Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nướccho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có.Các thành phần của cán cân thanh toán: - Cán cân vãng lai,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
-*** -TIỂU LUẬN Môn: Chính sách thương mại quốc tế
ĐỀ TÀI: NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TỪ TRUNG
QUỐC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
Nhóm thực hiện: Nhóm 10
Lớp: TMA301(2-1314).7_LT Khóa: 51
Người hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thu Hằng
Hà nôi, tháng 3 năm 2014
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Giới hạn đề tài 1
3 Mục đích của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Tóm tắt nghiên cứu 2
CHƯƠNG I: CÁC LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHẬP SIÊU 3
1.1 Nhập siêu và các khái niệm liên quan 3
1.1.1 Hàng hóa 3
1.1.2 Nhập khẩu 3
1.1.3 Xuất khẩu 4
1.1.4 Cán cân thanh toán quốc tế 4
1.2 Mối quan hệ giữa nhập siêu với một số biến kinh tế vĩ mô 7
1.2.1 Nhập siêu và cán cân thanh toán quốc tế 7
1.2.2 Nhập siêu và tỷ giá hối đoái, lạm phát 8
1.3 Các yếu tố tác động đến nhập siêu 8
1.3.1 Chính sách thương mại 8
1.3.2 Chính sách đầu tư 12
1.3.3 Chính sách điều chỉnh tỷ giá hổi đoái 12
1.3.4 Cơ cấu nền kinh tế 13
1.4 Các quan điểm về ảnh hưởng của nhập siêu đối với nền kinh tế 15
1.4.1 Quan điểm tiêu cực 15
1.4.2 Quan điểm tích cực 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TỪ TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2001 – 2013 21
2.1 Khái quát về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 21
2.1.1 Giới thiệu chung 21
2.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc 23
Trang 32.2 Thực trạng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2013 24
2.2.1 Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động xuất và nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn 2001 – 2013 24
2.2.2 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2013 25 2.2.3 Thực trạng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2013 35
2.2.4 Thực trạng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2013 43
2.3 Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc 46
2.3.1 Nguyên nhân khách quan 46
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 50
CHƯƠNG 3: CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM TỪ THỰC TRẠNG NHẬP SIÊU TỪ TRUNG QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN 2001 – 2013 VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 55
3.1 Một số vấn đề đặt ra với Việt Nam 55
3.1.1 Vấn đề về cân bằng cán cân thương mại của Việt Nam 55
3.1.2 Vấn đề về việc điều hành tỉ giá hối đoái ở Việt Nam 56
3.1.3 Vấn đề về tính cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp Việt Nam 57
3.1.4 Vấn đề về sự ổn định của thị trường Việt Nam khi phụ thuộc quá sâu vào Trung Quốc…… 60
3.1.5 Vấn đề về ổn định an ninh chính trị xã hội của Việt Nam 61
3.1.6 Vấn đề về sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Việt Nam sang hướng hiện đại hóa…… 61
3.1.7 Các vấn đề khác 62
3.2 Một số khuyến nghị nhằm làm giảm tình trạng nhập siêu của Việt Nam đối với Trung Quốc 63
3.2.1 Các biện pháp nhằm hạn chế nhập khẩu từ Trung Quốc 63
3.2.2 Đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc 66
3.2.3 Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam phục vụ trong nước và phục vụ xuất khẩu 67
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
ACFTA ASEAN – China Free TradeArea Hiệp định khu vực mậu dịch tựdo ASEAN – Trung QuốcASEAN
Association of Southeast Asian
Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EPC Engineering, Procurement andConstruction Thiết kế, mua sắm và xây dựng
FDI Foreign Direct Investment Vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
ODA Official DevelopmentAssistance Hỗ trợ phát triển chính thức
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Cấu trúc của tài khoản vãng lai
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa tỷ giá – nhập siêu – lạm phát
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu thị trường xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc năm 2013 Biểu đồ 2.3: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2013
Biểu đồ 2.4 : Tỷ trọng nhập khẩu vào Việt Nam của Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2013
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu giá trị các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam với Trung Quốc từ năm 2009 đến tháng 4 năm 2011
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu hàng Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2013
Biểu đồ 2.7: Xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2013
Biểu đồ 3.1: Cán cân thương mại của Việt Nam đối với một số đối tác chính giai đoạn 1995 – 2011
Trang 6Bảng 2.6: Kim ngạch xuất nhập khẩu biên mậu 7 tỉnh biên giới giáp Trung Quốc giai đoạn 2006 – 2008
Bảng 2.7: Kim ngạch xuất khẩu biên mậu của các tỉnh biên giới giáp Trung Quốc
từ năm 2006 đến tháng 4/2009
Bảng 2.8: Nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2013
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trung Quốc là quốc gia có diện tích rộng lớn và số dân đông nhất trên thế giới.Hiện nay, nền kinh tế nước này đã vượt qua Nhật Bản vươn lên đứng vị trí thứhai trênthế giới sau Mỹ Quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Trung quốc thời giangần đây ngày càng gắn bó với nhau, kim ngạch buôn bán song phương tăng mạnh,hàng hóa trao đổi đa dạng phong phú Trung Quốc đang là bạn hàng thương mại lớnnhất của Việt Nam, kim ngạch thương mại song phương chiếm khoảng 12% tổng kimngạch thương mại của Việt Nam Tuy nhiên, điều này lại mang đến một thực tế hết sứcđáng quan ngại, đó là vấn đề nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc Trung Quốc hiệnđang là nước xuất siêu lớn nhất trong các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thươngmại với nước ta Mặc dù tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc sang Việt Nam
có những chuyển biến tích cực và đạt được những bước tiến nhất định song bên cạnh
đó vẫn còn tồn tại không ít những vấn đề tiêu cực cần phải được giải quyết
Để hiểu rõ hơn về vẫn đề này, nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc và một số vấn đề liên quan”.
2 Giới hạn đề tài
Đối tượng nghiên cứu
- Tình trạng nhập siêu hàng hóa từ Trung Quốc sang Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng , nguyên nhân, các vấn đề liên quan đến tình trạng Nhập siêu từ TrungQuốc vào Việt Nam và một số khuyến nghị
- Không gian: Thị trường Việt Nam
- Thời gian: trong 13 năm : Giai đoạn 2001-2013
Trang 83 Mục đích của đề tài
Đề tài được tiến hành nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng của vấn đề nhập siêu từTrung Quốc vào Việt Nam, phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng nhập siêu,chỉ ra một số vấn đề đặt ra từ tình hình trên và đóng góp một số khuyến nghị cơ bản
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
- Thu thập, tổng hợp, trình bày, số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiêncứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định
Phương pháp quan sát
- Thu thập và ghi nhận thông tin cá biệt liên quan đến đối tượng nghiên cứu
Phương pháp điều tra
- Quan sát và điều tra thực tế để lấy thông tin, số liệu cụ thể cho đề tài nghiên cứu
5 Tóm tắt nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu gồm trang, 8 biểu đồ, hình vẽ và 8 bảng biểu Ngoài phần mởđầu và kết luận, danh mục hình vẽ và biểu đồ, danh mục bảng số liệu, danh mục tài liệutham khảo, đề tài được kết cấu thành ba chương như sau:
Chương 1: Các lý luận cơ bản về nhập siêu
Chương 2: Thực trạng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc giai đoạn 2001 -2013 Chương 3: Các vấn đề đặt ra đối với Việt Nam từ thực trạng nhập siêu từ Trung Quốctrong giai đoạn 2001 – 2013 và một số khuyến nghị
Trang 9CHƯƠNG I: CÁC LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHẬP SIÊU
1.1 Nhập siêu và các khái niệm liên quan:
1.1.1 Hàng hóa:
Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị Theo nghĩa
hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể traođổi, mua bán được Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, muabán được
1.1.2 Nhập khẩu:
Trong lý luận thương mại quốc t ế , nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng
hóa và dịch vụ từ quốc gia khác Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nướcngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước Tuy nhiên, theo cáchthức biên soạn cán cân thanh toán quốc t ế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữuhình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại Còn việc muadịch vụ được tính vào mục cán cân phi thương mại
Vai trò của nhập khẩu: Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thương mại
quốc tế Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sốngtrong nước Nhập khẩu để bổ sung các hàng hóa trong nước trong sản xuất được, hoặcsản xuất không đáp ứng nhu cầu Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu vềnhững hàng hóa mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu Hai mặt nhậpkhẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ có tác động tích cực đến
sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân:
Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp hóa đất nước
Nhập khẩu giúp bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế đảm bảo pháttriển kinh tế cân đối và ổn định
Trang 10 Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.
Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu
1.1.3 Xuất khẩu:
Trong lý luận thương mại quốc tế, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho
nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hànghóa cho nước ngoài
Vai trò của xuất khẩu: Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế
của các quốc gia trong phân công lao động quốc tế, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đấtnước Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện với nhiềuloại hàng hóa khác nhau Phạm vi xuất khẩu rất rộng cả về không gian và thời gian.Nếu các quốc gia tận dụng tốt các lợi thế đó, hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quantrọng trong sự tăng trưởng nền kinh tế quốc dân:
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đấtnước
Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuấtphát triển
Xuất khẩu tạo thêm nhiều việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nướcta
1.1.4 Cán cân thanh toán quốc tế:
1.1.4.1 Cán cân thanh toán quốc tế:
Cán cân thanh toán quốc tế (Balance of Payment – BOP) ghi chép những giao dịch
kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định.Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trútrong nước hay chính phủ của quốc gia đó Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hànghóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản Thời kỳ xem xét
có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm Những giao dịch đòi hỏi sựthanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào
Trang 11bên tài sản nợ Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nướccho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có.
Các thành phần của cán cân thanh toán:
- Cán cân vãng lai, còn gọi là tài khoảng vãng lai trong cán cân thanh toán của
một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa người cư trútrong nước với người cư trú ngoài nước Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán củangười cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ" (theotruyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ) Còn những giao dịch dẫn tới sựthanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi vàobên "có" (ghi bằng mực đen) Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớnhơn bên nợ
- Theo quy tắc mới về biên soạn báo cáo cán cân thanh toán quốc gia do IMF soạnnăm 1993, tài khoản vãng lai có cấu trúc như sau
Trang 12Hình 1.1: Cấu trúc của tài khoản vãng lai
Tất cả các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộpchung vào trong tính toán này
Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là thành phần quan trọng nhấttrong tài khoản vãng lai Tuy nhiên, đối với một số quốc gia có phần tài sản hay tiêusản ở nước ngoài lớn thì thu nhập ròng từ các khoản cho vay hay đầu tư có thểchiếm tỷ lệ lớn
Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất khẩuròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước, nên tàikhoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này
Cùng với tài khoản vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, nó hợp thành cán cânthanh toán
Tài khoản vãng lai
Cán cân thương mại hàng hóa
Xuất khẩu Nhập khẩu
Cán cân thương mại phi hàng hóa
Cán cân dịch vụ
Kiều hối
Thu nhập từ đầu tư
Cán cân thu nhập
Vận tải
Du lịch Dịch vụ khác
Các chuyển khoản
Trang 13 Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, hay khitiết kiệm nhiều hơn đầu tư Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gianhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hàm ýquốc gia gặp hạn chế trong tìm nguồn tài chính để thực hiện nhập khẩu và đầu tưmột cách bền vững Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt tài khoản vãnglai tính bằng phần trăm của GDP lớn hơn 5, thì quốc gia bị coi là có mức thâm hụttài khoản vãng lai không lành mạnh.
1.1.4.3 Cán cân thương mại:
- Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán
quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhậpkhẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũngnhư mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) Khi mức chênh lệch
là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệchnhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng 0,cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng
- Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toánquốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhậpkhẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũngnhư mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) Khi mức chênh lệch
là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệchnhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng 0,cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng
- Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại Khicán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trịdương Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mạimang giá trị âm Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại Tuy nhiên, cần lưu
ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương
Trang 14mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểucán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫndịch vụ.
- Nhập siêu là khái niệm dùng mô tả tình trạng Cán cân thương mại có giá trị nhỏhơn 0 (zero) Nói cách khác, khi kim ngạch nhập khẩu cao hơn xuất khẩu trong mộtthời gian nhất định, đó là nhập siêu Nhập siêu là hiện tượng phổ biến ở những nước
có nền kinh tế thị trường phát triển theo hướng mở
1.2 Mối quan hệ giữa nhập siêu với một số biến kinh tế vĩ mô
1.2.1 Nhập siêu và cán cân thanh toán quốc tế
- Đây là ảnh hưởng lớn của nhập siêu đối với nền kinh tế, và dựa vào đó người ta cóthể điều chỉnh cán cân thương mại nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô
- Đối với các nước đang phát triển, khi xuất khẩu dịch vụ còn chiếm tỷ trọng nhỏ bétrong tổng kim ngạch xuất khẩu và các khoản chuyển giao còn chưa đáng kể, thì sựthâm hụt của cán cân thương mại quyết định tình trạng cán cân tài khoản vãng lai
- Để đánh giá khả năng chịu đựng của cán cân tài khoản vãng lai, người ta thường sửdụng các chỉ tiêu như tỷ lệ giữa giá trị xuất khẩu và thu nhập quốc dân, chỉ số nợtrên xuất khẩu, tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu trên tăng trưởng xuất khẩu, tỷ lệ mức lãisuất trả nợ trên mức tăng xuất khẩu
1.2.2 Nhập siêu và tỷ giá hối đoái, lạm phát:
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa tỷ giá – nhập siêu – lạm phát
- Khi lạm phát tăng cao, đồng nội tệ sẽ bị mất giá Khi đồng tiền phá giá (giảm giá),giá hàng xuất khẩu trở nên rẻ một cách tương đối sẽ giúp xuất khẩu thuận lợi hơn,
Nhập siêu
Lạm phát
Tỷ giá
Trang 15trong khi đó hàng nhập khẩu đắt một cách tương đối, và nhu cầu hàng nhập khẩugiảm Cả hai hiệu ứng này tác động đồng thời làm cải thiện cán cân thương mại Từ
đó kiềm chế nhập siêu Nhưng lạm phát cao lại là một vấn đề lớn mà tất cả cácnước đều không mong muốn Lạm phát cao sẽ khiến sức mua bị suy giảm, thấtnghiệp tăng cao, các vấn đề liên quan đến an ninh kinh tế - chính trị sẽ bị đe dọanghiêm trọng
- Nếu giữ lạm phát ở mức quá thấp, nhập siêu sẽ tăng cao một cách tương đối, điềunày làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Dự trữ ngoại hối sẽ phải dùng để bù thâmhụt Nợ công sẽ tăng cao, nguy cơ khủng hoảng sẽ tiềm tàng và đồng nội tệ sẽ trởnên mất ổn định, làm tỷ giá biến đổi
- Vì vậy, ổn định tỷ giá, giữ lạm phát ở mức trung bình và kiềm chế nhập siêu chính
là những vấn đề lớn nhất mà một quốc gia quan tâm điều chỉnh khi tham gia vàothương mại quốc tế
1.3 Các yếu tố tác động đến nhập siêu
1.3.1 Chính sách thương mại
Một mặt, do những tác động cũng như ảnh hưởng của nền kinh tế vĩ mô đến cáncân thương mại nói chung, hiện tượng nhập siêu nói riêng Mặt khác, không thể phủnhận rằng hiện trạng này xuất phát từ nguyên nhân chủ quan mang tính trực tiếp, quyết
định đó chính là hệ thống cơ chế, chính sách quản lý, điều hành xuất nhập khẩu của
Nhà nước
Nhìn nhận tổng quát cho thấy rẳng hệ thống cơ chế, chính sách thương mại củanước ta vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập Thực tế đã chứng minh và báo độngrằng chúng ta đang thực sự cần xây dựng sự đồng bộ, nhất quán, minh bạch, dài hạn vàbền vững trong quá trình quản lý xuất nhập khẩu Phương pháp quản lý hành chính, phithị trường đối với thương mại quốc tế đang bị lạm dụng Không ít những chính sách đãđược đề ta với mục tiêu hận chế nhập siêu tuy nhiên vẫn mang tính chất ứng phó, ngắnhạn và hiệu quả chưa cao Cụ thể, sự cải thiện mới chỉ được nhìn nhận trong một sốnhóm hàng chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng quan kim ngạch nhập khẩu nước ta
Trang 16Bên cạnh nhu cầu bức thiết về một hệ thống cơ cấu chính sách thương mại thiết thực,khả thi thì việc điều tiết, quản lý hệ thống ấy cũng nảy sinh ra những vấn đề đang lưutâm Có thể nhận thấy rằng việc điều tiết quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu chưađược thực hiện tốt Để thấy rõ hơn vấn đề này, chúng ta sẽ cùng xem xét hai nội dung
trong chính sách thương mại đó là: chính sách khuyến khích xuất khẩu và chính sách
nhập khẩu.
1.3.1.1 Khuyến khích xuất khẩu:
- Chính sách khuyến khích xuất khẩu của nhà nước: Chia thành ba nhóm:
(1) Nhóm chính sách và biện pháp liên quan đến tổ chức nguồn hàng, cải biến cơcấu xuất khẩu
Xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Gia công xuất khẩu
Các biện pháp đầu tư liên quan đến tổ chức nguồn hàng, cải biến cơ cấu xuất khẩu
Xây dựng các khu kinh tế mở
(2) Nhóm chính sách và biện pháp tài chính
Tín dụng xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu
Chính sách tỷ giá hối đoái
Thuế xuất khẩu và ưu đãi về thuế
(3) Nhóm chính sách và biện pháp liên quan đến thể chế - xúc tiến xuất khẩu
Các biện pháp về thể chế
Thực hiện xúc tiến xuất khẩu
- Tác động:
Trang 17 Tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu mở rộng và phát triển, đặc biệt giúp các nhàxuất khẩu non trẻ tìm kiếm thị trường và thúc đẩy các nhà sản xuất trong nước dễdàng hướng ra thị trường thế giới.
Phát triển đầu tư, sản xuất có hiệu quả và tiết kiệm các nguồn lực
Cải thiện các yếu tố có tác động lành mạnh đến cán cân thanh toán
Điều tiết xuất, nhập khẩu; hạn chế hiện tượng nhập siêu
- Hạn chế:
Xét về tác động đối với hiện tượng nhập siêu, việc đẩy mạnh xuất khẩu giúp cảithiện và cân bằng cán cân thanh toán Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại những bấtcập đòi hỏi sự nhìn nhận thấu đáo và cách giải quyết kịp thời Tiêu biểu trong số đó cóthể kể đến:
Xuất khẩu cao su nhưng lại phải nhập săm lốp
Xuất khẩu dệt may nhưng phải nhập khẩu hầu hết nguyên, phụ liêụ
Xuất khẩu lương thực, thực phẩm nhưng nhập với kim ngạch lớn thức ăn chăn nuôi
Đồng ý rằng, những hiện tượng kể trên còn do những nguyên do khác như cácngành công nghiệp phụ trợ còn hạn chế, tuy nhiên không thể phủ nhận rằng chính sáchđẩy mạnh xuất khẩu vẫn còn tồn tại những thiếu sót Bằng chứng xét về một mặt hàng
mà chúng ta vốn có lợi thế và chuyên sâu xuất khẩu:
Thúc đẩy xuất khẩu than các năm trước đến nay chúng ta bắt đầu phải nhập khẩuthan
Đáng chú ý là theo tính toán về cân bằng năng lượng và cân đối giữa yêu cầu pháttriển các nhà máy nhiệt điện, Bộ Công Thương dự kiến từ năm 2015, Việt Nam mớiphải nhập khẩu than tuy nhiên điều này đã xảy ra sớm hơn dự kiến khi vào tháng6/2013, gần 10000 tấn than được nhập khẩu về cảng Cát Lái, thành phố Hồ Chí Minh.Điều nghịch lý ở chỗ loại nhập khẩu chính là loại than mà chúng ta đang tích cực xuấtkhẩu!
Trang 18Qua minh chứng trên có thể thấy những tồn tại trong cơ chế quản lý, điều hành xuấtnhập khẩu, đặc biệt trong bối cảnh nhà nước thúc đẩy xuất khẩu và đối với ngay cả vớinhững mặt hàng mà chúng ta vốn có lợi thế!
1.3.1.2 Quản lý nhập khẩu:
- Chính sách quản lý nhập khẩu:
Đẩy nhanh các dự án đầu tư sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu
Phát triển, khai thác tốt thị trường nội địa, khuyến khích tiêu dùng các sản phẩmtrong nước
Hạn chế nhập khẩu những mặt hàng xa xỉ, chưa thiết yếu hoặc các mặt hàng trongnước có khả năng sản xuất
Áp dụng các biện pháp kỹ thuật để kiểm soát nhập khẩu
Kiểm soát việc sử dụng ngoại tệ, chuyển ngoại tệ ra nước ngoài
Kiểm soát việc bán ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa không thiết yếu
Kiểm soát các đơn vị có tăng trưởng cho vay ngoại tệ cao
- Tác động:
Tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hoá khi việc nhậpkhẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng chongành sản xuất trong nước
Hạn chế hiện tượng nhập siêu
- Hạn chế: Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp hiệu quả để điều chỉnh cán cân
thương mại:
Nguy cơ bị trả đũa thương mại vì vì phạm những cam kết tự do hóa thương mại
Hạn chế nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu trong nước sẽ làm nền kinh tế đình trệ
do chưa thể cung cấp hàng thay thế nhập khẩu trong ngắn hạn
Việc bảo hộ thị trường cũng làm các doanh nghiệp trong nước chậm thích ứng vớimôi trường cạnh tranh quốc tế, không thúc đẩy quá trình tiếp thu công nghệ hiện đạicho các ngành sản xuất trong nước
Trang 191.3.2 Chính sách đầu tư:
- Chính sách đầu tư:
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp hoặc nguồn viện trợ nước ngoài, kiểu hối
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đầu tư trong nước
- Tác động:
Đầu tư và nhập khẩu có mối quan hệ với nhau Mức độ này tùy thuộc vào mức độbảo hộ thương mại và chiến lược đầu tư trong từng giai đoạn
Gia tăng vốn đầu tư nước ngoài giúp bù đắp thâm hụt cán cân thương mại
Đầu tư trong nước theo định hướng xuất khẩu hay thay thế nhập khẩu có ảnh hưởngtới cán cân thương mại Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư cũng cóảnh hưởng đáng kể đến cán cân thương mại
- Hạn chế:
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu trong khi khu vực trong nước nhậpsiêu Điều này thể hiện gia tăng xu hướng đầu tư thay thế nhập khẩu và yếu kémcủa khu vực doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước Đây làmột thách thức rất lớn đối với nền kinh tế nước ta
Hiệu quả đầu tư chưa cao, đầu tư còn dàn trải
1.3.3 Chính sách điều chỉnh tỷ giá hổi đoái
Tỷ giá hối đoái là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởngđến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trườngquốc tế
- Các chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái bao gồm:
Tăng giá trị đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ
Phá giá đồng nội tệ
- Tác động:
Trang 20 Đồng nội tệ tăng giá so với đồng ngoại tệ làm gia tăng nhập khẩu so với xuất khẩu,làm xuất hiện hoặc gây trầm trọng hơn thâm hụt cán cân thương mại do giá cả củahàng hóa nhập khẩu rẻ đi trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đốivới người nước ngoài.
Phá giá đồng nội tệ làm tăng giá trong nước của hàng nhập khẩu, giảm giá ngoàinước của hàng xuất khẩu, từ đó cải thiện sức cạnh tranh quốc tế của hàng trongnước Kết quả: xuất khẩu tăng lên, nhập khẩu giảm đi
- Hạn chế: Khi vận dụng các chính sách, cần sự điều chỉnh linh hoạt bởi lẽ do sự tác
động của các yếu tố:
Sự chậm trễ trong phản ứng của người tiêu dùng
Sự chậm trễ trong phản ứng của người sản xuất
Sự cạnh tranh không hoàn hảo
Việc giảm giá đồng nội tệ có thể không cải thiện được cán cân thương mại trongthời gian trước mắt do phụ thuộc vào giá nội địa của hàng xuất khẩu, lượng hàngxuất khẩu, lượng hàng nhập khẩu,
Ta có thể thấy rõ tác động này qua ví dụ của các năm 2007 và 2009: tốc độ nhậpsiêu ngày càng tăng mạnh nhưng tỷ giá hầu như không thay đổi; ngược lại trong nửacuối năm 2008, bất chấp tốc độ nhập siêu giảm dần, đồng Việt Nam lại mất giá mạnh
1.3.4 Cơ cấu nền kinh tế
- Cơ cấu nền kinh tế:
Xuất khẩu thô (dầu thô, thực phẩm chưa qua chế biến,…), gia công cho nước ngoài(may mặc, lắp ráp, ) còn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nước ta, dẫn đến giátrị gia tăng thấp, khả năng cạnh tranh kém Việt Nam thực sự thiếu các ngành côngnghiệp phụ trợ để đáp ứng cho việc sản xuất hoàn thiện tất cả các khâu của quátrình sản xuất, thường xuyên phải nhập khẩu các nguyên vật liệu, máy móc từ nướcngoài Điều này không chỉ hạn chế giá trị gia tăng mà còn khiến nền kinh tế nước tatrở nên phụ thuộc
Trang 21 Cơ cấu ngành kinh tế đã có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa, nhưng còn chậm và năng lực cạnh tranh của các ngành công còn thấp, chưacạnh tranh được với hàng nhập khẩu
Tóm tại, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm sang các ngành có tiềm năng tăng
trưởng xuất khẩu, hỗ trợ xuất khẩu và có giá trị gia tăng cao.
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều chuyển biến tích cực cho nền kinh tế
Cơ chế quản lý kinh tế đã có những bước cải cách, nhưng chưa hoàn thiện
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều chuyển biến tích cực cho nền kinh tế
Cơ chế quản lý kinh tế đã có những bước cải tiến nhưng chưa hoàn thiện
- Hạn chế:
Mô hình tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào yếu tố vốn
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm sang các ngành có tiềm năng tăng trưởng xuấtkhẩu, hỗ trợ xuất khẩu và có giá trị gia tăng cao
Bất cân đối giữa thị trường trong nước và nước ngoài với nhiều đầu vào sản xuấtquan trọng phải nhập khẩu
Văn hóa, tâm lý tiêu dùng sính ngoại còn nặng nề
Chưa khai thác tốt lợi thế so sánh và nâng cao mạnh mẽ năng lực cạnh tranh
Trang 22 Chưa khai thác tốt các cơ hội và chưa chủ động hạn chế tác động bất lợi của hộinhập kinh tế quốc tế
Thể chế kinh tế chưa hoàn thiện
1.4 Các quan điểm về ảnh hưởng của nhập siêu đối với nền kinh tế:
1.4.1 Quan điểm tiêu cực:
- Thứ nhất, nhập khẩu lạm phát gây khó khăn cho việc điều hành các chính sách kinh
tế vĩ mô nhằm đạt được các mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát lạm phát
Nhập khẩu hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị nhập khẩu và trongtổng cung ứng hàng hóa tiêu dùng trên thị trường trong nước và do vậy, những biếnđộng về giá nhập khẩu hàng tiêu dùng có thể không tác động tức thì tới giá cả hàngtiêu dùng và do đó tới lạm phát và CPI
Mặc dù vậy, cơ cấu đầu vào sản xuất theo nguồn của nước ta cho thấy nhập khẩu cótác động không nhỏ tới giá cả trong nước vì: (i) đầu vào sản xuất nhập khẩu chiếm
tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng cung ứng đầu vào sản xuất; (ii) một số đầu vàosản xuất được sử dụng trong nhiều ngành kinh tế và cả trong tiêu dùng chủ yếuđược nhập khẩu; (iii) giá cả nguyên liệu nhập khẩu biến động mạnh so với các hànghóa nhập khẩu khác
Với những đặc điểm như vậy, giá cả nhập khẩu sẽ tác động mạnh tới chi phí sảnxuất của nhiều ngành sản xuất, gây áp lực tới giá bán và giá sản phẩm tiêu dùngcuối cùng Trong điều kiện nhập khẩu chủ yếu phục vụsản xuất hay nói cách khác
là hỗ trợ tăng trưởng, việc điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát nhập khẩutrong trường hợp có dấu hiệu của nhập khẩu lạm phát nhằm ổn định giá cả và duytrì tăng trưởng là không dễ dàng
- Thứ hai, nhập siêu gây bất ổn cán cân thanh toán tổng thể, từ đó tạo áp lực tới cung
cầu ngoại tệ và tỷ giá
Nhập siêu là nguyên nhân chính dẫn tới thâm hụt cán cân vãng lai trong nhiều nămgần đây Tỷ lệ thâm hụt cán cân vãng lai/GDP năm 2007 là -9,87%, năm 2008 là -11,93% , năm 2009 là -6,67% và năm 2010 dự báo là -5,73% (cao hơn mức cảnh
Trang 23báo 5% của IMF); trong khi đó tỷ lệ nhập siêu/GDP luôn ở mức cao từ khoảng 20% GDP trong thời gian này.
14- Cán cân vốn và tài chính liên tục thặng dư là nguồn tài trợ chủ yếu thâm hụt cán cânvãng lai Mặc dù vậy, dưới áp lực nhập siêu cao, cán cân thanh toán tổng thể vẫn bịthâm hụt, cùng với yếu tố tâm lý nắm giữ ngoại tệ ssã dẫn tới mất cân đối cung- cầungoại tệ theo hướng dư cầu và gây áp lực tăng tỷ giá Tiền đồng đã mất giá mạnh,giảm 8,8% năm 2008 và 5- 6% năm 2009
- Thứ ba, nhập siêu tạo áp lực suy giảm dự trữ ngoại hối.
Nhập siêu là nguyên nhân chính làm tăng nguy cơ thâm hụt cán cân thanh toán và
từ đó tạo áp lực giảm dự trữ ngoại hối nhà nước do Ngân hàng Nhà nước phải bánngoại tệ để can thiệp trên thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá Trong các năm
2009 và 2010, do cán cân thanh toán thâm hụt lớn, Ngân hàng Nhà nước đã phảibán ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng, dẫn đến dự trữ ngoại hối nhà nước sụt giảmtương đối
- Thứ tư, nhập siêu làm công tác kiểm soát, dự báo tiền tệ, tín dụng gặp khó khăn
- Thứ năm, nhập siêu gây biến ñộng lớn trong chi tiêu ngoại tệ và cân ñối vốn của
các ngân hàng thương mại
- Thứ sáu, quan trọng hơn là gia tăng nợ công.
Nhập siêu thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng cạn kiệt ngoại tệ, khiến các chínhphủ phải gia tăng vay nợ bằng cách phát hành thêm trái phiếu.Trong một thời gian dài,
Trang 24nhập siêu sẽ khiến con số nợ công của một nước ngày càng tăng vì suy cho cùng cácnước đều phải dựa vào xuất khẩu để trả nợ và lãi.
- Thứ bảy, nhập siêu là nhân tố gây khủng hoảng
Xét ở mặt này, nhập siêu có thể gây ra khủng hoảng nợ công như tại Hy Lạp,nước nhập siêu tới 13,5% GDP (năm 2009), dẫn đầu top các nền kinh tế bị nhập siêutính theo tỷ lệ với GDP Nước này đã rơi vào cuộc khủng hoảng nợ công tồi tệ nhấtchâu Âu kể từ đầu năm 2010 và cho đến nay vẫn chưa cải thiện tình hình, dù đã nhậnđược các gói ứng cứu từ bên ngoài Hoặc như trường hợp của Hoa Kỳ, nước có kimngạch nhập siêu tuyệt đối (tính bằng USD) lớn nhất Hoa Kỳ hiện cũng lâm vào mộtcuộc khủng hoảng nợ công, nhưng ở mức độ và sắc thái khác vơi Hy Lạp Hiện nướcnày đã chạm trần nợ công và có nguy cơ vỡ nợ tạm thời nếu Chính phủ và Quốc hộikhông đạt được thỏa thuận nâng trần nợ trước ngày 2/8/2011.Ngoài ra, một số nhàchuyên môn tin rằng nhập siêu lớn là một trong các nguyên nhân chính dẫn tới cuộcKhủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 – 1998
- Thứ tám: gia tăng thất nghiệp
Một nghiên cứu của tiến sỹ Alec Feinberg sáng lập viên Citizens for Equal Trade,lại gắn nhập siêu với tỷ lệ thất nghiệp Dựa trên những dữ liệu từ 25 nước có mức nhậpsiêu và xuất siêu lớn nhất thế giới (trong giai đoạn 2009-2010), nhóm nghiên cứu củatiến sỹ Feinberg cho biết tỷ lệ tác động tới thị trường việc làm của tình trạng nhập siêudao động từ 60-72%.Những nước nhập siêu cao có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn và ngượclại Tiến sỹ Feinberg cũng lưu ý hai trường hợp là Hoa Kỳ và Trung Quốc Hoa Kỳ lànước có mức nhập siêu tính theo giá trị USD lớn nhất thế giới, với 633 tỷ USD (năm2010), lớn hơn giá trị kim ngạch nhập siêu của tất cả các nước nhập siêu trong top 10(trừ Hoa Kỳ) cộng lại Hoa Kỳ có tỷ lệ thất nghiệp 9,6% (tại thời điểm thực hiệnnghiên cứu) Trong khi đó, Trung Quốc có Thặng dư thương mại tới 296 tỷ USD vàonăm 2009, và có tỷ lệ thất nghiệp chỉ 4,3%
- Cuối cùng là nhấn chìm thị trường chứng khoán
Trang web chuyên giải thích về đầu tư InvestOpedia cho rằng đối với Thị trườngchứng khoán, nhập siêu kéo dài có thể gây nên những hậu quả tai hại Giải thích của
Trang 25InvestOpedia cũng dựa trên 2 tác động chính của tình trạng nhập siêu là gia tăng nợcông và làm suy yếu sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước Nếu trong một thời giandài một đất nước nhập khẩu nhiều hàng hóa hơn xuất khẩu, họ sẽ lâm vào cảnh nợ nần,trong khi hàng hóa nội địa ngày càng bị hàng ngoại lấn át.Qua thời gian, giới đầu tư sẽnhận thấy tình trạng suy yếu trong tiêu thụ hàng hóa nội địa, một diễn biến gây tổn hạicho các nhà sản xuất trong nước và cũng làm suy giảm giá trị cổ phiếu của họ Thờigian càng kéo dài, giới đầu tư càng nhận ra rằng cơ hội đầu tư tốt ở thị trường nội địacàng ít đi, và bắt đầu chuyển hướng sang các thị trường cổ phiếu ở nước khác Điều đó
sẽ làm giảm nhu cầu đối với thị trường cổ phiếu ở trong nước và khiến thị trường ngàycàng đi xuống Thực trạng của Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay có thể rơivào trường hợp này.Riêng tại Hoa Kỳ, vì sao nước này có kim ngạch nhâp siêu khổng
lồ mà thị trường chứng khoán của họ vẫn tăng (so với đầu năm)? Xét theo tỷ lệ GDP,nhập siêu của Hoa Kỳ chỉ chiếm 4,3% (năm 2010), nhỏ hơn gần 3 lần so với tỷ lệ 12%của Việt Nam Ngoài ra, thị trường chứng khoán Hoa Kỳ vẫn có sức hút vì có tới hơn70% báo cáo doanh thu của các công ty cao hơn dự báo, trong khi giới đầu tư quốc tế
và các nước vẫn tiếp tục mua vào USD vì đã trót nắm quá nhiều tài sản bằng USD vàkhông muốn nó sụp đổ Dù vậy, tính đến ngày 8/6/2011, Thị trường chứng khoán Hoa
Kỳ vẫn đang ở trong đợt rớt điểm kéo dài gần 6 tuần lễ, dài nhất kể từ năm 2004 đốivới chỉ số Dow Jones Industrial Average
1.4.2 Quan điểm tích cực:
Việc nhập khẩu công nghệ, máy móc trang thiết bị cao cấp giúp nâng cao trình độ
kỹ thuật, tiến gần trình độ phát triển cao của thế giới, nhờ đó tạo ra các sản phẩm xuấtkhẩu có chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao
Trong điều kiện ngành sản xuất nguyên liệu cao cấp trong nước chưa phát triển thìviệc nhập khẩu nguyên liệu giúp cho các nước này thực hiện tốt chiến lược côngnghiệp hóa, hiện đại hóa hướng về xuất khẩu
Hàng nhập khẩu trong nhiều trường hợp tạo môi trường cạnh tranh kích thích sảnxuất trong nước hoàn thiện và phát triển
Trang 26Nhập khẩu từ nguồn vốn ODA của các tổ chức tài chính quốc tế giúp cải thiện mauchóng hạ tầng cơ sơ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế.
Về cân đối tổng thể của nền kinh tế, nhập siêu chính là một biểu hiện của huy độngnguồn lực bên ngoài vào tăng trưởng và phát triển kinh tế
Thực tế phát triển kinh tế quốc tế cho thấy các nước, nhất là các nước đang pháttriển, trong thời kỳ đầu phát triển đều phải huy động vốn đầu tư bên ngoài để hỗ trợphát triển kinh tế trong điều kiện nguồn vốn trong nước hạn chế Ở nước ta, để đảmbảo mục tiêu tăng trưởng GDP, chênh lệch giữa tiết kiệm - đầu tư trong khoảng 6-14%GDP trong thời kỳ 2006 - 2010 và nhập siêu ở mức trên 14% GDP Với cơ cấu nhậpkhẩu chủ yếu là đầu vào đầu tư và nguyên liệu sản xuất, có thể thấy nhập khẩu hànghóa chủ yếu đi vào khu vực sản xuất và do vậy, nhập siêu thực sự là nguồn lực bênngoài hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế
Về trình độ phát triển của hàng hóa nhập khẩu, nhập siêu có thể là một kênh hỗ trợviệc tạo năng lực mới và hiện đại hóa nền kinh tế để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao,
có khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp phải được trang bị máy móc, thiết bị phùhợp
Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu phát triển, máy móc, thiết bị sản xuất trong nước thườngchưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hóa có chất lượng, có khả năng cạnh tranh.Nhập khẩu máy móc, thiết bị là cách thức giúp các doanh nghiệp có thể nhanh chóngtạo dựng năng lực sản xuất hiện đại trong điều kiện trình độ công nghệ trong nướcchưa đáp ứng được yêu cầu Việc nhập khẩu các thiết bị dệt, may hiện đại và côngnghệ viễn thông là những ví dụ về tác động tích cực của nhập khẩu tới tạo ra năng lựcsản xuất mới, có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao
Về đối tượng nhập khẩu, nhập siêu là hình thức thể hiện của quá trình hình thành cơ
sở sản xuất của các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Thu hút vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài là điều các nước đang phát triển thường thực hiện với mong muốn có
Trang 27thêm nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế, tiếp thu công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý,tác phong công nghiệp và tiếp cận thị trường xuất khẩu Đầu tư trực tiếp nước ngoàităng mạnh và có những đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế nước ta trong nhữngnăm qua.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TỪ TRUNG QUỐC
GIAI ĐOẠN 2001 – 2013
2.1 Khái quát về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc
Trang 282.1.1 Giới thiệu chung
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có đường biên giới chung dài hơn1350km, trong đó Việt Nam có sáu tinh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang,Lai Châu và Lào Cai tiếp giáp với hai tỉnh (khu tự trị) của Trung Quốc là Quảng Tây
và Vân Nam
Quan hệ chính trị- ngoại giao, kinh tế- thương mại và giao lưu văn hóa giữa ViệtNam và Trung Quốc đã có từ lâu đời và đã trở thành mối quan hệ truyền thống bềnvững Tuy nhiên, các thời kì lịch sử với nhiều biến động về chính trị- xã hội cũnggâynhiều ảnh hưởng đến mối quan hệ thương mại giữa hai nước nhưng chưa bao giờlàm triệt tiêu mối quan hệ đó Trái lại, hoạt động kinh tế, thương mại giữa hai nướcngày càng có điều kiện thuận lợi phát triển, phù hợp với xu thế hòa bình, ổn định vàphát triển trong khu vực và thế giới
Có thể nói việc đấy mạnh mối quan hệ thương mại qua biên giới Việt – Trung đãđáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, góp phần làm tăng ngân sách nhà nước,nâng cao đời sống nhân dân, làm thay đổi bộ mặt kinh tế- xã hội và văn hóa của nhândân hai vùng biên giới, góp phần xây dựng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóacủa mỗi nước, song đã nảy sinh những vấn đề phức tạp cần phải nhìn nhận, đánh giámột đúng đắn
Quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam – Trung Quốc trong tiến trình lịch sử
Kể từ khi Việt Nam lập quốc, do nhu cầu giao lưu tự nhiên của cư dân hai nước,Việt Nam và Trung Quốc đã sớm thiết lập mối quan hệ bang giao với nhau nói chung
và quan hệ kinh tế- thương mại nói riêng Tuy các cuộc chiến tranh nhiều lần gây giánđoạn mối quan hệ kinh tế - thương mại nhưng chỉ là mối quan hệ này vẫn được duy trì
và phát triển đến ngày hôm nay
Giai đoạn từ đầu thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX, chính sách xuyên suốt trong lịch sửcác triều đại nước ta là độc lâp, tự chủ, luôn áp dụng nguyên tắc “hòa hiếu với phươngBắc”, nới lỏng, cho tự do buôn bán, trao đổi hàng hóa, miễn là tôn trọng và thực hiệnđúng pháp luật thời bấy giờ
Trang 29Sau này, khi hai nước đều giành được độc lập, Chính phủ hai nước bắt đầu ký cácHiệp định về mậu dịch, Hiệp định về tiền tệ và Hợp đồng xuất nhập khẩu vào tháng 9năm 1951, sau thắng lợi của chiến dịch biên giới 1950.
Trong thời kỳ khôi phục và xây dựng kinh tế ở miền Bắc,ngày 10/2/1955, trụcđường sắt Hà Nội- Mục Nam Quan đã được khánh thành, tạo điều kiện thuận lợi choviệc vận chuyển hành khách và hàng hóa từ Thủ đô Hà Nội lên biên giớ phía Bắc đểtrao đổi hàng hóa với Trung Quốc Bên cạnh đó xuất hiện hàng loạt các công ty xuấtnhập khẩu biên giới được thành lập với nhiệm vụ trao đổi hàng hóa và nhận hàng việntrợ qua biên giới Việt- Trung
Từ năm 1965-1975, nhằm khắc phục khó khăn trong thời chiến, Chính phủ ta vàTrung Quốc lần lượt ký các Hiệp định, Nghị định thư và thư trao đổi về việc Chính phủTrung Quốc viện trợ không hoàn lại, viện trợ bệnh viện, lương thực, thực phầm vàhàng tiêu dùng cho Việt Nam; bên cạnh đó còn phải kể đến các viện trợ kinh tế và quân
sự, viện trợ kinh tế và kỹ thuật… Có thể nói rằng hoạt động xuất nhập khẩu trong thời
kì này tập trung chủ yếu vào việc vận chuyển hàng viện trợ nhằm phục vụ cho côngcuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng niềm Nam Tổ quốc
Sau khi giải phóng miền Nam, mối quan hệ thương mại Việt- Trung vẫn tiếp tụcdiễn ra tuy nhiên còn giới hạn ở mức nhỏ bé không đáng kể, lại có nhiều điểm nóng về
an ninh, trật tự an toàn xã hội tại các vùng biên giới vì thế mối quan hệ ngoại thươngcủa hai nước chưa thực sự phát triển
Sau năm 1978, quan hệ hữu nghị giữa hai nước được bình thường hóa do với những
nỗ lực không ngừng từ hai phía Từ năm 1999, quan hệngoại giao giữa hai nước nóichung và quan hệ kinh tế- thương mại nói riêng có nhiều khởi sắc, phát triển ngày càngmạnh, ngày càng bền vững và đang trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sáchđối ngoại của cả hai nước
Từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ, kim ngạch xuất nhập khẩu của hai bên đãtăng lên nhanh chóng, hàng hóa trao đổi qua các cửa khẩu Việt- Trung hết sức nhộnnhịp,nhanh chóng chở thành nơi sôi động nhất của nước ta, như cửa khẩu ở Lạng Sơn,Cao Bằng, Lào Cai…
Trang 30Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá kim ngạch xuất nhậpkhẩu giữa hai nước năm 1991 chỉ đạt 37,7 triệu USD đến năm 1993 đã là 221,3 triệuUSD, năm 2002 đạt lên 3,6 tỷ, gấp 97 lần so với năm 1991và đặc biệt đến năm 2012 đãtăng lên tới 41 tỷ USD, tạo tiền đề để hai nước sớm hoàn thành đạt mục tiêu 60 tỷ USDvào năm 2015.
Nhìn chung, mối quan hệ hợp tác kinh tế- thương mại Việt- Trung đã có nhữngbước phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Trung Quốc vừa là đối tác nhập khẩunhiều nhất, vừa là thị trường xuất khẩu lớn thứ tư của Việt Nam1
Như vậy, trải qua suốt triều dài lịch sử hình thành và phát triển, hiện nạy TrungQuốc đã trở thành bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam
2.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Việt Nam- Trung Quốc
Có rất nhiều yếu tố tác động và ảnh hưởng đến mối quan hệ kinh tế- thương mạigiữa Việt Nam và Trung Quốc nhưng nổi bật nhất vẫn là bốn yếu tố chủ chốt sau:
Trước hết, Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng, với đường biên gới
chung trên đất liền khoảng 1350 km Yếu tố địa lý này tạo điều kiện thuận lợi cho mốiquan hệ giao lưu văn hóa, thông thương kinh tế, buôn bán giữa nhân dân hai nước.Thêm nữa, hai nước còn có chung biên giới lãnh hải Vịnh Bắc Bộ và biển Đông Sựphát triển của ngành vận tải đường biển và đường hàng không mở ra nhiều cơ hội pháttriển hơn cho cả hai quốc gia
Thứ hai, Việt Nam và Trung Quốc có nét tương đồng về văn hóa, có nét phong tục
tập quán Á Đông tương đối giống nhau Có thể nói sự tương đồng này cũng đã gópphần không nhỏ trong việc tạo dựng nên mối quan hệ giữa hai nước cho đến nay
Thứ ba, về thể chế chính trị, Việt Nam và Trung Quốc có thể chế chính trị giống
nhau, đều do Đảng Cộng Sản lãnh đạo, trung thành với chủ nghĩa Mác- Lênin, khôngchấp nhận đa nguyên, đa Đảng Cả hai nước đều đều kiên trì, phấn đấu xây dựng nhànước pháp quyền dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Đặc biệt trong hoàncảnh chủ nghĩa xã hội tạm thời đang trong giai đoạn khó khăn, Đảng Cộng Sản Trung
Trang 31Quốc và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang gánh vác trọng trách bảo vệ vai trò lãnhđạo bền vững của Đảng Cộng Sản và sức sống mạnh mẽ của chủ nghĩa xã hội.
Thứ tư,về kinh tế, hai nước đều có tiềm năng to lớn trong việc hợp tác, đầu tư về
nhiều lĩnh vực đem lại lợi ích cho cả hai bên Trung Quốc là một thị trường rộng lớn,đầy tiềm năng, có sức tiêu thụ lớn của một thị trường trên 1,2 tỷ dân Việt Nam là quốcgia giàu tài nguyên, khoáng sản với số dân cũng thuộc hàng trung bình trên thế giới(xấp xỉ 90 triệu dân) Đó là những yếu tố hỗ trợ và bổ sung cho việc thúc đấy mối quan
hệ hai nước nói riêng và phát triển nên kinh tế thị trường nói chung, để từ đó tham giamạnh mẽ vào tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu hóa
2.2 Thực trạng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2013
2.2.1 Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động xuất và nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn 2001 – 2013
Quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc được điều chỉnh dựa trên các Hiệpđịnh song phương và đa phương đã được ký giữa hai quốc gia
Một mặt, có thể kể đến một số hiệp định song phương đã góp phần đẩy mạnhmối quan hệ hợp tác thương mại hai nước như: Hiệp định Thương mại Việt Nam –Trung Quốc, Hiệp định về mua bán vùng biên giới, Hiệp định về Thành lập Ủy banhợp tác Kinh tế và Thương mại, Hiệp định Hợp tác kinh tế - kỹ thuật, Hiệp định hợptác kinh tế, Hiệp định Thanh toán về hợp tác giữa Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam vàNgân hàng Nhân dân Trung Quốc và các Hiệp định về giao thông đường sắt, đường bộ,đường hàng không hay các Thỏa thuận cho vay ưu đãi khác
Mặt khác, Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của một số hiệp định đaphương như: các hiệp định trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới (WTO) haycác chương trình thúc đẩy đầu tư và thương mại trong khuôn khổ Hiệp định khu vựcmậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA)
2.2.2 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2013
2.2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu
Trang 32Theo số liệu của Bộ Công thương, trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2013,kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc đã tăng từ 1,4 tỉ USD lên đến 13,1
tỉ USD, tăng gần 10 lần Mức tăng trưởng trung bình đạt19,08% với biên độ dao độngrất lớn, thể hiện sự phát triển không ổn định: các năm 2001 và 2006, nhập khẩu đạttăng trưởng âm với các con số lần lượt là -7,74% và -0,11%; tuy nhiên, vào các năm
2004, 2010 và 2011, chỉ số này lại đạt trên 40%, đặc biệt năm 2004 ghi nhận kỷ lục là53,95% Sau giai đoạn phát triển mạnh mẽ vào các năm 2010 và 2011, tốc độ tăngtrưởng xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc đang có xu hướng chậm dần: năm
2012 đạt 6,68% và đến năm 2013 chỉ còn 6,57%
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc
giai đoạn đoạn 2001 – 2013 (đơn vị: nghìn USD)
Năm Kim ngạch xuất
khẩu sang Trung
Quốc
Kim ngạch xuấtkhẩu cả nước
Tỷ trọng xuấtkhẩu sang TrungQuốc
Tỷ lệ tăng trưởngxuất khẩu sangTrung Quốc
Trang 33* Tăng trưởng xuất khẩu so với năm 2000
Nguồn: Bộ Công thương Việt Nam và Tổng cục Thống kê
Mặt khác, từ các số liệu thống kê cho thấy, tỷ trọng xuất khẩu của nước
ta sang Trung Quốc chỉ chiếm từ 7,74% đến 11,98% Chỉ số này liên tục ổn định trongvòng 13 năm với những dao động hầu như không đáng kể Điều đó cho thấy trong giaiđoạn 2001 – 2013, Nhà nước ta chưa coi Trung Quốc như một thị trường xuất khẩu chủlực và trọng yếu hàng đầu của nước ta
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu thị trường xuất khẩu Việt Nam
Trang 34giai đoạn 2001 – 2005
Châu Á 29%
ASEAN 09%
Trung Quốc 05%
Nhật Bản 08%
Châu Âu 12%
Châu Phi 01%
Châu Đại Dương 04%
Nguồn: Giáo trình Kinh tế ngoại thương, NXB Thông tin và Truyền thông
2.2.2.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc đã có những bướcchuyển dịch hết sức rõ nét trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2013 Cụ thể:
Giai đoạn 2001 – 2006, các ngành hàng xuất khẩu chủ yếu từ Việt Nam sang
Trung Quốc là khoáng sản và các loại nông sản, trong đó, khoáng sản (bao gồm dầuthô và than đá) là mặt hàng chủ yếu chiếm tỷ trọng cao nhất Một mặt, dầu thô là vốn làmặt hàng chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu nhập khẩu của nước ta sang Trung Quốc
đã sụt giảm mạnh mẽ từ 1160,16 triệu USD vào năm 2005 xuống còn 399.91 triệuUSD vào ngay năm tiếp theo Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do các mỏ dầu
Trang 35trong nước đang dần cạn kiệt, bên cạnh đó là công tác nghiên cứu và thu mua các mỏdầu mới tại các nước khác không đạt nhiều tiến triển Mặt khác, than đá là mặt hàngliên tục có kim ngạch tăng trong giai đoạn này: giá trị than đá xuất khẩu đã tăng xấp xỉ13,5 lầntrong vòng 5 năm.
Các loại nông sản và thủy hải sản cũng là những sản phẩm đáng chú ý trong cơcấu xuất khẩu nước ta giai đoạn này Bên cạnh việc kim ngạch thủy sản, cà phê hay rauquả có những biến động thất thường, giá trị xuất khẩu cao su, hạt điều và gạo liên tụctăng Đáng chú ý hơn cả là cao su: xuất khẩu cao su tăng đều đặn trung bình khoảng79% mỗi năm trong giai đoạn này
Bảng 2.2: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc
giai đoạn 2002 – 2006 (đơn vị: triệu USD)
Nguồn: Bộ Công thương Việt Nam
Trong hai năm 2007 và 2008, cơ cấu hàng xuất khẩu không có nhiều sự biến
đổi Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, các ngành hàng xuất khẩu hàng đầu của ViệtNam sang Trung Quốc vẫn là than đá (đạt 827,6 triệu USD năm 2007 và 981,5 triệuUSD vào năm 2008) và cao su (đạt 816,7 triệu USD năm 2007 và 952,7 triệu USD vàonăm 2008) Dầu thô vẫn tiếp tục có xu hướng giảm khi dừng lại ở mốc 225 triệu USDvào năm 2007
Trang 36Đặc biệt, trong giai đoạn này, các sản phẩm nông sản (không kể cao su) đã đạtngưỡng xuất khẩu trên 940 triệu USD Các sản phẩm máy vi tính, sản phẩm điện tử vàlinh kiện phụ tùng chạm mức 274 triệu USD vào năm 2008.
Giai đoạn 2009 – 2010 ghi nhận sự bứt phá của mặt hàng cao su khi vượt qua
giá trị xuất khẩu của than đá (961,86 triệu USD) và trở thành sản phẩm xuất khẩu cókim ngạch đứng đầu với 1420,8 triệu USD, chiếm 59,4% tổng lượng cao su xuất khẩu
cả nước Trung Quốc đã trở thành thị trường xuất khẩu cao su chủ lực của Việt Nam
Bảng 2.3: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc
giai đoạn 2009 – 2010 (đơn vị: triệu USD) ST
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Giai đoạn 2011 – 2013 chứng kiến sự tăng trưởng đáng ghi nhận của các sản
phẩm nông sản và thủy sản: năm 2011, thủy sản tăng trưởng 37,3%, đạt mức xuất khẩutương đương 223 triệu USD; đến năm 2013 vừa qua lại tiếp tục tăng 55,1%, mang về
426 triệu USD cho Ngân sách Nhà nước Xuất khẩu gạo đạt mức sản lượng 2 triệu tấnvào năm 2012, tăng gấp 6 lần so với năm 2011, chiếm 26% trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu gạo cả nước; đến năm 2013, sản lượng gạo xuất khẩu tăng nhẹ 3,13%, đạt 2,15triệu tấn Sắn và các sản phẩm từ sắn cũng chọn Trung Quốc làm thị trường xuất khẩuchính khi thị trường này chiếm 88,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt sản lượng 3,76triệu tấn, tương đương 1,2 tỉ USD vào năm 2013 Cao su trải qua một vài biến động
Trang 37nhỏ khi tăng trưởng 8% vào năm 2011 nhưng lại giảm 1,8% vào năm 2012 và tăng 3%vào năm 2013 Tuy nhiên, lượng cao su xuất khẩu vẫn đạt 507 nghìn tấn, chiếm 47%lượng cao su xuất khẩu toàn quốc
Bên cạnh đó, các ngành hàng như giày dép hay gỗ và các sản phẩm từ gỗ liêntục tăng mạnh Giá trị xuất khẩu giày dép sang Trung Quốc năm 2011đạt 253 triệuUSD, tăng 63% so với năm 2010, đến năm 2012 lại tăng 19,1%, đạt 301 triệu USD
Tuy nhiên, một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực truyền thống của ViệtNam sang Trung Quốc là than đá lại liên tục giảm: trong 3 năm giảm tương ứng 8,2%,9,9% và 18% Tuy nhiên, than đá xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn chiếm 77% tổnglượng than đá xuất khẩu (năm 2013), đạt sản lượng 9,86 triệu tấn
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc
Máy vi tính, sản phẩm điện tử
và linh kiện Hàng nông lâm thủy sản Nhiên liệu thô và khoáng sản Hàng hóa khác
Trang 38Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Như vậy, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc vẫn
là các sản phẩm nông nghiệp, khoáng sản thô có giá trị gia tăng thấp Tuy cơ cấu đã trởnên đa dạng hơn và xuất hiện một số sản phẩm thuộc ngành công nghiệp chế tạo (nhưmáy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng hay gỗ và các sản phẩm từ gỗ) nhưng vẫn còn nhỏ
lẻ, tỷ trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao và trong bình chỉ chiếm từ 9,3%đến 13,6%2 trong giai đoạn 3 năm trở lại đây Than đá, dầu thô và các loại khoáng sảncũng chiếm đến trung bình gần 30% tổng kim ngạch3 Còn lại là nông sản và các sảnphẩm có hàm lượng kỹ năng lao động thấp, không mang lại nhiều giá trị gia tăng chođất nước
2.2.2.3 Cách thức xuất khẩu
a Xuất khẩu chính ngạch
Để thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu chính ngạch vào Việt Nam, các doanhnghiệp trước tiên phải là đối tượng được pháp luật cho phép, gồm có: các hộ kinhdoanh cá thể được thành lập và đã đăng ký kinh doanh theo Nghị định số109/2004/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh; các doanh nghiệp được thànhlập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã và các doanh nghiệp Nhà nước Các đốitượng này được phép xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuấttái nhập, gia công, mua bán hàng hóa theocác quy định về Luật thương mại năm 2005;Nghị định số 12/2006/NĐ-CP về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạtđộng đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài cũng như Thông
tư hướng dẫn của Bộ Thương mại số 04/2006/TT-BTM
Ngoài ra, hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc phải tuân thủnghiêm ngặt luật pháp của mỗi nước, tập quán thương mại quốc tế và Hiệp định thươngmại Việt Nam – Trung Quốc, ký ngày 07/01/1994 Hoạt động xuất khẩu phải dựa trênHợp đồng thương mại được ký kết giữa các doanh nghiệp xuất khẩu của hai quốc gia
2 , 2 : theo số liệu của Tổng cục Thống kê
Trang 39và các thực thể kinh tế được cho phép khác theo luật định Hợp đồng này phải có nộidung, hình thức, các quy định về phương thức và đồng tiền thanh toán phù hợp vớithông lệ và tập quán quốc tế Các doanh nghiệp xuất khẩu chính ngạch cũng phải hoànthành đầy đủ các loại thuế, phí và lệ phí hải quan ở cả hai nước nên chi phí xuất khẩu
sẽ cao hơn nhiều so với các hình thức xuất khẩu khác như xuất khẩu biên mậu hay xuấtkhẩu lậu
Xuất khẩu chính ngạch phải được thực hiện thông qua các cửa khẩu quốc tế vàquốc gia trên đường bộ, đường biển, đường sắt và đường hàng không
Các cửa khẩu quốc tế đường bộ của Việt Nam gồm: Lào Cai (Lào Cai), Thanh
Thủy (Hà Giang), Móng Cái (Quảng Ninh) và Hữu Nghị ( Lạng Sơn), tương ứngvới các cửa khẩu quốc tế Hà Khẩu (Vân Nam), Thiên Bảo (Vân Nam), Đông Hưng(Quảng Tây) và Hữu Nghị Quan (Quảng Tây) phía Trung Quốc Ngoài ra, giáp với
Trung Quốc, còn có các cửa khẩu quốc gia: Hoành Mô (Quảng Ninh), Ma Lù
Thàng (Lai Châu), Tung Chung Phố (Lào Cai), Bình Nghim Chi Ma (Lạng Sơn),
Lý Vạn, Ngọc Khê, Hùng Quốc, Tà Lùng, Sóc Giang (Cao Bằng) và Long Tuyền,Phố Bảng, Thượng Sơn (Hà Giang)
Cửa khẩu quốc tế đường biển của Việt Nam bao gồm các cảng: Cái Lân (Hòn Gai –
Quảng Ninh), Hải Phòng (Hải Phòng), Cửa Lò (Nghệ An), Vũng Áng (Hà Tĩnh),Chân Mây (Thừa Thiên Huế), Tiên Sa (Đà Nẵng), Kỳ Hà (Quảng Nam), Dung Quất(Quảng Ngãi), Quy Nhơn (Bình Định), Ba Ngòi, Nha Trang (Khánh Hòa), VũngTàu, Phú Mỹ (Bà Rịa – Vũng Tàu), Sài Gòn (thành phố Hồ Chí Minh), Cần Thơ(Cần Thơ) và An Thới (Kiên Giang)
Cửa khẩu quốc tế đường sắt Đồng Đăng (Lạng Sơn) giáo với cửa khẩu Bằng Tường
(Quảng Tây), Trung Quốc
Cửa khẩu quốc tế đường hàng không Việt Nam bao gồm các sân bay: Nội Bài (Hà
Nội), Tân Sơn Nhất (thành phố Hồ Chí Minh), Đà Nẵng (Đà Nẵng), Cát Bi (HảiPhòng), Phú Bài (Thừa Thiên Huế), Liên Khương (Lâm Đồng), Cam Ranh (KhánhHòa) và Trà Nóc (Cần Thơ)