- Nguồn vốn bên ngoài DN: Là nguồn vốn DN huy động từ bên ngoài, bao gồm: vốn vay của các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế khác, vốn liên doanh, liên kết, vốn huy động từ phát hành trá
Trang 1Chương I:
Vốn kinh doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả vốn
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường 1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm
Vốn kinh doanh (VKD) là phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết đối với bất cứ loại hình doanh nghiệp (DN) nào thuộc bất cứ ngành nghề nào muốn tồn tại
và phát triển.Vậy vốn kinh doanh là gì?
Theo luật DN 2005 " DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh"
Khái niệm trên cho thấy, hoạt động kinh doanh là hoạt động nền tảng của
DN, và nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Mỗi DN đều có những đặc thù riêng song trong quá trình SXKD đều phải có đặc điểm chung là bắt đầu bằng các yếu tố đầu vào và kết thúc là các yếu tố đầu ra Đầu vào là các yếu tố như: nguyên vật liệu, hàng hoá và dịch vụ mà DN sử dụng, kết hợp với nhau để tạo ra đầu ra Đầu ra chính là các sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ có ích, sử dụng cho quá trình SXKD hoặc tiêu dùng Để tạo ra đầu ra thì DN phải có một lượng tiền tệ đảm bảo cho các yếu tố đầu vào này, lượng tiền tệ này gọi là VKD của DN
"VKD của DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản sử dụng vào SXKD
nhằm mục đích sinh lời"
Như vậy, vốn có tính chất quyết định trong hoạt động SXKD Điều này đòi hỏi các DN phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả để bảo toàn và phát triển vốn giúp cho DN ngày càng lớn mạnh.Việc nhận thức đầy đủ hơn về vốn sẽ giúp DN hiểu rõ được tầm quan trọng và giá trị đồng vốn để sử dụng có hiệu quả hơn.
Trang 21 1.1.2 Đặc trưng của VKD
Để quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả DN cần phải nắm được những đặc trưng của vốn như :
Thứ nhất: Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định Nghĩa là vốn
đó được thể hiện bằng giá trị những tài sản có thực cho dù đó là tài sản hữu hình ( nhà xưởng, máy móc thiết bị, sản phẩm ) hay vô hình ( nhãn hiệu, bằng phát minh sáng chế )
Thứ hai: Vốn phải được vận động sinh lời.Đặc trưng này của vốn xuất phát
từ nguyên tắc: tiền chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào SXKD, chúng vận động biến đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn là giá trị tiền phải lớn hơn khi xuất phát
Thứ ba: Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy được tác dụng trong hoạt động kinh doanh Đặc trưng này đòi hỏi DN cần lập kế hoạch để huy động đủ lượng vốn cần thiết và trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tư lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh
Thứ tư: Vốn phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định Mỗi đồng vốn phải
gắn liền với một chủ sở hữu nhất định Bởi ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở
đó có sự chi tiêu lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả
Thứ năm: Vốn phải có giá trị về mặt thời gian.Nghĩa là phải xem xét yếu tố
thời gian của đồng tiền.Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lạm phát, giá cả thay đổi, tiến bộ khoa học không ngừng nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau
Thứ sáu: Vốn là một thứ hàng hoá đặc biệt, chỉ bán quyền sử dụng Trong
nền kinh tế thị trường nhu cầu vay vốn của các DN rất cao Do đó xuất hiện những
tổ chức cá nhân tiến hành cho DN vay vốn, nhưng DN chỉ được quyền sử dụng vốn trong khoảng thơi gian nhất định và phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn trong một khoảng thời gian đó Như vậy, khác với hàng hoá thông thường, vốn khi bán ra sẽ
Trang 3không bị mất đi quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định.
Thứ bảy: Tại một thời điểm, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau, vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà của cả tài sản vô hình Đặc trưng này giúp DN có sự nhìn nhận toàn diện về các loại vốn, từ
đó có thể đưa ra các biện pháp phát huy tổng hợp của VKD
1.1.1.3 Phân loại vốn kinh doanh
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển khi tham gia vào quá trình SXKD, vốn kinh doanh được chia thành hai loại:Vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ).
Vốn cố định
Khái niệm VCĐ
Muốn tiến hành SXKD, trước hết mọi DN phải có tư liệu lao động.Tư liệu lao động có nhiều loại như máy móc, thiết bị nhà xưởng, phương tiện vận tải, các công trình kiến trúc Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sử dụng trong quá trình SXKD của DN là các TSCĐ Để hình thành các TSCĐ đòi hỏi DN phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định, lượng vốn tiền tệ này được gọi là VCĐ của DN
"VCĐ là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ mà
đặc điểm của nó là tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD và hoàn thành một vòng luân chuyển khi TSCĐ hết thời gian sử dụng"
VCĐ có vai trò rất quan trọng một mặt nó chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư kinh doanh của DN Mặt khác VCĐ là số vốn ứng trước để mua sắm các TSCĐ nên quy mô của VCĐ nhiều hay ít nó quyết định đến quy mô TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kĩ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất của
DN Song những đặc điểm kinh tế của TSCĐ lại ảnh hưởng chi phối đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển của VCĐ
Trang 4Đặc điểm luân chuyển của VCĐ
- VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD Điều này do đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ SXKD quyết định
- VCĐ dịch chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ SXKD Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ được luân chuyển
và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (chi phí khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ
- Sau nhiều chu kỳ sản xuất, VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần dần tăng lên song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại giảm xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm thì VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển
Từ những đặc điểm luân chuyển của VCĐ đòi hỏi viêc quản lý VCĐ phải kết hợp vừa quản lý theo giá trị và vừa quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ của DN
Vốn lưu động
Khái niệm
Khi thực hiện SXKD ngoài tư liệu lao động, các DN còn phải có đối tượng lao động và sức lao động Các đối tượng lao động như nguyên vật liệu, bán thành phẩm chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các TSLĐ, còn về hình thái giá trị được gọi là VLĐ của DN
" VLĐ là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của DN thực hiện được thường xuyên, liên tục VLĐ chuyển dịch giá trị toàn bộ ngay trong một lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu
kỳ kinh doanh."
Trang 5Sự vận động của VLĐ từ hình thái ban đầu qua các hình thái khác đến khi trở về hình thái ban đầu gọi là sự tuần hoàn của VLĐ Do quá trình SXKD của DN diễn ra thường xuyên, liên tục nên sự tuần hoàn của VLĐ cũng lặp đi lặp lại có tính chu kỳ.
- VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn khi DN tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền bán hàng
Từ những đặc điểm đó công tác quản lý VLĐ được quan tâm, chú ý từ việc xác định nhu cầu VLĐ cần thiết, huy động nguồn tài trợ và sử dụng vốn phải phù hợp sát với tình hình thực tế SXKD
Đặc điểm của TSLĐ và đặc điểm luân chuyển của VLĐ đã chi phối đến công tác quản lý, sử dụng VLĐ Muốn quản lý và sử dụng hiệu quả VLĐ cần thực hiện tốt hai biện pháp sau:
+ Trọng điểm của quản lý VLĐ là tăng cường luân chuyển VLĐ qua các giai đoạn của chu kỳ SXKD
+ Thực hiện phân loại VLĐ theo các tiêu thức khác nhau nhằm đánh giá sự hợp lý của cơ cấu VLĐ, từ đó có biện pháp đảm bảo sự phù hợp của cơ cấu VLĐ
Để quản lý VLĐ được tốt cần phải phân loại VLĐ Dựa theo các tiêu thức khác nhau có thể chia VLĐ thành các loại khác nhau :
Dựa theo hình thái biểu hiên của vốn :
• Vốn bằng tiền và các khoản phải thu
• Vốn về hàng tồn kho
Trang 6Dựa theo vai trò VLĐ đối với quá trình SXKD:
• Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất
• Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất
• Vốn lưu động trong khâu lưu thông
Từ đặc điểm của VCĐ và VLĐ đòi hỏi công tác quản lý vốn của DN phải được quan tâm Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ thì cần phải quản
lý VCĐ trên cả hai mặt hình thái hiện vật và giá trị Muốn quản lý tốt và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ, DN phải quản lý trên tất cả các hình thái biểu hiện của nó
Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn người ta chia ra làm hai loại: Vốn bằng tiền và vốn hiện vật:
Vốn bằng tiền : Bao gồm tiền mặt, tiền tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, vốn
trong thanh toán và các khoản đầu tư ngắn hạn Ngoài ra vốn bằng tiền của DN còn bao gồm cả những giấy tờ có giá để thanh toán
Vốn bằng hiện vật : Là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật
như : Tài sản cố định, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá
1.1.2.Nguồn vốn của doanh nghiệp
Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của DN thì DN cần nắm rõ nguồn hình thành VKD từ đó có phương án huy động, biện pháp quản lý, sử dụng thích hợp để đem lại hiệu quả cao Tuỳ từng tiêu thức nhất định mà nguồn vốn kinh doanh (NVKD) được chia thành các loại khác nhau:
1.1.2.1.Theo quan hệ sở hữu về vốn
- Vốn chủ sở hữu (VCSH): Là vốn thuộc sở hữu của DN, DN có đầy đủ các
quyền chi phối, chiếm hữu và định đoạt Bao gồm: vốn do ngân sách cấp, lợi nhuận
để lại, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khấu hao
- Nợ phải trả (NPT): Bao gồm vốn chiếm dụng và các khoản nợ vay.
Vốn chiếm dụng bao gồm: NPT người cung cấp, thuế và các khoản phải nộp
ngân sách, nợ phải trả công nhân viên Đây là nguồn vốn mà DN được sử dụng hợp pháp trong một khoảng thời gian nhất định mà không bắt buộc phải trả lãi tiền
Trang 7vay.Vì vậy DN nên chủ động sử dụng nguồn vốn này để phục vụ cho quá trình SXKD của DN, nhưng đồng thời vẫn đảm bảo kỷ luật thanh toán.
Các khoản nợ vay bao gồm: Vay vốn từ ngân hàng thương mại, tổ chức tài
chính, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu nguồn vốn vay có vai trò quan trọng trong việc bổ sung vốn cho DN đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn
1.1.2.2.Theo phạm vi huy động vốn
Theo phạm vi huy động vốn, NVKD của DN được chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài DN
- Nguồn vốn bên trong DN: Là nguồn vốn có thể huy động được từ bản
thân DN, gồm vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế, thu thanh lý, nhượng bán TSCĐ, quỹ khấu haoTSCĐ Nguồn vốn bên trong có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của DN vì một mặt nó phát huy được tính chủ động trong công việc sử dụng vốn, mặt khác làm gia tăng mức độ độc lập về tài chính của DN
- Nguồn vốn bên ngoài DN: Là nguồn vốn DN huy động từ bên ngoài, bao
gồm: vốn vay của các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế khác, vốn liên doanh, liên kết, vốn huy động từ phát hành trái phiếu, nợ người cung cấp Huy động vốn từ bên ngoài tạo cho DN một cơ cấu tài chính linh hoạt hơn, mặt khác có thể làm tăng
tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu nếu mức lợi nhuận đạt được cao hơn chi phí sử dụng vốn.Song, nếu DN sử dụng nguồn vốn bên ngoài kém hiệu quả thì nợ vay lại trở thành gánh nặng và nguy cơ rủi ro là rất lớn.Vì vậy, DN cần phải kết hợp hai nguồn này sao cho hợp lý, lựa chọn hình thức huy động phù hợp để mang lại hiệu quả sử dụng vốn cao nhất
1.1.2.3.Theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Theo tiêu thức này, VKD của DN được chia làm hai nguồn: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn thường xuyên: Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định dài hạn,
bao gồm: Nguồn VCSH và các khoản nợ dài hạn Nguồn vốn này được dùng để
Trang 8đầu tư mua sắm TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên cần thiết Nguồn vốn thường xuyên được xác định như sau:
Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản - Nợ ngắn hạn
Hoặc = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) bao
gồm: các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, được dùng để đáp ứng cho nhu cầu hoạt động SXKD để tiết kiệm tối đa chi phí sử dụng vốn, đồng thời có biện pháp quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả
Phân loại theo cách này giúp DN xem xét, huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng và có cơ sở để lập ra các kế hoạch tài chính Qua đó vấn đề đặt ra cho các DN là sẽ huy động bao nhiêu và từ nguồn nào đáp ứng cho nhu cầu hoạt động SXKD để tiết kiệm tối đa chi phí sử dụng vốn, đồng thời có biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả
1.2 Tầm quan trọng của nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
1.2.1.Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1.1.Một số quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn là tiền đề vật chất để tiến hành hoạt động SXKD, là tiền đề xuyên suốt trong quá trình SXKD Các DN muốn tồn tại và phát triển cần phải quan tâm đến việc quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả Từ góc độ nhìn nhận khác nhau, quan điểm về hiệu quả sử dụng VKD cũng có cách hiểu khác nhau Nhưng nói chung, việc sử dụng vốn có hiệu quả là phải nhằm đạt được kết quả cao nhất trong quá trình SXKD với chi phí bỏ ra thấp nhất
Hiệu quả kinh tế được hiểu theo các góc độ khác nhau:
Hiệu quả sử dụng VKD của DN đứng trên góc độ kinh tế: Là tối đa hoá lợi
nhuận Như vậy có thể hiểu là với lượng vốn nhất định bỏ vào hoạt động SXKD sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất và làm cho đồng vốn không ngừng sinh sôi, tức là hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở hai mặt: bảo toàn vốn và tạo ra được các kết quả theo
Trang 9mục tiêu kinh doanh, trong đó đặc biệt kết quả về sinh lời của đồng vốn Bên cạnh
đó, phải chú ý cả sự tối thiểu hoá lượng vốn và thời gian sử dụng vốn của DN Kết quả sử dụng vốn phải thoả mãn được lợi ích của DN và các nhà đầu tư ở mức độ mong muốn cao nhất, đồng thời phải nâng cao được lợi ích xã hội
Trên góc độ quản trị TCDN: Ngoài mục tiêu LN, sử dụng VKD có hiệu quả
còn phải đảm bảo an toàn, lành mạnh về mặt tài chính, tăng cường khả năng cạnh tranh của DN trước mắt và trong tương lai
Đối với nhà đầu tư: cho rằng hiệu quả sử dụng vốn đánh giá thông qua tỷ
suất sinh lời đòi hỏi mà DN có thể đáp ứng khi họ thực hiện đầu tư vào DN
Dù đứng trên quan điểm nào thì bản chất hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu biểu hiện một mặt của hiệu quả kinh doanh, là một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn nhân lực, tài lực của DN để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình SXKD với chi phí bỏ ra thấp nhất Hiệu quả sử dụng vốn của DN được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, khả năng huy động vốn, tốc độ luân chuyển vốn Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng để DN đứng vững và phát triển trên thị trường Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn DN phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Phải khai thác nguồn vốn một cách triệt để, tránh vốn nhàn rỗi, không sinh lời
- Phải sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý
- Phải quản lý vốn một cách chặt chẽ, không để vốn bị thất thoát do quản lý không chặt chẽ
Ngoài ra DN phải thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục nhưng mặt hạn chế và phát huy ưu điểm của
DN trong việc quản lý sử dụng vốn
1.2.1.2.Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của DN trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
Trang 10Để tiến hành hoạt động SXKD đòi hỏi mỗi DN phải có một lượng vốn nhất định và để duy trì hoạt động hoạt động SXKD nên DN buộc phải bảo toàn vốn Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều thành phần kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì vấn đề tổ chức huy động và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề hết sức quan trọng Đây là yếu tố có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của DN, đồng thời giúp DN khẳng định và giữ vị trí của mình trong cạnh tranh Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn SXKD luôn là vấn đề mà mỗi DN cần đặt lên hàng đầu, nó xuất phát từ các lý do sau:
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không chỉ mang lại lợi ích trước mắt cho DN
mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển của DN.Khi đồng vốn được sử dụng
có hiệu quả cũng đồng nghĩa với việc DN làm ăn có lãi, bảo toàn và phát triển được vốn, đó là cơ sở để tái sản xuất về chiều rộng và chiều sâu
Thứ hai: xuất phát từ vị trí, vai trò của VKD trong quá trình sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường, sẽ không có bất cứ một hoạt động SXKD nếu không có vốn.Vốn là tiền đề, là xuất phát điểm của mọi hoạt động kinh doanh, là nền tảng vật chất để biến mọi ý tưởng kinh doanh thành hiện thực
Mặt khác vốn có vai trò định hướng cho hoạt động SXKD của DN Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, trình độ trang thiết bị máy móc ngày càng cao làm cho năng suất lao động cao hơn đòi hỏi phải có lượng vốn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng này Nó không chỉ có ý nghĩa giúp DN chủ động hơn trong SXKD mà còn giúp DN chớp được thời cơ, tạo lợi thế trong kinh doanh, nâng cao khả năng huy động các nguồn tài trợ, khả năng thanh toán của DN được đảm bảo,
Trang 11DN có đủ tiềm lực khắc phục những khó khăn, rủi ro trong kinh doanh Muốn vậy
DN cần phải có biện pháp thích hợp để tổ chức, sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD
Thứ ba : Xuất phát từ thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng VKD trong các DN
Trong thời kỳ bao cấp, mọi nhu cầu về vốn SXKD của DN đều được huy động từ hai nguồn cơ bản: cấp phát của ngân sách nhà nước và vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi của Ngân hàng Vì thế vai trò khai thác, thu hút vốn không được đặt ra như một yêu cầu cấp bách và sự sống còn đối với DN, vai trò của TCDN trở nên
mờ nhạt Điều này làm mất đi tính chủ động của các DN
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế cùng đan xen hoạt động, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi các DN phải chủ động khai thác nguồn vốn để đáp ứng nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu SXKD Đồng thời các
DN phải tự trang trải mọi chi phí, đảm bảo kinh doanh có lãi và sử dụng vốn phải
có hiệu quả Mặt khác trên thực tế mặc dù nhiều DN thích ứng được, làm ăn có lãi nhưng vẫn còn không ít các DN còn sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả, không bảo toàn được vốn Những đòi hỏi đó bắt buộc các DN phải tiến hành quản lý vốn chặt chẽ và hiệu quả hơn vì sự tồn tại và phát triển của mình
Thứ tư: Xuất phát từ ý nghĩa đối với xã hội
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ góp phần tăng thu nhập cho người lao động, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế
Những phân tích trên thể hiện sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng VKD.Sự cần thiết này không chỉ riêng đối với DN mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VKD trong DN.
Việc đánh giá hiệu quả tổ chức và sử dụng vốn là nội dung quan trọng trong hoạt hoạt động tài chính của DN Thông qua đó mà DN có những căn cứ để đưa ra
Trang 12các quyết định về mặt tài chính như điều chỉnh quy mô vốn và cơ cấu đầu tư, các biện pháp khai thác và tạo lập nguồn vốn từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
1.2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả VKD
Để đánh giá một cách chung nhất về hiệu quả sử dụng VKD người ta thường sử dụng các chỉ tiêu:
* Vòng quay TS hay toàn bộ vốn: Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất
sử dụng TS hay toàn bộ vốn hiện có của DN
* Tỷ suất LNST trên doanh thu ( hay hệ số lãi ròng) : Hệ số này phản ánh
mối quan hệ giữa LNST và doanh thu thuần (DTT) trong kỳ Nó thể hiện một đồng doanh thu trong kỳ có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận
* Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên VKD ( hay Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản ROA E )
ROA =
Lợi nhuận trước lãi vay và thuếVKD (TS) bình quân
E
Trang 13* Tỷ suất lợi nhuân trước thuế trên VKD : Thể hiện mỗi đồng VKD trong kỳ có
khả năng sinh lời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ đi tiền lãi vay
* Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên VKD ( Hay Tỷ suất sinh lời ròng của TS ROA ): Phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
sau thuế
ROA =
Lợi nhuận sau thuế VKD sử dụng bình quân trong kỳ
* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu : Phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu
bình quân trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế
Ngoài ra các chỉ tiêu trên ta còn dùng hệ số nợ, và các hệ số về khả năng thanh toán để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của DN
Trên đây là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung Để đánh giá hiệu quả riêng của từng loại vốn ta còn có thể sử dụng các chỉ tiêu sau
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ
Để đánh giá hiệu quả tổ chức và sử dụng VCĐ cần xác định đúng đắn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ và TSCĐ của DN, gồm các chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu phân tích
* Hiệu suất sử dụng VCĐ: Phản ánh cứ một đồng VCĐ có thể tham gia tạo
ra bao nhiêu đồng DTT trong kỳ
Trang 14* Hàm lượng VCĐ: là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng
VCĐ, phản ánh số VCĐ cần thiết để tạo ra một đồng DTT trong kỳ
* Hệ số huy động VCĐ : Phản ánh mức độ huy động VCĐ hiện có vào hoạt
động SXKD trong kỳ của DN
+ Các chỉ tiêu phân tích:
* Hệ số hao mòn TSCĐ : Phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong DN so
với thời điểm đầu tư ban đầu
* Hệ số sử dụng TSCĐ : Phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tham gia tạo
được bao nhiêu đồng DTT
Hệ số sử dụng TSCĐ =
Doanh thu thuầnNguyên giá TSC bình quân trong kỳĐ
* Hệ số trang bị TSCĐ cho một công nhân trực tiếp: Phản ánh mức độ trang
bị giá trị TSCĐ cho một công nhân sản xuất trực tiếp cao hay thấp
Trang 15Hệ số trang bị TSCĐ cho một CN trực tiếp SX =
Nguyên giá TSC ực tiếp SX
Số lượng CN trực tiếp SX
Đ tr
1.2.2.3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ
Để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ trong các DN có thể sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
* Tốc độ chu chuyển của VLĐ : Có thể đo bằng hai chỉ tiêu :
- Vòng quay VLĐ ( số lần luân chuyển VLĐ) : Phản ánh số lần luân chuyển
VLĐ hay số vòng quay của VLĐ thực hiên được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm )
L =
MVLĐ
VqI, VqII, VqIII, VqIV : VLĐ bình quân các quý I, II, III, IV
VđqI : VLĐ còn dư đầu quý I VcqI, VcqII, VcqIII, VcqIV : VLĐ cuối quý I, II, III, IV
Trang 16- Kỳ luân chuyển của VLĐ : Phản ánh số ngày bình quân cần thiết để VLĐ
thực hiện được một lần luân chuyển
K =
NL
Trong đó: K: Kỳ luân chuyển của VLĐ
N: Số ngày trong kỳ
L: Số lần chu chuyển của VLĐ
*Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ chu chuyển: Phản ánh số VLĐ có thể tiết
kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ ở kỳ so sánh với kỳ gốc
Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu:
+ Mức tiết kiệm tuyệt đối:
360TK
1-1
ML
1 0
* Hàm lượng VLĐ: Là số VLĐ cần có để tạo ra một đồng DTT trong kỳ
Trang 17Hàm lượng VLĐ =
VL bình quân trong kỳDoanh thu thuần trong kỳ Đ
1.2.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của DN
1.2.3.1.Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VKD
Hiêu quả sử dụng VKD là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hoạt động SXKD trong các DN và chịu sự tác động tổng hợp bởi nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Trong quá trình quản lý vốn các DN cần tính đến tác động của các nhân tố này để đưa ra biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả nhất
* Những nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan là các nhân tố bên ngoài nhưng đôi khi đóng vai trò quyết định tới hiệu quả sử dụng vốn của DN
- Cơ chế quản lý và chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cho phép các DN có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên, Nhà nước vẫn quản lý vĩ mô nền kinh tế và tạo hành lang pháp lý để các DN hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Nếu chính sách kinh tế Nhà nước ổn định sẽ giúp cho việc tiến hành kế hoạch SXKD của DN thông suốt, có hiệu quả và ngược lại.Chính sách sách kinh tế của nhà nước như chính sách thuế, chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách khuyến khích đầu tư có thể làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng VKD của DN Do vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn các DN cần xem xét đến các chính sách kinh tế của nhà nước
- Mức độ lạm phát của nền kinh tế.
Nền kinh tế có lạm phát sẽ làm cho sức mua của đồng tiền giảm sút và sự tăng giá của các loại vật tư hàng hoá Với một lượng tiền như trước nhưng không mua được một khối lượng tài sản tương đương với khi có lạm phát DN phải bỏ ra một khối lượng tiền tệ nhiều hơn đầu tư vào TS đó, khi đó năng lực của vốn đã bị giảm
Trang 18- Điều kiên tự nhiên và rủi ro trong kinh doanh:
Những rủi ro trong kinh doanh như hoả hoạn, bão lụt, những biến động về thị trường làm cho TS của DN bị hư tổn, giảm giá dẫn đến vốn của DN bị mất mát Mặt khác, yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến các DN có sản phẩm chịu tác động của điều kiện tự nhiên như: ngành xây dựng, ngành nông nghiệp, ngành khai thác mỏ
- Thị trường và sự cạnh tranh:
Trong sản xuất hàng hoá, biến động của thị trưòng đầu vào và đầu ra là một căn cứ quan trọng để DN lập kế hoạch VCĐ,VLĐ Khi xem xét thị trường DN không thể bỏ qua đối thủ cạnh tranh của DN, để có thể tồn tại và phát triển đòi hỏi
DN phải nghiên cứu kỹ thị trường và đối thủ cạnh tranh của mình.Nếu DN có sức cạnh tranh lớn trên thị trường, sản phẩm có sức tiêu thụ lớn thì công ty sẽ co doanh thu và lợi nhuận lớn, từ đó tạo ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao
- Lãi suất thị trường :
Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến chi phí huy động bằng vốn vay Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi lãi suất thị trường tăng lên, tiền lãi DN phải thanh toán sẽ tăng lên, lợi nhuận giảm làm tỷ suất lợi nhuận trên vốn giảm xuống
- Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật :
Khoa học công nghệ là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với các DN, làm tăng hao mòn vô hình và đòi hỏi công tác đầu tư đổi mới TS phải được chú trọng
- Đặc thù ngành kinh doanh:
Đây là nhân tố có ý nghĩa quan trọng cần được xem xét khi quản lý và sử dụng vốn Đặc thù của ngành thường ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu nguồn vốn cũng như vòng quay vốn Do đó, việc so sánh các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của DN với chỉ tiêu trung bình của ngành là cần thiết nhằm phát hiện những ưu điểm và hạn chế trong việc quản lý và sử dụng vốn
Trang 19Ngoài ra trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, nền kinh tế trong nước nói chung và các DN nói riêng cũng chịu ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới và khu vực.
* Những nhân tố chủ quan
Ngoài những nhân tố khách quan trên, còn có nhiều nhân tố chủ đạo do chính bản thân DN tạo nên làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn Bởi vậy,việc xem xét đánh giá đối với các nhân tố này rất quan trọng.Thông thường, trên góc độ tổng quát, người ta xem xét các nhân tố chủ yếu sau:
- Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động:
Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.Trình độ quản lý tốt, bộ máy gọn nhẹ, đồng bộ, nhịp nhàng sẽ giúp cho DN sử dụng vốn có hiệu quả, ngược lại nếu trình độ quản lý yếu kém hoặc bị buông lỏng
sẽ không có khả năng bảo toàn được vốn Trình độ người lao động có tác động rất lớn đến mức độ sử dụng hiệu quả TS, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, mức độ phế phẩm từ đó tác động rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm và lợi nhuận của DN
- Sự lựa chọn phương án đầu tư :
Nếu DN lựa chọn phương án sản xuất tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn Ngược lại, sẽ là sự thất bại của phương án kinh doanh và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
- Sự hợp lý của cơ cấu TS và nguồn vốn kinh doanh (NVKD) trong DN :
Việc đầu tư vào các TS không sử dụng hoặc chưa sử dụng quá lớn hoặc DN vay nợ quá nhiều, sử dụng không triệt để nguồn vốn bên trong thì không những không phát huy tác dụng của vốn mà còn bị hao hụt, mất mát, tạo ra những rủi ro cho DN
Trang 20- Chế độ lương và cơ chế khuyến khích người lao động :
Đây là nhân tố có ảnh hưởng rất quan trọng đến thái độ và ý thức làm việc của người lao động Một mức lương tương xứng với mức độ cống hiến cùng với chế độ khuyến khích hợp lý, gắn với hiệu quả công việc sẽ tạo động lực cho việc nâng cao năng suất lao động trong DN, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
- Việc tính và trích khấu hao :
Việc tính và trích khấu hao không sát thực với tình hình hao mòn của TS dẫn đến TS hư hỏng trước khi thu hồi vốn Công tác tổ chức quản lý và sử dụng quỹ khấu hao không hiệu quả, đúng mục đích sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VKD của DN
- Mức độ sử dụng năng lực sản xuất hiện có của DN vào SXKD:
Sử dụng lãng phí VLĐ trong quá trình mua sắm, không tận dụng hết nguyên vật liệu vào SXKD, để nguyên vật liệu tồn kho dự trữ quá mức cần thiết trong thời gian dài, sẽ tác động đến cơ cấu vốn cũng như hiệu quả sử dụng vốn của DN
Trên đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của
DN Để nâng cao hiệu quả sử dụng của VKD, DN cần xem xét từng yếu tố để từ đó đưa ra biện pháp quản lý thích hợp
1.2.3.2.Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của DN
Để đảm bảo cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng VKD, DN cần thự hiện các biện pháp cơ bản sau:
Trang 21Thứ nhất: Thực hiện chặt chẽ việc thẩm định, đánh giá và lựa chọn dự án
đầu tư phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện của DN mình Việc lựa chọn dự
án đầu tư tốt hay không có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DN
Để có quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn dự án đầu tư đòi hỏi mỗi DN cần phải tính toán, nghiên cứu các yếu tố như : khả năng tài chính của DN, điều kiện cung cấp sản phẩm, tính khả thi và kết quả dự án mang lại
Thứ hai : Tổ chức tốt quá trình huy động vốn hợp lý, tổ chức khai thác triệt
để các nguồn lực đã huy động Huy động vốn phải đảm bảo được tính độc lập, chủđộng trong SXKD của DN Tức là DN phải có quan điểm huy động vốn tối đa nguồn lực bên trong như từ: lợi nhuận để lại, nguồn vốn khấu hao, quỹ đầu tư phát triển Phần còn lại sẽ được huy đông từ bên ngoài như : vay ngắn hạn, vay dài hạn, thuê tài chính cơ cấu nguồn tài trợ phải đảm bảo có chi phí sử dụng vốn bình quân
là thấp nhất Mức độ huy động vốn phải dựa trên cơ sở đáp ứng nhu cầu hình thành TSCĐ và TSLĐ thường xuyên cần thiết
Thứ ba: Xác đinh đúng đắn nhu cầu VKD cần thiết, tối thiểu cho hoạt động
SXKD của DN trong từng thời kỳ hoạt động Từ đó lập kế hoạch huy động vốn, bố trí sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục, không bị gián đoạn
Thứ tư: DN phải xác định cơ cấu vốn hợp lý và chủ động điều chỉnh cơ cấu
vốn để đảm bảo an toàn tài chính, phát huy hiệu quả sử dụng vốn và phù hợp với tình hình nền kinh tế trong từng thời kỳ
Thứ năm : Tổ chức tốt quá trình sản xuất, đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản
phẩm DN cần phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, tiết kiệm nguyên vật liệu, khai thác tối đa công suất máy móc thiết bị hiện
có Bên cạnh đó, cần phải tăng cường công tác tiếp thị, quảng cáo nhằm tăng sản lưọng tiêu thụ, mở rộng thị phần
Trang 22Thứ sáu: Phát huy tốt vai trò của TCDN trong quản lý, sử dụng vốn Tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát đối với khâu mua sắm TS, vật tư đến dự trữ, sản xuất tiêu thụ sản phẩm Phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại trong quản lý
sử dụng vốn, từ đó đưa ra các quyết định điều chình cho phù hợp với diễn biến thực
tế SXKD
Thứ bảy : Thực hiện tốt công tác thu hồi công nợ bằng cách đưa ra chính
sách tín dụng đúng đắn với từng nhóm khách hàng, hạn chế tình trạng bán hàng không thu được tiền, vốn bị chiếm dụng quá nhiều Bên cạnh đó, DN cần phải làm tốt công tác thanh toán nợ đến hạn tranh để các khoản nợ quá hạn tăng lên
Thứ tám : Chủ động thực hiện biện pháp phòng ngừa rủi ro bất thường trong
kinh doanh bằng cách đa dạng hoá đầu tư, đa dạng hoá sản phẩm Tiến hành trích lập các khoản dự phòng phải thu khó đòi, hàng tồn kho tham gia bảo hiểm cho TS, đồng thời lập quỹ dự phòng tài chính để có nguồn bù đắp khi VKD bị thiếu hụt
Trên đây là một số phương hướng biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng VKD của DN nói chung Trong thực tế, DN cần căn cứ vào điều kiện và phương hướng của mình để đưa ra các biện pháp cụ thể có tính khả thi cao nhằm đẩy mạnh công tác tổ chức và sử dụng có hiệu quả VKD cho DN
Trang 23Chương II:
Thùc tr¹ng Vèn kinh doanh vµ hiÖu qu¶ sö dông vèn kinh doanh t¹i c«ng ty thuèc l¸
b¾c s¬n 2.1.Tổng quan về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty thuốc lá Bắc Sơn
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
- Tên gọi đầy đủ: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Thuốc lá Bắc Sơn
- Tên giao dịch: Công ty thuốc lá Bắc Sơn
- Cơ quan quản lý cấp trên: Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam
- Ngày thành lập: 15 tháng 02 năm 1968
- Diện tích mặt bằng 4 ha
- Vốn điều lệ : 46,996 tỷ đồng
- Hình thức sở hữu vốn : 100 % vốn nhà nước
Công ty thuốc lá Bắc Sơn được hình thành từ bộ phận T2 của Nhà máy thuốc
lá Thăng Long sơ tán lên Lạng Sơn, địa điểm sơ tán tại trường văn hóa Quân đội thị
xã Lạng Sơn
Sau gần 2 năm vừa sản xuất và chiến đấu Để đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày càng tốt hơn, Bộ công nghiệp nhẹ đã ra quyết định số 113/CNn/TCCB ngày 15/02/1968 thành lập Nhà máy thuốc lá Bắc Sơn
Những năm đầu mới thành lập, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cơ quan địa phương giúp đỡ, hỗ trợ Nhà xưởng nơi sơ tán và thiết bị còn lạc hậu thiếu thốn, cán bộ công nhân viên Nhà máy phải khắc phục khó khăn, nhiều công đoạn sản xuất phải làm thủ công nguyên phụ liệu cho sản xuất chủ yếu nhập
Trang 24ngoại Các sản phảm chính ra đời khi đó là Tam Thanh, Nhị Thanh, D’rao, Sông Hương, Bắc Sơn… chất lượng luôn được người tiêu dùng tín nhiệm.
Tháng 4/1970 Nhà máy trả lại trường văn hóa Quân đội thị xã Lạng Sơn di chuyển về Đáp Cầu-Thị xã Bắc Ninh-Tỉnh Hà Bắc theo chủ trương của Bộ Công Nghiệp nhẹ
Từ năm 1975 khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Nhà máy đã nhanh chóng củng cố cơ sở vật chất, đẩy mạnh sản lượng và chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng ngày càng tốt hơn
Năm 1881 theo nhu cầu của ngành, Nhà máy thuốc lá Bắc sơn trực thuộc Xí Nghiệp Liên Hợp thuốc lá I quản lý
Từ năm 1989 nhà máy đã từng bước đầu tư chiều sâu: từ đổi mới công nghệ đến đổi mới công tác quản lý, đổi mới cách nghĩ cách làm Các sản phẩm đầu lọc tăng nhanh, nhiều sản phẩm có giá trị cao như Vinataba, Aroma, Viễn Đông,
Baylef được nhiều người tiêu dùng chấp nhận
Tháng 10/1992, chuyển đổi Tổ chức và hoạt động của Liên Hiệp thuốc lá Việt Nam thành Tổng Công ty thuốc lá việt Nam
Từ ngày 01/10/2006 Nhà máy thuốc lá Bắc Sơn chuyển thành Công ty
TNHH môt thành viên thuốc lá Bắc Sơn theo quyết định số 321/2005/QĐ-TTg ngày 6/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ
Trong quá trình hình thành, xây dựng và phát triển nhà máy luôn phát huy truyền thống khắc phục khó khăn hoàn thành toàn diện vượt mức kế hoạch nhà nước giao, những thành tích đó đã được Đảng và nhà nước ghi nhận, tặng thưởng huân chương lao động hạng I, II, III và huân chương độc lập hạng III, cùng nhiều
cờ bằng khen của bộ Công Nghiệp, Bộ Tài chính Tỏng liên đoàn lao động Việt Nam, UBND tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh
2.1.2.Nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh chủ yếu
-Là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập với chức năng và nhiệm vụ chính là sản xuất thuốc lá điếu, thuốc lá sợi các loại phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và
Trang 25xuất khẩu, thông qua các hệ thống đại lý với mạng lưới nhân viên tiếp thị của nhà máy ở các tỉnh thành phố trong cả nước.
- Công ty đã và đang duy trì phát triển sản xuất để sản phẩm của nhà máy đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của mọi tầng lớp dân cư trong và ngoài nước
Công ty có nhiều sản phẩm phù hợp với thị hiếu và nhu cầu của khách hàng như: Vinataba, Aroma thường, Aroma phủ nhôm, Suny, Bắc Sơn
2.1.3.Tổ chức nhân sự và bộ máy quản lý
* Tổ chức nhân sự:
Tổng số cán bộ công nhân viên hiện nay là: 487 người
Trong đó:
-Cán bộ có trình độ đại học, trên đại học là 44 người
-Cán bộ trình độ trung cấp,Cao đẳng là 38 người
-Công nhân kỹ thuật bậc cao 269 người
-Công nhân bậc 1- 4 là 136 người
P.
KT
TC-P
TT
TT-P Kỹ thuật P.KCS Độibảo
vệ
Trang 26
+ Giám đốc : điều hành mọi hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm trước
pháp luật và tổng công ty về hoạt động của công ty
+ Phó giám đốc : Thay mặt giám đốc giải quyết các công việc khi giám đốc
đi vắng, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm trước giám đốc về các hoạt động liên quan đến lĩnh vực mình phụ trách
+ Phòng kế hoạch vật tư: có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch ngắn hạn, dài về
phương án sản phẩm, vật tư, nguyên liệu, giá thành sản phẩm lập các dự án đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất
+ Phòng Tài chính kế toán: có nhiệm vụ thu thập thông tin, ghi chép phản
ánh chính xác kịp thời và có hệ thống về tình hình biến động vốn, kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện kế hoạch nộp ngân sách, tình hình biến động đầu vào đầu ra
để tổng hợp, phân tích đề xuất các biện pháp với lãnh đạo công ty cho ý kiến xử
lý + Phòng tiêu thụ thị trường: Có nhiệm vụ lập các chiến lược và chính sách
về sản phẩm, giá cả, phương thức phân phối, chăm sóc và hỗ trợ khách hàng, tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong và ngoài nước
+ Phòng tổ chức hành chính: nhiệm vụ thực hiện quản lý về các lĩnh vực:
công tác tổ chức, đào tạo, lao động, tiền lương, hành chính quản trị, thi đua khen thưởng, thực hiện chế độ với người lao động theo các quy định của công ty và của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền
+ Phòng kỹ thuật: Thực hiện quản lý về khoa học công nghệ theo các quy
định của công ty và cơ quan nhà nước có thẩm quyền
+ Phòng KCS: Có chức năng quản lý tiêu chuẩn đo lường và chất lượng sản
phẩm, vật tư nguyên liệu theo các qui định của công ty và của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
+ Đội bảo vệ: Có chức năng đảm bảo công tác an ninh trât tự, phòng cháy
nổ, chống lụt bão và công tác dân quân tự vệ
Trang 27+ Chức năng nhiệm vụ của các phân xưởng: Tổ chức sản xuất, phục vụ
tiến độ kế hoạch công ty giao cho về sản lượng, quy cách sản phẩm, khối lượng công việc
*Tổ chức công tác kế toán của công ty
Phòng tài chính kế toán của công ty gồm 8 người, gồm 1 kế toán trưởng , 6 nhân viên kiêm về các phần hành kế toán và một thủ quỹ
Hình thức kế toán áp dụng là nhật ký chứng tứ
2.1.4.Tổ chức sản xuất kinh doanh.
2.1.5.Đặc điểm sản xuất kinh doanh
2.1.5.1.Đặc điểm quy trình công nghệ
Tóm tắt quy trình công nghệ
Phần nguyên liệu lá thuốc được tước cuộng riêng, phần lá riêng sau đó thông qua hệ thống thiết bị công nghệ của phân xưởng như máy hấp Trung Quốc, máy thái Tây Đức máy sấy và hấp sợi Trung Quốc… sợi thành phẩm được đóng thùng trữ sợi Sợi thành phẩm được xuất sang các phân xưởng Bao cứng và Bao mềm để cuốn điếu đóng bao vào tút, đóng thành các kiện thành phẩm nhập kho và chở đi tiêu thụ, Toàn bộ quá trình được sự kiểm tra chặt chẽ của các kỹ sư công nghệ, các nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm, các nhân viên kỹ thuật cơ điện, nhân viên phòng kế hoạch… theo một quy trình công nghệ khép kín nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh lao động, tiết kiệm vật tư, nguyên liệu
Công Ty có 4 phân Xưởng
Phân Xưởng cơ điện
Phân xưởng Sợi
Phân xưởng Bao mềm
Phân Xưởng Bao cứng
Trang 28Sơ đồ quy trình công nghệ
2.1.5.2.Các yếu tố đầu vào và thị trường các yếu tố đầu vào
Phần Nguyên liệu là lá thuốc được Công ty thu mua từ các công ty nguyên liệu thuốc lá thuộc tổng công ty thuốc lá Việt Nam và từ các vùng nguyên liệu nhập vào kho nguyên liệu chính của công ty.Căn cứ vào kế hoạch sản xuất ,khả năng tiêu thụ của thị trường ,nguyên liệu được xuất cho phân xưởng sợi
2.1.5.3.Thị trường đầu ra và vị thế cạnh tranh của công ty
Công ty thuốc lá Bắc Sơn là một doanh nghiệp nhà nước, là doanh nghiệp duy nhất về sản xuất thuốc lá ở địa phương và là doanh nghiệp nộp ngân sách cao nhất trong tỉnh (chiếm khoảng 1/3 ngân sách tỉnh hàng năm)
Phương thức tiêu thụ là chở hàng cho các đại lý, các đại lý phải thế chấp tài sản cho công ty.Các thị trường chính như Thái Nguyên ,Phú Thọ,Vĩnh Phúc Ngoài ra công ty còn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường một số nước ở Trung Đông, Ba Lan, Mỹ Công ty có 2 sản phẩm độc đáo và có giá cả phải chăng đó là AROMA thường và AROMA phủ nhôm được nhiều khách hàng sử dụng
loại
Lên men
Bảo quản
Làm ẩm
Phối chế
Gia liệu Trữ lá
Thái sợi Sấy sợi
Loại tạp
Đóng bao
TP lưu kho
Trang 29Tình hình tiêu thụ sản lượng hàng hoá
2.1.6.Tình hình kết quả kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
Công ty thuốc lá Bắc Sơn là một DN đã ra đời từ rất sớm, trải các giai đoạn
từ thời kỳ bao cấp sang nền KTTT, nhưng DN luôn chủ động đổi mới và đa dạng hoá sản phẩm Vì vậy công ty luôn chú trọng đến chất lượng, mẫu mã chủng loại sản phẩm xem có phù hợp với nhu cầu thị trường hay không? Công ty có nhiều sản phẩm chất lưọng tốt và giá bán hợp lý vì thế mà đã có uy tín trên thị trường do đó không những duy trì được những khách hàng truyền thống công ty còn có thêm được bạn hàng mới và mở rộng phạm vi tiêu thụ không những trong nước mà còn
cả ở nước ngoài
Năm 2008 hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty gặp nhiều khó khăn do giá nguyên vật liệu đầu vào tăng, và có những có sự cạnh tranh của các sản phẩm thuốc lá khác trong và ngoài nước nhưng công ty vẫn có kết quả kinh doanh tương đối tốt như: Sản lượng tiêu thụ là 71 triệu bao, doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng đáng kể Để có đánh giá đúng và sâu hơn về tình hình SXKD của công ty ta xem xét bảng sau:
Bảng 1: Tổng hợp kết quả kinh doanh của công ty trong những năm vừa qua
Qua bảng số 01: "Tổng hợp kết quả kinh doanh trong những năm vừa qua" ta
thấy kết quả hoạt động SXKD của công ty có biến động theo xu hướng ổn định qua các năm, lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước.Trong đó lợi nhuận trước thuế của năm 2008 tăng 1.073.592đ với tỷ lệ tăng tương ứng 15,84 % Công ty luôn hoàn thành nhiệm vụ nộp ngân sách, và các khoản nộp ngân sách cũng tăng dần theo từng năm
Trang 30Qua 3 năm ta thấy quy mô nguồn vốn kinh doanh của công ty ngày càng tăng năm 2008 là 138.797.230 nghìn đồng tăng 19.469.347 nghìn đồng so với năm 2007 với tỷ lệ tăng là 16,31%.Đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty ngày càng cải thiện thể hiện qua thu nhập bình quân của công nhân viên tăng qua mỗi năm và đến năm 2008 thu nhập bình quân đầu người là 4.500.000đ
Nhìn chung, hoạt động SXKD của công ty vẫn đạt hiệu quả tốt, nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước được thực hiện đầy đủ và đời sống cán bộ công nhân viên khồng ngừng được cải thiện Tuy nhiên trong thời gian tới có thể hoạt động SXKD của công ty sẽ gặp phải nhiều khó khăn do sự biến động lớn của giá cả thị trường các yếu tố đầu vào và sự cạnh tranh gay gắt của thị trường các yếu tố đầu ra.Những thách thức đó đòi hỏi DN phải có những biện pháp chiến lược tốt
2.2.Thực trạng về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty thuốc lá Bắc Sơn
2.2.1 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn kinh doanh của công ty
2.2.1.1 Tình hình nền kinh tế hiện nay
- Hiện nay nền kinh tế Việt Nam cũng đang chịu sự tác động chung của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Với tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, vì thế mà nhà nước đang đưa ra những biện pháp kích cầu.Gần đây nhất chính phủ đã đưa ra chính sách hỗ trợ cho các tổ chức và cá nhân vay vốn trung va dài hạn bằng Việt Nam đồng để thực hiện đầu tư mới phát triển sản xuất - kinh doanh, kết cấu hạ tầng
sẽ được hỗ trợ với mức lãi suất 4% /năm Đây là một điểm rất thuận lợi cho công
ty huy động vốn cho quá trình SXKD
- Sự tăng giá bất thường của giá xăng dầu, giá điện và các loại nguyên vật liệu đầu vào đã làm ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động SXKD của công ty, làm chocác chi phi về SXKD, chi phí về nguyên vật liệu sản xuất cũng tăng lên rất nhiều Điều này là một trong những bất lợi của công ty trong việc sử dụng VKD
Trang 31- Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, hội nhập với khu vực và quốc tế làm tăng sức ép cạnh tranh trong hoạt động SXKD.Công ty phải cạnh tranh với các sản phẩm thuốc lá nhập ngoại, và sự cạnh tranh này càng gay gắt hơn khi Việt Nam đã
là thành viên của WTO
2.2.1.2.Đặc điểm SXKD của công ty
*Đặc điểm về sản phẩm
*Những thuận lợi của công ty
-Theo chỉ thị 13/1999/Ct-TTg của thủ tướng chính phủ về sắp xếp lại ngành thuốc lá nhằm ổn định lại sản xuất theo hướng tập trung nhà nước độc quyền
- Đội ngũ CBCNV của công ty có truyền thống, kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh, và công ty có sự hợp tác với hiệp hội thuốc lá Mỹ
- Có sự đầu tư gián tiếp cho người nông dân tại các vùng trồng thuốc lá, và được chính quyền địa phương ủng hộ
-Là thành viên của hiệp hội thuốc lá Việt nam
*Điểm hạn chế của công ty
- Mạng lưới tiêu thụ, công tác Marketing của công ty chưa tiếp cận, chưa linh hoạt thích ứng với cơ chế thị trường
- Giá bán sản phẩm thuốc lá điếu trong nước sản xuất còn thấp dẫn đến lợi nhuận thuốc lá thấp, vốn đầu tư không đáp ứng so với yêu cầu
- Sản phẩm thuốc lá điếu tầm cao được phôi chế trong nước chưa đủ cạnh tranh với thuốc lá nhập lậu
2.2.2.Khái quát vốn và nguồn vốn kinh doanh của công ty
Để đánh giá tình hình sử dụng vốn của công ty thì việc xem xét tổ chức, bố trí cơ cấu vốn và nguồn vốn là điều rất cần thiết Việc đó có thể đánh giá cơ cấu vốn, nguồn vốn của công ty như vậy đã hợp lý chưa? và nó ảnh hưởng thế nào đến hoạt động SXKD của công ty
Trang 322.2.2.1 Vốn kinh doanh của công ty.
Xem xét tổng quát tình hình tài chính của công ty qua biểu 02:"Cơ cấu VKD
của công ty".Như vậy tính đến 31/12/2008 tổng nguồn vốn kinh doanh của công ty
là 138.797.230 (nghìn đồng) tăng 19.469.347 (nghìn đồng) so với thời điểm này năm trước, với tỷ lệ tăng tương ứng là 16,32% Như vậy năm 2008 quy mô vốn của công ty đã tăng so với năm 2007.Điều này chứng tỏ công ty đã thực hiện đầu tư thêm vốn vào sản xuất kinh doanh.Trong đó:
VLĐ là 98.128.559 nghìn đồng chiếm tỷ trọng 70,7% trong tổng VKD, và nó
đã tăng 25.157.335 nghìn đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 34,48% so với 2007.VLĐ chiếm tỷ trọng lớn nhất là tiền và tương đương tiền (chiếm 51%) và hàng tồn kho(chiếm 35,49%).Các khoản phải thu chiếm tỷ trọng 13,41 % giảm 54,95 % so với năm 2007
VCĐ là 40.668.671 nghìn đồng chiếm 29,3% trong tổng VKD, giảm 5.687.988 nghìn đồng, giảm tương ứng với tỷ lệ 12,27% Chiếm tỷ trọng chủ yếu trong VCĐ là vốn đầu tư vào TSCĐ (chiếm 99,58%) và sự giảm của VCĐ cũng là
do giảm của TSCĐ (do trong năm công ty thực hiện trích khấu hao nhưng việc đầu
tư mua sắm mới chưa nhiều)
Qua việc xem xét cơ cấu vốn của công ty cho thấy : tỷ trọng VLĐ chiếm phần lớn trong tổng VKD của công ty (đầu năm chiếm 61,5% và cuối năm 2008 chiếm 70,7 %) có cơ cấu vốn như vậy đó là do đặc điểm kinh doanh của công ty chi phối vì công ty là công ty sản xuất thuốc lá nên đòi hỏi nguyên vật liệu đầu vào nhiều do đó cần một lượng lớn VLĐ để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanhtrong khi có lượng hàng tồn kho lớn và vốn bị khách hàng chiếm dụng thông qua tín dụng nhà cung cấp Như vậy, nhìn chung công ty có một cơ cấu VKD tương đối phù hợp với đặc thù của ngành
2.2.2.2.Nguồn vốn kinh doanh của công ty
VKD luôn được tài trợ từ những nguồn nhất định, do đó hiệu quả sử dụng VKD không thể tách rời việc huy động nguồn tài trợ.Huy động vốn kịp thời, với