và bền vững cho đất nước trong thời gian tới và lâu dài về sau Quan điểmnày đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ba chấp hànhTrung ương Đảng (khóa VIII): “ Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sáchhàng đầu” Trong những năm qua, giáo dục nước ta đã có nhiều đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng tăng cường vai trò chủ thể của học sinh.Phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo, trong đó việc giúp các em có khả năng

tự chiếm lĩnh tri thức là một trong những phương pháp cần thiết Vì dù giáoviên có truyền đạt kiến thức nhiều đến đâu cũng không thể hết được kho tàngkiến thức của nhân loại

Trong trương trình giáo dục phổ thông, có một số kiến thức khái niệm, hiệntượng khá trừu tượng học sinh gặp nhiều khó khăn trong khi phải tìm hiểu bảnchất hiện tượng đó Tuy nhiên, với những ưu thế về khả năng đồ họa, môphỏng mà các phương tiện dạy học đem lại sẽ hỗ trợ khắc phục những khókhăn trên Qua bài giảng dưới dạng Web, giáo viên có thể phát huy tất cả cácgiác quan của học sinh trong quá trình truyền thụ kiến thức, làm cho học sinhnhận biết được các mối quan hệ giữa các hiện tượng, tái hiện được nhữngkhái niệm, quy luật,…làm cơ sở cho việc áp dụng kiến thức đã học vào trongthực tế đời sống sản xuất

Các Website phục vụ cho công tác giáo dục ngày càng nhiều Vì vậy theo dựđoán của chuyên gia công nghệ thông tin Việt Nam, trong một vài năm tới,bất kì tổ chức nào, đoàn thể nào không có Website hoặc các hình thức đưathông tin đến rộng rãi công chúng bằng các phương tiện ITC (Information andCommunication Technology) thì tổ chức, đoàn thể đó sẽ trở nên lạc hậu.Đối với bộ môn Địa lí là môn học có rất nhiều lợi thế để có thể ứng dụngWebquest phục vụ công tác giảng dạy trong nhà trường THPT vì nội dungkiến thức phong phú, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Đặc biệt trong

Trang 3

chương trình Địa lí có nhiều nội dung không có sự mô phỏng hình ảnh, âmthanh…thì học sinh khó có thể hình dung, tiếp thu kiến thức được Chính việc

sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông là một xu thếtất yếu của đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại tích cực

Từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực” làm

đề tài luận văn Thạc sĩ

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lílớp 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực nhằm phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực học sinh trong học tập,góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học Địa lí ởtrường phổ thông

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụngWebquest trong dạy học Địa lí lớp 12 – THPT theo định hướng pháttriển năng lực

- Xác định yêu cầu và nguyên tắc xây dựng và sư dụng Webquesttrong dạy học Địa lí lớp 12

- Xây dựng quy trình thiết kế Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12

- Sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12

- Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thicủa đề tài nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp xây dựng và sửdụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12 – THPT theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh

Trang 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên của đề tài hướng tới việc:

- Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12- THPT

- Phạm vi tiến hành thực nghiệm ở một số trường THPT của TP HảiPhòng, Hải Dương, Hà Nội

4 Giả thiết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12- THPTđảm bảo nguyên tắc và quy trình hợp lí thì sẽ phát huy được tính tíchcực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực của học sinh, góp phần đổimới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học Địa lí ở trường phổthông

5 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

5.1 Trên thế giới

Cùng với việc ra đời và phổ biến của Internet, ngày nay việc thu thập và xử líthông tin trên mạng là một kĩ năng cần thiết trong nghiên cứu và học tập cũngnhư trong lao động nghề nghiệp Việc ứng dụng và sử dụng công nghệ thôngtin và sử dụng Internet trong dạy học ngày càng trở nên quan trọng Tuy nhiênviệc học sinh truy cập thông tin một cách tự do trên mạng Internet trong dạyhọc có những nhược điểm sau: Việc tìm kiếm dễ bị kéo dài do lượng thông tintrên mạng lớn; dễ bị chênh lệch lớn khỏi bản thân đề tài; nhiều tài liệu đượctìm ra với nội dung chuyên môn không chính xác dẫn đến nhiễu thông tin; chiphí thời gian quá lớn cho việc đánh giá và xử lí thông tin trên lớp học; việctiếp thu kiến thức qua truy cập thông tin trên mạng có thể chỉ mang tính thụđộng mà thiếu sự đánh giá phê phán người học

Để khắc phục những nhược điểm trên đây của việc học qua mạng, người ta đãphát triển phương pháp Webquest Năm 1995, Bernie Dodge ở trường đại họcSan Diego University (Mỹ) đã xây dựng Webquest trong dạy học

Các đại diện tiếp theo là Tom March (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ) Ý tưởngcủa họ là đưa ra cho học sinh một tình huống thực tiễn có tính thời sự hoặc

Trang 5

tính lịch sử, dựa trên cơ sở những dữ liệu tìm được, học sinh cần xác địnhquan điểm của mình về chủ đề đó trên cơ sở lập luận Học sinh tìm đượcnhững thông tin, dữ liệu cần thiết qua trang kết nối Internet links đã được giáoviên lựa chọn từ trước Webquest ban đầu của họ được xây dựng bao gồmmột số bước cụ thể, từ giới thiệu nhiệm vụ, đến đánh giá quá trình học tập.Ngày nay, Webquest đã được sử dụng rộng rãi trên Thế Giới, trong giáo dụcphổ thông cũng như trong đại học Thông thường, Webquest sẽ đưa ra mộtdanh sách các đường liên kết để hỗ trợ người học hoàn thành một vài hoạtđộng Người học thường đóng một vai trò nào đó Họ có thể học theo nhóm

và mỗi cá nhân sẽ đảm đương một trách nhiệm như quan sát, thu thập thôngtin, ghi chép, báo cáo, trình bày,…

Một số cuốn sách nghiên cứu về Webquest đã xuất bản như: “ Using

Webquests in the Social Studies Classroom” ( Sử dụng Webquest trong dạy

học các môn khoa học xã hội) của tác giả : Margaret M.Thombs, Maureen M.

Gillis, Alan S Canestrari, cung cấp các biện pháp thực tế để sử dụng

Webquest nhằm tối ưu hóa việc học các môn khoa học xã hội, đòi hỏi mức độ

tư duy cao của học sinh, thúc đẩy hơn sự hiểu biết của nền văn minh xã hội;

“The World Is Open” ( Thế giới mở) của tác giả Curtis J Bonk, khám phá

các thay đổi mạnh mẽ của thế giới đang ảnh hưởng đến người học trong đó cóviệc khai thác Internet nói chung và sử dụng thông tin trên các trang Web nóiriêng…

Bên cạnh đó, cũng có nhiều luận văn , luận án nghiên cứu về Webquest và

hiệu quả của việc sử dụng Webquest như: Luận án nghiên cứu “The

Webquest creation process” (Quá trìn tạo Webquest) của Roberts, Leanne M.

, 2005, “Webquest design strategies” (Các kĩ thuật xây dựng Webquest) của

Frazze, James Phillip vào năm 2004 C ác đề tài này đã nghiên cứu về các vấn

đề cơ sở, lí luận và thực tiễn của quá trình tạo Webquest., các mô hìnhWebquest và các kĩ thuật xây dựng Webquest, đồng thời tiến hành thực

Trang 6

nghiệm kiểm chứng đối với sinh viên các trường Đại học Akron, Đại học SanDiego…

Ngày nay Webquest (thuật ngữ tiếng anh) được sử dụng rộng rãi trên Thếgiới, trong giáo dục phổ thông cũng như trong đại học

5.2 Tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học trong đó cóvấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung và dạy học địa lí nói riêngđược rất nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu Trong những nghiên cứunày có thể kể đến: Phần mềm “ PC FACT với dạy học địa lí” của GS NguyễnDược, phần mềm Db – Map của PGS.TS Đặng Văn Đức (1998), phần mềm

“Atlas Địa lí môi trường Việt Nam” do Cục môi trường – Bộ Khoa học côngnghệ và môi trường xây dựng (2001); Báo cáo “ Nghiên cứu ứng dụng tin họctrong dạy học Địa lí – một hướng đổi mới dạy học và HS làm trung tâm” củaPGS.TS Đặng Văn Đức ( 1998)…Các luận văn tốt nghiệp, luận văn thác sĩ,luận án tiến sĩ như: “Ứng dụng CNTT trong giảng dạy Địa lí KT – XH ViệtNam (lớp 12, THPT)” – Trần Thị Thanh Thủy (2002), “ Ứng dụng CNTTtrong giảng dạy Địa lí KT- XH Thế giới theo hướng tích cực (lớp 11)” –Nguyễn Thị Thu Anh (2005)…Nội dung các luận văn này đề cập đến vấn đềđổi mới theo xu hướng CNTT cụ thể là sử dụng các chương trình, phần mềmmáy tính để thiết kế các bài giảng Địa lí ở THPT, xây dựng Website tư liệuphục vụ cho giảng dạy Địa lí ở trường phổ thông…

Bên cạnh đó còn có rất nhiều sách, giáo trình đề cập tới đổi mới PPDH và ứngdụng CNTT vào dạy học Địa lí: sách dịch “Phát huy tính tích cực cuả họcsinh như thế nào?”, tác giả I.F.Khrlamop, Nxb Giáo dục năm 1979; “Phươngpháp dạy học địa lí” của Nguyễn Dược, Đặng Văn Đức, Nguyễn Trọng Phúc,Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Đức Tuấn, Nxb Giáo dục năm 1996; Tài liệu “Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực hóa hoạt độngngười học” cuả Đặng Văn Đức, Nguyễn Thị Thu Hằng (2001); Sách “Phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực” của Đặng Văn Đức,

Trang 7

Nguyễn Thị Thu Hằng, Nxb Đại học sư phạm (2003) Trong những tài liệunày, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề đổi mới PPDH, phát huy tính tíchcực của học sinh Các tác giả đã đưa ra những cơ sở lí luận của vấn đề, hướngdẫn cách khai thác từng loại phương pháp theo từng bước đi cụ thể và đưa ramột vài ví dụ minh họa.

Ở Việt Nam, có một số tài liệu đề cập đến Webquest như: “ Một số vấn đềchung về đổi mới PPDH ở trường THPT (Dự án phát triển giáo dục THPTcủa Bộ Giáo dục và đào tạo)”- Nguyễn Văn Cường và Bern Meier, 2010; Đĩa

CD “ CNTT Cho day học tích cực”, NXB Giáo dục, 2010; “Xây dựng và sửdụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 10 THPT” – Luận văn thạc sỹ 2014của Nguyễn Thị Hồng Hầu hết các tài liệu này đề cập tới các vấn đề liênquan đến Webquest và xây dựng một số ví dụ minh họa

6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1 Quan điểm nghiên cứu

6.1.1 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Dựa vào quan điểm này nhằm thiết kế và xây dựng Webquest hiệu quả, đápứng yêu cầu của đổi mới quá trình dạy học đó là một quá trình dưới sự hướngdẫn, tổ chức điều khiển của người giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủđộng, sáng tạo, biết tự tổ chức, tự điều khiền hoạt động nhận thức học tập củamình nhằm thực hiện tốt các mục tiêu dạy học

6.1.2 Quan điểm công nghệ dạy học

Đó là một quan điểm khoa học về giáo dục con người Dựa trên cơ sở tổnghợp những thành tựu của nhân loại từ trước tới nay, đặc biệt những thành tựukhoa học giáo dục, để tổ chức một cách khoa học quá trình đào tạo con ngườibằng cách xác định một cách chính xác và sử dụng một cách tối ưu đầu ra(mục tiêu giáo dục), đầu vào (học sinh), các điều kiện phương tiện kĩ thật dạyhọc, các tiêu chuẩn đánh giá, hệ phương pháp tích cực hóa, chương trình hóa

và cá thể hóa quá trình dạy học với sự chi phí tối ưu, thời gian sức lực, tiền

Trang 8

của của giáo viên, học sinh, nhân dân và Nhà nước nhằm đạt được mục tiêugiáo dục.

6.1.3 Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Việc thiết kế và sử dụng Webquest trong dạy học sẽ giúp giáo viên có nhiều ýtưởng cho bài dạy, góp phần nâng cao hứng thú học tập cho học sinh và rènluyện các kĩ năng cần thiết, đặc biệt là kĩ năng sử dụng công nghệ thông tintrong học tập,… học sinh tham gia vào các hoạt động học tập một cách tíchcực hơn, thời gian giáo viên lên lớp rút ngắn lại Như vậy Webquest đã giúpphát huy tích cực, tự giác học tập của học sinh, phát triển được các năng lựcnhư: năng lực tự học, năng lực tìm tòi, khám phá, năng lực giải quyết vấn đề,

6.2.2 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu

Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu những yếu tố tác động đếntính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập dưới sự tác độngcủa CNTT và truyền thông, từ đó đưa ra những công cụ thích hợp

Nghiên cứu tài liệu lí luận về xây dựng và sử dụng Webquest trong việc pháttriển năng lực của học sinh và đổi mới phương pháp dạy học

6.2.3 Phương pháp quan sát điều tra

Phương pháp quan sát nhằm tiếp cận tình hình thực tế, nắm được thực trạngcủa việc sử dụng hệ thống mạng và máy tính phục vụ giảng dạy ở các trườngphổ thông

Trang 9

Nhiệm vụ điều tra quan sát là tìm hiểu thái độ, tình hình của giáo viên và họcsinh thông qua việc trao đổi, phỏng vấn trực tiếp, dự giờ để đánh giá chínhxác việc sử dụng phương tiện dạy học, ứng dụng CNTT, mạng máy tính vàogiờ học Trên cơ sở đó xem xét những điều kiện cần và đủ, những thuận lợicũng như những hạn chế của việc khai thác và ứng dụng Webquest vào trongdạy học lớp 12 của giáo viên và học sinh.

6.2.4 Phương pháp thống kê toán học

Vận dụng lí thuyết xác suất và thống kê toán học để phân tích, xử lí các kếtquả thu được sau khi thực nghiệm sư phạm nhằm xác định xu hướng pháttriển của các đối tượng và làm tăng tính chính xác, khách quan cho kết quảnghiên cứu của đề tài

6.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Nhằm tiến hành kiểm nghiệm, kiểm chứng, điều tra, khảo sát lấy ý kiến, đánhgiá về tính khả thi thực tiễn của việc xây dựng Webquest trong việc dạy họcĐịa lí lớp 12 – THPT (chương trình cơ bản)

Sử dụng các phiếu điều tra để lấy thông tin nhanh về việc ứng dụng CNNTtrong dạy học và sửn dụng Webquest vào trong dạy học ở lớp 12 – THPT(chương trình cơ bản)

Qua thực nghiệm rút ra những nhận xét cần thiết liện quan đến các giải pháp

đề xuất trong nội dung của đề tài Kết quả thực nghiệm là cơ sở để kiểmchứng tính khả thi của đề tài

6.3 Phương pháp chuyên gia

Dùng phương pháp này để tham khảo hỏi ý kiến các chuyên gia là người hiểubiết, thiết kế, hướng dẫn và sử dụng Webquest trong Dạy học Địa lí lớp 12 –THPT (chương trình cơ bản) đúng với nguyên tắc, quy trình và nội dungchương trình , góp phần phát triển năng lực của học sinh và đổi mới phươngpháp dạy học ở trường phổ thông

Trong quá trính xây dựng và sử dụng Webquest dạy học Địa lí lớp 12 – THPT(chương trình cơ bản ) tôi đã nhờ đến sự giúp đỡ và hướng dẫn của chuyên

Trang 10

gia PGS.TS Đặng Văn Đức là người đã chuyên gia giúp tôi hoàn thành tốtnghiên cứu này.

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, cácphiếu điều tra…Phần nội dung gồm:

Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụngWebquest trong dạy học Địa lí lớp 12 –THPT theo định hướng pháttriển năng lực

Chương II: Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12– THPT theo định hướng phát triển năng lực

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WENQUEST TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12

– THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

1.1.Cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực

1.1.1 Những vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học Địa Lí

Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế vớinhững ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa Phương pháp dạy học

là một phạm trù của khoa học giáo dục Việc đổi mới phương pháp giáo dụccần dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn giáo dục Khoa học giáo dục

là lĩnh vực rất rộng lớn và phù hợp, có nhiều chuyên ngành khác nhau Vì vậyviệc đổi mới phương pháp học cũng được tiếp cận dưới nhiều cách tiếp cậnkhác nhau Có thể sơ đồ hóa cơ sở đổi mới phương pháp dạy học như sau:

( sơ đồ trang 55)

Dựa trên khái niệm chung về phương pháp dạy học có thể hiểu như sau: Đổi

mới PPDH là cải tiến những hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo, phát triển năng lực của học sinh.

Các nghiên cứu thực tiễn dạy học dạy học ở trường Trung học phổ thôngcũng chỉ ra một số vấn đề cụ thể sau đây về mặt phương pháp dạy học:

Trang 12

+ Phương pháp thuyết trình, thông báo tri thức của giáo viên vẫn là phươngpháp dạy học được sử dụng quá nhiều dẫn đến tình trạng hạn chế hoạt độngtích cực của học sinh.

+ Việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học và sự dụng các phươngpháp phát huy tích cực, tự lực và sáng tạo còn ở mức độ hạn chế

+ Việc gắn nội dung dạy học với các tình huống thực tiễn chưa được chútrọng

+ Dạy học thí nghiệm , thực hành, dạy học thông qua các hoạt động thực tiễn

Toàn cầu hóa đang là xu thế phổ biến trên thế giới hiện nay, cùng với nó làcuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại phát triển như vũ bão, côngnghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh

tế - xã hội, làm cho lượng thông tin bùng nổ mạnh mẽ, nhân loại khám phá ranhiều tri thức mới, đồng thời thế hệ sau đó ngày càng phải ghi nhớ nhiều hơn,tích lũy nhiều hơn lượng tri thức, mỗi ngày đều phải cập nhập một lượng trithức mới Do đó ngành Giáo dục và Đào tạo đứng trước những thách thức vàvận hội mới: Nhà trường phải đào tạo những con người có đạo đức có trí tuệthực sự năng động, luôn tự chủ, luôn làm chủ kiến thức, chủ động lĩnh hội trithức nhân loại, có khả năng lĩnh hội khối lượng lớn thông tin luôn biến động

Trang 13

và sắp xếp chúng để vận động linh hoạt, sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế củađất nướ, đáp ứng nhu cầu của xã hội…Chính vì vậy cần phải đổi mới phươngpháp dạy học.

Có thể nhận thấy vai trò và vị trí của môn Địa lý trong thực hiện mục tiêugiáo dục: Với mục tiêu chung của ngành giáo dục đó là: Phát triển toàn diệnđức – trí – thể - mỹ, các kĩ năng cơ bản Đồng thời hình thành nhân cách conngười Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân, có khảnăng học tập suốt đời…thì với bộ môn địa lý góp phần quan trọng trong việccung cấp kiến thức phổ thông, cơ bản về Trái Đất và hoạt động của conngười, bồi dưỡng năng lực tư duy Rèn luyện kĩ năng ứng xử phù hợp với tựnhiên và xã hội, yêu cầu của đất nước với thời đại.Bồi dưỡng ý thức tráchnhiệm, long ham hiểu biết khoa học, tình yêu quê hương, đất nước.Như vậyĐịa lý là môn học không thể thiếu trong nhà trường, góp phần quan trọng vàomục tiêu giáo dục phổ thông

Tuy nhiên điều đáng tiếc là trên thực tế việc đổi mới phương pháp dạy học địa

lí diễn ra còn rất chậm chạp, chưa đáp ứng những yêu cầu của cải cách giáodục và làm cho chất lượng dạy học địa lí của các trường phổ thông hiện nay:+ Một số giáo viên chưa thực sự thấm nhuần bản chất, hướng và cách thứcđỏi mới phương pháp dạy học Địa lí: Phổ biến trong cách dạy hiện nay vẫn làthuyết trình, liệt kê kiến thức, thầy nói nhiều mà không kiểm soát được kiếnthức của học sinh, không kiểm soát được việc học của trò Trong nhiều giờhọc địa lí, học sinh ít có cơ hội để xây dựng nên kiến thức của mình.Các em ít

có điều kiện để suy xét thảo luận và sử dụng các ý tưởng nhằm sắp xếp cấutrúc những ý tưởng đó thành những ý tưởng mà các em tự xử lý

+ Việc tạo động cơ và gây hứng thú cho học sinh và thực hiện các hình thức,khen thưởng, động viên khác nhau đã không được giáo viên quan tâm mộtcách thích đáng

+ Quan sát thấy nhiều giờ học địa lí còn hội chứng “ nhàm chán” Học sinh tỏ

ra không quan tâm nhiều đến nội dung bài học, ít chịu trách nhiệm về việc

Trang 14

học của bản thân mình, trở thành người thụ động trong việc học.Trong suynghĩ của nhiều học sinh, môn địa lí là môn phụ, môn học thuộc lòng, môn trínhớ chứ k phải môn tư duy.

+ Hiện nay học sinh đang phải chứng kiến một thực trạng báo động đối vớitình trang “ quá tải ” trong học tập Các em như chìm đắm trong ghi chép đặcbiệt là đối với bộ môn ghi chép nhiều như: Ngữ văn, lịch sử, địa lí…mà khighi bài học sinh nhìn lại không biết đâu là nội dung cần ghi nhớ Điều này tấtyếu gây ra hậu quả là học sinh học tập căng thẳng, chán nản và bị áp lực tronghọc tập nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin với yêu cầu cao về chất lượngdạy học

Nếu cứ tiếp tục cách học và dạy thụ động như thế, giáo dục sẽ không đáp ứngyêu cầu của thời đại của xã hội, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đátnước (2000- 2020), sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên đường tiến vàothế kỉ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi phải đổi mới về giáo dục trong

đó có sự đổi mới về phương pháp dạy và học Đây không phải là vấn đề củariêng nước ta mà là vấn đề đang được quan tâm ở mọi quốc gia trong chiếnlược phát triển nguồn lực con người phục vụ cho các mục tiêu xã kinh tế - xãhội dẫn đến sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học

Những định hướng về đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác địnhtrong nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1- 1993), Nghị quyết Trung ương 2khóa VIII ( 12- 1996): “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạokhắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nên tư duy sáng tạo của ngườihọc…”, được thể chế hóa trong luật giáo dục (12- 1998): “phương pháp giáodục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, phùhợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học,…bồi dưỡng phương pháp tựhọc rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tìnhcảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Chiến lược phát triểngiáo dục 2001- 2010 ( Ban hành kèm theo quyết số 201/2001/QD – TTg ngày

28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ), mục 5.2: “ Đổi mới và hiện

Trang 15

đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động,thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy phân tích, tổnghợp; phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tựchủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập…”

Biện pháp đổi mới : Đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ giữa các yếu tố,các bộ phận cấu thành quá trình dạy học: nhà quản lí, giáo viên, học sinh Đổi mới có trọng tâm, trọng điểm và từng bước vững chắc

Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập tựchủ của học sinh chống lạ thói quen học tập thụ động Phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh Bồi dưỡng phương pháp tư học, rènluyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Tác động đến tình cảm, đemlại niềm vui hứng thú cho học sinh đối với bộ môn địa lí

1.1.2 Định hướng phát triển năng lực

Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một môhình của chương trình định hướng kết quả đầu ra Giáo dục định hướngphát triển năng lực là công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiểnđầu ra Đồng thời cũng là mục tiêu dạy học của môn học được mô tả thôngqua các nhóm năng lực Trước hết cần hiểu khái niệm năng lực: Khái niệmnăng lực có nguồn gốc tiếng la tinh “competentia” có nghĩa là gặp gỡ.Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Cónhiều loại năng lực khác nhau Năng lực hành động là một loại nănglực.Khái niệm phát triển năng lực ở đây cũng được hiểu là phát triển nănglực hành động

Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hànhđộng, giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp,

xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệmcũng như sự sẵn sàng hành động

Dựa vào khái niệm năng lực hình thành nên mô hình cấu trúc năng lực với

4 năng lực chính là : Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng

Trang 16

lực xã hội, năng lực cá thể Các thành phần gặp nhau tạo thành năng lựchành động

Trong đó:

+ Năng lực chuyên môn: là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môncũng như đánh giá kết quả một cách có độc lập, có phương pháp và chínhxác về mặt chuyên môn (bao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích tổnghợp và trừu tượng, khả năng nhận biết các mối quan hệ một cách có hệthống và quá trình)

+ Năng lực phương pháp: là khả năng đối với những hành động có kếhoạch định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.Trung tâm của năng lực phương pháp nhận thức là những phương phápnhận thức, xử lí, đánh giá, truyền thụ và giới thiệu thông tin

+ Năng lực xã hội: là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống

xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽcủa những thành viên Trọng tâm là: ý thức được trách nhiệm bản thâncũng như của những người khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức Có khảnăng thực hiện các hành động xã hội, khả năng cộng tác và giải quyếtxung đột

+ Năng lực cá thể: là khả năng xác định, suy nghĩ, đánh giá được những cơhội phát triển cũng như những giới hạn của mình, phát triển được năngkhiếu cá nhân cũng như xây dựng kế hoạch cho cuộc sống riêng và hiệnthực hóa cho kế hoạch đó Những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức vàđộng cơ chi phối các hành vi ứng xử

Dạy học theo quan điểm phát triển năng lực: Trước hết, người giáo viênphải xác định mục đích học tập, phải mô tả được yêu cầu trình độ đầu ramột cách rõ ràng theo các thành phần năng lực Sau đó cần xác định cácnội dung dạy học: học nội dung chuyên môn, học phương pháp chiến lược,học giao tiếp, học tự trải nghiệm, tự đánh giá Cụ thể như sau:

Trang 17

Học nội dung

chuyên môn

Học phương pháp – chiến lược

Học giao tiếp xã hội

Học tự trải nghiệm - đánh giá

Các phương phápnhận thức

Thu thập, xử líthông tin, trìnhbày tri thức

Làm việc trongnhóm, tạo điềukiện cho sự hiểubiết về phươngdiện xã hội, cáchứng xử, tinh thầntrách nhiệm vàkhả năng giảiquyết xung đột

Tự đánh giá điểmmạnh và yếu, kếhoạch PT cá thểThái độ tự trọng,trân trọng các giátrị , các chuẩn đạođức, các giá trịvăn hóa

Năng lực chuyên

môn

phương pháp

Năng lực xã hội Năng lực cá thể

Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học với mục đích hướng đến cuốicùng là tăng cường năng lực cho người học đáp ứng yêu cầu của xã hộitrong điều kiện mới Như vậy, người học vừa là đối tượng thực hiện “sảnphẩm” của quá trình đổi mới Trước đây, kết quả học tập của học sinh phụthuộc rất nhiều vào người thầy trong việc truyền đạt kiến thức đến họcsinh Yêu cầu đối với học sinh là thái độ chăm chỉ ghi chép, học bài theohướng thuộc lòng, làm bài theo khuôn mẫu có sẵn do vây không thể pháttriển được các năng lực tư duy cho học sinh

Trang 18

Khi yêu cầu của xã hội thay đổi, cân đến sự năng động, tư duy sáng tạo,tích cực chủ động…của người học thì điều đầu tiên, cần thiết là người họcphải nhận thức được vai trò trung tâm của mình trong hoạt động nhận thức

và tiếp cận chân lí khoa học cũng như yêu cầu của xã hội đối với bản thâncác em ( để có thể tiếp tục học tập lên trình độ cao hơn hay đáp ứng nhữngcông việc từ đơn giản đến phức tạp của xã hội)

Khi nhận thức được người học chính là trung tâm của quá trình dạy học,của việc tiếp cận, lĩnh hội tri thức và kĩ năng sẽ giúp người học có thái độđúng đắn với việc học của mình Bản thân các em sẽ nhận thức được tráchnhiệm của mình trong quá trình học tập, thay đổi thói quen thụ động,trông chờ vào kiến thức do giáo viên cung cấp, mà phải luôn tích cực, chủđộng tìm kiếm, phát hiện tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Với các phương pháp dạy học tích cực, người học là đối tượng tìm hiểu,khám phá trong và cả ngoài giờ học Thời gian trên lớp là có hạn, giáoviên không thể truyền đạt hết kiến thức cho học sinh (theo cách học truyềnthống) Với thời gian hạn chế, giáo viên trên lớp chỉ đóng vai trò địnhhướng, chuẩn hóa kiến thức, phân tích, giải thích những vấn đề còn vươngvấn, vướng mắc Do đó học sinh tự nghiên cứu, chuẩn bị trước kết quả làhết sức cần thiết

Có nhiều nguồn thông tin khác nhau để giúp người học tự học, tự nghiêncứu Để trang bị kiến thức cho mình người học sẽ phải rèn luyện các kĩnăng tìm kiếm và chọn lọc thông tin một cách nhanh chóng, phù hợp, khảnăng tự đánh giá mức độ chính xác và tin cậy của thông tin…việc tự trang

bị thêm vốn kiến thức sẽ giúp người học rèn luyện khả năng tự học, tựnghiên cứu suốt đời Đây là một trong những mục tiêu của dạy học tíchcực Đồng thời với việc tìm kiếm thông tin là việc tiếp cận với nhiều hìnhthức học tập phong phú qua hệ thống mạng internet ( học từ xa, làm bàitập trực tuyến, trao đổi chia sẻ kiến thức với thầy cô, bạn bè…) Ngườihọc sẽ được tham gia một cách chủ động và tích cực vào các hoạt động

Trang 19

khám phá tri thức do GV tổ chức ( tham gia động não trả lời câu hỏi, thamgia vào việc học nhóm…) để biến vốn tri thức của xã hội thành tri thứccủa bản thân, giúp các em phát triển năng lực chuyên môn và năng lựcphương pháp Điều này giáo viên không thể làm thay các em

Các phương pháp dạy học tích cực còn giúp các em tự tin, mạnh dạn phátbiểu, trao đổi ý kiến với tinh thần xây dựng, mạnh dạn, sáng tạo hơn trongsuy nghĩ và hành động Tâm lí e ngại, sợ giáo viên, sợ sai lầm, đã làm hạnchế những ý kiến phát biểu, tranh luận mang tính xây dựng, lại quay vềvới truyền thụ một chiều Do đó cần rèn luyện cho các em tinh thần họctập tích cực, giúp các em vượt qua chính bản thân mình, tự học và rút rabài học kinh nghiệm cho bản thân Rèn luyện cho các em các kĩ năng cầnthiết trong cuộc sống (phát hiện vấn đề, trình bày vấn đề, kĩ năng giaotiếp, giải quyết vấn đề, kĩ năng tranh luận…) Từ đó các em phát triểnđược năng lực cá nhân và năng lực xã hội

Các phương pháp dạy học tích cực hướng các em đến thay đổi mục tiêugiáo dục, thay đổi mục tiêu học tập: học để làm thay vì học để thi Mụctiêu quan trọng và cuối cùng của đổi mới dạy học là người học có đượcnăng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu của xã hội Mặc dù thi cử là vấn đềkhông thể xóa bỏ, tuy nhiên đích đến cuối cùng của người học là khôngphải là các kì thi mà là các em có đủ năng lực cần thiết để tồn tại trong xãhội ( cả về năng lực chuyên môn, phương pháp, năng lực cá nhân và nănglực xã hội), trở thành những con người có ích trong xã hội Ý thức đượcđiều này thì sẽ tăng thêm động lực và thấy được trách nhiệm của bản thân

để rèn luyện, điều chỉnh hoạt động học tập cho phù hợp

Như vậy: Để dạy học tích cực đạt hiểu quả thì tinh thần, thái độ và ý thức

về mục tiêu, vai trò phương pháp học tập của người học đóng vai trò quantrọng, góp phần hoàn thiện “sản phẩm” của quá trình dạy học Dưới sự chỉđạo của giáo viên, học sinh dần dần có được những phẩm chất và năng lựcthích ứng với phương pháp dạy học tích cực, xác định đúng mục đích học

Trang 20

tập , tự giác trong học tập, biết tự học và tranh thủ mọi lúc và mọi nơi,bằng mọi cách, phát triển các loại hình tư duy,…đáp ứng các yêu cầu của

xã hội

1.1.3 Công nghệ thông tin và truyền thông

1.1.3.1 Khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông

Công nghệ có nghĩa đơn giản là kĩ thuật hoặc công cụ và những phương pháp

có thể áp dụng để giải quyết vấn đề cụ thể hoặc thực hiện mục tiêu nhấtđịnh.Ngôn ngữ sách vở là những dạng công nghệ đã được sử dụng từ rất sớmtrong lịch sử phát triển nhân loại Đầu tiên là ngôn ngữ, một công cụ giúp chokiến thức được lưu truyền từ đời này sang đời khác Tiếp theo là công nghệ incho phép tốc độ và số lượng thông tin chuyển giao tăng vọt Suốt một thờigian dài, công cụ giảng dạy chủ yếu là sách và tập vở Cuối thế kỉ XX, sự rađời của máy tính, sự ra đời và phát triển mạnh của CNTT & TT( phần mềmmáy tính, phương tiện kĩ thuật số, mạng Internet,…) đã tác động sâu sắc đếncác lĩnh vực của đời sống và xã hội Sự phát triển nhanh chóng của công nghệnhững thập niên cuối thế kỉ XX đến nay đã tạo ra một khối lượng thông tinkhổng lồ,vượt các giới hạn về không gian và thời gian Chính vì thế khả năngthu nhận, xử lí để hiểu biết thông tin một cách nhanh chóng và chính xác làyêu cầu quan trọng hơn nhiều so với trước đây Điều đó cũng có nghĩa là phảithay đổi những tiêu chí đào tạo trong xã hội thông tin hiện nay, cần phải thaykhả năng ghi nhớ bằng khả năng tìm kiếm, thu nhận và xử lí thông tin để đạttới một mục tiêu đặt ra

Công nghệ thông tin, viết tắt là CNTT, (tiếng anh: Information Technology),

là một thuật ngữ rộng bao quát gồm phương pháp, phương tiện, kĩ thuật máytính, viễn thông, kĩ thuật lập trình…để khai thác và sử dụng các nguồn thôngtin phong phú và đa dạng phục vụ lợi ích của con người

Công nghệ thông tin là một ngành kĩ thuật vận dụng tất cả các tiến bộ về khoahọc, công nghệ, điện tử, toán học, quản trị học…để thu thập, biến đổi, truyềntải, lữu trữ, phân tích, suy luận, sắp xếp thông tin…phục vụ lợi ích co người

Trang 21

Cụ thể : máy tính, internet, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa…đềuthuộc lĩnh vực của CNTT

Ở Việt Nam thì khái niệm công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trongnghị quyết 49/CP kí ngày 04/08/1993 về phát triển công nghệ thông tin củaChính phủ Việt Nam, như sau: “ Công nghệ thông tin là tập hợp các phươngpháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại- chủ yếu là máytính và viễn thông- nhằm tổ chức khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tàinguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực đời sống xãhội”

Dạy và học thực chất là quá trình thực hiện việc phát và thu thông tin Học làqúa trình tiếp thu thông tin có định hướng và có sự tái tạo, phát triển thôngtin Vì vậy những người dạy (hay máy phát in) đều nhằm mục đích là phát rađược nhiều thông tin với lượng thông tin lớn liên quan đến môn học, đến mụcđích dạy học Con người học như một máy thu có nhiều cửa vào (tai, mắt,mũi, da…) phải biết tiếp nhận thông tin qua nhiều cửa, phải biết lưu trữ thôngtin trong bộ nhớ trong (não) hay bộ nhớ ngoài (sách, vở…).Mỗi loại cửa nàytiếp nhận một loại mã hóa thông tin riêng biệt bằng một phương tiện truyềnthông riêng biệt

Phương tiện truyền thông có thể là:

Phương tiện truyền thông Phương tiện tiếp nhận thông tin

Trang 22

người học thì lượng tin sẽ rât ít, người học sẽ kém hứng thú Hoặc nếu chỉtruyền tin bài học theo một chiều, không có sự hỏi đáp khi tin tức chưa đượcmáy thu tiếp nhận đúng thì đương nhiên thông tin thu được của người học sẽméo mó, sai lệch dẫn đến người học hiểu sai bài

Quá trình đó có thể được miêu tả như sau:

Hình 2 : Sơ đồ quá trình dạy và học của thầy và trò

1.1.3.2 Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông đối với

Trang 23

Hình 3: Quá trình dạy học – ba kênh truyền thông

CNTT & TT là bước tiến vĩ đại của công nghệ Ứng dụng CNTT & TT trongdạy học là một tất yếu trong việc đổi mới PPDH Một trong những yêu cầuđặt ra trong nhà trường phổ thông hiện nay là HS phải tiếp cận được và phảibiết tiếp cận với máy tính và các công nghệ hiện đại khác

Những năm gần đây, sự tích hợp của công nghệ thông tin và truyền thôngtrong giảng dạy đã mở ra nhiều khả năng ứng dụng, tạo bước phát triển mớilàm thay đổi xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng:

Công nghệ thông tin đã ảnh hưởng sâu sắc tới Giáo dục và Đào tạo trên rấtnhiều khía cạnh Chính vì vậy mà việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuậtvào việc đổi mới phương tiện và phương pháp dạy học địa lí ngày càng thểhiện được tầm quan trọng của nó trong việc nâng cao chất lượng dạy và học.Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin mà cụ thể là ứngdụng công nghệ thông tin trong dạy học là một chủ đề lớn được UNESCOchính thức đưa ra thành một chương trình trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI.Ứng dụng CNTT & TT trong dạy học, vai trò của người thầy trở nên khókhăn hơn rất nhiều và nặng nề hơn nhiều Nếu như người thầy trước đây giữ

vị trí độc tôn trong truyền thụ kiến thức, áp đặt phương pháp tiếp cận tri thứcthì bây giờ người thầy đóng vai trò chủ động chiếm lĩnh kiến thức

Thông tin phản hổi(uốn nắn, hướng dẫn…)Các thông tin về sự tiến bộ học tập

Trang 24

Với bộ môn địa lí, các phương tiện thiết bị dạy học bao gồm cơ sở vật chấtdùng để dạy học như phòng bộ môn, phòng triển lãm địa lí, vườn địa lí,…lànhững điều kiện để học sinh và giáo viên làm việc Những tài liệu địa lí như:sách giáo khoa, sách báo, bản đồ để minh họạ, và những thiết bị kĩ thuật dạyhọc như: băng hình, máy chiếu, máy vi tính, Đã giúp cho việc dạy học đạtđược kết quả cao.

Chính vì sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện nay, địa lí cũng giống nhưcác môn học khác, với lượng kiến thức mới phong phú và nhu cầu lĩnh hội trithức của học sinh ngày càng thì người giáo viên ngoài việc sử dụng cácphương pháp giảng dạy truyền thống cần phải có nhiều phương pháp mớisao cho phù hợp Việc áp dụng các phương tiện thiết bị dạy học hiện đại vàocác môn học nói chung và môn Địa lí nói riêng là yêu cầu có tính khách quan

và cấp thiết

Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin là một chủ đề lớnđược UNESCO đưa ra thành chương trình trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 vàUNESCO dự đoán sẽ có sự thay đổi căn bản nền giáo dục đầu thế kỷ 21 doảnh hưởng của công nghệ thông tin

Dạy và học thực chất là quá trình thực hiện việc phát và thu thông tin Học làmột quá trình tiếp thu thông tin có định hướng và có sự tái tạo, phát triểnthông tin.Vì vậy những người dạy đều có mụch đích chung là phát ra đượcnhiều thông tin với lượng thông tin lớn liên quan đến môn học mụch đích dạyhọc

Công nghệ thông tin hiên nay đã đáp ứng được yêu cầu của việc dạy và học,đặc biệt là việc dạy và học từ xa.Hai công nghệ hiện đại và ứng dụng mộtcách có hiệu quả cao nhất cho giáo dục và đào tạo là Công nghệ truyền thông

đa phương tiện và công nghệ mạng, đặc biệt là mạng internet Hai công nghệnày đã giúp cho người ta thực hiện:

+ Học ở mọi nơi+ Học ở mọi lúc

Trang 25

+ Học suốt đời+ Dạy cho mọi người và mọi trình độ tiếp thu khác nhau+ Thay đổi vai trò của người dạy và người học, đổi mới cách dạy

và học

Công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão và ngày càng đóng vai tròquan trọng ở tất cả lĩnh vực trong đó có giáo dục đào tạo Nó ảnh hưởng sâusăc tới việc đổi mới phương pháp dạy học

Tuy nhiên một thực tế tồn tại ngày nay đó là: học sinh lại rất thờ ơ với mônĐịa lí Đối với một số em bộ môn Địa lí trở thành bộ môn đáng chán bởi nóquá khô và khổ Lâu nay chúng ta đã quen đi theo một lối mòn là dạy cho họcsinh “ học để thi” chứ không phải “ học để biết”, “học để thực hành” hay “học để vận dụng vào cuộc sống” Do đó giờ Địa lí trở nên khô cứng va áp đặt.Hơn nữa chính người thầy cũng không còn hứng thú với bài giảng đó đượcđóng khung chi tiết đến từng phút một, lên lớp mà luôn nơm nớp lo âu về việccháy giáo án, không kịp chương trình, kết quả thi của học sinh không đạt chỉtiêu thi đua v.v.Những nối lo ấy triệt tiêu năng lực sáng tạo của người thầy.Việc thay đổi quan điểm dạy học không chạy theo thành tích cùng với nhữngđòi hỏi bức thiết phải đổi mới của xã hội đó dẫn đến hệ quả tất yếu là phải đổimới phương pháp dạy học Người giáo viên Địa lí phải thay đổi phương phápcũng giống như người đầu bếp phải thay đổi cách chế biến “món ăn” sao chophù hợp khẩu vị của những học trò “suy dinh dưỡng” và “ biếng ăn”, đểchúng thưởng thức môn học một cách vui vẻ và hào hứng Và với công nghệthông tin, người thầy có thể tạo ra những món ăn hấp dẫn và bổ dưỡng, tức làgiờ học lí thú mà nếu chỉ sử dụng bảng đen và phấn trắng thì khó mà thựchiện được Với các phương tiện dạy học hiện đại như máy tính , máy chiếu

và một số phần mềm tiện ích, người thầy có thể làm cho học sinh quan tâmnhiều đến môn Địa lí mà không phải ép buộc chúng Phương pháp dạy họcmới với sự trợ giúp của Công nghệ thông tin đó mang đến cho giờ dạy và họcĐịa lí một không khí mới

Trang 26

Với nhiêu tính năng, thiết kế bài giảng sử dụng máy vi tính và công nghệtruyền thông đa phương tiện có vai trò to lớn đối với quá trình dạy và học.Giáo viên sẽ là người hướng dẫn học sinh học tập chứ không đơn giản làngười phát thông tin vào đầu học sinh Học sinh có thể lấy thông tin từ nhiềunguồn phong phú khác nhau như sách, Internet, CD- CROM, Học sinh phảibiết đánh giá và lựa chọn thông tin, không còn đơn thuần chỉ nhận thông tinmột chiều và thụ động vì nguồn thông tin bạt ngàn Thầy giáo cũng đóng vaitrò là người thường xuyên vì sự nâng cao dân trí của chính người thầy, vớimạng máy tính người thầy có điều kiện dễ dàng hơn trong việc trao đổi kinhnghiệm giảng dạy và việc học của mình

Việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào trong dạy và học Địa

lí là phù hợp và cần thiết vì những lí do sau:

+ Phù hợp với yêu cầu của thời đại: Việc ứng dụng công nghệ thôn tin vàotrong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam là phù hợp với quy luật phát triểncủa thời đại UNESCO cũng đã dự đoán trước ngưỡng của thế kỉ 21 “sẽ cómột sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỉ 21 do ảnhhường của CNTT” Và khẩu hiệu cho nền giáo dục thế kỉ 21được khẳng định

là : “ Học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, học suốt đời, dành cho mọi nguời và vớimọi trình độ tiêp thu khác nhau”

+ Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là phù hợp với chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước Bọ Giáo dục và Đào tao cũng xác định conđường phát triển cho giáo dục Việt Nam là dựa trên “ dựa trên công nghệthông tin” và “ nó là phương tiện để thúc đẩy cuộc cách mạng về phươngpháp dạy và học” – nghĩa là thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường.Thời gian gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quyết định “ cấm sửdụng phương pháp đọc chép” trong trường phổ thông càng làm cho việc ứngdụng công nghệ thông tin vào việc dạy học được đẩy mạnh hơn

+ Công nghệ thông tin cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác cập nhập,phù hợp với đặc điểm, tính chất của bộ môn Địa lí, đặc biệt là về địa lí kinh tế

Trang 27

- xã hội rất nhạy cảm với sự biến đổi của thế giới, do vậy với sự nhanh nhậycủa mạng internet, các giáo viên Địa lí có thể kết nối và tìm hiểu được sự biếnđổi ấy để bổ sung cho bài học.

+ Công nghệ thông tin góp phần hiện đại hóa các phương tiện dạy học, cácphần mềm day học như Activestudio, Powerpoint…sẽ giúp giáo viên tạo bàigiảng phù hợp với nhu cầu của học sinh, giúp học sinh có nhiều phương pháptiếp thu kiến thức Đặc biệt nó giúp cho giáo viên tạo ra một lớp học mangtính tuơng tác 2 chiều: giáo viên – học sinh và ngược lại

Sử dụng máy vi tính và công nghệ truyền thông đa phương tiện trong dạy họcđịa lí phát huy nhiều hiệu quả:

+ Giúp học sinh ghi nhớ kiến thức tốt hơn: Máy tính và Multimedia tác độngtrực tiếp đồng thời vào thị giác và thính giác trong quá trình lĩnh hội kiến thức

sẽ giúp học sinh ghi nhớ nhanh và lâu bền hơn:

Bảng 1: Mức độ tiếp thu kiến thức qua con đường cảm giác:

Phương thức tiếp thu Mức độ tiếp thu

Bảng 2: Mức độ ghi nhớ kiến thức bằng con đường cảm giác:

Thính giác + Thị giác 50%

Trang 28

+ Giúp cho học sinh thông hiểu và nắm vững kiến thức địa lí: Máy tính vàMultimedia có khả năng trình bày nội dung có tính chất khái niệm dưới nhiềuhình thức sống động: hình ảnh, âm thanh, mô hình sống động,…nhờ đó họcsinh có thể hiểu được cơ cấu tạo thành nền tảng của các đối tượng, hiện tượngđịa lí, tự mình hiểu được nguyên tắc và những khái niệm cơ bản, từ đó nắmvững kiến thức địa lí.

+ Góp phần làm gia tăng, khắc sâu những khái niệm giúp cho việc học tập củahọc sinh thêm phong phú và sâu rộng hơn Học sinh có thể thông qua máytính và các công cụ multimedia quan sát các hiện tượng địa lí bình thườngkhông quan sát được do kích thước quá lớn hoặc quá nhỏ, diễn ra quá nhanhhoặc quá chậm

+ Góp phần hình thành và nâng cáo khả năng quan sát, tự nghiên cứu và tựđánh giá cho học sinh Bài giảng ứng dụng công nghệ thông tin có khả năngtrực tiếp trình bày nội dung cơ bản của các đối tượng nghiên cứu dưới dạng

hệ thống hóa, khái quát hóa, đơn giản hóa những vấn đề phức tạp của địa lí tựnhiên và kinh tế xã hội muôn hình muôn vẻ tạo điều kiện để học sinh độc lậpsuy nghĩ, tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán,…trên cơ sở đó tựphát hiện kiến thức, nhờ đó có thể nắm kiến thức một cách vững vàng

+ Nâng cao hiệu suất dạy và học, phát huy tác dụng trong mọi hình thức dạy

và học, Đồng thời tác động mạnh vào cảm xúc của con người thông qua hìnhảnh, âm thanh, đoạn phim về đất nước và con người Qua đó bồi dưỡng tìnhcảm cho học sinh

Khả năng ứng dụng của CNTT: CNTT không chỉ tác động đến quá trìnhgiảng dạy trên lớp mà nó còn tác động đến toàn bộ các khâu của quá trìnhdạy học:

+ Tìm và lựa chọn thông tin một cách thuận tiện và dễ sử dụng, có thể lựa chọnthông tin từ nhiều nguồn, lưu trữ và cập nhập, xử lí các dữ liệu dễ dàng…

Trang 29

+ Biên soạn tài liệu và bài giảng: Với các tính năng vượt trội của CNTT như:Các số liệu cập nhập kịp thời, kiến thức phong phú, giúp cho quá trình ĩnh hộitri thức mang tính giao lưu và đổi mới; tích hợp được nhiều kiến thức.

+ Giảng dạy và hướng dẫn ôn tập:Bài giảng sinh động, hấp dẫn dễ tiếp thu,tác động tổng hợp bằng hình ảnh, âm thanh với những hiệu ứng khác nhau vềmàu sắc, hoạt hình, các hiệu ứng về truyền đạt, trình diễn

+ Kiểm tra, đánh giá: có thể tiến hành kiểm tra với số lượng học sinh lớn, chokết quả nhanh – sớm – chính xác, đảm bảo tính khách quan

+ Học sinh có thể tự học

Sử dụng CNTT, giáo viên có thể khai khác những bản đồ cần dùng về tựnhiên , kinh tế - xã hội và cả những bản đồ câm để phục vụ cho quá trìnhgiảng dạy

Giáo viên có thể từ những số liệu có sẵn đưa vào máy tính và sử dụng nhữngphần mềm như Microsoft Powerpoint hoặc SPSS…để xây dựng biểu đồ vừachính xác, vừa trực quan cao và từ đó nâng cao hiệu quả dạy học

Dựa vào CNTT, giáo viên có thể tìm kiếm, lựa chọn, khai thác, chỉnh sửanhững hình ảnh đặc sắc của Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội

Các hỗ trợ liên quan đến việc khai thác, chỉnh sửa, lưu trữ, tự xây dựng vàtrình diễn các đoạn phim phù hợp với nội dung bài dạy cũng là chức năngquan trọng mà CNTT hỗ trợ cho giáo viên Địa lí

Như vậy việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bảnchất lượng học tập cho học sinh, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tươngtác cao chứ không đơn thuần chỉ là “ thầy đọc, trò chép” như kiểu truyềnthống, sắp xếp hợp lí quá trình tự học tập, tự rèn luyện bản thân mình

1.1 3.4 Những yếu tố và thành phần của ICT:

Bảng 3: các yếu tố và thành phần của công nghệ nói chung:

Trang 30

Bảng 4: Các yếu tố và thành phần của công nghệ từng mặt:

Bảng 5: Các yếu tố và thành phần của công nghệ hoàn chỉnh:

30

Nguyênliệu

Trang 31

Kĩ thuật dạy học ( Technoware): Có thể là máy chiếu phim, video, máy vi tính(bao gồm cả phần cứng, phần mềm và tài liệu hướng dẫn)…Nó có thể gồmnhững phương tiện vật chất thông thường, bảng, phấn, đồ dùng học tự tạo…Thông tin: Trước hết là những thông tin về nội dung, phương pháp dạy học,

về trình độ, đặc điểm, và tình hình học tập của học sinh Thông tin được thểhiện bằng văn bản, hình vẽ, sơ đồ, âm thanh…

Tổ chức : Đó là những hình thức tổ chức dạy học theo lớp , theo nhóm, làcách quản lí và điều khiển cách học Thầy trực tiếp điều khiển hay thông qualớp trưởng,…

ICT đang tạo ra những thay đổi mang mầm mống của một cuộc cách mạnggiáo dục thực sự, ở đó có những cơ cấu cứng nhắc theo truyền thống và mốiquan hệ “ không gian- thời gian- trật tự thang bậc” sẽ bị phá vỡ

31

Hệ thống phương tiện dạy học địa lí

Các phương tiện dạy học hiện đạiCác phương tiện dạy học truyền thống

Trang 32

Hình : Sơ đồ phương tiện dạy học Địa lí

Đa phương tiện và các công cụ dạy học:

Đa phương tiện (Multimedia) là phương pháp giới thiệu thông tin bằng máytính, sử dụng phương tiện truyền thông tin như văn bản, đồ họa và âm thanh,cùng với sự gây ấn tượng bằng phương tương tác: kết hợp kĩ thuật siêu liênkết (hyper link) và các phương tiện nghe nhìn kĩ thuật số (digital audio –visual media)

Công cụ lưu giữ thông tin với dung lượng lớn và kích thước bé: CD- CROM,DVD, CD-R, CD-Rw các flash cards, các ổ đĩa cứng bé lắp ngoài…

Các loại đĩa học liệu, từ điển bách khoa và từ điển các loại trên CD, DVD (ví

dụ ENCARTA,…)

Công cụ ghi thông tin kĩ thuật số (máy ảnh digital…)

Các công cụ giúp trình diễn (projector đa năng và projector xách tay, phầnmềm power point, )

Theo Hiệp hội thông tin và công nghệ giáo dục (AECT- Association forEducational Communications and Technology) : Công nghệ giáo dục là mộtquy trình phức tạp, tích hợp bao gồm con người, ý thức, thủ tục, phương tiện

Trang 33

và tổ chức để phân tích các vấn đề và đề xuất thực hiện, đánh giá và điềuhành cách giải quyết các vấn đề gồm mọi

1.1.4 Webquest

1.1.4.1 Khái niệm Webquest:

Có nhiều định nghĩa cũng như cách mô tả khác nhau về webquest Theo nghĩahẹp, webquets được hiểu như là một phương pháp dạy học ( Webquest –Method) Theo nghĩa rộng Webquest được hiểu như là một mô hình, mộtquan điểm về dạy học có sử dụng mạng Internet

Webquest cũng có thể được định nghĩa là một trang Web trợ giúp học tậptrong đó các nội dung học tập được được đưa ra dưới dạng câu hỏi đồng thờicung cấp nguồn tài liệu tham khảo (chủ yếu từ Internet) để người học truy cậpthông tin và trả lời các câu hỏi đó

Webquest cũng là bản thân đơn vị nội dung dạy học được xây dựng để sửdụng phương pháp này, và là trang Webquest được đưa lên mạng Khi gọiWebquest là một phương pháp dạy học, cần hiểu đó là một phương phápphức hợp, trong đó có sử dụng những phương pháp cụ thể khác nhau

Với tư cách là một phương pháp dạy học, có thể định nghĩa Webquest nhưsau: Webquest là một phương pháp dạy học, trong đó học sinh tự lực thựchiện trong nhóm một nhiệm vụ về một chủ để phức hợp, gắn với tình huốngthực tiễn Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên

kết (Internet links) do giáo viên chọn lọc từ trước Việc học tập theo định

hướng nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được học sinh trình bày vàđánh giá

Webquest là một phương pháp dạy học mới, được xây dựng trên cơ sởphương tiện dạy học mới là công nghệ thông tin và Internet Trong tiếng Việtchưa có cách dịch hoặc cách dùng thuật ngữ thông nhất cho khái niệm này.Trong tiếng Anh, Web ở đây có nghĩa là mạng , Quest là tìm kiếm, khám phá.Dựa vào thuật ngữ và bản chất của khái niệm trên có thể gọi Webquest là

Trang 34

phương pháp “ khám phá trên mạng” Webquest là một dạng đặc biệt của dạy

học sử dụng truy cập mạng Internet

1.1.4.2 Các loại Webquest

Webquest có thể được chia thành các Webquest lớn và Webquest nhỏ :

Webquest lớn: Xử lí một vấn đề phức tạp trong một thời gian dài ( ví dụ chođến một tháng), có thể coi như một dự án dạy học

Webquest nhỏ : trong một vài tiết học ( ví dụ từ 2 đến 4 tiết), học sinh xử límột đề tài chuyên môn bằng cách tìm kiếm thông tin và xử lí chúng cho bàitrình bày, tức là các thông tin chưa được sắp xếp được lập cấu trúc theo cáctiêu chí và kết hợp vào kiến thức đã có trước của các em

1.1.4.3 Cấu trúc Webquest:

Có thể tóm tắt cấu trúc của một Webquest theo bảng sau:

Nhập đề Giáo viên giới thiệu chủ đề Thông thường một

Webquest bắt đầu với việc đặt ra các tình huống có vấn

đề thực sự với người học, tạo động cơ cho người học saocho họ tự muốn quan tâm đến đề tài và muốn tìm ra mộtgiải pháp cho vấn đề

Xác định nhiệm vụ Học sinh được giao các nhiệm vụ cụ thể Cần có sự thảo

luận với học sinh để học sinh hiểu nhiệm vụ, xác địnhđược mục tiêu riêng, cũng như có những bổ sung , điềuchỉnh cần thiết Tính phức tạp của nhiệm vụ phụ thuộcvào đề tài và trước tiên là vào nhóm đối tượng Thôngthường, các nhiệm vụ sẽ được xử lí trong các nhóm

Hướng dẫn nguồn

thông tin

Giáo viên hướng dẫn nguồn thông tin để xử lí nhiệm vụ,chủ yếu là những trang trong mạng internet đã được giáoviên lựa chọn và liên kết, ngoài ra còn có những chỉ dẫn

về các tài liệu khác

Thực hiện Học sinh thực hiện nhiệm vụ trong nhóm Giáo viên

Trang 35

đóng vai trò tư vấn.

Trong trang Webquest có những chỉ dẫn, cung cấp chongười học những trợ giúp hành động, những hỗ trợ cụthể để giải quyết nhiệm vụ

Trình bày Học sinh trình bày các kết quả của nhóm trước lớp, sử

dụng Powerpoint hoặc tài liệu văn bản, có thể đưa lênmạng

Đánh giá Đánh giá các kết quả, tài liêu, phương pháp và hành vi

học tập trong Webquest Có thể sử dụng các biên bản đãghi trong quá trình thực hiện để hỗ trợ, sử dụng đàmthoại, phiếu điều tra

Học sinh cần được tạo cơ hội suy nghĩ và đánh giá mộtcách có phê phán Việc đánh giá tiêp theo do giáo viênthực hiện

Webquest được thiết kế nhằm giúp người học sử dụng thông tin hơn là phảitốn thời gian tìm kiếm thông tin

Giúp người học phát triển các kĩ năng phân tích, tổng hợp và đánh giá (các kĩnăng tư duy bậc cao theo phân loại của Bloom)

Phương pháp DH thông thường

35

BiếtHiểuVận dụngPhân tíchTổng hợp

Trang 36

Phương pháp DH Webquest

Hình4: Thang đánh giá Bloom

1.1.5 Ưu điểm và đặc điểm của Webquest

Giống như bất kì bài học nào được hoạch định cẩn thận, một Webquest tốtgiúp việc học của người học trở nên thú vị Ngoài ra như chính bản chất củaWebquest, Webquest là một công cụ hỗ trợ học tập mạnh mẽ

Xét về mặt nội dung

Webquest giải quyết vấn đề trong thế giới thực: Có thể tìm hiểu một cáchchính xác và nhanh chóng về những vấn đề liên quan đến cuộc sống hằngngày, kiến thức liên quan đến thực tiễn, giúp tìm ra giải pháp thích hợp chotừng tình huống cụ thể

Học tập liên môn: Webquest giúp cho người muốn tìm kiếm thông tin học hỏithêm được nhiều kiến thức, không chỉ kiến thức cần tìm mà còn có nhiều kiếnthức về các nội dung khác có liên quan hoặc không liên quan đến đề tài

Webquest hướng đến việc đa dạng hóa học tập và trình bày: Webquest yêucầu người học không chỉ biết và hiểu biết về kiến thức tìm được mà còn yêucầu người học phải tìm cách trình bày sao cho những người khác cũng phảitiếp thu được bản chất vấn đề ( luôn đánh giá cao sự sáng tạo của người học)

Xét về phương pháp sử dụng

Đầu tiên, một Webquest tốt sẽ ứng dụng mạnh các trang Web đằng sau chủ

đề đưa ra Việc dạy và học trực tiếp qua những trang Web sẽ không giới hạnngười học ở vị trí nào Người học có thể học được tại bất cứ nơi nào trên thếgiới chỉ cần ở nơi đó người học có thể kết nối mạng

Giáo viên là người hướng dẫn cho người học khám phá năng lực bản thânhoặc chính họ tự khám phá năng lực của chính mình

Trang 37

Webquest là một cách để người học làm việc theo tốc độ riêng của họ, hoặc là

cá nhân hoặc theo nhóm

Webquest là một cách để người học làm việc theo tốc độ của riêng họ, hoặc là

cá nhân hoặc là theo nhóm

Webquest cho phép người học khám phá các khu vực được lựa chọn sâu hơnnhưng trong giới hạn mà người dạy đã lựa chọn (bằng Internetlinks) Điềunày giúp Webquest vẫn đạt hiệu quả cao khi thực hiện trong một lớp học cómức độ khả năng của học sinh khác nhau và việc kết hợp các học sinh trở nên

dễ dàng hơn

Làm việc với Webquest giúp quá trình nghiên cứu và xử lí thông tin của cảngười dạy và người học năng động, sáng tạo hơn bởi cách tiếp cận vấn đềkhác nhau của mỗi cá nhân được tôn trọng

Ngoài ra, Webquest cũng có thể làm tăng sự thoải mái cho người học khi sửdụng internet cho các hoạt động học tập Khi người học có thể tiếp cận đượcthông tin qua máy tính thì quá trình làm việc với Webquest được thiết kế phùhợp giúp người học trở thành một nhà nghiên cứu sáng tạo hơn là “lướt” từthông tin này đến thông tin khác như cách làm việc qua internet thông thường

Xét về phạm vi sử dụng

Webquest có thể được sử dụng ở tất cả các loại hình trường học Điều kiện cơbản là người học phải có kĩ năng đọc cơ bản và có thể tiếp thu, xử lý cácthông tin dạng văn bản Bên cạnh đó người học cũng phải có những kiến thức

cơ bản trong thao tác với máy tính và Internet

Webquest có thể sử dụng cho mọi môn học Ngoài ra, Webquest rất thich hợpcho việc dạy liên môn

Việc sử dụng Webquest trong dạy học mang những đặc điểm sau:

Chủ đề dạy học gắn với tình huống thực tiễn và mang tính phức hợp:

Chủ đề dạy học được lựa chọn trong Webquest là những chủ đề gắn với thựctiễn , có thể là những tình huống mang tính điển hình, hoặc những tình huốngmang tính thời sự Đó là những tình huống mang tính phức hợp có thể xem

Trang 38

xét dưới nhiều phương diện khác nhau và có thể có nhiều quan điểm để giảiquyết.

Quá trình học tập là quá trình tích cực và kiến tạo: Khác với việc truy cậpmạng thông thường nhằm thu thập thông tin, trong Webquest học sinh cần tìm

và xử lí thông tin nhằm giải quyết một nhiệm vụ Học sinh có quan điểmriêng trên cơ sở lập luận để trả lời câu hỏi hoặc giải quyêt vấn đề

Quá trình học tập mang tính xã hội và tương tác: Hình thức làm việc trongWebquest chủ yếu là làm việc nhóm Do đó việc học tập mang tính xã hội vàtương tác

Quá trình học tập định hướng nghiên cứu và khám phá: Để giải quyết vấn đềđặt ra học sinh cần áp dụng các phương pháp làm việc theo kiểu nghiên cứu

va khám phá Những hoạt động điển hình của học sinh trong Webquest là Tìm

kiếm, Đánh giá, Hệ thống hóa, Trình bày trong sự trao đổi với những học sinh

khác Học sinh cần thực hiện và từ đó phát triển những khả năng tư duy như:

So sánh: Nhận biết và nêu ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các

đối tượng và các quan điểm;

Phân loại và sắp xếp các đối tượng vào các nhóm trên cơ sở tính chất của

chúng và theo những tiêu chuẩn đã được xác định;

Suy luận: xuất phát từ các quan sát hoặc phân tích mà suy ra các tổng quát

hóa hoặc những nguyên lí chưa được biết;

Kết luận: từ những nguyên lí cơ bản và các tổng quát hóa đã có mà suy ra các

kết luận và điều kiện chưa được nêu ra;

Trang 39

Phân tích sai lầm: nhận biết và nêu ra những sai lầm trong quá trình tư duy

của chính mình hoặc của những người khác;

Chứng minh: xây dựng chuỗi lập luận để hỗ trợ hoặc chứng minh một giả

thiết

1.1.4.4 Các dạng nhiệm vụ trong Webquest

Có nhiều dạng nhiệm vụ trong Webquest Dodge phân biệt những loại nhiệm

vụ sau:

Tái hiện các thông tin

(bài tập tường thuật)

Học sinh tìm kiếm những thông tin và xử lý để trảlời các câu hỏi riêng rẽ và chứng tỏ rằng họ hiểu cácthông tin đó Kết quả tìm kiếm thông tin sẽ đượctrình bày theo cách đa phương tiện ( ví dụ bằngchương trình Powerpoint) hoặc thông qua các ápphích, các bài viết ngắn,…Nếu chỉ là “cắt dán thôngtin” không xử lí các thông tin đã tìm được như tómtắt, hệ thống hóa thì không phải Webquest

Tổng hợp thông tin

(bài tập biên soạn)

Học sinh có nhiệm vụ lấy thông tin từ nhiều nguồnkhác nhau và liên kết, tổng hợp chúng trong một sảnphẩm chung Kết quả có thể được công bố trongInternet, nhưng cũng có thể là một sản phẩm khôngthuộc dạng kĩ thuật số Các thông tin được tập hợpphải được xử lý

Giải điều bí ẩn Việc đưa vào một điều bí ẩn có thể là phương pháp

thích hợp làm cho người học quan tâm đến đề tài.Trong khi đó vấn đề sẽ là thiết kế một bí ẩn màngười ta không thể tìm thấy lời giải của nó trênInternet, để giải nó sẽ phải thu thập thông tin từ cácnguồn khác nhau, lập ra các mối liên kết và rút ra cáckết luận

Bài tập báo chí Học sinh được giao nhiệm vụ, với tư cách nhà báo

Trang 40

tiến hành lập báo cáo về những hiện tượng hoặcnhững cuộc tranh luận hiện tại cùng với những bốicảnh nền và tác động của chúng Để thực hiện nhiệm

vụ này họ phải thu thập thông tin và xử lý chúngthành một bản tin, một bài phóng sự, một bài bìnhluận hoặc một dạng bài viết báo kiểu khác

sáng tạo

(bài tập sáng tạo)

Nhiệm vụ của người học sinh là chuyển đổi nhữngthông tin đã xử lí thành một sản phẩm sáng tạo, ví dụmột bức tranh, một tiết mục kịch, một tác phẩmchâm biếm, một tấm áp phích, một trò chơi, một nhật

kí mô phỏng hoặc một bài hát

Tự biết mình Các bài tập kiểu này đòi hỏi người học xử lý những

Ngày đăng: 14/04/2016, 21:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2 : Sơ đồ quá trình dạy và học của thầy và trò - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
Hình 2 Sơ đồ quá trình dạy và học của thầy và trò (Trang 21)
Bảng 5: Các yếu tố và thành phần của công nghệ hoàn chỉnh: - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
Bảng 5 Các yếu tố và thành phần của công nghệ hoàn chỉnh: (Trang 29)
Hình : Sơ đồ phương tiện dạy học Địa lí - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
nh Sơ đồ phương tiện dạy học Địa lí (Trang 31)
Hình 5:Sơ đồ hóa quy trình thiết kế Webquest - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
Hình 5 Sơ đồ hóa quy trình thiết kế Webquest (Trang 43)
Bảng : Thời lượng của chương trình Địa lí lớp 12 – THPT ( chương trình cơ bản) - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
ng Thời lượng của chương trình Địa lí lớp 12 – THPT ( chương trình cơ bản) (Trang 46)
Bảng : mức độ khả năng thay đổi thu nhập thông tin qua nghe nhìn theo lứa tuổi.(Nguồn: “ Bài tập thực hành tâm lí học, của Trần Trọng Thủy - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
ng mức độ khả năng thay đổi thu nhập thông tin qua nghe nhìn theo lứa tuổi.(Nguồn: “ Bài tập thực hành tâm lí học, của Trần Trọng Thủy (Trang 54)
Bảng Phụ Lục: - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
ng Phụ Lục: (Trang 103)
Hình phát triển giáo dục, tình hình phát triển y tế,.. - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
Hình ph át triển giáo dục, tình hình phát triển y tế, (Trang 118)
Bảng báo cáo - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
Bảng b áo cáo (Trang 120)
Bảng 3.2. Kết quả điểm kiểm tra của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
Bảng 3.2. Kết quả điểm kiểm tra của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Trang 129)
Bảng 3.3.:kết quả học tập của học sinh 2 lớp thực nghiệm và đối chứng tại Trường THPT Trần Hưng Đạo – An Lão – Hải Phòng - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
Bảng 3.3. kết quả học tập của học sinh 2 lớp thực nghiệm và đối chứng tại Trường THPT Trần Hưng Đạo – An Lão – Hải Phòng (Trang 130)
Bảng kết quả khảo sát ý kiến của giáo viên: - Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
Bảng k ết quả khảo sát ý kiến của giáo viên: (Trang 134)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w