Nhu cầu vốn lưu động là nhu cầu thường xuyên, cần thiết đảm bảo chohoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường,liên tục, đạt hiệu quả cao.. Trong điều kiện
Trang 1Chương 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, thành phần của vốn lưu động trong doanh nghiệp.1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm vốn lưu động
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động,các doanh nghiệp còn cần các đối tượng lao động (nguyên liệu, nhiên liệu, vậtliệu, bán thành phẩm) thay đổi hình thái biểu hiện ban đầu, giá trị của nó đượcchuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị của sản phẩm hàng hoá
Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về mặt hình thái hiện vật đượcgọi là các tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị thì được gọi là vốn lưuđộng của doanh nghiệp
Biểu hiện dưới dạng vật chất của vốn lưu động gồm: Tài sản lưu động sảnxuất và tài sản lưu động lưu thông
Tài sản lưu động sản xuất của doanh nghiệp: Bao gồm những vật tư dự trữcho quá trình sản xuất, các vật tư nằm trong quá trình chế biến và những tưliệu lao động không đủ tiêu chuẩn cho tài sản cố định Vậy tài sản lưu độngsản xuất bao gồm : Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, sảnphẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ
Tài sản lưu động lưu thông gồm có: Các sản phẩm thành phẩm chờ tiêuthụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phíchờ kết chuyển , chi phí trả trước
Trong quá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu động sản xuất và tàisản lưu động lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảmbảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liêntục
Trang 2Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá,tiền tệ Để hình thành nên tài sảnlưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông doanh nghiệp nào cũng cầnphải chi ra một số vốn đầu tư ban đầu nhất định để đầu tư vào các tài sản đó.
Số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm các tài sản lưu động của doanhnghiệp được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạncủa chu kỳ sản xuất kinh doanh Quá trình này được diễn ra liên tục và th-ường xuyên lặp lại theo chu kỳ được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyểncủa vốn lưu động Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động lạithay đổi hình thái biểu hiện và sự vận động, chuyển hoá hình thái biểu hiệncủa vốn lưu động được mô tả qua sơ đồ sau :
+ Giai đoạn một (T - H): Bắt đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu động dưới hìnhthái vốn bằng tiền (T) được dùng để mua các loại đối tượng lao động để dựtrữ sản xuất (H) Như nguyên liệu, vật liệu bán thành phẩm, phụ tùng thay thế.Vậy ở giai đoạn này vốn lưu động đã hình thành từ hình thái tiền tệ chuyểnsang hình thái vật tư, hàng hoá
+ Giai đoạn hai (H SX H’): ở giai đoạn này, doanh nghiệp tiến hànhthực hiện các hoạt dộng sản xuất sản phẩm Các vật tư dự trữ sản xuất (H) đidần vào sản xuất và trải qua quá trình sản xuất các sản phẩm mới (H’) được
Trang 3tạo ra Vậy trong giai đoạn này vốn lưu động từ hình thái vốn sản phẩm dởdang chuyển sang hình thái hình thái vốn thành phẩm
+ Giai đoạn ba (H’- T’): Trong giai đoạn này doanh nghiệp tiến hành thựchiện việc tiêu thụ sản phẩm (H’) và thu tiền về (T’) Vậy vốn lưu động ở giaiđoạn này đã chuyển từ hình thái vốn thành phẩm sang hình thái vốn bằng tiền
và kết thúc một vòng tuần hoàn của vốn lưu động
Do quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra một cách thườngxuyên, liên tục nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng; được lặp đi,lặp lại có tính chất chu kỳ và được gọi là chu chuyển của vốn lưu động Vì sựchu chuyển của vốn lưu động diễn ra không ngừng nên trong cùng một lúcthường xuyên tồn tại các bộ phận vốn lưu động khác trên các giai đoạn khácnhau của quá trình tái sản xuất
Đặc điểm của vốn lưu động:
- Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình tháibiểu hiện từ dạng tiền tệ sang dạng phi tiền tệ và ngược lại
- Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và đượchoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
- Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳkinh doanh
1.1.1.2 Phân loại vốn lưu động.
Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả các doanh nghiệp cần phảitiến hành phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức khác nhau, phù hợp vớiyêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp khác nhau Thông thường có nhữngcách phân loại sau đây:
Dựa theo hình thái biểu hiện của vốn có thể chia vốn lưu động thành:
* Vốn bằng tiền và các khoản phải thu
- Vốn bằng tiền gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đangchuyển Tiền là một tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàngchuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạt động
Trang 4kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền cần thiếtnhất định.
- Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, thểhiện ở số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trìnhbán hàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau Ngoài ra, vớimột số trường hợp mua bán vật tư khan hiếm, doanh nghiệp còn có thể phảiứng trước tiền mua hàng cho người cung ứng, từ đó hình thành nên các khoảntạm ứng
* Vốn về hàng tồn kho:
Trong doanh nghiệp sản xuất, vốn về hàng tồn kho gồm: Vốn vật tư dựtrữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm Trong doanh nghiệp thương mại,vốn về hàng tồn kho chủ yếu là giá trị các loại hàng hóa dự trữ Xem xét mộtcách chi tiết, vốn về hàng tồn kho bao gồm: Vốn nguyên vật liệu chính; vốnvật liệu phụ; vốn nhiên liệu; vốn phụ tùng thay thế; vốn vật đóng gói; vốncông cụ dụng cụ; vốn sản phẩm dở dang; vốn về chi phí trả trước; vốn thànhphẩm
Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi choviệc xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanhnghiệp Mặt khác, thông qua cách phân loại này có thể tìm các biện pháp pháthuy chức năng các thành phần vốn và biết được kết cấu vốn lưu động theohình thái biểu hiện để định hướng điều chỉnh hợp lý có hiệu quả
Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinhdoanh, vốn lưu động được chia thành ba loại:
* Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất, gồm các khoản:
- Vốn nguyên vật liệu chính: Là số tiền biểu hiện giá trị các loạivật tư dự trữ cho sản xuất , khi tham gia sản xuất nó hợp thành thực thể củasản phẩm
Trang 5- Vốn nguyên vật liệu phụ: Là giá trị những vật tư dự trữ dùngtrong sản xuất dùng cho việc hình thành sản phẩm nhưng không hợp thànhthực thể chủ yếu của sản phẩm
- Vốn nhiên liệu: Là giá trị những loại nhiên liệu dự trữ phục vụcho quá trình sản xuất sản phẩm
- Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị những phụ tùng dự trữ để thaythế mỗi khi sửa chữa tài sản cố định
- Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị những tư liệu lao động nhỏ cógiá trị thấp, thời gian sử dụng ngắn không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định
* Vốn lưu động nằm trong khâu trực tiếp sản xuất Bao gồm:
- Vốn sản phẩm dở dang: Là giá trị những sản phẩm dởdang dùng trong quá trình sản xuất, xây dựng hoặc đang nằm trên các địađiểm làm việc đợi chế biến tiếp
- Vốn bán thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm dở dangnhưng khác dở dang ở chỗ nó đã hoàn thành một hay nhiều gia đoạn chế biếnnhất định
- Vốn về các khoản chi phí chờ kết chuyển: Là những phítổn chi ra trong kỳ nhưng có tác dụng trong nhiều kỳ sản xuất Vì thế, chưatính hết một lần vào giá thành trong kỳ mà sẽ tính dần vào giá thành các kỳsau
* Vốn lưu động trong khâu lưu thông Bao gồm:
- Vốn thành phẩm: Là biểu hiện bằng tiền của số sản phẩmnhập kho và chuẩn bị cho tiêu thụ
- Vốn trong thanh toán: Là những khoản phải thu, tạm ứngphát sinh trong quá trình mua bán vật tư hàng hoá hoặc thanh toán nội bộ.Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bổ của vốn lưu động trongtừng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó có các biện pháp điềuchỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất
1.1.1.3 Vai trò của vốn lưu động.
Trang 6- Vốn lưu động có vai trò và vị trí quan trọng trong quátrình sản xuất kinh doanh Vốn lưu động là bộ phận không thể thiếu được đốivới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, là bộ phận quan trọng trong cơ cấuvốn kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốnlưu động sẽ làm cho hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung tăng lên.
- Xuất phát từ mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp là vì lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng phản ánh kếtquả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và là nguồn tích luỹ cơ bản đểtái sản xuất mở rộng Lợi nhuận tác động trực tiếp lên tất cả các mặt hoạtđộng, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Vì vậy,làm thế nào để có lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng nhiều là mục tiêu hướngtới của các doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phảităng cường công tác tổ chức, quản lý kinh doanh.Trong đó, quan trọng nhất làviệc tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động
- Sự luân chuyển nhanh hay chậm của vốn lưu động biểuhiện việc sử dụng vật tư tiết kiệm hay lãng phí, thời gian nằm ở khâu sản xuất
và lưu thông có hợp lý hay không
1.1.2 Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động.
1.1.2.1 Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết của doanh nghiệp.
Nhu cầu vốn lưu động là nhu cầu thường xuyên, cần thiết đảm bảo chohoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường,liên tục, đạt hiệu quả cao Vì vậy, việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên cần thiết là nội dung quan trọng đối với hoạt động tàichính của doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mọi nhu cầu
về vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đều phải từ tài trợthì điều này lại càng có ý nghĩa quan trọng và thiết thực vì: Việc xác địnhđúng đắn nhu cầu vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp tránh được tình trạng
ứ đọng vốn, sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Trang 7lưu động; đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiếnhành bình thường và liên tục; không gây nên sự căng thẳng giả tạo về nhu cầuvốn kinh doanh; là căn cứ quan trọng cho việc xác định các nguồn tài trợ
Nhu cầu vốn lưu động là thể hiện số vốn tiền tệ cần thiết doanh nghiệpphải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho và khoảncho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng của nhà cung cấp, cóthể được xác định theo công thức:
Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá cao sẽ khôngkhuyến khích doanh nghiệp khai thác các tiềm năng, tìm mọi biện pháp cảitiến hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng gây nên tình trạng ứ đọng vốn vật tư hàng hoá, vốn luân chuyển chậm
và phát sinh các chi phí không cần thiết làm tăng giá thành sản phẩm Ngượclại, nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá thấp sẽ gây nên tìnhtrạng thiếu vốn, gây căng thẳng về vốn, gây nhiều thiệt hại do tốc độ sản xuất
bị ngưng trệ vì thiếu vật tư do doanh nghiệp thiếu vốn nên sẽ phải đi vay độtxuất với những điều kiện nặng nề về lãi suất, do vậy sẽ làm giảm lợi nhuậncủa doanh nghiệp Quan trọng hơn là việc thiếu vốn nên doanh nghiệp khôngthực hiện được các hợp đồng kinh tế đã ký kết, không có khả năng thanh toán,
từ đó làm mất uy tín đối với khách hàng
Như vậy, việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động là căn cứ để kiểmtra tình hình sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp trong quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh và tạo cơ sở cho sự luân chuyển vốn lưu động đượcthuận lợi
Tuy nhiên, do nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là một đại lượngkhông cố định và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Quy mô sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, sự biến động giá cả các loại
Nhu cầu vốn lưu
động thường xuyên =
Mức dự trữ hàng tồn
Khoản phải thu từ khách hàng
-Khoản phải trả nhà cung cấp và các khoản nợ phải trả có tính chất chu kỳ
Trang 8vật tư hàng hoá mà doanh nghiệp sử dụng trong sản xuất, chính sách, chế độ
về lao động và tiền lương đối với người lao động trong doanh nghiệp nên đểnâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, giảm thấp tương đối nhu cầu vốnlưu động không cần thiết doanh nghiệp cần tìm các biện pháp phù hợp tácđộng đến các nhân tố ảnh hưởng trên sao cho có hiệu quả nhất
1.1.2.2 Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết doanh nghiệp
có thể sử dụng các phương pháp khác nhau Tuỳ theo điều kiên cụ thể từngdoanh nghiệp mà có thể lựa chọn phương pháp thích hợp Về mặt lý thuyết,nhìn chung có ba phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động chủ yếu là:Phương pháp trực tiếp, phương pháp gián tiếp Song trên thực tế, phươngpháp gián tiếp được sử dụng khá phổ biến Vì phương pháp này đã khắc phụcđược nhược điểm của phương pháp trực tiếp Mặt khác, việc tính toán, xácđịnh nhu cầu vốn lưu động theo phương pháp gián tiếp là đơn giản, giúpdoanh nghiệp ước tính được nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động năm kếhoạch để xác định nhu cầu nguồn tài trợ phù hợp, phù hợp với điều kiện kinhdoanh trong nền kinh tế thị trường
- Phương pháp trực tiếp:
Nội dung cơ bản của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến lượng vốn lưu động doanh nghiệp phải ứng ra để xác địnhnhu cầu vốn lưu động thường xuyên Cách tính chung của phương pháp này là
đi xác định vốn tồn kho dự trữ, nợ phải thu và nợ phải trả
Trang 10+ Nợ phải thu được xác định như sau:
- Phương pháp gián tiếp: Gồm 2 phương pháp sau:
+ Phương pháp dựa vào thống kê kinh nghiệm của các doanh nghiệp cùngngành Việc xác định nhu cầu vốn theo phương pháp này là dựa vào hệ số vốnlưu động tính theo doanh thu được rút từ thực tế hoạt động của các doanhnghiệp cùng ngành Trên cơ sở đó xem xét quy mô kinh doanh dự kiến theodoanh thu của doanh nghiệp mình để tính ra nhu cầu vốn lưu động cần thiết.+ Phương pháp dựa vào báo cáo tài chính các năm trước để tính theo tỷ lệphần trăm trên doanh thu Đây là phương pháp dự báo nhu cầu tài chính ngắnhạn và đơn giản Khi áp dụng phương pháp này đòi hỏi người thực hiện phảihiểu đặc thù sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (quy trình sản xuất, tínhchất của sản phẩm, tính thời vụ, ) và phải hiểu tính quy luật của mối quan hệgiữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm với tài sản, tiền vốn, phân phối lợi nhuậncủa doanh nghiệp
Phương pháp này được tiến hành qua các bước sau:
Bước 1: Tính số dư bình quân của các khoản mục trong bảng cân đối kếtoán kỳ thực hiện
Trang 11Bước 2: Chọn các khoản mục chịu sự tác động trực tiếp và có quan hệchặt chẽ với doanh thu và tỷ lệ phần trăm của các khoản đó so với doanh thuthực hiện trong kỳ.
Bước 3: Dùng tỷ lệ phần trăm đó để ước tính nhu cầu vốn lưu động chonăm kế hoạch trên cơ sở dự kiến năm kế hoạch
Bước 4: Định hướng nguồn trang trải nhu cầu tăng vốn lưu động trên cơ
sở kết quả kinh doanh kỳ kế hoạch
1.1.3 Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.1.3.1 Theo thời gian huy động và sử dụng vốn.
Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn huy động, có thể phân chianguồn vốn lưu động thành hai loại:
- Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn địnhnhằm hình thành nên tài sản lưu động thường xuyên cần thiết Nguồn vốn lưuđộng thường xuyên tại một thời điểm được xác định như sau:
xuyên = thường xuyên củaTổng nguồn vốn
doanh nghiệp. - Giá trị còn lại của tài sản cốđịnh và các tài sản dài hạn
khác.
Nguồn vốn thường
xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Trang 12Việc phân loại nguồn vốn lưu động như trên giúp cho người quản lý xemxét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng nhằmđẩy mạnh việc tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trongdoanh nghiệp mình.
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng hợpnhững biện pháp quản lý hợp lý về kỹ thuật, về tổ chức sản xuất cũng nhưquản lý toàn bộ các hoạt động khác của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển.Trong sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn được hiểu như là mộtchỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa hiệu quả thu được (lợi nhuận) với chi phí
bỏ ra Một doanh nghiệp được coi là hoạt động có hiệu quả nếu doanh nghiệphoạt động lấy thu bù chi có lãi và ngược lại
Do những đặc điểm vận động của vốn lưu động nên hiệu quả sử dụng vốnlưu động chủ yếu được phản ánh qua tốc độ luân chuyển vốn lưu động Kếtquả hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp chịu tác động trực tiếp của việc tổchức sử dụng vốn lưu động và do chất lượng công tác quản lý, sử dụng vốnlưu động chi phối Mặt khác, việc sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả vốn lưu độnggóp phần giảm chi phí, hạ thấp giá vốn hàng bán tạo lợi thế cạnh tranh giúpdoanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm nhanh, tăng doanh thu và lợi nhuận
Sử dụng vốn lưu động có hiệu quả là cơ sở thực hiện yêu cầu của cơ chếhạch toán kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả, trên cơ sở đó tự chủ về kinhdoanh, về tài chính, rút ngắn thời gian chu chuyển vốn lưu động giúp doanhnghiệp giảm số vốn tài trợ cho lưu động, tăng tốc độ tái sản xuất Vì vậy cầnthiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Trong nền kinh tế thị trường, khi mà sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệpngày càng gay gắt thì việc sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả cao là
Trang 13mục tiêu của mọi doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp phải có biện pháp đểkhông ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp có thể
sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:
1.2.2.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Việc sử dụng hợp lý tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở tốc
độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh hay chậm Vốn lưuđộng luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanhnghiệp càng lớn và ngược lại
+ Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lầnluân chuyển (số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển (số ngày của một vòngquay vốn) Số lần luân chuyển vốn lưu động phản ánh số vòng quay vốn đượcthực hiện trong một thời kỳ nhất định, thường tính trong một năm Công thứctính toán như sau :
Số lần luân chuyển
vốn lưu động =
Tổng mức độ luân chuyển vốn trong kỳ
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Vòng quay vốn lưu động càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng đượcrút ngắn và chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả
1.2.2.2 Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển(đồng).
Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểuhiện bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tuyệt đối và mức tiết kiệm tương đối
Là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tăng thêm
tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng
kể quy mô vốn lưu động
Trang 14
1.2.2.3 Hàm lượng vốn lưu động (mức đảm nhận vốn lưu động).
Là số vốn lưu động cần có để đạt được một đồng doanh thu Đây là chỉtiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động và được tính bằngcách lấy vốn lưu động bình quân trong kỳ chia cho tổng doanh thu thực hiệntrong kỳ
1.2.2.4 Một số chỉ tiêu khác.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động (%)
Được tính bằng cách lấy tổng số lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sauthuế) chia cho số vốn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh mộtđồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trựớc thuế (hoặcsau thuế) Mức doanh lợi vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sửdụng vốn lưu động càng cao
- Số vòng quay hàng tồn kho(vòng): Phản ánh số lần hàng tồn kho luân
chuyển trong kỳ, nó có công thức xác đinh:
Hàm lượng VLĐ =
Vốn lưu động bình quânDoanh thu thuần
Tỷ suất lợi nhuận
Trang 15Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì phản ánh số hàng tồn kho đượcchuyển hoá từ hình thái này sang hình thái khác càng nhanh hay hiệu quả sửdụng vốn lưu động càng cao.
- Số vòng quay các khoản phải thu( vòng): Phản ánh tốc độ thu hồi vốntrong thanh toán của DN, công thức xác định như sau:
Số vòng quay khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoảnphải thu là nhanh, DN tổ chức tốt công tác thu hồi nợ và vốn của DN bị chiếmdụng càng ít
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Phản ánh khả năng của DN trong việc trả nơ ngay mà không dựa vào việcbán các loại vật tư hàng hoá
Hệ số này nếu >=1 có thể thấy tình hình tài chính của DN là khả quan,khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn là cao
- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời: Hệ số này càng cao thì khả năngthanh toán của doanh nghiệp càng tốt Nó được xác định như sau:
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời: Phản ánh khả năng thanh toán ngay các khoản nợ bằng tiền và chứng khoán ngắn hạn có thể chuyển đổi thànhtiền
khoản phải thu =
Doanh thu có thuế
Số dư khoản phải thu bình quân
Hệ số khả năng
thanh toán tức thời =
Tiền + Các khoản tương đương tiền
Tổng nợ ngắn hạn
Trang 161.2.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là rất cần thiết đối vớidoanh nghiệp, xuất phát từ những lý do sau:
• Xuất phát từ vai trò của VLĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh:
- Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trìnhsản xuất, ở mỗi chu kỳ kinh doanh vốn lưu động tồn tại dưới nhiều hình tháikhác nhau Để quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủtiền vốn đầu tư vào các hình thái khác nhau của vốn lưu động, khiến cho cáchình thái đó có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau
- Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh, đánh giá quá trình vận độngcủa vật tư Vì thế, thông qua tình hình luân chuyển vốn có thể kiểm tra mộtcách toàn diện việc cung cấp, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp
• Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, một trong những mục tiêu được quan tâmhàng đầu của các doanh nghiệp là lợi nhuận Để có thể tối đa hoá lợi nhuận,doanh nghiệp vừa phải tăng doanh thu, đồng thời phải tối thiểu hoá chi phí.Mặt khác, trong điều kiện hội nhập như hiện nay, cạnh tranh giữa doanhnghiệp trong nước và ngoài nước, giữa các doanh nghiệp trong nước với nhaucàng trở nên gay gắt, chỉ bằng cách tiết kiệm chi phí, đồng thời vẫn đảm bảochất lượng sản phẩm doanh nghiệp mới có thể đứng vững trên thị trường Đểđạt được điều này, doanh nghiệp phải tăng cường tổ chức quản lý sản xuất,trong đó công tác quản lý và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả vốn lưu độngđược đặt lên hàng đầu
• Xuất phát từ thực tế quản lý, hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại cácdoanh nghiệp ở nước ta hiện nay
Trong điều kiện hội nhập như hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam gặpphải rất nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp nướcngoài Hầu hết các sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước đều có giá
Trang 17thành cao hơn sản phẩm của các doanh nghiệp nước ngoài Một trong nhữngnguyên nhân quan trọng là do trình độ tổ chức quản lý việc sử dụng vốn của
ta còn chưa cao, phát sinh nhiều chi phí khiến cho giá thành sản phẩm không
có tính cạnh tranh Một số doanh nghiệp thường xuyên diễn ra tình trạng ứđọng vật tư, hàng hoá làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị trì trệ, nhiềudoanh nghiệp còn khó thu hồi nợ
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng và các biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
• Nhân tố khách quan:
Nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động củadoanh nghiệp trước tiên phải kể đến chính sách kinh tế của Nhà nước Đây lànhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng Vìtheo từng thời kỳ, tuỳ theo mục tiêu phát triển mà nhà nước có những chính sách
ưu đãi về vốn, về thuế và lãi suất tiền vay đối với từng ngành nghề cụ thể, cóchính sách khuyến khích đối với ngành nghề này nhưng lại hạn chế với ngànhnghề khác Bởi vậy, khi tiến hành sản xuất kinh doanh, bất cứ một doanh nghiệpnào cũng quan tâm và tuân thủ chính sách kinh tế của Đảng và Nhà Nước
Nhân tố khách quan thứ hai đó là sự ảnh hưởng của môi trường kinh tế vĩ
mô như: Lạm phát có thể sẽ dẫn tới sự mất giá của đồng tiền làm cho vốn củadoanh nghiệp bị mất dần theo tốc độ trượt giá của của tiền tệ, hay các nhân tốtác động đến cung cầu đối với hàng hoá của doanh nghiệp, nếu nhu cầu hànghoá giảm xuống sẽ làm cho hàng hoá của doanh nghiệp khó tiêu thụ, gây ứđọng và hiệu quả sử dụng vốn lưu động cũng bị giảm xuống
• Các nhân tố chủ quan:
Là những nhân tố nằm bên trong DN, nó tác động trực tiếp đến việc quản
lý nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và sản xuất kinh doanhnói chung Nó bao gồm các nhân tố bên trong những hoạt động mua sắm, dựtrữ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của DN; công tác tổ chức phân bổ vốn lưu
Trang 18động vào các khâu, các thành phần và bao trùm lên là trình độ tổ chức quản
lý sản xuất kinh doanh của DN Các nhân tố này ảnh hưởng đến hiệu quả sửdụng vốn lưu động cũng như vốn SXKD của DN
1.3.2 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, doanh nghiệp phải tìm cách quản lýtốt nhất các yếu tố cấu thành nên nhu cầu vốn lưu động, đó là các khoản vốn ởkhâu dự trữ, các khoản nợ phải thu và các loại vốn bằng tiền
- áp dụng các biện pháp tài chính như mua bảo hiểm, lập dựphòng giảm giá hàng tồn kho
• Quản lý phải thu: Biện pháp quản lý chủ yếu là lựa chọn thểthức thanh toán qua ngân hàng và có chiến lược bán chịu thích hợp
• Quản lý vốn bằng tiền:
- Tăng tốc độ thu hồi tiền mặt bằng cách dùng các hình thứcchiết khấu, tăng tốc độ thu hồi dựa vào lợi thế của hệ thống ngân hàng chuyểnnhanh số tiền thu được vào đầu tư sinh lời
- Xác định nhu cầu tiền mặt: Xác định mức dự trữ tiền mặt vừađảm bảo hoạt động kinh doanh vừa đảm bảo có chi phí thấp nhất
- Xây dựng quy trình thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
- Có kế hoặch kiểm kê quỹ thường xuyên, đối chiếu tiền mặttồn quỹ thực tế, đối với tiền gửi ngân hàng, đối chiếu sổ sách kế toán doanhnghiệp với sổ sách kế toán ngân hàng để phát hiện kịp thời và xử lý các khoảnchênh lệch (nếu có)
Trang 19Chương 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TỔ CHỨC,QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG TRÌNH GIAO
THÔNG ĐIỆN BIÊN
2.1 Tổng quan về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
cổ phần Công Trình Giao Thông Điện Biên.
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty:
- Tên đầy đủ tiếng việt: Công ty Cổ phần công trình giao thông Điện Biên
- Tên giao dich quốc tế: Dien Bien Trafic Contruction Company Joint-Tock-Địa chỉ: Tổ 4 - phường Thanh Bình - Thành phố Điện Biên Phủ -TỉnhĐiện Biên
-Điện thoại: 0230.3824 707 – 0230.3826 408
-Fax: 0230.3824 706
-E-mail: ctgtdienbien@yahoo.com.vn
-Mã số thuế:
-Số tài khoản: tại Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Điện Biên
Cơ sở pháp lý của doanh nghiệp
Đăng ký kinh doanh: Số 24.02.000039 ngày 05 tháng 05 năm 2003 do sở
kế hoạch Đầu tư tỉnh Điện Biên cấp
Văn bản số 465/CV - BĐM ngày 19/10/2005 có quyết định phê duyệtphương án cổ phần hoá và chuyển Công ty CTGT Điện Biên thành Công ty cổphần Đến ngày 12/01/2006 thì công ty mới chính thức được cấp giấy phép kinhdoanh và có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, thực hiện chế độ hạchtoán kinh tế độc lập có con dấu riêng và hoạt động theo điều lệ của Công ty Cổphần và luật doanh nghiệp
Tính đến năm 2010 vốn điều lệ của công ty là: 17.589.360.000 đồng
Trang 20Trong đó: + Cổ đông là nhà nước(UBND Tỉnh Điện Biên) nắm giữ:65,61% vốn điều lệ
+Cổ đông là cá nhân nắm giữ : 34,39% vốn điều lệ
TÓM TẮT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA CÔNG TY:
Công ty công trình Giao thông Điện Biên là một đơn vị thành viên của côngtrường Chiềng Chăn Sìn hồ - Lai Châu (cũ)
- Năm 1971 UBND tỉnh Lai Châu (cũ) quyết định đổi tên và thành lập Công tyCầu Đường Lai Châu
- Năm 1993 thực hiện Nghị định 388/CP của Thủ tướng Chính phủ đơn vị đượcthành lập lại và đổi tên là Công ty công trình Giao thông Lai Châu
- Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội chia tách Tỉnh Lai châu thành 2 tỉnh ĐiệnBiên và Lai Châu Công ty công trình giao thông Lai châu được đổi tên thànhCông ty công trình Giao thông Điện Biên Đến năm 2005 theo đề nghi của Banđổi mới và Phát triển doanh nghiệp Tỉnh Điện Biên tại văn bản số 465/CV -BĐM ngày 19/10/2005 có quyết định phê duyệt phương án cổ phần hoá vàchuyển Công ty CTGT Điện Biên thành Công ty cổ phần Đến ngày 12/01/2006thì công ty mới chính thức được cấp giấy phép kinh doanh và có tư cách phápnhân theo pháp luật Việt Nam, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập cócon dấu riêng và hoạt động theo điều lệ của Công ty Cổ phần và luật doanhnghiệp
Trải qua hơn 30 năm (kể từ ngày thành lập công ty) hoạt động của Công ty
đã không ngừng hoàn thiện công tác tổ chức quản lý nâng cao năng lực hoạtđộng sản xuất kinh doanh Từng bước tháo gỡ khó khăn, chủ động nắm bắt kịpthời các cơ hội phát triển Công ty được thành lập ra với chức năng nhiệm vụ lànhận thi công, xây dựng các công trình dân dụng và các công trình công nghiệpnhóm C, xây dựng các công trình giao thông đồng thời tiến hành quản lý và sửdụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn do ngân hàng giao thầu
Trang 21Cùng với việc nâng cao năng lực hoạt động của mình trên cơ sở phát triểnnguồn lực hợp lý, các yếu tố phục vụ sản xuất kinh doanh theo hướng ngàycàng hoàn thiện Công ty luôn chủ động xây dựng và thực hiện các kế hoạchphát triển, đề ra các biện pháp tích cực nhằm khai thác triệt để và hiệu quảnguồn vốn hiện có, cũng như các nguồn vốn huy động được từ bên ngoài, nângcao uy tín đối với các đơn vị khách hàng.
Sự phát triển của công ty công trình Giao thông Điện Biên có thể thấy qua
số liệu qua những năm gần đây:
2 Giá trị tổng sản lượng 34.117.192.127 42.695.253.358 56.307.347.560
4 Lợi nhuận trước thuế 718.995.440 810.454.703 906.378.901
Với những uy tín mà Công ty cổ phần công trình giao thông Điện Biên tạolập được và thị trường chiếm lĩnh, cộng thêm đội ngũ cán bộ quản lý giàu kinhnghiệm, linh hoạt trong tương lai công ty ngày càng phát triển, lợi nhuận đạtdược nhiều hơn, đội ngũ cán bộ nghiệp vụ được nâng cao và Công ty có lợi thếvươn xa hơn
Những thành tích nổi bật công ty đã đạt đươc:
+/Năm 2006
-Tặng bằng khen về công tác Phòng cháy chữa cháy,Cờ xuất sắc về phong trào
quần chúng bảo vệ ANTQ.Cờ thi đua xuất sắc,bằng khen về công tác Bảo hộ lao
Trang 22động,bằng khen về công tác Phòng cháy chữa cháy,bằng khen về công tácThương binh liệt sỹ.
+/Năm 2007
-Tập thể công ty được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen
-Bộ công an tặng Cờ xuất sắc về phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ
-Bộ giao thông vận tải tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc nhiệm vụ
-Ủy ban Nhân dân tỉnh Điện Biên tặng cờ thi đua xuất sắc dẫn đầu khối,bằngkhen trong công tác thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước……
2.1.2 Tổ chức hoạt động kinh doanh của Công ty.
2.1.2.1 Mục tiêu hoạt động và ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty.
Công ty cổ phần công trình Giao thông Điện Biên hiện đang hoạt độngkinh doanh trên nhiều lĩnh vực, một số ngành nghề kinh doanh chủ yếu củaCông ty là:
- Khai thác cát, sỏi, đá xây dựng,San lấp mặt bằng,mua bán vật liệuxây dựng.Lắp đặt điện trong nhà,Sản xuất, truyền tải và phân phối điện
- Xây dựng nhà các loại,công trình dân dụng,công nghiệp,công trìnhđường bộ,công trình kỹ thuật dân dụng khác (thuỷ lợi),các công trình điện đến35KV
- Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ
sở hữu sử dụng hoặc đi thuê,Bảo dưỡng và sửa chữa xe có động cơ,dịch vụkhách sạn,dịch vụ ăn uống,vận tải hàng hoá,thuỷ điện,buôn bán điện, bán lẻđiện
2.1.2.2 Đặc điểm bộ máy quản lý của Công ty.
Bộ máy tổ chức của Công ty
Để tăng cường bộ máy quản lý có hiệu lực, đảm bảo quản lý chặt chẽ trêntất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, bộ máy quản lý của Công
ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến và theo cơ cấu của công ty cổ phầncông trình; Bộ máy tổ chức của Công ty được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty.
Trang 23
- Tổng số lao động có đến thời điểm cổ phần hoá là: 236 người
- Tống số lao động chuyển sang công ty cổ phần là: 175 người
- Tổng số chuyển công tác khác là: 01người
- Tổng số lao động nghỉ dôi dư thực hiện theo nghị định số 41: 60 ngườitrong đó:
+ Tổng số lao động nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định 41: là 07 người
+ Tổng số lao động dôi dư được hưởng trợc cấp mất việc làm thực hiện theonghị định số 41: là 53 người
- Tổng số công nhân viên trong công ty : 175 người, trong đó : 75% cán
bộ đạt trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học 25% cán bộ đạt trình độ
sơ cấp với đủ các nghành nghề: Kinh tế, quản trị kinh doanh, cầu,đường, máy, cơ khí
- Tóm lược chức năng của từng bộ phận:
BAN GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH
BAN GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH
ĐỘI CÔNG TRÌNH 2
ĐỘI CẦU 136
ĐỘI CÔNG TRÌNH 1
ĐỘI XE MÁY
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM SOÁT
Trang 24- Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất,quyết định
những vấn đề mang tính sống còn của công ty
- Hội đông quản trị :là cơ quan quản lý cao nhất của công ty,có toàn
quyền quyết định các vấn đề có liên quan đến mục tiêu,chính sách,chiến lược vàquyền lợi của Công ty,phù hợp với luật pháp và điều lệ Công ty.Hội đồng quảntrị có 05 thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu ra
- Ban kiểm sát : co 03 thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu ra.Ban
kiểm soát hoạt động độc lập để kiểm tra tính hợp pháp,hợp lý,tính trung thực vàmức độ cẩn trọng trong quản lý,điều hành hoạt động kinh doanh,trong tổ chứccông tác kế toán,thống kê và lập báo cáo tài chính.Thẩm định báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh,báo cáo tài chính theo định kỳ của công ty,báo cáo đánhgiá công tác quản lý của Hội đồng quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họpthường niên.Ban kiểm soát có quyền ngang với Ban giám đốc công ty
- Ban giám đốc: bao gồm 01 tổng giám đốc,03 phó tổng giám đốc có
chức năng điều hành và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doang của Công
ty theo nghị quyết,quyết định của Đại hội đồng cổ đông,bảo toàn phát triển vốntheo phương án kinh doanh đã được Hội đồng quản trị phê duyệt
- Phòng kế hoạch: có nhiệm vụ liên hệ khách hàng để ký kết hợp đồng
và chỉ đạo việc mua sắm loại phụ tùng,công cụ,vật liệu văn phòng phẩm
- Phòng kế toán: chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch tài chính hàng
năm,hoạch toán kế toán theo quy định,quản lý tài chính tiền tệ,thu chi của côngty
Về chế độ và chính sách kế toán áp dụng tại Công ty:
Kỳ kế toán năm của Công ty bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc ngày
31 tháng 12 hàng năm Công ty áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ViệtNam ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm
2006 của Bộ trưởng BTC Hình thức kế toán áp dụng là hình thức kế toánnhật ký chứng từ trên máy vi tính
Trang 252.1.2.3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty.
Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất:
Do đặc điểm của ngành xây dựng và sản phẩm xây lắp nên quy trình sảnxuất của Công ty có đặc điểm là sản xuất liên tục, phức tạp và trải qua nhiềugiai đoạn khác nhau Mỗi công trình đều có dự toán riêng, có thiết kế riêng vàthi công ở các địa điểm khác nhau Vì vậy nên còn phụ thuộc vào nhiều yếutố: Thời gian xây dựng, thời tiết khí hậu, địa hình, sản phẩm mang tính riêng
lẻ đơn chiếc không tập trung Mỗi giai đoạn khác nhau, mức độ tiêu hao vềnguyên vật liệu, về nhân công, máy móc thiết bị thi công là khác nhau.Công ty thực hiện xây dựng bằng cách khoán cho các chỉ huy công trình, cácchỉ huy công trình lại trực tiếp giao khoán từng phần việc cụ thể cho các độithi công
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất của các công trình.
Yếu tố đầu vào: Do đặc thù ngành nghề kinh doanh của Công ty nên yếu
tố đầu vào chủ yếu là nguyên vật liệu xây dựng như sắt, sỏi, xi măng
Nhập nguyên vật liệu
Thi côngBàn giao và
quyết toán
Trang 26- Tổng số công nhân viên trong công ty : 175 người, trong đó : 75% cán
bộ đạt trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học 25% cán bộ đạt trình độ sơ cấpvới đủ các nghành nghề: Kinh tế, quản trị kinh doanh, cầu, đường, máy, cơkhí
2.1.2.4.Những thuận lợi,khó khăn của công ty trong những năm gần đây:
+Thuận lợi:- Suốt hơn 30 năm qua, từ 1 công trường nhỏ trực thuộc Công
ty đã vươn lên và trưởng thành thành một công ty độc lập tự chủ trong kinhdoanh Hàng năm đem lại 1 khoản lợi nhuận khá lớn so với các công ty khác,song những kết quả đạt được ấy cũng phần nào chứng minh cho sự nỗ lực phấnđấu không ngừng của hội đồng quản trị cũng các cán bộ công nhân viên trongcông ty
-Được sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân tỉnh, cơ quan ban ngành Trungương và địa phương công ty đã không ngừng nỗ lực vươn lên, vượt qua khókhăn, giữ vững và mở rộng thị phần, nâng cao uy tín phục vụ tốt hơn, linh hoạttìm tòi các phương thức kinh doanh để có hiệu quả nhất
-Công ty đã có những linh hoạt trong phong cách kinh doanh, tạo nên sự tincậy đối với các đối tác Mặt khác công ty cũng tạo được những mối quan hệ tốtvới cấp trên, với các đối tác, đây là 1 thành công của công ty được đúc kết trongquá trình cống hiến cũng như phục vụ của mình mà không phải công ty cũng dễ
có trong nền kinh tế thị trường, mảnh đất dễ nảy mầm nhưng khó tồn tại hiệnnay
-Về đội ngũ lao động:
Với gần 175 cán bộ, kỹ sư, công nhân kỹ thuật,lực lượng lao động củaCông Ty lớn mạnh Có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao,có tinh thầnhọc hỏi để làm chủ công nghệ mới
-Về công tác quản lý doanh nghiệp:
Trang 27Tổ chức ổn định bộ máy điều hành.phân công quản lý từ giám đốc đếncác phòng ban trong công ty,đảm bảo bộ máy hoạt động chủ động,linhhoạt,sáng tạo và hiệu quả.
- Do nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng và công trình các loại tăng cao.Songkhông phải doanh nghiệp nào cũng có sự chuẩn bị tốt cho một chiến lược lâudài.vì vậy vấn đề hiện này là các doanh nghiệp xây dựng không nằm ở chỗ cóhay không cơ hội việc làm mà là sự phấn đấu “ thăng hạng”đáp ứng được yêucầu cao về kỹ,mỹ thuật để gia nhập vào danh sách nhà thầu các công trình thuộcphân khúc thị trường cao hơn
-Việc cạnh tranh của doanh nghiệp đang diễn ra ở góc độ tạo lập uy tinthương hiệu.Đây là vấn đề không dễ dàng đối với doanh nghiệp nghành xâydựng,nhất là trong việc kiển soát chất lượng thi công trong bối cảnh sử dụngnhiều lao động và phối hợp nhiều lĩnh vực nghành nghề khác nhau
2.1.3 Thực trạng về công tác tổ chức quản lý và sử dụng VLĐ tại Công
ty Cổ phần công trình giao thông Điện Biên trong một số năm gần đây: 2.1.3.1 Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong năm 2009 và năm 2010:
Bảng 01 Cơ cấu vốn và nguồn vốn của cồng ty(tr27)
Trang 28BANG 01 CƠ CẤU VỐN VÀ NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY
Đơn vị tính: Đồng
Trang 29Trước khi xem xét cụ thể về tình hình vốn lưu động của Công ty, ta xemxét một cách tổng quát về tình hình vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh
của Công ty thông qua bảng 01:
- Tổng vốn kinh doanh của Công ty Năm 2010 tăng so với năm 2009 là72,764,720,613 đồng với tỷ lệ tăng 61%, song chủ yếu là do tăng tài sản cốđịnh, đặc biệt là tài sản cố định hữu hình tăng 21,394,741,975 đồng với tỷ lệtăng 75% Còn vốn lưu động tăng 43,935,464,249 đồng với tỷ lệ tăng 48% ,là
do các khoản phải thu ngắn hạn tăng 25,635,779,074 đồng với tỷ lệ tăng
57 %, trong khi đó thì các khoản khác có giảm nhưng giảm ít hoặc chiếm tỷtrọng nhỏ trong vốn lưu động ,nên làm vốn lưu động tăng Như vậy vốn kinhdoanh của Công ty tăng chủ yếu là do tăng tài sản cố định hữu hình
Xem xét tỷ trọng của từng loại vốn ta thấy: vốn lưu động chiếm phần lớntrong tổng vốn kinh doanh (năm 2010 chiếm 70%, năm 2009 chiếm 76%).Còn vốn cố định chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn kinh doanh (năm 2010chiếm 30%, năm 2009 chiếm 24%) Sở dĩ có sự chênh lệch như vậy là do đặcthù của ngành nghề, Công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, mà chủ yếu
là xây dựng các công trình nhỏ trong thời gian ngắn nên thu lại vốn nhanh.Đây chính là nguyên nhân làm cho vốn lưu động nhiều và tăng bởi việc vốnlưu động chuyển sang tài sản cố định: Công trình Đường Na Pheo-Si phaphìn,Đường Lai Châu-Mường Te , từ đó làm vốn cố định ngày càng tăng.Mặt khác, ta thấy tài sản cố định của Công ty có tài sản cố định hữu hình vàtài sản cố định vô hình chiếm tỷ trọng rất lớn 50,592,063,643 đồng với tỷtrọng 88%
- Về nguồn vốn kinh doanh, tương ứng với sự gia tăng của tổng vốn kinhdoanh, nguồn vốn năm 2010 so với năm 2009 cũng tăng 72,764,720,613 đồngvới tỷ lệ tăng 61% Công ty đã chú trọng huy động vốn từ hai nguồn là Nợphải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, tuy nhiên trong cả hai năm nợ phải trả vẫnchiếm tỷ trọng chủ yếu Cụ thể ta sẽ đi xem xét sự biến động của từng nguồn
Trang 30Nợ phải trả tăng 68,246,422,632 đồng với tỷ lệ tăng 67%, trong đó nợngắn hạn tăng 62,076,967,951 đồng với tỷ lệ tăng 68%, nợ dài hạn tăng8,098,626,124 đồng với tỷ lệ tăng 78%, tỷ trọng của nợ ngắn hạn giảm 1% sovới năm 2009, trong khi đó thì tỷ trọng của nợ dài hạn tăng 1% so với năm
2009 Điều này là do khoản vay ngắn hạn đến hạn trả chuyển sang nợ dài hạn4,229,648,820 đồng, và trong năm số tiền vay phát sinh thêm là7,985,372,663 đồng Như vậy nợ phải trả tăng xuất phát từ việc Công ty tăngcường huy động các khoản nợ dài hạn là chủ yếu
Vốn chủ sở hữu của Công ty năm 2010 tăng so với năm 2009 là4,518,297,981 đồng với tỷ lệ tăng 25% Tuy vốn chủ sở hữu tăng với tỷ lệ caohơn nợ phải trả, nhưng về mặt giá trị tuyệt đối thì vốn chủ sở hữu nhỏ hơnnhiều so với nợ phải trả nên tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong nguồn vốngiảm 3% (từ 15% năm 2009 xuống còn 12% năm 2010 ) Điều này cho thấyCông ty đã cố gắng tăng nguồn vốn tự có song vẫn còn phụ thuộc vào nguồnvốn bên ngoài Điều này chứa đựng nguy cơ rủi ro cho Công ty trong việcthanh toán các khoản nợ ngắn hạn, nhưng đồng thời nó sẽ có tác dụng đối vớiCông ty trong việc gia tăng mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính, giúp Công typhát huy tác dụng của lá chắn thuế từ lãi vay nếu Công ty vẫn thực hiện thanhtoán tốt các khoản nợ
2.1.3.2 Kết quả kinh doanh của công ty qua hai năm 2009 – 2010.
Bảng 02 Kết quả hoạt động của công ty 2 năm gần đây(tr 30)
Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần công trình giao thông Điện Biên trong hai năm gần đây được thể hiện thông qua bảng 02.
Từ bảng 02 ta thấy, trong hai năm qua, hoạt động kinh doanh của Công ty
đã đạt được một số thành tích nhất định, thể hiện:
Tổng lợi nhuận sau thuế năm 2009 so với năm 2008 tăng 35,497,613 đồng, với tỷ lệ tăng là 4% Kết quả này tuy không cao song so với tình hình nền kinh
Trang 31BẢNG 02 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY HAI NĂM GẦN ĐAY Đơn vị tính : 1000 đồng
8.Lợi nhuận thuần từ hoat động
Trang 32Bùi Mạnh Tuấn 32 Lớp
Trang 33tế đang trên đà thoát khỏi sự suy thoái đã làm cả thế giới bị khủng hoảng kinh
tế thì đó cũng là điều đáng mừng Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công
ty Công ty Cổ phần công trình giao thông Điện Biên đã rất cố gắng gượngdậy sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, điển hình là năm 2009 Công tykhông tăng lợi nhuận (so với năm 2008) nhưng năm 2010 Công ty đã tăngđược lợi nhuận Xem xét đối với từng hoạt động ta thấy lợi nhuận trước thuếchủ yếu là do sự tăng mạnh của lợi nhuận từ hoạt động SXKD (tăng 6%),trong khi đó lợi nhuận từ hoạt động khác và lợi nhuận từ hoạt động tài chínhtrong cả hai năm qua đều âm do chi phí lớn hơn thu nhập, tổng chi phí tàichính và chi phí khác năm 2010 là 1,961,669,690 đồng với chi phí khác tăng53,780,881 đồng với tỷ lệ tăng 6%, trong khi đó thì tổng doanh thu tài chính
và doanh thu khác chỉ có 102,212,136 đồng Mặc dù hoạt động tài chính vàthu nhập khác đều âm nhưng do chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nên kết quả tổng lợinhuận trước thuế và sau thuế của Công ty vẫn tăng
Tổng doanh thu của Công ty năm 2010 tăng 13.725.762.065 đồng với tỷ
lệ tăng 24% Trong đó, doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng13,729,777,899 đồng với tỷ lệ tăng là 24%, doanh thu hoạt động tài chính lạigiảm -4,015,834 đồng với tỷ lệ giảm là -11%, do doanh thu hoạt động tàichính chiếm tỷ trọng không đáng kể và doanh thu từ hoạt động bán hàng vàcung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nên vẫn làm tổng doanh thu tăng Trong
đó doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là doanh thu của hoạt động xâylắp Mặc dù doanh thu hoạt động tài chính cả hai năm đều âm và chủ yếu là
do chi phí lãi vay, song điều đó không hẳn là xấu bởi Công ty đã vay vốnngân hàng để bổ sung nguồn vốn kinh doanh để mở rộng quy mô, hay Công
ty không chú ý đến tỷ suất lợi nhuận từ tiền gửi ngân hàng và đã vay thêmvốn để đầu tư tìm kiếm tỷ suất lợi nhuận cao Thu nhập khác của Công tytrong năm 2010 thì gần như không có, có thể là do Công ty không phải xử lýcác khoản tạm ứng và các khoản phải trả, phải nộp khác Qua phân tích sốliệu trên ta thấy tổng doanh thu năm 2010 của Công ty tăng chủ yếu là do
Trang 34doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng và là do doanh thu xâylắp Điều đó chứng tỏ là Công ty đã cố gắng hoàn thành các công trình xâylắp để bàn giao, đồng thời cũng góp phần phát triển Công ty.
Năm 2010, tổng chi phí hoạt động kinh doanh của Công ty tăng13.725.762.065 đồng với tỷ lệ tăng là 24% Trong đó, giá vốn hàng bán tăngnhiều nhất, 14,295,630,387đồng với tỷ lệ tăng là 30%, việc tăng này có thể là
do khâu quản lý,khâu mua bán, dự trữ chưa được hợp lý Tuy tỷ lệ tăng củagiá vốn hàng bán tăng cao hơn tỷ lệ tăng của doanh thu bán hàng và cung cấpdịch vụ song lợi nhuận thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ vẫn tăng 6%,điều này có thể do chi phí quản lý doanh nghiệp có tăng nhưng tăng thấp(tăng 4%) so với mức tăng của doanh thu và giá vốn Khoản mục chi phí nàytăng do phát sinh nhiều khoản mục như: Lương trả cho công nhân viên trongCông ty là 951,530,321 triệu đồng,chi phí dịch vụ mua ngoài là 389,426,494triệu đồng, chi phí khấu hao tài sản cố định là 652,951,388 triệu đồng, chi phíbằng tiền khác là 208,383,744 triệu đồng Việc chi phí quản lý doanh nghiệpchiếm tỷ lệ lớn nhưng tăng với tỷ lệ nhỏ chứng tỏ Công ty đã có phần cảithiện và quản lý tốt hơn trong việc tiết kiệm chi phí Chi phí tài chính, đồngthời cũng chính là toàn bộ chi phí lãi vay đã giảm 837,729,668 triệu đồng với
tỷ lệ 50% song vẫn lớn hơn hẳn thu nhập từ hoạt động tài chính nên cả hainăm hoạt động tài chính đều bị lỗ Chi phí khác tăng 53,780,881 triệu đồngvới tỷ lệ tăng 6% và cũng đều lớn hơn thu nhập khác (thu nhập khác gần nhưkhông có) nên cả hai năm lợi nhuận khác đều âm Nhưng nhìn chung sự giatăng của tổng doanh thu đều lớn hơn nhiều so với chi phí nên tổng lợi nhuậntrước thuế của Công ty vẫn tăng 39,441,792 đồng với tỷ lệ tăng là 4%, trong
đó chủ yếu là sự gia tăng lợi nhuận từ hoạt động xây lắp (tăng 98,918,830đồng với tỷ lệ tăng là 6%) Với kết quả lợi nhuận đã đạt được, tỷ suất ROEcủa Công ty là 0,07%, nghĩa là một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ thu được0,0007 đồng lợi nhuận sau thuế
Trang 35Trên đây là một số chỉ tiêu phản ánh một cách khái quát tình hình hoạtđộng kinh doanh của Công ty trong hai năm qua, mặc dù không thể đánh giámột cách chính xác nhưng phần nào cho thấy một dấu hiệu khả quan tronghoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian tới.
2.2 Thực trạng về tình hình tổ chức quản lý và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty.
2.2.1 Tình hình tổ chức đảm bảo vốn lưu động của Công ty.
2.2.1.1 Xác định nhu cầu vốn lưu động cho năm 2010.
Như ta đã biết, việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động có ý nghĩaquan trọng trong việc đảm bảo vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh đượcdiễn ra liên tục Nhận thức được điều này, công tác tổ chức xác định nhu cầuvốn lưu động của Công ty Cổ phần công trình giao thông Điện Biên được tổchức đều đặn qua các năm và nó nằm trong kế hoạch tài chính của Công ty
Để ước tính nhu cầu vốn lưu động, Công ty đã sử dụng phương pháp giántiếp, với công thức được xác định như sau:
M1
Vnc = —— (1)
L1
Trong đó: M1 : Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch
L1 : Số vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch
Tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong năm kế hoạch được Công tyxác định bằng doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kỳ Còn sốvòng luân chuyển vốn lưu động trong kỳ kế hoạch được Công ty dự báo vẫnnhư năm báo cáo Vì Công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nên số vòngluân chuyển lưu động thường không cao và không biến động nhiều qua cácnăm, nên Công ty đã lấy số vòng quay vốn lưu động như năm báo cáo để đơngiản việc tính toán
Trang 36Trong năm 2009, doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ củaCông ty là 56,307,347,560 đồng, vốn lưu động bình quân trong năm 2009 là70,939,082,699 đồng, do đó số vòng quay VLĐ tính được trong năm 2009 là0,43 vòng Căn cứ vào tốc độ phát triển của doanh thu trong những năm gầnđây cùng với sự phục hồi sau suy thoái của nền kinh tế, dự đoán về doanh thucủa Công ty trong năm 2010 là khoảng 80,000,000,000 đồng.Theo công thức(1) thì nhu cầu vốn lưu động trong năm 2009 dự tính là:
Với nhu cầu vốn lưu động được xác định như trên, Công ty đã đề ra chủtrương huy động tối đa nguồn vốn bên trong và huy động từ bên ngoài thôngqua các nguồn lực như: Vay ngắn hạn, tận dụng triệt để nguồn vốn có thểchiếm dụng được và dự trữ hàng tồn kho hiệu quả nhất Điều này được thểhiện là trong năm 2010 Công ty đã vay ngắn hạn thêm 5,770,351,180 đồng,người mua trả tiền trước cung tăng thêm 36,711,417,776 đồng
Song vốn lưu động bình quân thực tế phát sinh trong năm 2010 của Công
ty là 134,760,129,704 đồng, nhỏ hơn so với dự tính là 51,286,381,663 đồng,thấp hơn 27% so với dự tính Như vậy việc dự đoán nhu cầu vốn lưu động củaCông ty cũng không chênh lệch lớn với thực tế phát sinh Sự chênh lệch này
là do độ chính xác của phương pháp áp dụng không cao Mặt khác do doanhthu thực tế trong kỳ tăng mạnh hơn so với dự tính và số vòng quay thực tế lạicao hơn dự tính là 0,09 vòng (trong năm 2009 số vòng quay vốn lưu động củaCông ty là 0,52 vòng) Sự chênh lệch này là có thể chấp nhận được, tuy nhiênCông ty cần phải có các biện pháp xác định chính xác hơn nhu cầu vốn lưuđộng để tránh tình trạng ứ đọng vốn, sử dụng vốn lãng phí, vốn chậm luânchuyển, gây ra nhiều chi phí không hợp lý, làm giảm lợi nhuận của doanhnghiệp
Nhu cầu VLĐ dự tính =
80,000,000,000
0,43
= 186,046,511,367 đồng
Trang 372.2.1.2 Nguồn tài trợ vốn lưu động.
Bảng 03:Nguồn tài trợ vốn lưu động của công ty(tr 36).
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, vốn là yếu tố không thể thiếu, nó là
điều kiện để xem xét một doanh nghiệp có kinh doanh được hay không Mộtdoanh nghiệp đang hoạt động cũng không thể tồn tại nếu thiếu vốn Vì thếviệc huy động vốn, đảm bảo đủ vốn phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh làmột chính sách rất quan trọng Để đánh giá xem chính sách huy động vốn củaCông ty cổ phần Công trình giao thông Điện Biên có hợp lý hay không, ta
đi vào phân tích những nguồn vốn mà Công ty huy động để hình thành nên
vốn lưu động thông qua bảng 03.
Từ bảng 03 ta thấy, tổng nguồn vốn lưu động tài trợ cho tài sản lưu độngcủa Công ty cuối năm 2009 giảm so với cuối năm 2008 là 22,066,761,938đồng với tỷ lệ giảm 23%, nguyên nhân là do nguồn vốn lưu động thườngxuyên giảm nhiều (nguồn vốn lưu động thường xuyên âm ) Cụ thể ta đi vàoxem xét chi tiết từng nguồn vốn
- Nguồn vốn lưu động thường xuyên cuối năm 2009 là (37,348,103,539) đồng với tỷ trọng -50% trong tổng nguồn vốn lưu động, giảm so với cuối năm
2008 là (70,159,340,557) đồng với tỷ lệ giảm là -214% (nguồn vốn lưu động thường xuyên cuối năm 2008 là 32,811,237,018 đông, tỷ trọng 34% trong tổng nguồn vốn ) làm cho tỷ trọng của nguồn này giảm 84% Điều này chứng
tỏ nguồn vốn dài hạn của Công ty nhỏ hơn tài sản dài hạn, đồng nghĩa với việc Công ty đã dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn Điển hình là việc Công ty bị ứ đọng vốn lưu động trong khâu sản xuất hàng năm làm cho chi phí sản xuất cơ bản dở dang tăng cao Như ta đã biết, nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định lâu dài, tạo ra một mức độ an toàn cho Công ty trong hoạt động kinh doanh, làm gia tăng mức độ an toàn về mặt tài chính cho Công ty, đặc biệt là trong trường hợp các
Trang 38BẢNG 03 NGUỒN TÀI TRỢ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY
Trang 39chủ nợ đòi nợ Nên việc dùng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dàihạn là một chính sách tài trợ không đem lại sự ổn định và an toàn Tuy nhiên,việc này cũng giúp cho Công ty giảm được chi phí sử dụng vốn bởi chi phí sửdụng nguồn vốn lưu động thường xuyên thường cao hơn nguồn vốn lưu độngtạm thời Mặt khác, trong năm 2010 Công ty đã tăng nguồn vốn lưu động tạmthời từ 91,494,097,155 đồng năm 2009 lên 151,571,065,106 đồng với tỷ lệtăng là 68% làm cho tỷ trọng của nguồn này giảm lên 1% Trong đó, việcchiếm dụng vốn từ khoản người mua trả tiền trước tăng khá cao từ38,259,924,507 đồng năm 2009 lên 74,971,342,283 đồng với tỷ lệ tăng là96% làm tỷ trọng trong năm 2010 lên tới 7% trong tổng nguồn vốn lưu độngtạm thời Nó cho ta thấy rằng Công ty đang gia tăng được uy tín của mình đốivới khách hàng Nhưng để duy trì sự phát triển và sự ổn đinh, an toàn lâu dàiCông ty cần phải điều chỉnh cân đối, tăng tỷ trọng nguồn vốn lưu độngthường xuyên trong tổng nguồn vốn lưu động để có thể hình thành và duy trìmột cơ cấu nguồn vốn phù hợp nhất, đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính.Sau đây ta sẽ đi phân tích sâu sự biến động của nguồn vốn lưu độngthường xuyên thông qua phân tích sự biến động của các yếu tố cấu thành, đólà: Nguồn vốn chủ sở hữu, nợ dài hạn, giá trị còn lại của tài sản cố định và tàisản dài hạn khác.
Bảng 04 Nguồn vốn lưu động thường suyên của công ty(tr 38).
Qua bảng 04 ta thấy vốn chủ sở hữu của Công ty năm 2010 là
21,947,929,132 đồng tăng so với năm 2009 là 4,050,347,949 đồng với tỷ lệtăng 23% Trong đó vốn đầu tư của chủ sở hữu tăng 727,576,000 đồng so vớinăm 2009 với tỷ lệ tăng 6% Việc gia tăng vốn chủ sở hữu đã làm gia tăngtính tự chủ và chủ động hơn trong kinh doanh của Công ty Đồng thời quỹđầu tư phát triển cũng tăng 180% so với năm 2009 Song song với nó là sự giatăng giá trị còn lại của tài sản cố định và tài sản dài hạn khác thêm13,609,779,589 đồng với tỷ lệ tăng 48%, lớn hơn nhiều so với sự gia tăng
Trang 40BẢNG 04 NGUỒN VỐN LƯU ĐỘNG THƯỜNG XUYÊN CỦA CÔNG TY
Đơn vị tính: Đồng
Số tiền Tỷ lệ
1 Vốn đầu tư của chủ sở hữu 11,515,320,000 12,242,896,000 727,576,000 6%