Trong gần 30 năm qua từ khi bắt đầu công cuộc Đổi Mới cho đến nay, nước ta đã huy động và sử dụng nguồn lực to lớn để phát triển đất nước nhưng chưa đem lại kết quả tương xứng do sử dụng
Trang 1ĐỔI MỚI THỂ CHẾ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC VÀ PHÂN BỔ LỢI ÍCH ĐỂ TẠO ĐỘNG LỰC CHO PHÁT TRIỂN
Lê Đăng Doanh
Nhận dạng thể chế phân bổ nguồn lực hiện nay
I
Trong gần 30 năm qua từ khi bắt đầu công cuộc Đổi Mới cho đến nay, nước ta đã huy động và sử dụng nguồn lực to lớn để phát triển đất nước nhưng chưa đem lại kết quả tương xứng do sử dụng các nguồn lực kém hiệu quả và phẩn bổ các nguồn lực bị chi phối đáng kể theo lợi ích nhóm Tuy nước ta đã vượt qua được ngưỡng nước nghèo, song chúng ta không đạt được mục tiêu “trở thành nước cơ bản công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2020” và đang đứng trước nguy cơ rơi vào bãy thu nhập trung bình ở mức thu nhập còn rất thấp Tốc độ tăng trưởng kinh tế đã chậm lại trong khi chất lượng tăng trưởng chưa được nâng lên, sự phát triển kinh tế-xã hội dưới tiềm năng của đất nước, tham ô, lãng phí tràn lan gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hôi, tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng, phân biệt giàu nghèo ngày càng tăng lên nhanh chóng Nợ công
và nợ nước ngoài tăng nhanh với tốc độ chưa từng thấy từ 1986 đến nay, khả năng trả nợ rất khó khăn, đã xuất hiện tình trạng vay nợ mới
để đảo nợ cũ
Chúng ta đã quá chú trọng đến huy động thật nhiều vốn song chưa chú ý sử dụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả, phục vụ cho sự phát triển bền vững của đất nước
Chúng ta đã thu hút được 230 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư nước ngoai, trong đó đã thực hiện 42 tỷ USD, trung bình 2,1 tỷ USD/ năm
Trang 2Hình 1 Vốn đầu tư và tích lũy tài sản (theo giá 1994) (Đvt Ngàn tỉ đồng)
Song, do phân cấp quá mạnh thẩm quyền quyết định đầu tư nước ngoài cho các tỉnh, nguồn vốn đó bị phân tán, chồng chéo giữa các tỉnh, trong đó có quá nhiều dự án công nghệ trung bình và lạc hậu, không đóng góp tích cực cho việc hình thành nền công nghiệp dân tộc
Chúng ta cúng huy động được 80 tỷ USD vốn ODA cam kết, trong
đó giải ngân được 38 tỷ USD, hiện còn trên 20 tỷ USD chưa được giải ngân
Hình 2 Tổng vốn oDa cam kết, ký kết, giải ngân thời kỳ 1993-2012 (Đvt Tỷ USD)
Chúng ta cũng tăng cường vay nợ và số nợ nước công bao gồm
nợ trong nước và nước ngoài đã tăng lên rất nhanh trong thời gian gần đây.89
Khoảng cách giữa khái niệm “vốn đầu tư” và “đầu tư” tức số tài sản cố định hình thành từ vốn đầu tư có khoảng chênh lệch quá lớn, lên đến 50%, cho thấy hoạt động đầu tư rất kém hiệu quả:
89 http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/602647/no-cong-sap-toi-lan-ranh-do.html
Trang 3Bảng 1 Vốn đầu tư và tích lũy tài sản (theo giá 1994) (Đvt Ngàn tỉ đồng)
2001 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Vốn đầu tư 115.1 129.4 148.0 166.8 189.3 213.9 243.3 306.1 Đầu tư 83.5 92.5 104.3 116.6 128.9 143.3 160.2 199.0
Nguồn: Niên giám thống kê.
Chúng ta có thể thấy trong thời gian qua, nước ta đã quá chú trọng đến huy động các nguồn vốn khác nhau để đầu tư, song đã lãng quên việc ban hành pháp luật bảo đảm việc sử dụng số vốn đó có hiệu quả, ngăn chặn tình trạng lạm dụng đầu tư công để đạt lơi ích nhóm
Việc Luật Đầu tư công đến bây giờ mới sắp được trình ra lần đầu tiên trong lịch sử nước ta là một chứng minh cho sự sao nhãng đó Nếu so sánh hiệu quả giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư tư nhân trong nước với đầu tư nước ngoài ta có thể thấy rõ sự chênh lệch quá lớn này
Bảng 2 Hệ số ICoR thời kỳ 2000-2007 tính theo vốn đầu tư
Hệ số ICoR
Nguồn: Tính toán của Bùi Trinh (2009) và TCTK.
Chúng ta thấy hệ số ICOR của đầu tư từ các doanh nghiệp nhà nước cao hơn gấp 2 lần khu vực ngoài nhà nước Khu vực tư nhân có động lực
để đầu tư tiết kiệm, có hiệu quả trong khi khu vực nhà nước lại có động lực đầu tư càng nhiều thì càng có khả năng lạm dụng, tham nhũng KTS Nguyễn Ngọc Dũng, Hiệp hội KTS Thành phố Hồ Chí Minh
đã liệt kê một loạt các chi phí không thể hạch toán được chính xác như:
Quy hoạch cẩu thả, phải điều chỉnh nhiều lần, có công trình đã
-
xây lại phải phá đi, nhà dân phải đền bù, giải tỏa nhiều lần theo điều
Trang 4chỉnh quy hoạch (như nắn quy hoạch, nắn đường để nhà thủ trưởng có mặt tiền v.v.) Thí dụ như nhiều cảng biển ở Miền Trung không có hàng hóa để vận chuyển, mật độ cảng biển quá dày đặc (30-40 km lại có một cảng biển)
Quy hoạch không điều tra đầy đủ về lịch sử, khảo cổ, cảnh quan,
-
xây dựng trên những mảnh đất có di tích lịch sử, phá hoại di tích, làm tổn thương cảnh quan, làm hư hỏng các công trình cần được bảo tồn hay xây dựng gây úng ngập, gây ô nhiễm v.v Những thiệt hại về cảnh quan, văn hóa là vô giá, vĩnh viễn xóa đi các di vật quý báu của lịch sử
Thiệt hại về môi trường (như mất rừng, làm biến động chế độ
-
thủy văn v.v đối với thủy điện) thường chưa được tính đầy đủ và rất khó
để kiểm toán xác định
Chi phí đền bù, giải tỏa khai khống hoặc tăng lên quá sự thật
-
cũng không dể kiểm toán, chứng minh
Công trình thi công chất lượng quá kém, phải sửa chữa nhiều
-
lần gây tốn kém, thậm chí bị lũ bão cuốn trôi (cầu Văn Thánh, đê bao, công trình thủy lợi v.v )
Những loại thiếu sót sau đây cần sự hợp tác chặt chẽ với các cơ quan liên quan để xác định trách nhiệm:
Quy trình xét duyệt, thẩm định từ dự án tiền khả thi, thiết kế
-
rườm rà, chế độ trách nhiệm không rõ ràng, đùn đẩy trách nhiệm, chủ đầu tư phải làm đi làm ại nhiều lần, nhiều tầng nấc, gây chậm trễ về thời gian, tốn kém công sức, chi phí của chủ đầu tư Theo kinh nghiệm, bình quân mất ít nhất 3 năm để thông qua một dự án đầu tư
Chi phí thu xếp vốn, giải ngân ở các ngân hàng sau khi có quyết
-
định đầu tư Tình trạng chiếm dụng vốn, chậm thanh toán cũng gây lãng phí, tổn thất không nhỏ cho công trình Không ít công trình không thể quyết toán được và không được kiểm toán
Màn kịch đấu thầu, “quân xanh, quân đỏ”, đấu thầu chân gỗ, ưu
-
ái công ty sân sau, lạm dụng chỉ định thầu do thời hạn thúc ép (các công trình 1000 năm Thăng Long), đòi hỏi các thủ tục rút gọn, ngoại lệ, phá
Trang 5vỡ các tiêu chuẩn, định mực đầu tư Kiểm toán có thể phát hiện những chi phí bất thường nhưng khó kết luận và quy trách nhiệm
Bán thầu diễn ra nhiều lần, dẫn đến sau mỗi lần vốn đầu tự bị xà
-
xẻo 3-5%, đến đơn vị thi công B 4 phảy, B 5 phảy dù nỗ lực đến mấy cũng không thể bảo đảm chất lượng, dẫn đến rút ruột công trình, thay thế vật tư Có hiện tượng công ty “4 không” vẫn thắng thầu (không vốn, không thiết bị, không kỹ thuật, không công nhân), sau đó nhượng lại ngay vẫn chót lọt
Ban Quản lý dự án thiếu chuyên nghiệp, quyền hạn, trách nhiệm
-
pháp lý không rõ ràng (như trường hợp PMU 18)
Trách nhiêm không rõ ràng, có dấu hiệu thông đồng từ khâu
-
thẩm định, xét duyệt thiết kế dự án đến nghiệm thu công trình, dẫn đến những sai sót trong tính năng của công trình, quyết toán khống, tính trùng lắp khổi lượng, đội chi phí lên cao Những thiếu sót ở các khâu này gây thiệt hại to lớn, hậu quả nghiêm trọng nhưng kiểm toán khó có thể vào cuộc, đòi hỏi sự phối hợp và hợp tác của các cơ quan khác Những phát hiện này cho thấy yêu cầu cấp bách phải cải cách các quy định về đầu tư công, giám sát và thực hiện đầu tư công
Có thể thấy, nước ta đã phân bổ và đầu tư một lượng rất lớn tiền vốn, tài nguyên vào kinh tế nhà nước nhưng quy định có quá nhiều sơ
hở, tạo ra động lực sử dụng vốn không hiệu quả, tạo ra miếng đất màu
mỡ cho tham nhũng, lãng phí
Vì vậy, một mặt cần khẩn trương bổ sung, sửa đổi Luật Ngân Sách, bảo đảm Luật Ngân Sách bao quát đầy đủ các khoản thu và chi thuộc ngân sách nhà nước, khắc phục tình trạng không ít khoản thu, chi ngân sách nằm ngoài sự giám sát của Luật Ngân Sách và Quốc Hội
Mặt khác, ta cũng không kiểm soát có hiệu lực động lực đầu cơ vào bất động sản, thị trường chứng khoán, tạo ra nợ xấu, bong bong bất động sản, tác động tiêu cực tới nền kinh tế
Chúng ta cũng cải cách quá chậm về thể chế Các xếp hạng quốc tế của nước ta lien quan đến thể chế đều ở mức thấp và chậm được cải thiện
Trang 6Hình 3 Thái lan xếp thứ 18 về môi trường kinh doanh thuận
Xing-ga-po và Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) dẫn đầu khu vực Đông Á Thái Bình Dương về môi trường
KD thuận lợi
IFC công bố luôn ở mức thấp và chậm được cải thiện (2014 xếp thứ 99, 2013: 98 )
Năng lực cạnh tranh quốc gia (do WEF công bố),
Bảng 3 Xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam, 2013-2014
Điểm Rank / 148 (1-7)
Thúc đẩy hiệu suất nền kinh tế 74 4
Độ hiệu quả của thị trường hàng hóa 74 4.3
Độ hiệu quả của thị trường lao động (51) 56 4.4 Mức độ phát triển thị trường tài chính 93 3.8
Các yếu tố đổi mới sáng tạo và độ tinh sảo kinh doanh 85 3.4
Trang 7Có thể thấy các chỉ số liên quan đến thể chế có xếp hạng thấp hơn nhiều (98) so với xếp hạng của nền kinh tế nói chung trong đó xếp hạng
về giáo dục đào tạo (95) và hấp thụ công nghệ (102) đều rất thấp
Đó là những trở ngại cần được khắc phục trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu giựa vào tiền vốn, khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ làm gia công sang nền kinh tế phát triển dựa trên sang tạo, công nghệ cao và nhân lực có chất lượng cao Chỉ số cảm nhận tham nhũng (do TI công bố) của nước ta đều ở mức rất thấp và chậm được cải thiện
Nguồn nhân lực chậm được cải thiện, hệ thống giáo dục - đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội Người tài không được trọng dụng trong bộ máy nhà nước làm cho chất lượng quản lý nhà nước bị giảm sút Tâm lý-xã hội có sự phân tâm nghiêm trọng, niềm tin giảm sút
Trong khi đó nhà nước đã và tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong đầu tư trực tiếp nguồn lực vào nền kinh tế thông qua các dự án đầu tư, các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình xóa đói, giảm
Trang 8nghèo v.v Nguồn vốn ODA to lớn cũng do bộ máy nhà nước phân bổ, điều hành với rất nhiều lãng phí, tiêu cực Ngoài ra, với vai trò chủ sở hữu đất đai, tài nguyên, rừng biển, nhà nước có thể cấp phép và phân
bổ lợi ích của tài nguyên trên quy mô rất lớn cho doanh nghiệp, trong
đó, người có quyền được phân phối lại theo tỷ lệ rất lớn Bộ máy hành chính, trong khi thực thi nhiệm vụ của mình, cũng đòi hỏi người dân và doanh nghiệp chi thêm ngoài pháp luật một tỷ lệ không nhỏ Những chi phí không chính thức đó làm tăng chi phí sản xuất ở nước ta, làm cho giá thành sản phẩm tăng cao và giảm lợi thế cạnh tranh Qua nhiều kênh khác nhau, hệ thống phân bổ nguồn lực và lợi ích này làm cho chênh lệch giàu nghèo tăng lên, năng lực cạnh tranh giảm sút và động lực kinh doanh của doanh nhân bị hạn chế
Hệ quả của thể chế này là một thiểu số trở nên giàu có quá nhanh chóng trong khi họ không có đóng góp gì vào thu ngân sách và tiến bộ
xã hội Có thể điểm qua một số ví dụ sau dây:
Việc đẩy cung tín dụng lên quá cao để đáp ứng sự bùng nổ của bất động sản, đầu tư chứng khoán đã làm cho lạm phát bị đẩy lên cao, làm cho thu nhập thực của người dân bị giảm sút và đời sống người dân châm được cải thiện Bất bình đẳng trong xã hội tăng lên, ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế - xã hội
Hình 4 Tăng trưởng tín dụng (%/năm) 2001-2012 (2013:+8,883%)
Trang 9Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng đã phát biểu: “Hiện nay
tôi nắm được dư nợ ngân hàng là 2 triệu tỷ, trong đó vào bất động sản khoảng 1 triệu tỷ” Cả con số thực và giải pháp cho vấn đề tồn kho, trong đó có tồn kho bất động sản đã được đặt ra với không ít quan ngại Chủ tịch Quốc hội không giấu sự sốt ruột khi nhận định nơi “chôn tiền lớn nhất là bất động sản” nhưng chưa được Chính phủ nhìn nhận, phân tích kỹ, lên phương án để giải quyết nợ xấu 90
Trong khi đó, nông nghiệp, nông dân, doanh nghiệp nhỏ và vừa rất thiếu vốn và không tiếp cận được với tín dụng
Giá nhà đất đã được đẩy lên quá cao, vượt xa khả năng thanh toán của người lao động:
Hình 5 Tốc độ tăng giá bất động sản gấp 3,4-4 lần tăng GDP/người 2000-2010,
giá BDS = 26 lần thu nhập
Sự phát triển lệch lạc đó một mặt chon một lượng vốn rất lớn vào bất động sản, mặt khác lại không đáp ứng được nhu cầu nhà ở có khả năng thanh toán thực tế của người lao động trong xã hội
Quá trình đó diễn ra trong nhiều năm với sự tham gia tích cực của chính quyền các cấp trong cấp giấy phép cho dự án, quy hoạch, thu đất của nông dân để giao đất cho nhà đầu tư bất động sản, xét duyệt và cấp khối lượng rất lớn tín dụng cho đầu tư bất động sản v.v Cuộc khủng hoảng bất động sản rõ rang đã góp phần đẩy lùi tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm tăng chênh lệch giàu-nghèo trong xã hội, tạo
90 http://tinngan.vn/Chu-tich-Quoc-hoi-Noi-chon-tien-lon-nhat-la-BDS_194-306-362057.html
Trang 10ra những đại gia và những doanh nhân giàu lên bằng các mối “quan hệ”, song cho đến nay chưa thấy có ai đứng ra nhận trách nhiệm
Liên tục các Đại Hội Đảng từ 1986 đến 2011 đã có nghị quyết về công nghiệp hóa và không hề có nghị quyết nào về bất động sản hay đầu
tư chứng khoán nhưng trong thực tế thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán đã bùng phát dữ dội và thu hút được một số vốn khổng lồ, làm giàu cho một số quan chức nhưng gây ra bong bong bất động sản, đầu cơ chứng khoán, đóng góp vào khủng hoảng ngân hang, nợ xấu Ví
dụ đó cho thấy cần phải xem xét rất nghiêm túc khâu tổ chức thực hiện nghị quyết, hiệu lực của nghị quyết trong cuộc sống và động lực thực hiện nghị quyết trong nền kinh tế thị trường
Nhà nước ban hành rất nhiều quy hoạch ngành, lãnh thổ nhưng hầu hết các quy hoạch đó đều không được thực hiện nghiêm túc Có thể
kể ra quy hoạch ngành săt thép, xi măng, đóng tàu hay quy hoạch cảng biển, sân bay, trường đại học v.v Đã đến lúc cần xem xét rất nghiêm túc hiệu lực của quy hoạch, tính khả thi của quy hoạch và những động lực thực hiện các quy hoạch được ban hành
Nếu sử dụng số vốn đã huy động được một cách có hiệu quả hơn thì quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế chắc chắn đã có kết quả khá hơn, chênh lệch giàu nghèo và bất công trong xã hội đã có thể giảm bớt
Có thể kết luận thể chế nhà nước và thể chế kinh tế thị trường hiện nay đều không khuyến khích tiến bộ khoa học-công nghệ.
Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi con số doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp khoa học - công nghệ chỉ là 87
và trong cả nước chỉ có khoảng 2000 doanh nghiệp hoạt động theo mô hình doanh nghiệp khoa học - công nghệ.91 Nếu xét hiện nay có khoảng 630.000 doanh nghiệp đã đăng ký và khoảng 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động thì con số trên thực sự đáng báo động!
91 Phạm Đức Nghiệm, Tạp chí khoa học-công nghệ Việt Nam số 7 2014, tr.6-8.
Trang 11Những ưu đãi của nhà nước đối với doanh nghiệp khoa học-công nghệ cũng khó đến được doanh nghiệp trong thực tế do sự chưa đồng bộ
về chính sách và quy định cũng như những cản trở của công chức Đã có doanh nghiệp khoa học - công nghệ báo cáo rằng chi phí “bôi trởn” để được nhận ưu đãi về thuế cũng gần bằng số thuế được miễn giảm được
ưu đãi trong khi chi phí về thời gian quá lớn nên doanh nghiệp xin tình nguyện không nhận ưu đãi nữa!
Các ưu đãi về tín dụng, về đất đai, về trang thiết bị hầu như chưa đi vào thực tế, (xem chú thích 2)
Để đáp ứng yêu cầu cấp bách nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và hàng hóa, dịch vụ, cần xem xét việc ban hành các chính sách điều tiết thu nhập từ chênh lệch giá đất, xem xét việc đánh thuế vào tài sản v.v và tạo them động lực để phân bổ nguồn lực vào vận dụng khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh Quốc Hội cần tăng cường giám sát việc thực hiện các Nghị Quyết của Quốc Hội, kịp thời phát hiện và khắc phục những lệch lạc trong thi hành các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tránh lặp lại hiện tượng thực hiện thoát ly quá xã nghị quyết như đã xảy ra
Đến năm 2020 nước ta chưa trở thành nước “cơ bản công
II
nghiệp hóa theo hướng hiện đại”
Kiên trì đường lối công nghiệp hóa, song tổ chức thực hiện còn nhiều vấn đề
Đại Hội VI của Đảng (19986) đã kiên trì đường lối công nghiệp hóa đất nước trong khi quyết định đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý quản lý kinh tế Sau khi các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô tan rã trong những năm 1989-1990, không chỉ gây ra nhiều hệ lụy về lý luận và tư tưởng mà còn làm biến mất mô hình kinh tế đã được xác định trước đây Hơn thế nữa, nước ta đã đột ngột mất đi nguồn viện trợ vật chất to lớn (xăng dầu, sắt thép, tín dụng dài hạn để phục vụ công nghiệp hóa v.v) và thị trường truyền thồng cho hàng xuất khẩu, nền kinh tế rơi