Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các hệ số tài chính thường được xác định bằng cách đem chia trực tiếp một chỉ tiêu này với một chỉ tiêu khác để thấy được mức độ ảnh hưởng cụ thể
Trang 1CHƯƠNG I:LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI
Như vậy, phân tích Tài Chính Doanh Nghiệp làm cho các con số,chỉtiêu trên báo cáo tài chính biết nói,phản ánh rõ nét nhất về tình hình tài chính của công ty hiện tại,dự đoán xu hướng biến động và đưa ra quyết định hợp lý nhất cho tưong lai gần và xa
1.1.2 Tầm quan trọng của công tác phân tích Tài Chính Doanh Nghiệp
Hoạt dông tài chính là một mặt hoạt động của Doanh nghiệp nhằm đạt tới các mục tiêu của Doanh nghiệp đề ra Hiệu quả của hoạt động tài chính quyết định rất lớn đến hiệu quả của các mặt hoạt động khác trong Doanh nghiệp.Tài Chính Doanh Nghiệp đóng vải trò rất quan trọng đối với hoạt động của Doanh nghiệp và được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
- Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của Doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục:
Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của Doanh nghiệp Trong các hoạtđộng của Doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển của Doanh nghiệp Viêc thiếu vốn sẽ khiến cho hoạt động của Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khai được Do vậy, việc đảm bảo cho các hoạt động của Doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất lứon vào việc tổ chức huy động vốn Tài chính doanh nghiệp
Trang 2Sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp một phần lớn được quyết định bởi chính sách tài trợ huy động vốn của Doanh nghiệp
- Tài Chính Doanh Nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp
Việc đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn phụ thuộc rất lớn vào việc đánh giá, lựa chọn đầu tư từ góc độ tài chính
Việc huy độngvốnkịp thời đầy đủ giúp cho Doanh nghiệp chớp đượcc hội kinh doanh
Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp có thể giảm bớt được chi phí sử dụng vốn góp phần rất lớn tăng lợi nhuận chua Doanh nghiệp
Sử dụng đòn bẩy kinh doanh và đặc biệt la fsử dụng đòn bẩy tài chính hợp lý
là yếu tố gia tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận VCSH
Huy động tối đa vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể tránh được thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay từ đó giảm được tiền tra lãivay góp phần rất lớn tăng lơqị nhuận sau thuế của Doanh nghiệp
-Tài Chính Doanh Nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soat tình hnhf kihn doanh của Doanh nghiệp
Quá trình hoạt động kinh doanhcủa Doanh nghiệp cũng là quá trình vận động, chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính và đặc biệt là các báo cáo tài chính có thể kiểm soát kịp thời, tổn quát các mặt hoạt động của Doanh nghiệp, từ đó phát hiện nhanh chóng những tồn tại và những tiềm năng chưa được khai thác để đư ra quyết định thích hợp điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu đề ra của Doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Tài Chính Doanh Nghiệp ngày càng trở nên quan trọng đối với hoạt động của Doanh nghiệp bởi:
+ Hoạt động tài chính của Doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động của Doanh nghiệp
+ Quy mô kinh doanh và nhu cầu vốn cho hoạt động của Doanh nghiệp ngày càng lớn Mặt khác, thị trường tài chính càng phát triển nhanh chóng, các công
Trang 3cụ tài chính để huy động vốn ngày càng phong phú và đa dạng Chính vì vậy quyêt định huy động vốn, quyêt định đầu tư ảnh hưởng ngày càng lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp.
+ Các thông tin về tình hình tài chính là căn cứ quan trọng đối với các nhà quản lý Doanh nghiệp để kiểm soát và chỉ đạo các họat động của Doanh nghiệp
1.1.3 Đối tượng sử dụng thông tin tài chính
Trên thực tế có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp:
- Nhà quản trị doanh nghiệp:
Những thông tin có được từ quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ giúp nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được tình hình thực hiện các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ vào hiện tại, từ đó định hướng cho việc ra quyết định quản trị và lập kế hoạch tài chính trong tương lai
- Chủ sở hữu doanh nghiệp:
Điều mà chủ sở hữu doanh nghiệp quan tâm là khả năng sinh lời của VCSH Do
đó, họ rất chú ý đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh cũng như những quyết định về việc phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
- Các chủ nợ (Ngân hàng, các nhà cung cấp, những người cho vay…):
Mối quan tâm của nhóm đối tượng này lại hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Do đó, họ rất chú ý đến khả năng thanh toán, tỷ lệ VCSH trên tổng nguồn vốn cũng như khả năng sinh lời của doanh nghiệp để từ đó đưa ra quyết định cho vay hay bán chịu sản phẩm cho doanh nghiệp
- Các nhà đầu tư trong tương lai:
Điều mà họ quan tâm là mức độ an toàn và sinh lời của vốn đầu tư, thời gian hoàn vốn đầu tư Vì vậy, họ cần những thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp qua các thời kỳ
Từ đó đưa ra quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không, đầu tư dưới hình thức nào và đầu tư vào lĩnh vực nào
- Đối với các cơ quan chức năng:
Thông qua các chỉ tiêu và thông tin trên báo cáo tài chính, cơ quan thuế có thể xác định được các khoản nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện đối với nhà nước Cơ quan thống kê có thể tổng hợp thông tin phân tích để hình thành nên số liệu thống kê, chỉ số thống kê
Trang 41.1.4 Nguồn số liệu sử dụng để phân tích
Cơ sở để phân tích là thông tin, số liệu, là các chỉ tiêu thể hiện tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Yêu cầu về mặt số liệu là phải đầy đủ, chính xác, thì kết quả phân tích, mới có giá trị thực tiễn
Hiện nay phân tích tài chính doanh nghiệp chủ yếu dựa vào số liệu trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp cung cấp, đó là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính Ngoài
ra còn sử dụng các thông tin phi tài chính như những thông tin chung về nền kinh tế, chính sách thuế, chính sách tiền tệ, đặc điểm ngành, môi trường pháp lý, hình thức tổ chức doanh nghiệp
1.1.5 phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp là các cách thức, kỹ thuật để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp ở quá khứ, hiện tại và dự đoán tình hình tài chính của doanh nghiệp trong tương lai Để phân tích tài chính doanh nghiệp, chúng ta sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khac nhau trong
hệ thống các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Sau đây là một số phương pháp chủ yếu được sử dụng phổ biến trong thực tế:
1.1.5.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế nói chung
và trong phân tích tài chính nói riêng Khi sử dụng phương pháp này cần đảm bảo những nội dung sau đây:
Về điều kiện so sánh:
- Phải đảm bảo tồn tại ít nhất hai đại lượng để so sánh
- Các đại lượng ít nhất phải đảm bảo tính chất so sánh được Đó là sự thống nhất về nội dung kinh tế, phương pháp tính toán, thời gian và đơn vị đo lường Cách xác định gốc để so sánh:
Tuỳ thuộc vào mục đích phân tích cụ thể để xác định kỳ gốc so sánh Cụ thể:
- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích thì gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ trước(năm trước)
Trang 5- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu,nhiệm vụ đặt ra thì gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích.
- Khi xác định vị trí của doanh nghiệp thì gốc so sánh được xác định là giá trị trung bình của ngành hay chỉ tiêu phân tích của đối thủ cạnh tranh
Kỹ thuật so sánh:
Thông thường, người ta sử dụng hai kỹ thuật so sánh cơ bản sau:
- So sánh về số tuyệt đối: là việc xác định số chênh lệch giữa giá trị của chỉ tiêu kỳ phân tích với giá trị của chỉ tiêu kỳ gốc Kết quả so sánh phản ánh sự biến động về số tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích
- So sánh về số tương đối: là việc xác định tỷ lệ tăng (giảm) của chỉ tiêu phân tích giữa thực tế so với kỳ gốc Qua đó, đánh giá được tốc độ phát triển hoặc kết cấu của chỉ tiêu này
Ngoài ra, người ta còn sử dụng kỹ thuật phân tích theo chiều dọc và kỹ thuật phân tích theo chiều ngang Trong đó:
Kỹ thuật phân tích theo chiều dọc là việc xem xét xác định tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng thể chung qua đó thấy được mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu trong tổng thể
Kỹ thuật phân tích theo chiều ngang là việc so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu Thực chất đây là việc áp dụng phương pháp so sánh cả về số tuyệt đối
và số tương đối với những thông tin thu thập được sau khi xử lý và thiết kế dưới dạng bảng
1.1.5.2 Phương pháp chi tiết
Thông thường, trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp, người ta thường chi tiết quá trình phát sinh và kết quả đạt được qua những chỉ tiêu kinh tế theo những tiêu thức sau:
- Chi tiết theo yếu tố cấu thành: là việc chia nhỏ chỉ tiêu nghiên cứu thành các
bộ phận cấu thành nên bản thân chỉ tiêu đó
- Chi tiết theo thời gian phát sinh: là việc chia nhỏ quá trình và kết quả kinh tế theo trình tự thời gian phát sinh và phát triển
- Chi tiết theo không gian phát sinh: là việc chia nhỏ quá trình và kết quả kinh
tế theo địa điểm phát sinh và phát triển của chỉ tiêu nghiên cứu
1.1.5.3 Phương pháp tỷ lệ
Trang 6Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các hệ số tài chính thường được xác định bằng cách đem chia trực tiếp một chỉ tiêu này với một chỉ tiêu khác để thấy được mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng chỉ tiêu thành phần đến chỉ tiêu cần phân tích Do đó, ngoài những phương pháp nêu trên, người ta còn sử dụng phương pháp tỷ lệ như một phương pháp có tính hiện thực cao trong việc phân tích các hệ số tài chính doanh nghiệp Những tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo từng mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán,tỷ lệ về cơ cấu vốn, tỷ lệ về năng lực hoạt động và tỷ lệ về khả năng sinh lời.
1.1.5.4 Phương pháp phân tích mối liên hệ tương tác giữa các hệ số tài chính
Mức sinh lời của VCSH của một doanh nghiệp là kết quả tổng hợp của hàng
loạt các biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp Để thấy được sự tác động của mối quan hệ giữa việc tổ chức sử dụng vốn và tổ chức tiêu thụ sản phẩm tới mức sinh lời của doanh nghiệp, người ta đã xây dựng hệ thống các chỉ tiêu để phân tích sự tác động đó Dupont là công ty đầu tiên ở Mỹ đã thiết lập và phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài chính Phương pháp này có ý nghĩa thực tiễn rất cao
Những mối quan hệ chủ yếu được xem xét trong phương pháp Dupont là :
- Mối quan hệ tương tác giữa tỷ suất LNST trên vốn kinh doanh với hiệu suất
sử dụng toàn bộ vốn và tỷ suất lợi nhuận
- Các mối quan hệ tương tác với tỷ suất lợi nhuận VCSH
Ngoài những phương pháp cơ bản nêu trên, trong phân tích tài chính doanh nghiệp, người ta còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp biểu
đồ, đồ thị, phương pháp tương quan hồi quy, phương pháp quy hoạch tuyến tính, phương pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng…
Như vậy, để đánh giá đúng đắn về tình hình tài chính của doanh nghiệp thì ngoài việc xác định rõ mục tiêu và đối tượng phân tích, chúng ta còn phải biết lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp, kết hợp sử dụng nhiều phương pháp
để có thể đưa ra những kết luận phân tích đầy đủ và chính xác
1.2 Nội dung phân tích tài chính công ty
1.2.1 Phân tích tổng quát.
1.2.1.1 Phân tích sự biến động về tài sản
Trang 7Chúng ta đi xem xét sự biến động của tổng tài sản (vốn) cũng như từng loại tài sản thông qua việc so sánh giữa cuối kỳ với đầu kỳ cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối của tổng tài sản Qua đó cho thấy sự biến động về quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh của Công ty Xem xét cơ cấu vốn có hợp lý không thông qua việc xác định tỷ trọng từng loại tài sản trong tổng tài sản đồng thời so sánh
tỷ trọng từng loại giữa cuối kỳ so với đầu kỳ để thấy sự biến động của cơ cấu vốn
1.2.1.2 Phân tích sự biến động về nguồn vốn
Tình hình nguồn vốn của Công ty thể hiện qua cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn Việc tổ chức huy động vốn trong kỳ của Công ty như thế nào được phản ánh thông qua sự biến động của nguồn vốn và chính sự biến động khác nhau giữa các loại nguồn vốn cũng sẽ làm cơ cấu nguồn vốn thay đổi Phân tích
cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn để khái quát đánh giá khả năng tự tài trợ
về mặt tài chính của Công ty, xác định mức độ độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh hoặn những khó khăn mà Công ty gặp phải trong việc khai thác nguồn vốn Chúng ta đi xem xét, so sánh từng loại nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối, xác định và so sánh giữa cuối kỳ với đầu kỳ về tỷ trọng từng loại nguồn vốn trong tổng số để xác định chênh lệch cả
về số tiền, tỷ lệ và tỷ trọng Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao và có
xu hướng tăng thì điều đó cho thấy khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính của Công ty là cao, mức độ phụ thuộc về mặt tài chính đối với các chủ nợ thấp và ngược lại
1.2.1.3 Đánh giá chung kết quả kinh doanh của Công ty
Đánh giá chung kết quả kinh doanh của Công ty được tiến hành thông qua phân tích, xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa kỳ này với kỳ trước(năm nay với năm trước) dựa vào việc so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối giữa chỉ tiêu kỳ này và chỉ tiêu kỳ trước( năm nay với năm trước) Đồng thời, phân tích các chỉ tiêu phản ánh mức
độ sử dụng các khoản chi phí, kết quả kinh doanh của Công ty Đặc biệt chú ý đến sự biến động của doanh thu thuần,tổng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế đồng thời giải trình tổng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tăng hay giảm là do những nhân tố nào ảnh hưởng đến
Trang 8(Bởi đây là bộ phận lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn và quyết định sự tồn tại và phát triển của Công ty )
1.2.2 Phân tích các chỉ số đặc trưng.
Các hệ số tài chính được coi là những biểu hiện đặc trưng nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Mỗi một doanh nghiệp khác nhau tại những thời điểm khác nhau sẽ có các hệ số tài chính khác nhau Các hệ số tài chính này sẽ lột tả một cách rõ nét và cụ thể về thực trạng tài chính của doanh nghiệp Do đó, việc phân tích các hệ số tài chính là một nội dung quan trọng trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp
Tài liệu chủ yếu đế phân tích các hệ số tài chính là bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các báo cáo tài chính
là cánh cửa quan trọng để nhận biết tình hình tài chính của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo hai cách đánh giá: Tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo Bảng cân đối kế toán là bức ảnh tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm và được lập theo nguyên tắc cân đối:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốnBản báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Khi sử dụng các hệ số tài chính cần chú ý là các hệ số tự nó không có mấy ý nghĩa, chúng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được so sánh:
- So sánh hệ số kỳ này với hệ số kỳ trước của cùng doanh nghiệp, qua đó xem xét xu hướng thay đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp
- So sánh với các hệ số trung bình của các doanh nghiệp trong ngành để đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp hoặc so sánh với doanh nghiệp tiên tiến trong ngành để rút ra những nhận định về tình hình tài chính của doanh nghiệp và đưa ra những quyết định tài chính phù hợp
Khi sử dụng các hệ số tài chính, người phân tích phải hiểu được các yếu tố tham gia vào cấu trúc của hệ số, trên cơ sở đó mới có thể đánh giá được sâu sắc tình hình tài chính của doanh nghiệp
Các hệ số tài chính phản ánh đặc trưng tài chính của doanh nghiệp gồm:
- Hệ số khả năng thanh toán
- Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
Trang 9- Hệ số hiệu suất hoạt động
- Hệ số khả năng sinh lời
- Hệ số giá thị trường
1.2.2.1 Các hệ số về khả năng thanh toán
Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp chúng ta sử dụng các hệ
số tài chính sau đây:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số này biểu hiện mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp với tổng nợ phải trả (bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn)
Hệ số khả năng thanh toán được xác định theo công thức sau:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản/Tổng nợ phải trả
Hệ số này phản ánh một đồng nợ của doanh nghiệp được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 cho thấy: tổng tài sản hiện có (bao gồm cả tài sản lưu động và tài sản cố định) không đủ để trả hết số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán Điều này báo hiệu nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Ngược lại, nếu hệ số này lớn hơn 1 chứng tỏ tổng tài sản doanh nghiệp thừa để thanh toán hết các khoản nợ hiện tại của doanh nghiệp Nếu hệ số này bằng một chứng tỏ tổng tài sản của doanh nghiệp vừa đủ để thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải tài sản nào hiện có cũng sẵn sàng được dùng để trả nợ và không phải khoản nợ nào cũng phải trả ngay Vì vậy, việc đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốt hay xấu còn tùy thuộc vào khả năng chuyển đổi thành tiền của số tài sản mà doanh nghiệp hiện có và giá trị các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời (hay hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn)
Hệ số này được tính bằng cách lấy tổng tải sản lưu động(TSNH) chia cho nợ ngắn hạn của doanh nghiệp:
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời= Tổng tài sản lưu động/ nợ ngắn hạnTổng tài sản lưu động bao hàm cả đẩu tư tài chính ngắn hạn Số nợ ngắn hạn
là những khoản nợ phải trả trong khoảng thời gian dưới 12 tháng bao gồm: các khoản vay ngắn hạn,phải trả cho người bán,thuế và các khoản phải trả người lao động, nợ dài hạn đến hạn trả, các khoản phải trả khác có thời hạn dưới 12 tháng
Trang 10Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải các khoản nợ ngắn hạn, vì thế,hệ số này cũng thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Để đánh giá hệ số này cần dựa vào hệ số trung bình của các doanh nghiệp trong toàn ngành Hệ số này ở các ngành nghề kinh doanh khác nhau có sự khác nhau Một căn cứ quan trọng để đánh giá là so sánh với hệ số thanh toán ở các thời kỳ trước đó của doanh nghiệp
Thông thường, khi hệ số này thấp thể hiện khả năng trar nợ của doanh nghiệp là yếu và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tiềm ẩn về tài chính
mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong việc trả nợ Hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng cao trong việc sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đến hạn
Tuy nhiên, trong một số trường hợp hệ số này quá cao chưa chắc đã phản ánh năng lực thanh toán của doanh nghiệp là tốt Do vậy,đẻ đánh giá đúng hơn cần xem xét thêm tình hình của doanh nghiệp
Hệ số thanh toán nhanh
Là một chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xác định bằng tải sản lưu động trừ đi hàng tồn kho và chia cho số nợ ngắn hạn Ở đây hàng tồn kho bị loại trừ ra, bởi lẽ, trong tài sản lưu động hàng tồn kho đựơc coi là loại tài sản có tính thanh khoản thấp hơn Hệ số này được xác định bằng công thức:
Hệ số thanh toán nhanh = ( tổng tài sản lưu động – hàng tồn kho)/ Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh được xem như là thước đo phản ánh khả năng trả ngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ không dựa vào việc phải bán các loại vật tư, hàng hoá trong kho Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ ngắn hạn rất quan tâm vì thông qua chỉ tiêu này, các chủ nợ có thể đánh giá được tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không Tuy nhiên, trong một số trường hợp chỉ tiêu này chưa phản ánh một cách chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có các khoản phải thu chiếm tỷ trọng trong tổng tài sản lưu động
Trang 11Do đó, để đánh giá một cách chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp, người ta còn sử dụng hệ số thanh toán tức thời
Ngoài ba hệ số trên để đánh giá sát hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn có thể sử dụng chỉ tiêu hệ số vốn bằng tiền hay còn gọi là hệ số thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời = ( tiền + các khoản tương đương tiền) / Nợ ngắn hạn
Ở đây, tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi, tiền đăng chuyển Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, các khoản đầu tư ngắn hạn khác có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền trong thời hạn 3 tháng và không gặp rủi ro lớn
Hệ số thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp ở bất kỳ thời điểm nào bởi vì nguồn trang trải cho các khoản
nợ của doanh nghiệp là hết sức linh hoạt
Hệ số thanh toán lãi vay
Đây cũng là một hệ số cần xem xét khi phân tích kết cấu tài chính của doanh nghiệp Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải của các chủ nợ
Lãi tiền vay là khoản chi phí sử dụng vốn vay mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả đúng hạn cho các chủ nợ Một doanh nghiệp vay nợ nhiều nhưng kinh doanh không tốt, mức sinh lời của đồng vốn quá thấp hoặc bị thua lỗ thì khó có thể đảm bảo thanh toán tiền lãi vay đúng hạn nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận trước lãi vay và thuế ( EBITE) Hệ số thanh toán lãi vay phản ánh mỗi quan hệ giữa lợi nhuận trước lãi vay và thuế với lãi vay phải trả Hệ số này được xác đinh bằng công thức sau:
Hệ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế / số lãi tiền vay phải trả trong kỳ
Như vậy, hệ số thanh toán lãi vay phản ánh số lợi nhuận trước lãi vay và thuế mà doanh nghiệp có được đủ để bù đắp số lãi tiền vay phải trả trong kỳ tới mức độ nào Nếu hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả mức sinh lời của đồng vốn cao đủ để đảm bảo thanh toán tiền lãi vay đúng hạn và ngược lại
Trang 121.2.2.2 Hệ số hiệu suất hoạt động
Để đánh giá mức độ hoạt động của doanh nghiệp, thông thường chúng ta sẽ phải đi vào phân tích các hệ số hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp Các hệ số hoạt động kinh doanh có tác dụng đo lường năng lực quản lý và sử dụng vốn hiện có của doanh nghiệp
Số hàng tồn kho bình quân có thể tính bằng cách lấy số dư đầu kỳ cộng với
số dư cuối kỳ và chia đôi Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm của ngành kinh doanh
Thông thường, số vòng quay hàng tồn kho cao hơn so với doanh nghiệp trong ngành cho thấy việc tổ chức và quản lý dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn được chu kỳ kinh doanh và giảm được lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho
Ngược lại, nếu số vòng quay hàng tồn kho thấp, thường gợi lên rằng doanh nghiệp có thể dự trữ vật tư quá mức dẫn đến tình trạng bị ứ đọng hoặc sản phẩm
bị tiêu thụ chậm Từ đó, có thể dẫn đến dòng tiền vào của doanh nghiệp bị giảm
đi và có thể đạt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính trong tương lai Tuy nhiên để đánh giá thỏa đáng hơn cần xếmt cụ thể và sâu hơn tình thế của Doanh nghiệp chẳng hạn, nếu nguyên nhân là do doanh nghiệp tăng dự trữ nguyên vật liệu vì biết trước giá nguyên vật liệu sẽ tăng hoặc nguyên vật liệu sẽ trở nên khan hiếm trong tương lai thì điều này là hoàn toàn hợp lý
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho được xác định theo công thức:
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho=Số ngày trong kỳ/số vòng quay hàng tồn kho
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình để thực hiện một vòng quay hàng tồn kho Nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết số ngày hàng tồn kho nằm trong kho Nếu số ngày này càng ngắn thì điều đó chứng tỏ hàng tồn kho quay vòng
Trang 13càng nhanh, doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi được vốn về, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá tốt và ngược lại.
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp và được xác định theo công thức:
Vòng quay khoản phải thu= DTT trong kỳ/ Số dư bình quân các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền trung bình có thể xác định theo công thức sau:
Kỳ thu tiền trung bình(ngày)=Số dư bình quuân các khoản phải thu/Doanh thu bình quân 1 ngày trong kỳ
Là một hệ số hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp, nó phản ánh độ dài thời gian thu tiền bán hàng của Doanh nghiệp kể từlúc xuất giao hàng cho đến khi thu được tiền bán hàng Kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp phu thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp
Do vậy, khi xem xét đến chỉ tiêu này cần đặt trong mối liên hệ với sự tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp Nếu việc chấp nhận thời gian bán chịu dài hơn cho khách hàng làm tăng doanh số hàng bán ra,tăng doanh thu và từ đó gia tăng lợi nhuận thì chứng tỏ chính sách bán chịu của doanh nghiệp là có hiệu quả Ngược lại, nếu không tăng được doanh số bán ra, không tăng được doanh thu thì
đó là biểu hiện xấu và như vậy rủi ro tài chính sẽ tăng lên Tuy nhiên,nhìn chung, doanh nghiệp không nên để kỳ thu tiền bình quân quá dài so với các doanh nghiệp khác trong ngành vì như vậy sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng nợ khó đòi
Số Vòng quay vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu động hay số vòng quay của vốn lưu động thực hiện được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
Công thức xác định như sau:
Số vòng quay vốn lưu động = Tổng mức luân chuyển của vốn lưu động ở trong kỳ/vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ
Hiện nay, tổng mức luân chuyển vốn lưu động được xác định bằng DTT bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ
Trang 14Số vốn lưu động bình quấn sử dụng trong kỳ được xác định bằng phương pháp bình quân số học.
Chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn lưu động đầu tư trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Như vậy, nếu trong kỳ, vốn lưu động quay vòng càng nhanh, tức là bình quân một đồng vốn lưu động bỏ ra sẽ tạo ra càng nhiều doanh thu,thì điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao
Kỳ luân chuyển vốn lưu động
Chỉ tiêu kỳ luân chuyển vốn lưu động phản ánh số ngày bình quân cần thiết
để vốn lưu động thực hiện một lần luân chuyển hay độ dài thời gian một vòng quay của vốn lưu động ở trong kỳ
Công thức xác định chỉ tiêu này như sau:
Kỳ luân chuyển vốn lưu động= Số ngày trong kỳ/số vòng quay vốn lưu động
Như vậy kỳ luân chuyển vốn lưu động sẽ tỷ lệ nghịch với số vòng quay vốn lưu động Nếu doanh nghiệp phấn đấu rút ngắn kỳ luân chuyển vốn lưu động thì
sẽ làm tăng vòng quay vốn lưu động Từ công thức tính kỳ luân chuyển vốn lưu động cho thấy: Thời gian luân chuyển vốn lưu động phụ thuộc vào số vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ và tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong
kỳ Vì vậy, việc tiết kiệm số vốn lưu động hợp lý và nâng cao tổn mức luânchuyển vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn lưu động
Ta có: Sau khi vốn lưu động luân chuyển xong một vòng thì phần lợi nhuận cũng đượcthực hiện Do đó việc tăng hiệu suất luân chuyển vốn lưuđộng sẽ góp phần tăng hiệu suất hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp Tuy nhiên, việc tính hiệu suất sử dụng vốn lưu động trên cơ sở tốc độ luân chuyển vốn lưu động cũng còn một số hạn chế nhất định, do đó ngoài chỉ tiêu tốc độ luânchuyển vốn lưu động, người ta còn đo lường bằng một số chỉ tiêu khác như: Mức tiếtkiệm vốn lưu động, hàm lượng vốn lưu động
* Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn:
Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ so sánh (kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc(kỳ báo cáo).Công thức như sau: VKT(±)=
-1
L M
Trang 15Trong đó:
VTK: Số vốn lưu động có thể tiết kiệm (-) hay phải tăng thêm (+) do ảnh hưởng của tốc độ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh với kỳ gốc
M1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh ( kỳ kế hoạch)
K1,K0: Kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc
L1, L0 : Số lần luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc
* Hàm lượng vốn lưu động (còn gọi là mức đảm nhiệm vốn lưu động) là số vốn lưu động cần có để đạt một đồng DTT về tiêu thụ sản phẩm
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hàm lượng vốn lưu động=
S VLDBQ
Trong đó: S: Doanh thu bán hàng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh để có mộtđồng DTT về bán hàng cần bao nhiêu vốn lưu động
Hiêụ suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác
Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được xác định như sau:Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác= DTT trong kỳ/Vốn cố định và vốn dài hạn khác bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định và vốn dài hạn khác tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ tạo ra bao nhiêu đồng DTT.Thông qua hệ số này có thể đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của Doanh nghiệp
Vòng quay tài sản hay toàn bộ vốn
Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất sử dụng tài sản hay toàn bộ vốn hiện có của Doanh nghiệp Công thức xác định chỉ tiêu này như sau:
Vòng quay toàn bộ vốn=DTT trong kỳ/ Số tài sản hay vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ
Hệ số này chịu sự ảnh hưởng đặc điểm ngành kinh doanh, chiến lược kinh doanh và trình độ quản lý sử dụng tài sản vốn của Doanh nghiệp
Thông qua chỉ tiêu này, chúng ta có thể biết được một đồng vốn đưa vào kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng DTT Từ đó, đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp Nhìn chung nếu vòng quay toàn bộ vốn càng lớn thì
Trang 161.2.2.3 Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
Hệ số cơ cấu nguồn vốn là một hệ số tài chính hết sức quan trọng đối với nhà quản lý doanh nghiệp các chủ nợ cũng như nhà đầu tư
Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp thông qua hệ số nợ cho thấy độc lập
về mặt tài chính mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và rủi ro tài chính có thể gặp phải để từ đó có sự điều chỉnh về chính sách tài chính phù hợp
Đối với các chủ nợ qua xem xét hệ số nợ của doanh nghiệp thấy được sự an toàn của khoản cho vay để đưa ra các quyết định cho vay và thu hồi nợ
Nhà đầu tư có thể đánh giá mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp, trên cơ
sở đó để cân nhắc đầu tư
ra tác động tiêu cực đối với doanh nghiệp khi doanh nghiệp sử dụng không có hiệu quả số vốn vay, nếu số lợi nhuận trước lãi vay và thuế được tạo ra từ sử dụng vốn vay nhỏ hơn số lãi tiền vay phai trả thì nó làm giảm sút nhanh hơn tý suất lợi nhuận VCSH và nếu doanh nghiệp bị thua lỗ thì càng bị lỗ nặng nề hơn
*Tác động tích cực
- Hệ số nợ cao sẽ làm gia tăng giá trị sử dụng của doanh nghiệp vì doanh nghiệp được sử dụng một lượng tài sản lớn mà chỉ phải đầu tư một lượng vốn nhỏ
- Hệ số nợ cao có tác dụng khuếch đại tỷ suất lợi nhuận VCSH
- Lãi tiền vay được coi nhu một khoản chi phí hợp lý và được trừ vào thu nhập chịu thuế Do đó việc sử dụng nợ vay được xem như là một lá chắn thuế của doanh nghiệp
*Tác động tiêu cực
Trang 17- Nếu hệ số nợ quá cao sẽ làm gia tăng nguy cơ mất khả năng thanh toán, đe doạ đến sự an toàn về mặt tài chính của doanh nghiệp
- Khi doanh nghiệp sử dụng không có hiệu quả số vốn vay, nếu số lợi nhuận trước lãi vay và thuế được tạo ra từ sử dụng vốn vay nhỏ hơn số lãi tiền vay phải trả thì nó làm giảm sút nhanh hơn tý suất lợi nhuận VCSH và nếu doanh nghiệp
Hệ số này phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh thì có mấy đồng VCSH
và cho thấy mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp đối với nguồn vốn kinh doanh của mình Hệ số này càng cao thì tính độc lập về mặt tài chính càng cao doanh nghiệp ít bị chịu sự ràng buộc hay chịu các sức ép từ các khoản vay và các món
nợ vay dễ được hoàn tra đầy đủ hơn.Do đó, uy tín của doanh nghiệp đối với các chủ nợ được nâng cao, việc huy động vốn của doanh nghiệp sẽ trở nên dễ dàng hơn Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao chư chắc đã tốt vì khi đó doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn tự có thì khó có thể khuếch đại được doanh lợi VCSH để làm gia tăng lợi ích của doanh nghiệp
Việc xác định hệ số nợ và hệ số VCSH là bao nhiêu để xây dựng được một
cỏ cấu vốn hợp lý còn tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp,xong trong bất kỳ trường hợp nào vẫn phải đảm bảo nguyên tắc tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn trên cơ sở có tính đến các rủi ro tài chính
Hệ số cơ cấu tài sản
Hệ số này phản ánh mức độ đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp: tài sản lưu động,tài sản cố định và TSDH khác Để đánh giá về cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, chúng ta đi sâu vào phân tích hai chỉ tiêu cỏ bản sau
Tỷ suất đầu tư vào tài sản lưu động = TSNH/tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà doanh nghiệp này
bỏ ra thì có bao nhiêu đồng được dùng để hình thành nên TSNH
Thông qua đó cho thấy mức độ đầu tư vào TSNH của doanh nghiệp: tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho,các khoản phải thu
Trang 18− Tỷ suất đầu tư vào TSDH
Tỷ suất đầu tư vào TSDH= TSDH/tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà doanh nghiệp bỏ
ra thì có bao nhiêu đồng được dùng để hình thành nên TSDH Đồng thời, chỉ tiêu này còn phản ánh mức độ đầu tư vào tài sản cố định và tình hình trang bị cơ
sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất hiện có và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp trong tương lai
Nhìn chung, khi đánh giá về cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, cần căn cứ vào đặc điểm của từng ngành nghề kinh doanh để xem xét tính hợp lý trong việc đầu
tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp
1.2.2.4 Hệ số sinh lời.
Đây là những chỉ số được các nhà quản trị quan tâm nhất bởi đó là thước đo căn bản để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là kết quả tổng hợp của hàng loạt các biện pháp và các quyết định quản lý doanh nghiệp Đồng thời, đó cũng là cơ sở quan trọng để các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra những dự đoán tài chính đúng đắn cho tương lai
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu
2 yếu tố liên quan rất mật thiết, doanh thu chỉ ra vai trò, vị trí của Doanh nghiệp trên thương trường và lợi nhuận thể hiên chất lượng, hiệu quả cuối cùng của Doanh nghiệp.Khi tỷ số này càng lớn thì vị thế, hiệu quả hoạtđộng của Doanh nghiệp càng tốt hơn
Tỷ suất LNST trên doanh thu hay hệ số lãi ròng
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa LNST và DTT trong kỳ của doanh nghiệp Nó thể hiện, khi thực hiện 1 đồng doanh thu trong kỳ, Doanh nghiệp có
Trang 19thể thu được bao nhiêu đồng LNST Tỷ suất LNST trên doanh thu được xác định theo công thức sau:
Tỷ suất LNST trên doanh thu (hệ số lãi ròng) =LNST trong kỳ/doanh thu trong kỳ
Thông thường, tỷ suất nói trên cao là tốt nhưng khi đánh giá cần so sánh với
tỷ suất của các doanh nghiệp trong cùng ngành cũng như bản thân doanh nghiệp
đó trong các thời kỳ khác nhau để thấy được xu hướng tăng giảm của tỷ suất lợi nhuận, từ đó rút ra kết luận chính xác hơn
Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay
tỷ suất lời kinh tế của tài sản(ROAe)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất lời kinh tế của tài sản (ROAe) = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế/tài sản hay vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu tỷ suất lời kinh tế của tài sản không chỉ có ý nghĩa để đánh giá khả năng sinh lời của đồng vốn đối với bản thân doanh nghiệp mà còn cho thấy giá trị mà doanh nghiệp đem lại cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay và chưa tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp Chỉ tiêu này được xác định theo công thức sau:
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh(ROAe)=Lợi nhuận trước thuế trong kỳ/vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ
Tỷ suất LNST trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng LNST
Công thức xác định chỉ tiêu này như sau:
Tỷ suất LNST trên vốn kinh doanh = LNST trong kỳ/vốn kinh doanh (hay tài sản) bình quân trong kỳ
Trang 20Tỷ suất LNST trên vốn kinh doanh còn được xác định theo phương pháp Dupont như sau:
Tỷ suất LNST trên vốn kinh doanh = tỷ suất LNST trên doanh thu * vòng quay toàn bộ vốn
Như vậy, cứ một đòng vốn tham gia vào quá trình kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận là do:
- Một đồng vốn tham gia vào quá trình kinh doanh thì tạo ra được mấy đồng DTT
- Trong một đồng DTT thì có mấy đồng lợi nhuận
Thông qua công thức trên, ta có thể thấy được tác động của hai tỷ số LNST trên doanh thu và hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn đến tỷ suất LNST trên vốn kinh doanh Trên cơ sở đó, nhà quản lý doanh nghiệp đề ra các biện pháp thích hợp
để tăng tỷ suất LNST trên vốn kinh doanh
Trong hai chỉ tiêu: tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh và tỷ suất LNST trên vốn kinh doanh thì tỷ suất LNST trên vốn kinh doanh được các nhà quản trị tài chính sử dụng nhiều hơn, bởi lẽ nó phản ánh số lợi nhuận còn lại(sau khi đã trả lãi vay ngân hàng và thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước) được sinh ra do sử dụng bình quân một đồng vốn kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận VCSH (ROE)
Mục tiêu hoạt động của vốn doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho các chủ doanh nghiệp.Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu này Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng VCSH đầu tư thì mang lại bao nhiêu đồng LNST Chỉ tiêu này được xác định theo công thức sau:
Tỷ suất lợi nhuận VCSH(ROE) = LNST/ Vốn chue sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận VCSH còn được xác định theo phương pháp Dupont như sau:
Tỷ suất lợi nhuận VCSH(ROE)= Tỷ suất LNST doanh thu * vòng quay toàn
bộ vốn * thừa số VCSH
Thừa số VCSH = 1/(1-hệ số nợ)
Như vậy, trong một đồng VCSH bình quân mà chủ doanh nghiệp bỏ ra sẽ tạo ra được bao nhiêu đông lợi nhuận là do:
Trang 21- Trong một đồng vốn kinh doanh bình quân có bao nhiêu đồng hình thành
Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, nó phản ánh mỗi cổ phần thường (hay cổ phần
phổ thông) trong năm thu được bao nhiêu LNST
Công thức như sau:
Thu nhập1 cổ phần (EPS)= (LNST- cổ tức trả cho cổ đông ưu đãi)/ Tổng số
cổ phần thường đang lưu hành
Hệ số EPS cao hơn các Doanh nghiệp cạnh tranh khác là một trong những mục tiêu mà các nhà quản lý Doanh nghiệp luôn hướng tới
Đây là một chỉ tiêu quan trọng thường được các nhà đầu tư sử dụng để xem xét lựa chọn đầu tư vào cổ phiếu của các côngty Hệ số này được xác định bằng công thức sau:
Hệ số giá trên thu nhập= Giá thị trường 1 cổ phần/ Thu nhập một cổ phầnChỉ tiêu này phản ánh nhà đầu tư hay thị trường trả giá bao nhiêu cho 1 đồng thu nhập của Công ty Nhìn chung hệ số này cao là tốt, thể hiện sự đánh giá cao triển vọng Công ty của nhà đầu tư Tuy nhiên, khi sử dụng hệ số này cần xếmt thận trọng
Trang 22 Hệ số giá thị trường trên giá trị số sách.(hệ số M/B)
Hệ số này được xác định theo công thức sau:
Hệ số giá thị trường trên giá trị sổ sách= Giá thị trường một cổ phần/ Giá trị
sổ sách 1 cổ phần
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa giá thị trường và giá trị sổ sách 1 cổ phần của Công ty,nó cũng cho thấy sự tách rời giữa giá thị trường và giá trị sổ sách Hệ số này nếu nhỏ hơn 1 là dấu hiệu xấu về triển vọng của Công ty,ngược lại hệ số này quá cao đòi hỏi nhà đầu tư phải xếmt thận trọng trong việc quyết định đầu tư vào Công ty
Tỷ suất cổ tức
Chỉ tiêu này được xác định theo côngthức sau:
Tỷ suất cổ tức= Cổ tức 1 cổ phần/ Giá thị trường 1 cổ phần
Chỉ tiêu này phản ánh, nếu nhà đầu tư bỏ ra 1 đồng đầu tư vào cổ phần của Công ty trên thị trường thì có thể thu được bao nhiêu cổ tức
1.2.3 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn cho phép đánh giá một cách khái quát những thay đổi của nguồn vốn và tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán,
từ đó định hướng cho việc huy động vốn và sử dụng vốn ở các kỳ tiếp theo
Mục đích của việc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là phải trả lời được ba câu hỏi sau:
- Vốn lấy từ đâu?
- Sử dụng vốn vào việc gì?
- Việc sử dụng vốn như vậy đã hợp lý hay chưa?
Việc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn được thực hiện theo trình tự sau đây:
Bước 1 : Tổng hợp sự thay đổi của các khoản mục trên bảng cân đối kế toán.
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán, tiến hành so sánh số liệu các khoản mục giữa cuối kỳ với đầu kỳ để tìm ra số chênh lệch
Bước 2: Đưa kết quả vừa tổng hợp vào bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và
sử dụng vốn
Với mỗi sự thay đổi của từng khoản mục sẽ được xem xét và phản ánh vào một trong hai cột sử dụng vốn hoặc diễn biến nguồn vốn theo cách thức sau:
Trang 23- Sử dụng vốn sẽ tương ứng với tăng tài sản hoặc giảm nguồn vốn.
- Diễn biến nguồn vốn sẽ tương ứng với tăng nguồn vốn hoặc giảm tài sản
Ở đây, xem xét diễn biến thay đổi nguồn vốn và sử dụng vốn trong mối liên
1.2.4 Phân tích tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng là một trong những chỉ tiêu quan trọng của Công ty bởi khi Công ty có tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng gia tăng và gia tăng thị phần thì lợi nhuận của Công ty tăng lên nhanh chóng Vì thế, tăng trưởng và phân tích tăng trưởng là vấn đề cần được đặc biệt quantam khi tiến hành phân tích tài chính Doanh nghiệp Thực tế hiện nay cho thấy khôngphải chỉ có Công ty suy thoái , bị phá sản, mà có nhiều Doanh nghiệp bị phá sản bởi tăng trưởng quá nhanh, một số khác thì tăng trưởng quá chậm Việc quản lý để đạt được sự tăng trưởng quá mức và bền vững là mục tiêu theo đuổi nênu muốn tối đa hóa lợi nhuận Với mỗi Doanh nghiệp khác nhau, vấn đề tăng trưởng được đặt ra theo những tiêu chuẩn khác nhau
Tăng một lượng là có công thức tính như sau:
Trang 24Trong đó:
g: Tốc độ tăng trưởng
k: Phần trăm lợi nhuận để lại tái đầu tư
CHƯƠNG II:ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN VÀ XÂY DỰNG VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Cỏ Điện và Xây Dựng Việt Nam.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công Ty Cổ Phần Cơ Điện và Xây Dựng Việt Nam
2.1.1.1 Giới thiệu chung về Công Ty Cổ Phần Cơ Điện và Xây Dựng Việt Nam
Tên tiếng việt: Công Ty Cổ Phần Cơ Điện và Xây Dựng Việt Nam
Trang 25Tên viết tắt: MECO.JSC
Địa chỉ: Ngõ 102 Trường Chinh, phường Phương Mai, quận
Các đơn vị trực thuộc:
Tên đơn vị Địa chỉ
Chi nhánh Vĩnh Phúc Xã Hoàng lâu,huyện TamDương,tỉnh Vĩnh PhúcChi nhánh Tuyên Quang Xã Hưng Thành, thị xã TuyênQuang, tỉnh
Tuyên QuangChi nhánh Thanh Hóa Ngã Ba chè, Thiệu Đô, Thiệu Hóa, Thanh HóaChi nhánh Miền trung Xã Hương vân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên HuếChi nhánh Hồ Chí Minh Số 1,Ngô Bệ, Phường 13,quận Tân Bình,TP Hồ
Chí Minh
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công Ty Cổ Phần Cơ Điện và Xây Dựng Việt Nam tiền thân là công ty Cơ Điện Xây Dựng Nông Nghiệp & Thủy lợi Hà Nội, là doanh nghiệp Nhà Nước trực thuộc tổng công ty Cỏ Điện Xây Dựng Nông Nghiệp và thủy lợi, được thành lập theo quyết định số 4797/QĐ/BNN-TCCB ngày 29 tháng 10 năm 2003 của Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn
Từ ngày 09 tháng 12 năm 2004, Công ty chuyển đổi hoạt đọng sang hình thức Công ty Cổ phần theo quyết định số 4465/QĐ/BNN_TCCB của Bộ Trưởng
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nôngg thôn Vốn điều lệ của Công ty là
Trang 2612.000.000.000 đồng, trong đó tỷ lệ vốn Nhà Nứơc là 51%, vốn góp của các cổ đông khác là 49%.
Công ty hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
0103009916 ngày 30 tháng 11 năm 2005 do Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp Trong quá trình hoạt động, Công ty đã 6 lần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sửa đổi do thay đổi vốn điều lệ và hoạt động kinh doanh của Công ty
Vốn điều lệ theo giấy chứng nhận đăng lý kinh doanh sửa đổi lần thứ ngày
21 tháng 05 năm 2008 là 168.000.000.000 đồng
Vốn thực góp tại ngày 31/12/2008 là :126.268.190.000 đồng
Những tiến bộ công ty đã đạt được:
Chính thức đi vào cổ phần hoá doanh nghiệp từ tháng 12/2005, công ty Cổ phần cơ điện và xây dựng Việt Nam không ngừng hoàn thiện và đổi mới bộ máy
cơ cấu tổ chức, chính sách quản lý điều hành phù hợp với yêu cầu mở rộng quy
mô và lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị Năm 2007, thành lập mới 06 đơn vị là chi nhánh Tây Nguyên, trung tâm tư vấn Xây dựng thủy lợi - thuỷ điện, Trung tâm thí nghiệm vật liệu xây dựng, Ban điều hành Tổng thầu Văn chấn, Ban điều hành liên doanh Công trình thuỷ điện Đărk’tih và BCH Nho Quế 3;
Tách phòng tổ chức hành chính thành phòng Nhân sự - Lao động - Tiền lương và phòng Hành chính pháp chế; sáp nhập Xí nghiệp Cơ điện II và XN Cơ điện I; Sáp nhập phòng HC - PC và Văn phòng HĐQT thành văn phòng Công
ty Tính đến thời điểm 31/12/2007, tổng số đầu mối của công ty là 31 đơn vị Bên cạnh đó, Công ty còn ban hành một số quy chế quản lý áp dụng đồng bộ đối với các đơn vị, chi nhánh trực thuộc Công ty như Quy chế quản lý hợp đồng kinh tế, Quy chế quản lý đấu thầu, Quy chế quản lý tài chính Rà soát và ban hành quy định về chức năng nhiệm vụ của các phòng ban, đơn vị
Nghiên cứu phương án tái cơ cấu bộ máy cơ cấu tổ chức một số chi nhánh làm ăn kém hiệu quả như chi nhánh Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Thanh Hoá Tháng 12/2007 thành lập Công ty CP cơ điện và xây dựng Hoà Bình trên
cơ sở chi nhánh Hoà Bình với vốn điều lệ 36 (tỷ đồng) trong đó Công ty CP cơ điện và xây dựng Việt Nam nắm giữ cổ phần chi phối (51%) Hiện nay, Meco 1
đã đi vào hoạt động và tiếp tục mở rộng sang nhiều lĩnh vực kinh doanh mới
Trang 272.1.2 Ngành nghề kinh doanh và các côngtrình trọng điểm.
2.1.2.1 Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
+ Về cơ khí và điện: chế tạo, sửa chữa, lắp đặt thiết bị phụ tùng cơ khí phục
vụ cho ngành nông, lâm diêm nghiệp, thủy lợi và xây dựng; chế tạo thiết bị nâng
hạ máy và thiết bị dây chuyền chế biến nông sản: cà phê, mía, đường, chè; lắp ráp xe tải nhỏ phục vụ nông thôn; thiết kế và sản xuất các loại bơm đến 8.000
m3/h; xây lắp đường dây và trạm biến thế điện đến 35 KV; chế tạo tủ điện hạ thế,
tủ điều khiển trung tâm phục vụ thủy lợi và công nghiệp chế biến; sản xuất và kinh doanh điện;
+ Về xây dựng: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, xây dựng công trình thủy lợi: hồ đầu mối, kênh mương, kè và đập; xây lắp các công trình dân dụng, hệ thống xử lý nước thải công nghiệp, nước sạch nông thôn và vệ sinh môi trường; chế tạo vỏ bọc che công trình công nghiệp; đào đắp đất đá, san lấp mặt bằng, phát triển hạ tầng;
+ Về thương mại và dịch vụ: kinh doanh nội địa và xuất nhập khẩu các loại vật tư máy móc, thiết bị, hóa chất phục vụ nông nghiệp (trừ hóa chất nhà nước cấm) và chế biến nông sản; kinh doanh lương thực, thực phẩm và nông lâm sản; sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, gương, kính, ván nhân tạo; cho thuê nhà ở, văn phòng làm việc, kho bãi, nhà xưởng; kinh doanh khách sạn và dịch vụ
lữ hành (không bao gồm kinh doanh phòng hát karaoke, vũ trường, quán bar); + Đầu tư, xây dựng công trình nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi, công nghiệp, dân dụng, giao thông, cơ sở hạ tầng nông thôn;
+ Kinh doanh bất động sản;
+ Khai thác khoáng sản, tài nguyên; khai thác vật liệu xây dựng (đất, đá, cát, sỏi) bao gồm cả khảo sát thăm dò và chế biến (trừ các loại khoáng sản Nhà nước cấm);
+ Khoan phụt vữa xi măng, gia cố, chống thấm và xử lý nền móng công trình xây dựng; chống thấm nền và thân đê, thân đập công trình thủy lợi, thủy điện;
Trang 28+ Nạo vét sông ngòi, cửa sông, cửa biển; sản xuất bê tông đầm lăn và bê tông các loại; xây dựng giao thông đường bộ và đường sắt; xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp; thí nghiệm vật liệu xây dựng;
+ Chế tạo và lắp đặt thiết bị và phụ tùng công trình thủy lợi, thủy điện; chế tạo, sửa chữa và lắp đặt công trình nhà máy chế biến sản phẩm nông lâm nghiệp, chế tạo và lắp đặt công trình khung nhà kết cấu thép;
+ Đầu tư kinh doanh nhà máy thủy điện, khu đô thị, hạ tầng, khu công nghiệp, khu nhà cao tầng;
+ Kinh doanh vật liệu xây dựng, vật liệu điện và kim khí khác; kinh doanh thiết bị và phụ tùng máy xây dựng; kinh doanh phương tiện vận tải; kinh doanh dịch vụ nhà hàng; kinh doanh dịch vụ quản lý nhà chung cư; cho thuê máy móc thiết bị; kinh doanh đại lý xăng dầu; đại lý ký gửi hàng hóa;
2.1.2.2 Các công trình trọng điểm
TT Tên công trình
Trị giá khối lượngcông việc
Thời gianthi công
Thời giankết thúc
1 Thủy điện PLEIKRONG 92 tỷ đồng
Tháng 10/2004
Tháng 9/2006
3 Thủy điện ĐỒNG NAI 3 250 tỷ đồng Năm 2006 Năm 2010
6
Nhà ở và văn phòng 102
Tháng 1/2010
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý và nhân sự của Công ty.
Trang 29Ông Phạm Ngọc Chung Ủy viên Ngày 23 tháng 07 năm 2005
Ban lãnh đạo
Ông Nguyễn Ngọc Bình Tổng Giám đốc Ngày 23 tháng 07 năm 2008
Ông Nguyễn Bình Dương Tổng Giám đốc Ngày 08 tháng 07 năm 2008Ông Nguyễn Văn Kim Phó Tổng Giám đốc Ngày 11 tháng 02 năm 2006 Ông Phạm Ngọc Chung Phó Tổng Giám đốc Ngày 11 tháng 02 năm 2006 Ông Hoàng Văn Hưng Phó Tổng Giám đốc Ngày 11 tháng 02 năm 2006 Ông Đỗ Quang Tuấn Phó Tổng Giám đốc Ngày 11 tháng 02 năm 2006 Ông Vũ Minh Thành Phó Tổng Giám đốc Ngày 11 tháng 02 năm 2006 Ông Lê Bá Liên Phó Tổng Giám đốc Ngày 11 tháng 02 năm 2006 Ông Nguyễn Bình Dương Phó Tổng Giám đốc Ngày 11 tháng 02 năm 2006
Bà Ninh Thị Luân Kế toán trưởng Ngày 11 tháng 02 năm 2006
Và đến ngày 08 tháng 07 năm 2008 miễn nhiêm ông Nguyễn Ngọc Bình và ông Nguyễn Bình Dương
- Số lượng cán bộ, nhân viên và chính sách đối với người lao động:
Số lượng lao động tại thời điểm 31/12/2007: 775 người, 31/12/2008 :
Số lượng lao động bình quân: 747 người Trong đó có khoảng hơn 80% là công nhân thì khoảng 60% công nhân đều tốt nghiệp cấp3 và được đào tạo hay
đã được học lớp dạy nghề và số nhân viên còn lại trình độ từ trung cấp trở lên (Trong đó cao đẳng và đại học chiếmkhoảng 20%)
Thu nhập bình quân năm 2007: 2.547.119
Tiền lương: Hàng tháng ngoài việc hưởng lương theo thang bảng lương Nhà nước và các phụ cấp chức vụ, trách nhiệm, thu hút, lưu động, độc hại nguy hiểm, phụ cấp khu vực và hệ số không ổn định sản xuất cán bộ công nhân viên công ty còn được hưởng thêm một phần lương mềm gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty và trên cơ sở đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong tháng của từng cá nhân Ngoài ra vào những ngày lễ, tết cán bộ công nhân viên công ty còn được chi thêm một khoản lương bổ sung
Tiền thưởng: hàng năm Công ty đều tổ chức bình xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ công nhân viên Công ty để khen thưởng nhằm khích lệ
Trang 30động viên tinh thần lao động đối với các cá nhân có thành tích suất sắc, đặc biệt suất sắc trong việc đóng góp vào sự phát triển của Công ty.
Bảo hiểm và Phúc lợi:
+ Cán bộ công nhân viên được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể, khám sức khoẻ định kỳ
+ Năm 2008 Công ty trích quỹ dự phòng trợ cấpmất việc làm là 3% quỹ lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội và được hạch toán vào chi phí trong kỳ.+ Công tác an toàn, bảo hộ lao động đều được Công ty thực hiện đầy đủ.+ Hàng năm Công ty đều tổ chức cho cán bộ công nhân viên tham quan nghỉ mát
+ Các hoạt động của tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn, phụ nữ, đều được Công ty quan tâm
Trong năm 2007, Công ty không có sự thay đổi thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát, kế toán trưởng
Trang 31Phßng Kü thuËt – C¬
®iÖn
Phßng Kü thuËt - X©y dùng
Phßng Kinh tÕ –
Trang 322.1.4 Đặc điểm sản xuất kinh doanh.
2.1.4.1 Đặc điểm công tác kế toán của Công ty
CỐ ĐỊNH
KẾ TOÁN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THUẾ
KẾ TOÁN LƯƠNG,
KẾ TOÁN THANH TOÁN
THỦ QUỸ,
KẾ TOÁN TIỀN MẶT
KẾ TOÁN TỔNG HỢP
Trang 33đề xuất kiến nghị , những biện pháp nhằm phát huy những mặt mạnh và khắc phục những mặt tồn tại, chưa tốt của Công ty
Kế toán trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất về công tác tổ chức,vận hành bộ maúy kế toán của công ty , có trách nhiệm kiểm tra, giám sát tình hình hoạt đông tài chính, kế toán, kết quả sản xuất kinh doanh va tình hình thu nộp cho ngân sách Nhà Nước, đảm bảo cho hoạt động của Công ty đạt hiệu quả cao nhất, chiụ trách nhiệm trước ban Giám đốc Công ty về tính hợp pháp, hợp lý của các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính
Phó phòng kế toán: Tham gia quản lý tài chính tại Công ty , có nhiệm vụ chỉ đạo công tác kế toán tại Công ty khi trưởng phòng đi vắng
Kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ ghi sổ kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hàng ngày của Công ty Kiểm tr theo dõi các khoản thu nộp với tổng Công ty và giữa Công ty với các Công ty thành viên theo quy định hiện hành.Đôn đốc các Công ty trực thuộc lập báo cáo tài chính và báo cáo quản trị theo đúng quy định của Nhà Nước và tổng Công ty Thường xuyên rà soát, kiểm tra sổ sách kế toán để nắm bắt được số liệu hạch toán và tình hình tài chính biến động, kịp thời báo cáo kế toán trưởng và Công ty khi cần xử lý
Kế toán nguyên vật liệu: Có nhiệm vụ tổ chức chứng từ, tài khoản kế tpán, sổ
kế toán phù hợp để hạch toán chi tiết nguyên vật liệu phân bổ hợp lý giá trị nguyên vật liệu sử dụng vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, kinh doanh Tính toán
và phản ánh chính xác số lượng và giá trị nguyênvật liệu tồn kho, phát hiện kịp thời nguyên vật liệu thiếu, thừa, ứ đọng, kém phẩm chất để Doanh nghiệp có biện pháp
xử lý kịp thời, hạn chế đến mức tối đa thiệt hại có thể xảy ra
Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương: Có nhiệm vụ phản ánh, ghi chép, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời gian và kết quả lao động, tính lương và các khoản trích theo lương, phân bổ chi phí sử dụng nhân công theo đúng đối tượng sử dụng lao động Lập báo cáo về lao động, tiền lương phục vụ cho công
Trang 34Kế toán tạm ứng: Có nhiệm vụ theo dõi các khoản phải thu, phải trả giữa Công
ty với khách hàng, với nhà cung cấp
Kế toán tài sản cố định: Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu mộtcách chính xác, đầy đủ, kịp thời về số lượng, hiện trạng và giá trị tài sản cố định hiện có, tình hình tăng giảm và di chuyển tài sản cố định trong nội bộ, tính tóan khấu hao theo phương pháp đường thẳng Tham gia kiểm tra, kiểm kê định kỳ hay bất thường TSCĐ, tham gia đánh giá lại TSCĐ khi cần thiết, tổ chức phân tích tình hình sử dụng TSCĐ của Công ty
Kế toán tín dụng - Ngân hàng: Theo dõi,thực hiện thanh toán qua ngân hàng; theo dõi các dứan vayvốn đầu tư tại các ngân hàng.Theodõi hợp đòng kinh tế và công nợ phải trả với các đơn vị ngoài Công ty Thườn xuyên yêu cầu các đơn vị làm biên bản đối chiếu công nợ để làm cơ sở cân đối thanh toán
Thủ quỹ: Mọi nhgiệp vụ liên quan đến thu, chi, giữ gìn bảo quản tiền mặt do thủ quỹ chịu trách nhiệm thực hiện.Thủ quỹ phải thườn xuyên kiểm tra quỹ, đảm bảo tiền mặt tồn quỹ phải phù hợpvới số dư trên sổ quỹ Hàng ngày sau khi thu, chi tiền thủ quỹ phải ghi vào sổ quỹ, cuối ngày phải lập báo cáo quỹ nộp cho kế toán
2.1.4.2 Đặc điểm quy trình sản xuất kinh doanh.
*Đặc điểm tổ chức sản xuất:
Công ty CP Cơ điện và XD Việt Nam tổ chức sản xuất theo phân xưởng với mô hình sản xuất chung là:
- Dây chuyền sản xuất khép kín từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối
- Các xí nghiệp của công ty được chuyên môn hóa để sản xuất một hoặc một số sản phẩm nhất định Các xí nghiệp chủ động tìm hợp đồng, tổ chức tiêu thụ sản phẩm và nộp khoán cho công ty bao gồm: tiền khấu hao tài sản cố định, chi phí quản lý, tiền điện nước và đảm bảo lương sản phẩm, lương ngày cho công nhân của xí nghiệp mình Giữa các xí nghiệp có thể mua nguyên vật liệu của nhau và thực hiện cung cấp lao vụ lẫn nhau
*Đặc điểm quy trình công nghệ:
Trang 35Về xâydựng: Quy mổ sản phẩm lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc.
Xuất phát từ đặc thù riêng cuỉa ngành xây dựng cơ bản: Nơi xây dựng, thi công công trình là nơi nghiệm thu, bàn giao và sử dụng Cũng chính từ đặc điểm kinh tế
kĩ thuật của ngành xây lắp đòi hỏi các laọi sản phẩm chủ yếu của Công ty nói riêng
và của các Công ty xây dựng nói chung đòi hỏi phải cóp quy trình công nghệ riêng, phù hợp với đặc trưng của ngành xcây dựng Quy trình bao gồ các trình tự sau:
Nhận thầu thông qua đấu thầu hoặc giao thầu trực tiếp
Ký kết hợp đồng với chủ đầu tư côngtrình
Trên cơ sở đầu tư thiết kế và hợp đồng xây dựng đã được ký kết, Công ty tiến hành quá trình sản xuất thi công để tạo ra sản phẩm
Công trình được hoàn thành dưới sự giám sát của chủ đầu tư công trình
về mặt ỹ thuật và tiến độ thi công
Bàn giao công trình hoàn thành và thanh toán quyết toán hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư
Trang 36Chuẩn bị vốn,thiết bị công nghệ tại nơi thi công
Giải phóng mặt bằng, chuẩn bị lán trại
Các biện pháp an toàn và trang bị
bảo hộ lao động
Tiến hành thi công các hạng mục( nghiệm thi)
Nghiệm thu bàn giao công trình
Thu hồi vốn- đưa dự án vào khai
thác sử dụng
Trang 37Về cơ khí và điện: Sản phẩm cơ khí điện có thể di chuyển được nên có thể sản
xuất được ở nhiều địa bàn khác nhau
Công ty có mặt hàng chính là: Bơm trừ sâu, máy tẽ ngô, máy xát cà phê và nhiều mặt hàng khác nữa Mỗi sản phẩm đượcchế tạo theo một quy trình công nghệ khác nhau Một sản phẩm bao gồm nhiều chi tiết nên mỗi sản phẩm được sản xuất riênglẽ, có thể tự sản xuất, có thể phải mua ngoài hoặc thuê gia công
Ví dụ:việc sản xuất bơm trừ sâu qua 2 khâu:Nhựa và cơ khí
Về khâu nhựa:Chế tạo vỏ bình bơm và các chi tiết nhựa cho bình
Về khâu cơ khí:Chế tạo tất cả các chi tiết thuộc về cơ khí như:cụm tay đẩy cần lắc,đai cổ bình và các loại bu lông,chốt
Sau đó lắp ráp và kiểm tra chất lượng sản phẩm và nhập kho
Về kinh doanh thưong mại và dịch vụ :
Kinh doanh nội địa và xuất nhập khẩu các laọi vật tư máy móc thiết bị, hóa chất phục vụ nông nghiệp và chế biến nông sản, kinh doanh lưyơng thực, thực phẩm và nông lâm sản; Sản xuất và kinh doanh vật liêụ xây dựng, gương, kính, ván nhân tạo; cho thuê nhà ở, văn phòng làm việc, kho bãi, nhà xưởng; kinh doanh khách sạn
và dịch vụ lữ hành (không kinh doanh phòng hát kẩoke, vũ trường, quán bar)
Trang 38Có thể mô tả quy trình sản xuất bình bơm như sau(trang 36 poto kê to
Nguyên vật liệu
Nhùa c¸c lo¹i
(PP-PE-PVC) Nhùa c¸c lo¹i (PP-PE-PVC)
M¸y Ðp
phun M¸y Ðp thñ c«ng M¸y c¾t gät kim loai C¸c thiÕt bÞ kh¸c
Chi tiÕt nhùa cña b¬m
trõ s©u
C¸c chi tiÕt c¬ khÝ cña m¸y b¬m
Trang 392.1.4.3 Cở sở vật chất kỹ thuật.
thiếu
2.1.4.4 Yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ
* Yếu tố đầu vào và thị trường đầu vào:
Nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu là:Thép,Inox,thiết bị viễn thông, máy thi công công trình, ô tô có nguồn gốc từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU Mặt hàng chủ yếu của Công ty bao gồm:
Máy khai khoáng, xây dựng
Máy công cụ
Phương tiện bốc dỡ
Thiết bị thí nghiệm
Phôi thép, sắt các loại
Dây chuyền thiết bị toàn bộ
Nguyên vật liệu chỏan xuất
Săm lốp ôtô
Dây điện từ
Vòng bi
Phụ tùng ôtô
Ngoài ra công ty còn tự sản xuất và mua ngoài
Các thị trường truyền thống của Công ty gổm: Nga, Belarus, Cộng hoà Séc và một số nước thuộc hệ thống XHCN ngày trước được củng cố vững chắc, các thị trường mới đã được Công ty triệt để khai thác như thị trường Mỹ, các nước trong khu vực châu Á như Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Singapore và các nước châu Âu như Anh, Đức …
* Thị trường các yếu tố đầu ra:
Ngoài các thị trường xuất khẩu được khai thác từ ngày trước gồm: Nga, Bulgari, Ukraina, Trung Quốc , Công ty đã mở hướng xuất khẩu sang các thị trường mới như Mỹ, Nhật, Đức, Italia, Malayxia Ngoài ra công ty còn có thị trường trong nước tiềm năng, cung cấp:Vật liệu xây dựng, vật liệu điện và kim khí
Trang 40tải, xây dựng các công trình trọng điểm như: công trình thủy điện đồng nai 3, thủy điện hương điền, thủy điện sê san4, thủy điện sông tranh.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:
Máy nông nghiệp: Máy cày, máy kéo, máy xay cà phê và các thiết bị, sản phẩm
sử dụng trong chăn nuôi gia cầm
Máy móc và một số chi tiết kỹ thuật theo yêu cầu của bạn hàng như:
Máy bơm và máy cắt cỏ xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Gàu xúc xuất khẩu sang thị trường Nhật bản
Các chi tiết của đầu phá thủy lực HTB xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc.Không chỉ vậy mà Công ty còn có thị trường trong nước đầy tiềm năng
2.1.5 Kết quả kinh doanh chủ yếu của công ty
2.1.5.1 Những thuận lợi và khó khăn của Công ty
* Thuận lợi:
Là Công ty mới được cổ phần nên lượng vốn và Công ty huy động được là rất lớn cả về vốn vay lẫn VCSH.Vì thế mà trước mắt Công ty không phải khó khăn trong việc huy động thêm vốn dể đàu tư cho các hoạt động của mình
Công ty đã nắm bắt được vị thế và triển vọng phát triển của thị trường xây dựng và cơ khí nên đã xây dựng định hướng phát triển phù hợp
Công ty kinh doanh nhiều lĩnh vực nên giảm được phần nào rủi ro,tạo uy tín
và thương hiệu trên thị trường Công ty tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư máy móc thiết bị phục vụ thi công xây dựng, hợp tác kinh doanh với các đối tác để triển khai nhiều dự án mới trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, lĩnh vực kinh donh bất động sản và lĩnh vực sản xuất cơ khí truyền thống hứa hẹn mang lại lợi nhuận kinh tế cao
và vị thế mới cho Công ty
Công ty có tập thể ban lãnh đạo giàu kinh nghiệm, luôn đoàn kết, nhất trí và cán bộ công nhân viên lao động hăng hái, nhiệt tình nên Công ty đã vượt qua được nhiều khó khăn thử thách