Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng MỞ ĐẦUTừ những thực trạng trên và một yêu cầu đặt ra là làm thế nào giúp người nông dân nhậnthức đúng đắn việc sử dụng thuốc hoá học trong sản xuất
Trang 1Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng MỞ ĐẦU
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lúa là cây lương thực chủ yếu ở nước ta Lúa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việcđảm bảo an toàn lương thực cho nhân dân Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, nôngnghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nổi bật là sản xuất lương thực Trong hơn
20 năm qua, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam đã tăng gấp khoảng 2 lần, hiện nay năngsuất bình quân đạt 5,3 tấn/ha một vụ, sản lượng cả năm đạt gần 39 triệu tấn Sản xuất lúa gạophát triển đã đưa Việt Nam những có đủ lương thực cho nhân dân, mà còn xuất khẩu với sốlượng trên 70 triệu tấn gạo mang về cho đất nước gần 20 tỷ USD, trở thành nước xuất khẩu gạolớn thứ 2 thế giới Cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ lực, liên quan đến việc làm và thunhập của khoảng 80% số hộ nông dân Việt Nam
Bên cạnh những thành công thì còn không ít những bất cập yếu kém, hiệu quả sản xuấtkinh doanh chưa cao, phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhất là thiên tai, biến đổi khíhậu đặc biệt là dịch hại xảy ra thường xuyên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa gạo Đểbảo vệ cây lúa người nông dân đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau: Biện pháp thủ công, biệnpháp canh tác, biện pháp vật lý, biện pháp dùng giống kháng, biện pháp sinh học và phổ biếnnhất là biện pháp hóa học Việc sử dụng thuốc hóa học trừ sâu để phòng trừ sâu hại dịch bệnh,bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia cho đến nay vẫn là một biện pháp quantrọng và chủ yếu Tuy nhiên bên cạnh việc ngăn chặn được dịch hại thì việc sử dụng thuốc hóahọc trừ sâu nhiều và rộng rãi đã kéo theo những hậu quả không mong muốn đó là làm giảmthiểu đáng kể những loài thiên địch có ích trên đồng ruộng ngoài ra còn ảnh hưởng nghiêm trọngđến môi trường sống và sức khoẻ con người Chính vì vậy, ngày nay việc sử dụng thuốc hóa họctrừ sâu đòi hỏi phải có những hiểu biết về ảnh hưởng xấu của chúng đến môi trường, đặc biệt là
sự ảnh hưởng tới những sinh vật có ích hay còn gọi là “thiên địch” trong sinh quần nông nghiệp.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến thiên địch.Tính đến năm 1989, ít nhất có 12.600 công bố trên giới nói về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đếnthiên địch (Greathead, 1990) Ở nước ta, những nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đếnthiên địch còn ít được quan tâm Chính vì vậy nhận thức của người nông dân về mức độ độc hạicủa thuốc trừ sâu đối với thiên địch của sâu hại cũng như đối với môi trường và con người cònhạn chế
Trang 2Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng MỞ ĐẦU
Từ những thực trạng trên và một yêu cầu đặt ra là làm thế nào giúp người nông dân nhậnthức đúng đắn việc sử dụng thuốc hoá học trong sản xuất lúa nói riêng và sản xuất nông nghiệpnói chung, giảm được những tác động xấu tới môi trường, sức khoẻ con người bên cạnh đó cònbảo vệ được các loài thiên địch tự nhiên có ích cho sinh quần nông nghiệp Vì vậy chúng tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến một số quần thể thiên địch chính trên đồng ruộng vụ xuân 2011 tại Hải Lộc – Hải Hậu – Nam Định”
2 Mục đích và yêu cầu đề tài
2.1 Mục đích
- Xác định được vai trò của một số loài thiên địch chính đối với quần thể sâu hại chínhtrên đồng ruộng và ảnh hưởng của thuốc hoá học đối với thiên địch Từ đó đưa ra khuyến cáođối với việc sử dụng thuốc hoá học một cách hợp lý cho người nông dân nhằm giảm thiểu ảnhhưởng xấu đến thiên địch, môi trường và sức khoẻ con người
Trang 3CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm về thiên địch của sâu hại lúa
Trên đồng ruộng ngoài những loài côn trùng gây hại như đã nói đến ở trên thì còn vô sốnhững loài côn trùng, nhện, virus, các loài kí sinh… không những không gây hại cho cây lúa màngược lại chúng còn giúp bà con nông dân tiêu diệt sâu hại Có nhiều người gọi chúng bằngnhững cái tên rất hình tượng và dễ hiểu đó là “những người bạn của nông dân” Còn các nhàkhoa học gọi chúng với một cái tên khác là “thiên địch”
Thiên địch là những thành viên thường xuyên không thể thiếu được của sinh quần ruộnglúa Chúng là những tác nhân gây chết tự nhiên rất quan trọng đối với các sâu hại lúa Ở từngnơi, trong từng thời gian cụ thể, các thiên địch có thể kìm hãm được số lượng sâu hại chính trênlúa ở dưới mức gây hại kinh tế mà không cần tiến hành bất kì một biện pháp phòng trừ nào khác.Thiên địch được nhiều nhà nghiên cứu bảo vệ thực vật coi là cốt lõi của hệ thống biện phápphòng trừ tổng hợp sâu hại lúa ở vùng nhiệt đới
1.2 Tài liệu nghiên cứu trong nước
1.2.1 Một số nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa ở Việt Nam
1.2.1.a Số lượng loài thiên địch đã phát hiện được trên lúa
Tổng hợp từ các tài liệu nghiên cứu tới năm 2000 trên ruộng lúa của nước ta xuất hiệnkhoảng 415 loài thiên địch của sâu hại lúa Chúng thuộc 14 bộ, 58 họ, 240 giống của các lớp côntrùng, nhện, nấm, virus và tuyến trùng Số lượng này đến năm 2002 được bổ sung 46 loài nữa.Như vậy đã có ít nhất 461 loài thiên địch của sâu hại lúa được ghi nhận ở nước ta Thiên địchnày gồm 186 loài ký sinh (chiếm 40,3% tổng số loài thiên địch), 265 loài côn trùng và nhện lớnbắt mồi (chiếm 57,5 tổng số) và 10 loài vi sinh vật và tuyến trùng gây bệnh cho sâu hại lúa(chiếm 2,2% tổng số loài)
1.2.1.b Một số thiên địch phổ biến của các loài sâu hại
Ong đen Telenomus subitus Le (Hym.: Scelionidae): Ong đen T subitus được ghi nhận
ký sinh trứng của nhiều loài bọ xít sống trên đồng lúa như Andrallus spinidens, Piezodorus rubrofasciatus, S lurida, Eysarcoris spp.
Ong kén trắng Cotesia ruficrus (Halidaya) (Hym.: Braconidae): Ong kén trắng C ruficrus là một ký sinh tập thể Ong này ghi nhận ký sinh sâu non các loài sâu cắn gié (M separata, M venalba, M lorey), sâu keo (S mauritia), sâu đo xanh (N.aenescen).
Trang 4Bọ rùa tám chấm Harmonia octomaculata (Fabr) (Col.: Coccinellidae): Bọ rùa Harmonia octomaculata được gọi là bọ rùa tám chấm.Bọ rùa tám chấm H octomaculata là loài
đa thực, thường có mặt trong các quần thể rệp muội hại cây trồng Nhưng ở Đồng bằng sôngCửu Long, khi rầy nâu có mật độ cao thì loài bọ rùa này xuất hiện tương đối nhiều trên đồnglúa Đã ghi nhận là thiên địch của rầy nâu, rầy lưng trắng và nhiều sâu hại lúa khác
Nhện sói Pardosa pseudoannulata (Boes Et Str.) (Aran.: Lycosidae): Loài Pardosa pseudoannulata gọi là nhện sói vân đinh ba Nhện sói vân đinh ba là loài bắt mồi đa thực Trên
đồng lúa ghi nhận nó tấn công rất nhiều loài sâu hại, đặc biệt là các loài rầy sống ở phần gốc thâncây lúa
Nhện linh miêu Oxyopes javanus Thorell (Aran.: Oxyopidae) Nhện linh miêu là loài
BM đa thực, hoạt động trên tán lá lúa Nó thường tấn công các loài sâu hại lúa sau đây: C medinalis, P gutta, M separata, S mauritia, C versicolor, N aenescens, P stagnalis, Hydrellia
sp., các loài rầy hại lúa
1.2.1.c Vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu chính hại lúa
* Vai trò của các loài bắt mồi đối với rầy nâu
Bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis
Đây là loài bọ BM rất quan trọng của rầy nâu, rầy lưng trắng và các loài rầy xanh hại lúa
Trang 5Bảng 1.1: Tỷ trọng của một số nhóm BM chính gặp trong quần thể rầy nâu
Nhóm bắt mồi
Tetragnatha spp tỷ trọng các nhóm BMAT chính (%) tại
một số nơi Phúc
Thọ
Vụ Bản
Hải Hậu
Bình Lục
Đông Anh Cẩm Bình
Nhện sói vân đinh ba Pardosa pseudoannulata
Kết quả từ các thí nghiệm trong phòng tại Viện BVTV cho thấy khả năng ăn rầy nâu của
nhện sói vân đinh ba P pseudoannulata khá cao Nhện non tuổi 8 của loài nhện sói vân đinh ba
trong 24 giờ đã ăn trung bình được 7,9 – 14,3 rầy non tuổi 4 của rầy nâu (tùy thuộc giới tính của
nhện non) Đặc biệt, một trưởng thành cái loài P psedoannulata không mang bọc trứng có sức
ăn mồi rất lớn Trong 24 giờ, trung bình nó ăn được 17,3 – 34,1 rầy non tuổi 5 của rầy nâu (Bảng1.2)
Bảng 1.2: Khả năng ăn rầy nâu của nhện sói P pseudoannulata
Các pha phát dục của nhện
Pardosa pseudoannulata
Khả năng ăn mồi của một cá thể nhện sói
(con/ngày) Ngày thứ
1
Ngày thứ 2
3,7 ± 1,65,2 ± 1,35,5 ± 0,77,6 ± 2,711,3 ± 5,114,1 ± 3,2
3,2 ±2,34,3 ± 2,24,8 ± 2,56,1 ± 3,96,5 ± 1,07,8 ± 3,0
3,8 ± 2,15,1 ± 2,55,8 ± 1,610,4 ± 2,97,9 ± 3,714,3 ± 6,8
Trang 6Trưởng thành đực (**)
Trưởng thành cái không trứng (**)
Trưởng thành có trứng
13,8 ± 2,834,1 ± 3,121,0 ± 2,3
7,8 ± 1,925,3 ± 2,19,2 ± 3,4
6,9 ± 2,317,3 ± 2,77,5 ± 3,6
9,4 ± 2,425,5 ± 2,612,5 ± 3,1
Ghi chú: (*) : Con mồi là rầy nâu non tuổi 4 của rầy nâu.
( **): Con mồi là rầy nâu non tuổi 5 của rầy nâu
(Nguồn: P V Lầm và nnk., 1993, 1996)
Ngoài ra, một số loài BM như bọ rùa tám chấm cũng có vai trò nhất định trong hạn chế
số lượng rầy nâu
* Vai trò của thiên địch đối với sâu đục thân hại lúa
Đến nay, đã phát hiện được 39 loài thiên địch của các loài sâu đục thân lúa ở nước ta,gồm 32 loài ký sinh và 7 loài bắt mồi Chúng tạo thành 4 tập hợp Tập hợp thiên địch của sâu
đục thân lúa bướm hai chấm (S incertulas) phong phú nhất, gồm 28 loài Tập hợp thiên địch của sâu đục thân 5 vạch đầu nâu (C suppressalis) có số loài thiên địch nhiều thứ hai (21 loài) Tập hợp thiên địch của sâu đục thân bướm cú mèo (S inferens) gồm 11 loài Ít nhất là tập hợp thiên địch của sâu đục thân 5 vạch đầu đen (C aurcilicus) chỉ mới phát hiện được 6 loài Trong số các
loài thiên địch đã phát hiện được của nhóm sâu đục thân lúa có khoảng 10 loài phổ biến(bảng1.3)
Trang 7Bảng 1.3 Những thiên địch phổ biến của nhóm sâu đục thân lúa
Tên thiên địch
Quan hệ dinh dưỡng
Pha phát dục của sâu hại bị tấn công
Sâu hại là vật chủ/con mồi
Trichogramma
S incertulas, S inferens, C suppressaalis, C AuriciliusTetrastichus
S incertulas, C
suppessaalis, C auricilius, S.Inferens
Metoposisyrops
S incertulas, C
suppressaalis, C AuriciliusPardosa
Ghi chú: (*) – Loài phổ biến; (**) – Loài quan trọng; (***) – Loài rất quan trọng.
* Vai trò của thiên địch đối với nhóm sâu cuốn lá lúa
Đến nay có thể thống kê được hơn 100 loài thiên địch của nhóm sâu cuốn lá lúa Trong
đó khoảng 70 loài là ký sinh, còn lại là các loài bắt mồi Chúng tạo thành 4 tập hợp Tập hợpthiên địch của sâu cuốn lá nhỏ có thành phần phong phú nhất với 75 loài (gồm 24 loài bắt mồi và
51 loài ký sinh) Tập hợp thiên địch của sâu cuốn lá lớn đầu vạch nâu (P guttata) và sâu cuốn lá
Trang 8lớn đầu vạch đỏ có 51 và 20 loài (tương ứng) Tập hợp thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ đầu đen
(Brachmia) phát hiện được 25 loài
1.2.1.d Ảnh hưởng của thuốc hóa học BVTV đến thiên địch chính
Các thiên địch đều rất mẫn cảm với thuốc hóa học trừ sâu, đặc biệt pha trưởng thành củacác ký sinh và pha ấu trùng của các loài BM là mẫn cảm nhất đối với thuốc hóa học trừ sâu Đểbảo vệ được thiên địch tự nhiên, phải có hiểu biết về mức độ độc hại của thuốc trừ sâu đối vớicác thiên địch trên đồng lúa Dựa trên những đánh giá về mức độ độc hại của thuốc trừ sâu đểchọn một bộ thuốc vừa có hiệu quả cao đối với sâu hại vừa ít độc đối với thiên địch của sâu hại,cũng như đối với môi trường, con người Nhiều thuốc hóa học BVTV đã được đánh giá mức độđộc hại tới một số thiên địch phổ biến của sâu chính hại lúa
Ngay từ giữa thập niên 1970 đã có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc 666 và wofatoxđối với ký sinh trứng sâu đục thân lúa bướm hai chấm Các thuốc 666 (6% ở nồng độ 1/200hoặc 25kg/ha) và wofatox (nồng độ 0,1%) đều gây ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh nở ong ký sinh
từ trứng đục thân lúa bướm hai chấm Nơi xử lý thuốc, tỷ lệ ong nở là 0 - 14,2%, trong khi đó
đối chứng không xử lý thuốc tỷ lệ này là 91,4 – 95% (L M Khôi và nnk., 1975).
Trong điều kiện phòng thí nghiệm các thuốc mipcin (1/300), bassa (1/800), wofatox
(1/1000) rất độc hại với bọ rùa H octomaculata (N V Huỳnh và nnk., 1980) Bọ cánh cứng ngắn Paderus fuscipes bị chết 52 – 72% khi dùng thuốc azodrin, bassa (L M Châu và nnk., 1987) Thuốc trebon 10EC dùng lượng 0,7 lít/ha trừ rầy nâu có mức độc cấp 2 đối với bọ P fuscipes, P tamulus tức là gây giảm 26 – 50% quần thể của chúng Nếu dùng lượng 1 lít/ha thì
sẽ có mức độc cấp 3, tức là gây giảm quần thể của nó từ 51 đến 75% (P V Lầm và nnk., 1996) Thuốc wofatox, bassa, mipcin phun trực tiếp lên bọ ba khoang Ophionea indica, sau 18 giờ gây
chết tương ứng 100%, 93 và 73% Nếu phun gián tiếp, các thuốc này gây chết từ 63 – 83% (T
Đ Chiến, 1993)
1.2.2 Nghiên cứu sử dụng thiên địch trong phòng chống sâu hại lúa
1.2.2.a Nhân nuôi lượng lớn các thiên địch để thả ra đồng lúa
Có thể nhân nuôi lượng lớn ong mắt đỏ để trừ sâu cuốn lá loại nhỏ, sâu đục thân lúa hoặc
sản xuất nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae, Metarhizium flavoviride để trừ rầy
nâu, bọ xít hại lúa Nói chung, hiệu quả của việc nhân thả thiên địch phụ thuộc nhiều vào chấtlượng loài thiên địch (ong ký sinh, vi sinh vật gây bệnh côn trùng,…) được nuôi trong phòng.Chất lượng này lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện nhân nuôi Mặt khác, việc nhân nuôi lượng
Trang 9lớn các thiên địch thường gắn liền với một quy trình công nghệ sinh học phức tạp, nên giá thànhcủa chế phẩm cao Nếu nhân nuôi theo kiểu thủ công thì chỉ giải quyết được một lượng nhỏ,không thể áp dụng rộng được Với điều kiện nước ta thì hướng nhân thả thiên địch để trừ sâu hạilúa chưa thể thực hiện được.
1.2.2.b Bảo vệ, duy trì và phát triển quần thể các loài thiên địch có sẵn trong tự nhiên
Đây là việc áp dụng các nguyên lý sinh thái trong phòng trừ sâu hại lúa Mục đích chínhcủa hướng này là làm tăng tỷ lệ chết tự nhiên của sâu hại lúa do thiên địch gây ra Theo Pavlov(1983), quần thể của các loài bắt mồi có sẵn trong tự nhiên lớn gấp hàng ngàn lần so với nhữngquần thể của chúng được nhân nuôi trong các xưởng sinh học để thả vào tự nhiên
* Để cho các loài gây hại tồn tại ở mức độ thấp có thể chấp nhận được
Một cá thể của một loài sâu hại dù nguy hiểm đến đâu cũng không thể gây giảm năngsuất lúa được Sự gây hại của chúng chỉ có ý nghĩa khi quần thể của loài có hại đạt tới ngưỡngkinh tế Khi loài có hại ở mật độ thấp không những không gây giảm năng suất mà còn là nguồnthức ăn quan trọng để duy trì các loài thiên địch Việc tiêu diệt hoàn toàn các loài sâu hại sẽ làmcho các loài thiên địch bị chết không có thức ăn và vật chủ hoặc phải di cư đi nơi khác
* Xác định ngưỡng hữu hiệu của các loài thiên địch
Một cá thể của loài thiên địch không thể có ý nghĩa gì trong hạn chế số lượng loài có hại.Vai trò to lớn của loài thiên địch trong điều hòa số lượng loài sâu hại chỉ có được khi quần thểcủa chúng đạt tới ngưỡng hữu hiệu Quan sát trên đồng ruộng trong một số vụ lúa cho thấy: Nơikhông xảy ra cháy rầy nâu có tương quan số lượng giữa rầy nâu với nhện lớn bắt mồi chunghoặc các loài bắt mồi chung tương ứng đạt 0,8 – 22,8 rầy nâu/1 nhện lớn bắt mồi hoặc 0,6 – 17,7rầy nâu/1 cá thể bắt mồi chung Những quan sát này cần phải được tiếp tục khẳng định thêmtrong các nghiên cứu tiếp theo Việc xác định ngưỡng hữu hiệu của thiên địch phải được tiếnhành trong những sinh quần đồng lúa cụ thể và là công việc nghiên cứu cần thiết cấp bách tronglĩnh vực lợi dụng thiên địch tự nhiên để phòng chống sâu hại lúa
* Áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài thiên địch
Có nhiều biện pháp canh tác vừa có ý nghĩa thâm canh cây lúa vừa có ý nghĩa khích lệhoạt động của các loài thiên địch Ruộng lúa đủ nước thường xuyên có mật độ chung của nhệnlớn bắt mồi (20,1 – 90,8 con/m2) nhiều hơn hẳn so với mật độ chung của nhện lớn bắt mồi (14,2
Trang 10– 67,3 con/m2) ở ruộng không đủ nước thường xuyên Mực nước ruộng quá lớn thì cũng làmgiảm mật độ của các loài nhện lớn bắt mồi Mật độ cấy, sạ quá cao làm giảm số lượng của nhiềuloài nhện lớn bắt mồi trên đồng lúa Nếu sử dụng quá nhiều phân đạm sẽ làm cho cây lúa có tán
lá rậm rạp, không thích hợp cho việc cư trú của một số loài nhện lớn bắt mồi như Tetragnatha spp., nhện sói Pardosa pseudoannulata,… Gieo trồng các giống lúa có tính kháng rầy nâu trung
bình là những biện pháp hữu hiệu để duy trì nhiều loài thiên địch trên đồng lúa (Phạm Văn Lầm,1994)
* Bảo đảm tính đa dạng thực vật trong hệ sinh thái đồng lúa
Như đã nêu trên, phần lớn các loài thiên địch trên đồng lúa là loài đa thực, không chuyêntính Chúng có thể cư trú trên nhiều loại cây trồng Nhiều loài bắt mồi phổ biến trên đồng lúanhư bọ rùa đỏ, cánh cứng ngắn, bọ ba khoang,… thì cũng phổ biến trên đồng ngô, đậu tương…Việc xen canh các cây trồng khác với cây lúa góp phần làm tăng tính đa dạng hệ thực vật trong
hệ sinh thái đồng lúa, tức là làm tăng tính đa dạng của khu hệ chân đốt và làm tăng thêm tính
“dẻo sinh thái” cũng như tính bền vững của hệ sinh thái đồng lúa Trong điều kiện như vậy, cácloài thiên địch dễ dàng phát huy được vai trò của chúng trong hạn chế số lượng nhiều loài sâuhại lúa (Phạm Văn Lầm, 1994)
* Sử dụng thuốc hóa học hợp lý
Để bảo vệ các loài thiên địch của sâu hại lúa cần phải sử dụng thuốc hóa học hợp lý Đây
là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ thiên địch trong tự nhiên Việc dùng thuốc hóa học hợp lýchỉ đạt được khi áp dụng hệ thống PTTH Không được coi biện pháp dùng thuốc hóa học là bắtbuộc Thuốc hóa học chỉ dùng khi các biện pháp khác không thể kìm hãm được sâu hại ở mứccho phép Khi dùng thuốc hóa học thì cần tuân theo phương châm 4 đúng: Đúng lúc; đúngthuốc; đúng liều lượng, nồng độ; và đúng chỗ, đúng phương pháp Muốn vậy phải thường xuyênthăm đồng theo dõi tình hình phát triển sâu hại cũng như các loài thiên địch trên đồng lúa
1.3 Tài liệu nghiên cứu ngoài nước
1.3.1 Một số nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa ở nước ngoài
1.3.1.a Nghiên cứu thành phần thiên địch của sâu hại lúa
Những nghiên cứu về thành phần thiên địch của sâu hại lúa đã được tiến hành ở nhiềunước trồng lúa trên thế giới từ đầu thế kỉ XX Nawa (1913), Shiraki (1917), Speare (1920), Maki(1930), Uichanko (1930), Esaki và Hashimoto (1931), Esaki (1932),… đã có những công bố về
Trang 11thiên địch của các loài sâu đục thân lúa và rầy hại lúa ở Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan, Thái
Lan, Philippine (dẫn theo Chiu, 1979; Rombach et al.,1994).
Số loài côn trùng BM đã phát hiện được ở Trung Quốc là 460 loài, ở Nhật Bản – 81 loài,
ở Malaysia – 54 loài… Nhện lớn (Araneida) là một trong các nhóm BM phổ biến trên lúa.Thành phần loài nhện lớn BM cũng khá phong phú Số loài nhện lớn BM đã ghi nhận được trênđồng lúa ở Thái Lan, vùng lãnh thổ Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc là 62, 75,
90, 175 và 293 loài (tương ứng) Trên ruộng lúa ở vùng Đông Nam Á đã phát hiện được 342loài nhện lớn BM
Những dẫn liệu nêu trên cho thấy, lịch sử trồng lúa lâu dài đã tạo điều kiện cho sự hìnhthành một khu hệ thiên địch phong phú và đặc trưng cho hệ sinh thái lúa nước
1.3.1.b Vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu chính hại lúa
Thành phần sâu hại lúa và thiên địch rất phong phú và đa dạng Mỗi loài thiên địch đềuđóng một vai trò nhất định trong hạn chế số lượng sâu hại lúa Dưới đây xin giới thiệu một cáchtổng quát một vài kết quả ở nước ngoài nghiên cứu về vai trò của một số thiên địch phổ biếntrong hạn chế số lượng những nhóm sâu hại lúa quan trọng
* Vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng các loài rầy hại lúa
Thành phần thiên địch của các loài rầy hại lúa đã phát hiện được rất phong phú Ở TháiLan có 10 – 17 loài, Ấn Độ có hơn 20 loài, Hàn Quốc có 14 loài BM, ở Malaysia có 16 loài.Chung cho nhiều nước ở vùng lúa Đông Nam Á có 14 loài Trong đó phổ biến có một số loàinhư:
Ong ký sinh Anagrus spp chiếm 93% ký sinh trứng rầy nâu ở Taipei (Đài Loan) Tỷ lệ trứng rầy nâu bị các ong này kí sinh 11,3 – 29,6% ở vụ 1 và 3,3 – 38,1% ở vụ 2 Ong Gonatocerus spp chiếm ưu thế trong các ký sinh trứng rầy xanh đuôi đen Hàn Quốc Chúng có
thể tiêu diệt được 29,7 – 49% trứng (Chandra, 1980; Chang,1982) Tuy nhiên, ký sinh không cóảnh hưởng lớn tới quần thể rầy nâu (Chiu, 1979) Ấu trùng và trưởng thành các loài rầy hại lúa
thường bị ong ký sinh họ Dryinidae tấn công Trong đó quan trọng là các loài Pseudogonatopus spp và Haplogonatopus spp Ngoài ra, pha ấu trùng và pha trưởng thành các loài rầy hại lúa còn
bị ruồi đầu to (họ Pipunculidae) và bọ cánh cuốn (họ Elenchidae) ký sinh
Bọ xít mù xanh Cytorhinus lividipennis là loài bắt mồi phổ biến trên đồng lúa Nó tiêu
diệt trứng và rầy non tuổi nhỏ Đây là loài bắt mồi rất hiệu quả trong hạn chế số lượng rầy nâu,
rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen (Chiu, 1979; Ooi, 1982; Ooi et al., 1994) Ở trong phòng thí
Trang 12nghiệm, sau 24 giờ, một trưởng thành cái và một trưởng thành đực loài bọ xít mù xanh có thể ăn
20 và 10 trứng rầy nâu (tương ứng) (Chua et al., 1986; IRRI, 1987; Reisig et al., 1986).
* Vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu cuốn lá lúa
Ở Đông Nam Á có 16 loài thiên địch phổ biến và quan trọng của các sâu cuốn lá nhỏ
(Cnaphaocrois medinalis, Marasmia patnalis) (Napompeth, 1990; Ooi et al., 1994; Reissig et al., 1986; Shepard et al., 1991) Ở trang trại của IRRI, sâu cuốn lá nhỏ bị kí sinh với tỷ lệ khoảng 40% (Arida et al., 1990) Ong Triochogramma sp Có thể tiêu diệt khoảng 20% trứng sâu cuốn
lá nhỏ Ở Trung Quốc ong Trichogramma cofusum, T japonicum, Telenomus sp là những ký
sinh chủ yếu trên trứng sâu cuốn lá lớn Vào tháng 8 – 9 hàng năm, tỷ lệ trứng sâu cuốn lá lớn bị
ký sinh trùng là 10,4% và tăng lên 26,6% vào tháng 10 – 12 (Xie Minh, 1993)
Các loài BM có vai trò lớn trong hạn chế số lượng sâu cuốn lá lúa Theo Kamal (1981),
khoảng 70% sâu cuốn lá nhỏ bị tiêu diệt bởi các loài BM (dẫn theo Ooi et al., 1994)
* Vai trò của thiên địch đối với nhóm sâu đục thân lúa
Thành phần thiên địch của nhóm sâu đục thân lúa khá phong phú, nhưng có rất ít loàiquan trọng Số loài thiên địch quan trọng đối với nhóm sâu đục thân lúa chung cho vùng lúa
Đông Nam Á là 15 loài (Kamran et al., 1969; Napompeth, 1990; Ooi et al., 1994; Ressig et al., 1986; Shepard et al., 1991; Tirawat, 1982) Subba Rao et al., (1983) đã thông báo rằng tập hợp
ký sinh trứng (Tetrastichus, Telenomus và Trichogramma) có thể tiêu diệt được 77% trứng đục
thân lúa bướm hai chấm ở Ấn Độ
Hoạt động của các ký sinh nhộng, ký sinh sâu non và vật gây bệnh có thể gây chết tới58% sâu đục thân lúa ở vùng Warangal của Ấn Độ Các loài BM cũng đóng vai trò khá quantrọng trong tiêu diệt sâu đục thân lúa ở các pha phát dục khác nhau hai chấm Một cá thể nhện
sói Pardosa pseudoannulata một ngày có thể tiêu diệt hàng trăm sâu non đục thân lúa, đồng thời
nó tấn công cả pha trưởng thành của các loài sâu đục thân
1.3.1.c Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến thiên địch
Ngay từ năm 1954, Bei – Bienko nhà côn trùng học của Liên Xô cũ đã nhận thấy: “Việc
sử dụng thuốc hóa học BVTV quá mức và máy móc, đặc biệt là dùng các loại thuốc có tốc độcao, có thể kéo theo những hậu quả nặng nề: Làm tăng số lượng và ý nghĩa kinh tế của nhiềuloài sâu hại do sự phá hủy hệ thiên địch của chúng trong tự nhiên”
Theo Chiu và Cheng (1976), các thuốc trừ sâu như fenthion, parathion, monocrotophos,bufencarb, mtalvariate, MTMC, BPMC, MIPC, sevin, propoxus và phosmet có độ độc cao đối
Trang 13với bọ xít mù xanh Các thuốc trừ sâu diazinon, cypermethrin, deltamethrin, carbofuran,quinalphos, chlorpyriphos, phosalone, thuốc trừ cỏ pretilachlor, thuốc trừ nấm IBP có độ độccao đối với bọ xít mù xanh Thuốc endosulfan ít độc với bọ xít này (dẫn theo Chiu, 1979).
Các thuốc cypermethrin, deltamethrin có độ độc cao đối với bọ xít nước Microvelia atrolineata Thuốc trừ cỏ butachlor và pretilacholor có độ độc khá cao với bọ xít nước Microvelia horvathi Thuốc trừ nấm IBP có thể tiêu diệt loài BM này với tỷ lệ khá cao (Chelliah
et al., 1994; Chen et al., 1999) Các thuốc methomyl, chlorpyrifor, methyl parathion, monocrotophos, BPMC có độ độc rất cao với dế M vittaticollis và A longipennis (Bandong et al., 1986)
Các thí nghiệm ở trong phòng của Chiu và Cheng (1976) cho thấy thuốc nhóm
carbamate có độ độc đối với nhện Lycosa pseudoannulata và nhện Oedothorax insecticeps cao
hơn so với thuốc nhóm lân hữu cơ Thuốc bufencarb, carbofuran, cypermethrin, deltamethrin có
độ độc rất cao đối với nhện L pseudoannulata Các thuốc monocrotophos, methomy có độ độc rất thấp đối với nhện sói này (Chiu, 1979) Thuốc carbofuran có độ độc cao đối với nhện L pseudoannulata, Oxyopes sp., Tetragnatha sp (Chelliah et al., 1994) Các thuốc shachchongshuang, methamidophos độc đối với nhện Pirata subpiraticus Thuốc buprfezin tương đối an toàn với thiên địch trên đồng lúa (Xu et al., 1999) Những nghiên cứu ở trong
phòng tại IRRI cho thấy các thuốc acephate, propaphos, carbophenothion, disyston,
fenitronthion, pyridafenthion có tính chọn lọc đối với nhện L pseudoannulata và O insecticeps.
Tính chọn lọc này có được là do sự thấm kém và sự hoạt động của một số men thủy phân cácchất hữu cơ trong cơ thể nhện lớn cao hơn so với trong cơ thể rầy nâu (H.M.Thang, 1990)
Kết quả nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy hầu hết các thuốc hóa học BVTV (đặc biệt làthuốc trừ sâu hóa học) dùng trên lúa đều ảnh hưởng độc đối với thiên địch của sâu hại lúa, dẫntới sự phá hủy khu hệ thiên địch của sâu hại lúa Do đó, gây tái phát quần thể của rầy nâu, rầy
xanh đuôi đen, rầy xám nhỏ, sâu đục thân 5 vạch đầu nâu ở nhiều nước trồng lúa (Kenmore et al., 1984; Kiritani, 1979; Ooi et al., 1994).
1.4 Giới thiệu về địa điểm thực tập - Viện Bảo Vệ Thực Vật
* Tên Tiếng Việt : Viện Bảo vệ thực vật;
* Tên Tiếng Anh : Plant Protection Research Institute (PPRI)
1.4.1 Chức năng nhiệm vụ
* Chức năng:
Trang 141 Viện Bảo vệ thực vật được thành lập theo điểm"c" Khoản "1" Điều 2 của Quyết địnhsố: 220/QĐ-TTg ngày 09/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ Thành lập Viện Khoa học Nôngnghiệp Việt Nam.
2 Viện Bảo vệ thực vật là đơn vị sự nghiệp khoa học, trực thuộc Viện Khoa học Nôngnghiệp Việt Nam, có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về dịch hại vàsinh vật có ích trên cây trồng nông lâm nghiệp, các đối tượng kiểm dịch thực vật, thuốc bảo vệthực vật trên phạm vị cả nước
Trụ sở của Viện đặt tại Xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
* Nhiệm vụ:
1 Xây dựng chương trình, dự án, kế hoạch nghiên cứu khoa học và chuyển giao côngnghệ dài hạn, năm năm và hàng năm trong lĩnh vực Nông Lâm nghiệp để phục vụ phát triểnkinh tế xã hội của cả nước, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện
2 Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về các lĩnh vực:
a) Điều tra cơ bản về sinh vật gây hại, sinh vật có ích, xây dựng quỹ gen về sinh vật trongbảo vệ thực vật; bảo quản và xây dựng bộ mẫu chuẩn quốc gia về côn trùng, bệnh hại, cỏ dại, visinh vật nông nghiệp, ký sinh thiên địch;
b) Nghiên cứu sâu bệnh, bệnh, cỏ dại và các dịch hại khác hại cây Nông Lâm nghiệp vàgiải pháp phòng trừ;
c) Nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp sinh học trong bảo vệ thực vật;
d) Nghiên cứu độc lý, dư lượng, phát triển thuốc bảo vệ thực vật và giải pháp sử dụngtheo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường;
đ) Nghiên cứu và xác định các đối tượng kiểm dịch thực vật;
e) Nghiên cứu đánh giá nguy cơ và quản lý dịch hại phục vụ sản xuất nông sản an toàn;f) Tham gia nghiên cứu chọn tạo giống chống chịu sâu bệnh có năng suất cao, phẩm chấttốt phục vụ cho các vùng sinh thái của cả nước
3 Thực hiện khảo, kiểm nghiệm thuốc bảo vệ thực vật
4 Thực hiện chức năng khuyến nông, khuyến lâm về bảo vệ thực vật;
5 Hợp tác quốc tế về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hợp tác chuyên gia và đào tạonguồn nhân lực trong lĩnh vực Bảo vệ thực vật với các tổ chức trong nước theo quy định củaNhà nước
Trang 156 Hợp đồng liên doanh, liên kết về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, thửnghiệm kỹ thuật mới, đào tạo nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực Bảo vệ thực vật với các tổ chứctrong nước theo quy định của pháp luật.
7 Sản xuất kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật
8 Quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân thực, kinh phí, tài sản được giao đúng quyđịnh của pháp luật
1.4.2 Tổ chức bộ máy
* Các phòng nghiệp vụ:
Phòng Tổ chức Hành chính
Phòng Khoa học và HTQT
Phòng Tài chính kế toán
* Các bộ môn nghiên cứu:
Bộ môn Bệnh cây
Bộ môn Côn trùng
Bộ môn Thuốc, Cỏ dại & Môi trường
Bộ môn chẩn đoán & Giám định dịch hại và thiên địch
Bộ môn Miễn dịch thực vật
Bộ môn kinh tế BVTV
Đơn vị sự nghiệp: Trung tâm đấu tranh sinh học
Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ thực vật Nam Bộ
Doanh nghiệp: Công ty Tư vấn và Đầu tư phát triển BVTV
* Lực lượng cán bộ:
Viện có 145 cán bộ trong biên chế, trong đó có: 01 GS Tiến sỹ; 01 PGS.TS; 14 Tiến sỹ;
32 Thạc sỹ; 84 kỹ sư và 13 KTV và nhân viên phục vụ
Trang 16Hình 1.1: Viện BVTV – Đông Ngạc – Từ Liêm – Hà Nội
Trang 17Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ 15 tháng 3 đến 15 tháng 5 năm 2011
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Nhóm Sâu hại lúa – Bộ môn Côn trùng - Viện Bảo vệ thực vật – Đông Ngạc – TừLiêm – Hà Nội
+ Hợp tác xã Hải Lộc - huyện Hải Hậu - tỉnh Nam Định
2.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Một số loài thiên địch bắt mồi chính (Nhện lớn bắt mồi, bọ xít
mù xanh, bọ rùa đỏ, bọ ba khoang)
* Vật liệu nghiên cứu:
- Dụng cụ để quan sát và chụp ảnh bao gồm: Kính lúp soi nổi, kính lúp điện tử, kính lúpcầm tay với độ phóng đại 10 lần, máy ảnh
- Dụng cụ thu mẫu bao gồm: bẫy dính vàng, ống hút côn trùng, túi nilon, chổi lông, bútlông, lọ thuỷ tinh, ống tuýp, kim mũi nhọn, panh, đĩa petri thuỷ tinh…
- Dụng cụ thử thuốc: Pipet, ống đong, xi lanh, bình bơm tay, bình xịt nhỏ, xô nhựa…
- Hóa chất nghiên cứu: Một số loại thuốc BVTV phòng trừ sâu hại lúa hiện có trongdanh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam (19/6/2007)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra thành phần thiên địch
- Điều tra ngoài đồng: điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần tại các điểm nghiên cứu
- Phương pháp điều tra:
+ Dùng bẫy dính vàng để xác định mật độ quần thể thiên địch: trên mỗi công thức thínghiệm, điều tra 5 điểm chéo góc, 10 khóm/điểm
+ Dùng vợt để điều tra những loài hoạt động nhanh nhẹn và ở trên bề mặt lá lúa Thu bắttoàn bộ mẫu thiên địch bắt gặp về giám định tại Viện BVTV Từ đó đưa ra mức độ phổ biến củachúng trên đồng ruộng
Trang 18Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hình 2.1: Một số hình ảnh sử dụng bẫy dính vàng để điều tra thành phần và mật độ thiên địch trên đồng ruộng trong vụ Đông xuân năm 2011 tại Hải Lộc, Hải Hậu, Nam
Định
Trang 19Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.3.2 Xử lý và bảo quản mẫu vật
- Mẫu loài thiên địch sẽ bảo quản trong cồn 95o và đem đi giám định tại Viện BVTV
- Việc phân loại và giám định tên khoa học được các cán bộ trong bộ môn côn trùngphân loại dựa trên các tài liệu chuẩn quốc tế
2.3.3 Phương pháp đánh giá sức tiêu diệt sâu hại của thiên địch
Phương pháp nghiên cứu: Bọ xít mù xanh và nhện sói vân hình đinh ba được thu bắtbằng ống nghiệm ở đồng đem về phòng thí nghiệm Mỗi cá thể được nuôi trong một ống thủytinh (kích thước 20 x 2cm cho bọ xít mù xanh, 25 x 4cm cho nhện sói vân hình đinh ba) Bọ xít
mù xanh bỏ đói 24 giờ còn nhện sói vân hình đinh ba bỏ đói 48 giờ Sau thời gian bỏ đói thì bắtđầu tiến hành thí nghiệm Mỗi ngày thả 40 rầy non tuổi 4-5 của rầy nâu cho 1 nhện sói vân hìnhđinh ba và 100 trứng rầy nâu cho bọ xít mù xanh Sau 24 giờ kiểm tra số lượng con mồi bị tiêudiệt và thay thức ăn mới
- Thời gian nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành liên tục trong 3 ngày
2.3.4 Phương pháp điều tra đánh giá ảnh hưởng của thuốc hoá học đến một số quần thể thiên địch trong phòng thí nghiệm
Nhện sói vân đinh ba được thu ngoài đồng ruộng với các kích thước tương đương nhau(9±0,1mm chiều dài) Sau đó mang về phòng thí nghiệm giữ ổn định sau 12 tiếng sau đó thả vàocác đĩa Pepti (10cm đường kính), được lót một tấm giấy thấm có kích thước vừa với đĩa Pepti.Giấy được phun thuốc ở các liều lượng khác nhau trước khi cho vào đĩa Pepti
Sử dụng 2 loại thuốc có gốc là Diazinon và Imidacloprid để đánh giá ảnh hưởng củathuốc với Nhện sói vân đinh ba Thuốc được áp dụng ở các liểu lượng khác nhau 3ppm, 15ppm,30ppm, 150ppm và 300ppm (ppm = pass per million; một phần một triệu)
Sau khi thả nhện vào các đĩa Pepti, tiến hành theo dõi khả năng sống sót của nhện ở 12,
24 và 48 giờ sau khi thả Mỗi công thức tiến hành theo dõi 10 cá thể Nhện sói vân đinh ba
2.3.5 Phương pháp điều tra đánh giá ảnh hưởng của thuốc hoá học đến một số quần thể thiên địch ngoài đồng ruộng
Chúng tôi tiến hành theo dõi diễn biến quần thể của Nhện tổng số, Bọ xít mù xanh và Bọ
ba khoang trên đồng ruộng
Trang 20Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ruộng thí nghiệm được bố trí diện rộng mỗi ruộng có diện tích từ 360-500m2, khôngnhắc lại Tiến hành phun thuốc khi rầy nâu xuất hiện trên đồng ruộng bằng các loại thuốc như:Chế phẩm sinh học nấm Metarhizium, thuốc hoá học Chess 50WG và Bassa 50EC
Giống lúa trồng tại 3 ruộng thí nghiệm (3 công thức) là giống Bắc thơm số 7 (giốngtrồng phổ biến tại điểm nghiên cứu) Các chế độ canh tác, chăm sóc và thời gian gieo cấy giốngnhau
Sử dụng bẫy dính vàng để điều tra diễn biến mật độ thiên địch ở các công thức mộttuân/lần Mỗi công thức điều tra 5 điểm chéo góc mỗi điểm tiến hành đập 10khóm lúa Số lượngthiên địch thu được, được trực tiếp đếm bằng mắt thường hoặc mang về phòng thí nghiệm đếmdưới kính núp điện tử
2.3.6 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tính toán
Mức độ phổ biến của các loài thiên địch bắt mồi ăn thịt được lượng hoá theo tần suất bắtgặp như sau:
Số điểm có thiên địch
Tổng số thiên địch bắt gặp (con)
- Mật độ thiên địch (con/m2) =