Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng quát có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của mộtdoanh nghiệp.. Với điều kiện kinh tế như h
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cánhân em dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ :Nguyễn Tuấn Dương Các số liệu,kết quả trong chuyên đề là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của Công
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế hoạt động sống động nhất trong xã hội.Hoạt động của doanh nghiệp tạo ra của cải vật chất nuôi sống, tạo tích lũy làmgiàu cho xã hội, nó đóng góp vai trò quan trọng trong việc ổn định và pháttriển của nền kinh tế mỗi quốc gia
Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng quát có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của mộtdoanh nghiệp Nâng cao lợi nhuận là mục tiêu kinh tế hàng đầu của các doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường Bởi trong điều kiện hạch toán kinh doanhtheo cơ chế thị trường, lợi nhuận là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triểncủa một doanh nghiệp Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi mặt của doanhnghiệp như đảm bảo tình hình tài chính vững chắc, tạo điều kiện nâng cao đờisống cho cán bộ công nhân viên, tăng tích luỹ đầu tư vào sản xuất kinh doanh,nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường
Với điều kiện kinh tế như hiện nay, kết quả kinh doanh có lợi nhuận làđiều hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm giúp doanhnghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, đứng vững và tiếp tục pháttriển hơn nữa trên thị trường
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này, sau quá trình học tập vànghiên cứu tại HỌC VIỆN TÀI CHÍNH, cùng thời gian thực tập tại công ty
cổ phần hải sản Thái Bình, thông qua tìm hiểu hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty trong hai năm gần đây, kết hợp với kiến thức học tại trường, em
xin chọn đề tài: “ Lợi nhuận và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao lợi nhuận tại công ty cổ phần hải sản Thái Bình” làm đề tài chuyên đề tốt
nghiệp của mình Đề tài đã cũ song trong một bối cảnh nền kinh tế mới vớinhững diễn biến phức tạp như hiện nay thì đây lại là một vấn đề mới cần đượcnghiên cứu xem xét
Nội dung chuyên đề ngoài phần lời mở đầu gồm có:
Chương I : Lý luận chung về lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường
Trang 3Chương II : Tình hình thực hiện lợi nhuận tại công ty cổ phần hải sản Thái Bình
Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao lợi nhuận tại công
ty cổ phần hải sản Thái Bình
Do thời gian thực tập có hạn và kiến thức còn nhiều hạn chế nên nhữngvấn đề trình bày trong bài chuyên đề này không thể tránh khỏi những sai sót
Em rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy cô giáo trong trường
và các cô chú phòng tài chính kế toán của Công ty cổ phần hải sản Thái bình
để bài viết của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cô chú phòng tài chính
kế toán, đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Nguyễn Tuấn Dương
đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho em hoàn thành bài chuyên
Trang 4CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
1.1.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.1.1 Khái niệm và phương pháp xác định
Một nền sản xuất chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có tích luỹ Mà xét
về mặt bản chất, tích luỹ là sử dụng một phần của cải xã hội tạo ra để tái đầu
tư vào các yếu tố sản xuất nhằm tăng quy mô và năng lực của nền kinh tế.Muốn tích luỹ thì phải có lợi nhuận
Thực tế một thời chúng ta đã không coi trọng lợi nhuận thậm chí coi nó
là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản xấu xa Nhưng từ khi chúng ta chuyển đổinền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, lợinhuận được coi là một tiêu chí quan trọng mà mỗi doanh nghiệp đều phảihướng tới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Luật doanh nghiệp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005
nêu rõ: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh” Như vậy, doanh nghiệp là một tổ
chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, được thành lập nhằm mục đíchchủ yếu là thực hiện một hoặc một số khâu của quá trình đầu tư từ khâu sảnxuất đến khâu tiêu thụ với mục tiêu chủ yếu là sinh lời Như vậy, cái mà mộtthời mà chúng ta coi không trọng - lợi nhuận đã được pháp luật ngày nay thừanhận là mục tiêu chủ yếu và là động cơ sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Vậy lợi nhuận là gì?
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinhdoanh (SXKD), là một chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế củacác hoạt động của doanh nghiệp
Từ góc độ của doanh nghiệp, có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh
Trang 5của doanh nghiệp đưa lại Từ khái niệm trên, xác định lợi nhuận cho một thời
kỳ nhất định, người ta căn cứ vào hai yếu tố:
Thứ nhất: Thu nhập phát sinh trong một thời kỳ nhất định.
Thứ hai : Chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó
hay nói cách khác chỉ những chi phí phân bổ cho các hoạt động, các nghiệp
vụ kinh doanh đã thực hiện được trong kỳ
Công thức chung để xác định lợi nhuận như sau:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Doanh thu là toàn bộ giá trị toàn bộ hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp
bán ra trong thời kỳ nhất định Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: doanhthu tiêu thụ sản phẩm và doanh thu hoạt động tài chính
Chi phí là những khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được
doanh thu đó Những khoản chi phí đó bao gồm:
• Chi phí vật liệu đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm như chi phí nguyên vật liệu, khấu hao máy móc thiết bị
• Chi phí để trả lương cho người lao động nhằm bù đắp chi phí laođộng sống cần thiết mà họ bỏ ra trong quá trình sản xuất
• Các khoản để làm nghĩa vụ với Nhà nước, đó là thuế và các khoảnphải nộp khác cho nhà nước như thuế tài nguyên, thuế tiêu thu đặc biệt…cáckhoản này Nhà nước sẽ sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội nhưxây dựng cơ sở hạ tầng, bệnh viện, trường học…
Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần doanh thu còn lại sau khi bù đắp
các chi phí nói trên
1.1.1.2 Kết cấu lợi nhuận của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường rất đa dạng và phong phú nhưng bao gồm ba hoạt động chính như sau: Thứ nhất - Hoạt động SXKD
Thứ hai - Hoạt động tài chính
Thứ ba - Hoạt động khác
Xuất phát từ các hoạt động chính, lợi nhuận của doanh nghiệp thôngthường đựơc cấu thành bởi ba bộ phân sau:
Trang 61.1.1.2.1 Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận hoạt động SXKD ( hay lợi nhuận bán hàng) : là khoản chênhlệch giữa doanh thu của hoạt động SXKD và chi phí của hoạt động đó baogồm toàn bộ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ đã thực hiện và thuế phải nộp theoquy định ( nếu có trừ thuế thu nhập doanh nghiệp)
Doanh thu thuần: là toàn bộ số tiền bán thành phẩm, hàng hoá, cung ứng
dịch vụ trên thị trường sau khi trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán
bị trả lại(nếu có chứng từ hợp lệ) Ngoài ra, trong doanh thu còn bao gồm cáckhoản trợ giá, phụ thu theo quy định của Nhà nước, giá trị sản phẩm, hànghoá đem biếu tặng hoặc tiêu dùng nội bộ
Các chi phí cho sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán ra trong kỳ bao gồm:
* Giá vốn hàng bán: phản ánh giá vốn của thành phẩm hàng hóa dịch
vụ xuất bán trong kỳ ( với doanh nghiệp sản xuất là giá thành sản xuất củahàng hóa dịch vụ bán ra)
* Chi phí bán hàng: Là những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụsản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như chi phí tiền lương, các khoản phụ cấp trảcho nhân viên bán hàng, chi phí hoa hồng đại lý, hoa hồng môi giới, tiếp thị,đóng gói, vận chuyển, bảo quản, chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phívật liệu, bao bì, dụng cụ, đồ dùng, các chi phí bảo hành sản phẩm, chi phíquảng cáo
* Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí liên quan đến quản
lý kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí chung khác liên quan đếnhoạt động của toàn doanh nghiệp như: tiền lương và các khoản phụ cấp trảcho hội đồng quản trị, ban giám đốc và các nhân viên quản lý ở các phòngban, các khoản chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ chungcho toàn doanh nghiệp, công tác phí, chi thưởng sáng kiến
Từ đó ta có thể khái quát lợi nhuận hoạt động SXKD của doanh nghiệp theo công thức:
Lợi nhuận từ
hoạt động =
Doanhthu -
Giá trịvốn hàng - Chi phí
bán hàng
-Chi phí quản
lý doanh
Trang 7-Các khoảngiảm giáhàng bán
-Giá trịhàng bán
bị trả lại
-Thuế gián thutrong giá bán(nếu có)
1.1.1.2.2 Lợi nhuận hoạt động tài chính
Lợi nhuận hoạt động tài chính: Là số chênh lệch giữa doanh thu hoạtđộng tài chính và chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳxác định
Thuế giánthu (nếu có)
Doanh thu hoạt động tài chính: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà
doanh nghiệp thu được trong kỳ do các hoạt động tài chính mang lại bao gồmcác khoản thu từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi do bán ngoại tệ, lãi từ việcđầu tư vốn ra ngoài công ty
Chi phí hoạt động tài chính: Là chi phí có liên quan đến hoạt động đầu
tư vốn, huy động vốn, hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp trong mộtthời kỳ nhất định bao gồm các khoản chủ yếu: chi phí trả tiền lãi vay vốn kinhdoanh, chi phí liên quan đến việc doanh nghiệp cho các tổ chức hay doanhnghiệp khác vay vốn
1.1.1.2.3 Lợi nhuận khác
Lợi nhuận khác: Là chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác phátsinh do các hoạt động như thanh lý, nhượng bán tài sản, thu tiền phạt vi phạmhợp đồng, nhận quà biếu
Trang 8Thu nhập khác: Là các khoản thu được trong kỳ do các hoạt động không
thường xuyên ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu gồm: tiền thu do nhượngbán, thanh lý TSCĐ, khoản thu từ tiền bảo hiểm được các tổ chức bồi thườngkhi doanh nghiệp có tham gia bảo hiểm, khoản thu về tiền phạt từ khách hàng
do vi phạm hợp đồng kinh tế với doanh nghiệp
Chi phí khác: Là các khoản chi phí có liên quan đến hoạt động kinh
doanh khác, chi phí cho việc thu hồi các khoản nợ, chi phí về thu tiền phạt,các chi phí về tiền phạt do vi phạm hợp đồng, chi phí về thanh lý, nhượng bánTSCĐ
Sau khi đã xác định lợi nhuận của các hoạt động nói trên, tổng hợp lại tađược lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
+ Lợi nhuận hoạtđộng tài chính +
Lợi nhuậnkhác Lợi nhuận sau thuế TNDN được xác định như sau:
Lợi nhuận sau
thuế TNDN =
Lợi nhuậntrước thuếTNDN
- Thuế TNDN
Tóm lại: Lợi nhuận là kết quả cuối cùng và cũng là một chỉ tiêu chấtlượng tổng hợp phán ánh kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanhcủa một doanh nghiệp Tuy nhiên ta không thể dùng lợi nhuận để đánh giádoanh nghiệp đó kinh doanh tốt hay không tốt cũng như để so sánh giữa cácdoanh nghiệp với nhau bởi:
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng củanhiều nhân tố, có thể là nhân tố chủ quản, có thể là nhân tố khách quan, sựảnh hưởng đó có thể là cùng chiều hay ngược chiều Chỉ nhìn vào lợi nhuận takhông thể thấy được lợi nhuận tạo ra là do đâu cũng như mức độ ảnh hưởngcủa các nhân tố tới lợi nhuận như thế nào
Các doanh nghiệp khác nhau sẽ có đặc điểm hoạt động kinh
Trang 9kinh doanh khác nhau nên không thể dùng chỉ tiêu lợi nhuận để so sánh giữacác doanh nghiệp khác nhau.
Do vậy, để đánh giá một cách toàn diện và chính xác hơn về chấtlượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài chỉ tiêu tuyệtđối “lợi nhuận” ta đi xem xét thêm chỉ tiêu tương đối “tỷ suất lợi nhuận củadoanh nghiệp” Ta sẽ tìm hiểu về chỉ tiêu này ở phần sau đây
1.1.2 Tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận được xác định ở trên, cho chúng ta biết tổng quan về kết quảhoạt động kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp hay đây là một chỉ tiêuquan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc
sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá chất lượng hoạt động SXKD của doanhnghiệp thì nó còn một số hạn chế là:
- Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, là kết quả tài chính cuối cùng, lợinhuận hàm chứa trong nó ảnh hưởng của cả nhân tố khách quan và chủ quan
đã có sự bù trừ lẫn nhau Chính sự bù trừ lẫn nhau giữa các nhân tố này đãche lấp kết quả cuối cùng, không thể phản ánh đúng hết và không thấy được
sự tác động của từng yếu tố đến lợi nhuận thu được của doanh nghiệp cũngnhư sự nỗ lực chủ quan của doanh nghiệp
- Sẽ là rất khập khiễng nếu đem so sánh lợi nhuận tuyệt đối của doanhnghiệp này với doanh nghiệp khác trong khi bản thân các doanh nghiệp khônggiống nhau về điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thịtrường tiêu thụ, không giống nhau cả về quy mô sản xuất lẫn trình độ trang bị
kỹ thuật của ngành sản xuất…
Vì những lý do nêu trên, để đánh giá chính xác kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp cũng như xem xét một cách toàn diện hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp từ những góc độ khác nhau, chủ doanh nghiệp khi đầu tư vốnvào kinh doanh hoặc lựa chọn dự án đầu tư có hiệu quả, họ thường quan tâmtới các tỷ suất lợi nhuận hay còn gọi là doanh lợi và những biến động của nótrong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ so sánh giữa lợi nhuận thu được trong kỳ với các yếu tố có liên quan đến việc tạo ra lợi nhuận.
Trang 10Dưới đây là một số chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thường được sử dụng:
1.1.2.1 Tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên vốn kinh doanh(ROAe)
ROAe = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay *100%
Vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu cho biết một đồng vốn tham gia vào quá trình hoạt động SXKDtạo ra bao nhiêu lợi nhuận trước thuế và lãi vay qua đó phản ánh khả năngsinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hưởng của thuếthu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh
1.1.2.2 Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE= Lợi nhuận sau thuế *100%
Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh : Một đồng vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trìnhsản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, qua đó thấyđược hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và phục vụ cho việc phân tíchtài chính doanh nghiệp
1.12.3 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên giá thành (Tz)
Tỷ suất lợi nhuận giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ sảnphẩm trong kỳ với giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ Công thức xác định:
Tz = Lợi nhuận sau thuế *100%
Giá thành sản xuất toàn bộ
Tỷ suất lợi nhuận giá thành chỉ ra rằng: Cứ bỏ ra 100 đồng chi phí cho việc sản xuất tiêu thụ sản phẩm trong kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận hay nói một cách khác đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả của những chi phí bỏ ra cho việc sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Từ đó giúp doanh nghiệp định hướng sản xuất loại mặt hàng có mức doanhlợi cao, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả tối đa
Trang 111.1.2.4 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu bán hàng
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuậntiêu thụ sản phẩm với doanh thu bán hàng trong kỳ
Tóm lại: thông qua các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên đây, có thể đánh giá
một cách tương đối đầy đủ, chính xác tình hình hoạt động SXKD của doanhnghiệp đồng thời so sánh được chất lượng của các hoạt động giữa các doanhnghiệp với nhau một cách hoàn chỉnh
Có thể coi doanh nghiệp là một hệ thống mà việc vận hành của nó đòi hỏiphải tiến hành hàng loạt các giải pháp kinh tế - kỹ thuật và tài chính Do đó,
để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là mộtviệc không hề đơn giản Chính vì vậy, sẽ là thiếu sót nếu không kết hợp cả haichỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối với các chỉ tiêu lợi nhuận tương đối, trong phântích kinh tế chúng sẽ bổ trợ cho nhau và là công cụ đắc lực giúp các nhà quản
Trang 12lợi nhuận là điều hết sức cần thiết đối với mọi doanh nghiệp trong mọi thời
kỳ Sự cần thiết đó xuất phát từ những lý do sau:
- Từ vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Lợi nhuận là mục đích cuối cùng của mọi doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh và có một vai trò quan trọng không thể phủ nhận đối với sự tồn tại,phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế như hiện nay Cụ thể nhưsau:
Thứ nhất: Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng quát phản ánh kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vì, dựa vào đó doanh nghiệp có thể biếtđược hoạt động kinh doanh của mình có hiệu quả hay không, khoản thu về có
đủ bù đắp những chi phí đã bỏ ra để có được khoản thu đó hay không
Thứ hai: Lợi nhuận là mục tiêu, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp
nâng cao năng suất, là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng tác độngđến việc hoàn thiện các mặt hoạt động của doanh nghiệp
Thứ ba: Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ sảnxuất nhằm tiết kiệm chi phí nguyên nhiên vật liệu, tạo ra những sản phẩm chấtlượng cao, giá thành hạ Từ đó giúp doanh nghiệp có điều kiện tạo dựng vànâng cao uy tín trên thị trường, thu hút vốn đầu tư, bổ sung vốn kinh doanh,tăng thêm vốn chủ hở hữu và trả các khoản nợ, tạo sự vững chắc về tài chínhcho doanh nghiệp
Thư tư: Lợi nhuận cao cho thấy được triển vọng phát triển của doanh
nghiệp đó trong tương lai đó là doanh nghiệp sẽ rất thuận lợi trong các mốiquan hệ kinh tế như có thể huy động thêm vốn dễ dàng, mua chịu hàng hoávới khối lượng lớn Doanh nghiệp còn có điều kiện trích lập các quỹ(quỹ đầu
tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi ) để phục vụcho việc tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng, phục vụ cho công tácphúc lợi
Thứ năm: Lợi nhuận còn là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh
của doanh nghiệp Một doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao khi tăng đựơc
Trang 13phí Tức là doanh nghiệp sẽ tăng được lợi nhuận khi công tác quản lý kinhdoanh có hiệu quả điều này được thể hiện trên tất cả các khâu từ sản xuất đếntiêu thụ sản phẩm Khi lợi nhuận giảm sút, nếu loại trừ nhân tố khách quan, cóthể đánh giá rằng doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác quản lý kinhdoanh.
Như vậy, lợi nhuận không chỉ là vấn đề sống còn đối với bản thân mỗidoanh nghiệp mà còn là là uy tín của doanh nghiệp đối với Nhà nước và cácđối tác, là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cán bộ nhân viên, đồng thời
là nguồn tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, doanhnghiệp không những có thể tái sản xuất giản đơn mà còn có thể tái sản xuất
mở rộng Ngoài ra doanh nghiệp có thể làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước vàcác đối tác, có điều kiện quan tâm nhiều hơn đến đời sống vật chất cũng nhưtinh thần của người lao động Do đó, đối với mỗi doanh nghiệp nâng cao lợinhuận luôn là vấn đề trăn trở
Trang 14- Do vai trò của lợi nhuận đối với người lao động
Lao động là một trong ba yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh doanh để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp phải quan tâm thoả đáng đến lao động, cả về vật chất lẫn tinh thần nếu doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, lợi nhuận cao thì sẽ có điều kiện trích lập các quỹ như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm là cơ sở để từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp
Lợi nhuận còn là đòn bẩy kích thích người lao động đẩy mạnh sản xuất,nâng cao năng suất lao động và hăng say sáng tạo trong công việc Từ đó gópphần nâng cao thu nhập cho người lao động trong doanh nghiệp, tăng tích luỹ
để mở rộng sản xuất kinh doanh
- Từ vai trò của lợi nhuận đối với bên thứ ba
Bên thứ ba là những người có quan hệ với doanh nghiệp như các nhàcung cấp, ngân hàng, các nhà đầu tư… nếu doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh có hiệu quả, có lợi nhuận và tăng được lợi nhuận thì doanh nghiệp dễdàng vay thêm vốn từ các ngân hàng, thu hút vốn của các nhà đầu tư, tạo lậptín dụng thương mại với các nhà cung cấp
- Từ vai trò của lợi nhuận đối với xã hội
Lợi nhuận là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước, lợi nhuậncủa doanh nghiệp một phần sẽ được chuyển vào ngân sách Nhà nước thôngqua các sắc thuế và nghĩa vụ đóng góp của mỗi doanh nghiệp với Nhà nước.Nếu doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, lợi nhuận cao thì ngân sách nhànước sẽ có khoản thu lớn từ thuế thu nhập doanh nghiệp Và ngược lại, nếudoanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, lợi nhuận giảm thì khoản thu này sẽgiảm xuống Với khoản đóng góp ngày càng lớn từ thuế thu nhập doanhnghiệp vào ngân sách Nhà nước sẽ góp phần thoả mãn nhu cầu chi tiêu củanền kinh tế quốc dân, củng cố và tăng cường lực lượng quốc phòng, cải thiện
và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá, tinh thần cho nhân dân Nền kinh tếphát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi về môi trường kinh doanh, tài chính, đầutư…cho doanh nghiệp Từ đó doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động SXKD có
Trang 15không những có vai trò quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp mà còn có
ý nghĩa với toàn xã hội
Lợi nhuận còn có vai trò quan trọng với sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế của nền kinh tế, việc tăng lợi nhuận sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tếphát triển mạnh mẽ Bởi nền kinh tế phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc rấtlớn vào tích luỹ, quy mô của tích luỹ quyết định quy mô tăng trưởng Doanhnghiệp muốn tăng trưởng nhanh thì phải làm ăn đạt lợi nhuận cao Có đượclợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng được quy mô tích luỹ, một khi đã có tích luỹ
đủ lớn thi doanh nghiệp có thể tái sản xuất mở rộng, đây là tiền đề thúc đẩytăng trưởng kinh tế và ngược lại
- Do yêu cầu của cơ chế thị trường đối với doanh nghiệp
Trước đây, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trungquan liêu bao cấp Các doanh nghiệp sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch Nhànước giao, sản phẩm sản xuất ra do Nhà nước bao tiêu toàn bộ, mọi nhu cầu
về vốn kinh doanh, về vật tư, tài sản… đều do Nhà nước cấp nếu doanhnghiệp làm ăn có lãi thì Nhà nước thu, nếu lỗ thì nhà nước chịu chính vì vậy
mà vấn đề lãi , lỗ trong kinh doanh không được doanh nghiệp quan tâm hàngđầu
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ chế quản lý đã có những thay đổitích cực Nhà nước từng bước giao quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh, tựchủ về tài chính cho các doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tự hạch toán theophương thức “ lời ăn lỗ chịu” Do đó, các doanh nghiệp không còn đường nàokhác là phải đổi mới, phải vươn lên tự khẳng định mình, để làm được điều đó,doanh nghiệp phải tự bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh Muốn vậy cácdoanh nghiệp phải kinh doanh có lãi, nếu không có lợi nhuận thì doanhnghiệp không thể đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, không cóđiều kiện đổi mới công nghệ, ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệhiện đại vào sản xuất Như vậy, doanh nghiệp sẽ khó đứng vững trên thịtrường, nhất là trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt như hiện nay và trongtương lai
Tóm lại: lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và
Trang 16toàn bộ nền kinh tế nói chung Phấn đấu tăng lợi nhuận là mục tiêu cơ bản vàlâu dài của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên lợinhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều nhân tốkhác nhau
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp
1.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí, giá thành sản xuất và tiêu
thụ.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí màdoanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị haymột loại sản phẩm nhất đinh Giá thành sản phẩm của một doanh nghiệp biểuhiện chi phí cá biệt của doanh nghiệp để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nhân
tố chủ yếu sau:
Sự biến động giá cả của các yếu tố sản xuất đầu vào.
Khi giá cả các yếu tố đầu vào tăng sẽ làm cho giá thành tăng Đây
là nhân tố khách quan, doanh nghiệp dù muốn hay không cũng phải tuân theogiá cả thị trường
Sự tiến bộ về khoa học công nghệ.
Trong điều kiện hiện nay khoa học công nghệ phát triển nhanhchóng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm,tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Máy móc thiết bị sản xuất hiện đại
sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí nguyênvật liệu, hạn chế sản phẩm hỏng không đạt yêu cầu Từ đó góp phần hạ giáthành sản phẩm và tăng lợi nhuận trong dài hạn
Trình độ quản lý chi phí giá thành.
Bao gồm tổ chức quản lý lao động, máy móc thiết bị, tổ chức kếthợp sức lao động của con người với máy móc một cách hợp lý, trình độ quản
lý vốn Tổ chức quản lý sử dụng máy móc chặt chẽ sẽ đảm bảo máy móchoạt động với hiệu suất cao, tránh việc sử dụng máy móc thiết bị dùng chosản xuất vào những việc khác gây lãng phí và giảm tuổi thọ của máy móc Tổchức quản lý lao động tốt tức là nắm vững năng lực, trình độ, khả năng của
Trang 17năng suất lao động; có biện pháp kích thích lao động làm việc hăng say, nhiệttình với công việc từ đó giảm được chi phí nhân công trên sản phẩm Tổchức quản lý vốn chặt chẽ, hợp lý giúp giảm tình trạng ứ đọng vốn, giảm chiphí dự trữ nguyên vật liệu nhưng vẫn đảm bảo hoạt động sản xuất diễn raliên tục.
Trang 181.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ.
Doanh thu tiêu thụ là biểu hiện của tổng giá trị các loại sản phẩm hànghóa dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán ra trong một thời kỳ nhất định Doanhthu tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất, tiêu thụ của từngngành và có ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận của doanh nghiệp
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp phụ thuộc vàocác nhân tố chủ yếu sau:
Khối lượng sản phẩm tiêu thụ:
Khối lượng sản phẩm tiêu thụ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tớidoanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Khi giá bán không thay đổi, khốilượng sản phẩm tiêu thụ tăng lên thì doanh thu tiêu thụ sẽ tăng và ngược lại.Khối lượng sản phẩm tiêu thụ lại phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm sản xuất
ra, phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, phụ thuộc vào chính sách xúc tiến bánhàng, quảng cáo tiếp thị
Chất lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm tiêu thụ:
Để hoạt động kinh doanh thu được lợi nhuận lâu dài thìyêu cầu thiết yếu là sản phẩm của doanh nghiệp phải có chất lượng cao.Doanh nghiệp có mở rộng quy mô gia tăng thị phần, tăng lợi nhuận được haykhông chịu tác động rất lớn của uy tín chất lượng sản phẩm trong đánh giácủa người tiêu dùng Người tiêu dùng có đánh giá cao, có đặt niềm tin vào sảnphẩm thì mới có đầu ra cho sản phẩm và nếu sản phẩm có đầu ra thì mới có
hy vọng thu được lợi nhuận Để đánh giá tác động của chất lượng sản phẩm tacần xem xét đánh giá từ nhiều chiều, chất lượng cao chưa chắc tiêu thụ sẽnhiều và doanh thu sẽ tăng Bởi để sản xuất được sản phẩm có chất lượng caothì chi phí doanh nghiệp bỏ ra cũng cao hơn Doanh nghiệp sẽ phải định giásản phẩm ở một mức khác để phù hợp với chi phí bỏ ra Với mức giá bán sảnphẩm cao hơn đối với sản phẩm có chất lượng cao hơn lại có tác động ngượcchiều tới việc tiêu thụ sản phẩm Điều này đòi hỏi một mặt doanh nghiệp cầnnâng cao chất lượng sản phẩm một mặt cần xem xét đến chi phí bỏ ra cũngnhư mức giá bán của sản phẩm có phù hợp với thị trường hay không
Trang 19 Trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay ngoài yếu tốchất lượng thì yếu tố chủng loại và mẫu mã cũng cần được quan tâm Mặthàng chất lượng cao nhưng mẫu mã và chủng loại kém sẽ ảnh hưởng đáng kểđến khả năng tiêu thụ của mặt hàng đó Cái mà người tiêu dùng cảm nhậnđược trước tiên sẽ thu hút người tiêu dùng đến với sản phẩm do vậy khả năng
họ chi tiền ra để mua sản phẩm sẽ cao hơn Doanh nghiệp phải liên tục thayđổi cải tiến mẫu mã, chủng loại sản phẩm phù hợp với nhu cầu cũng như đòihỏi ngày càng cao của thị trường
Giá bán sản phẩm hàng hóa tiêu thụ:
Giá bán sản phẩm tiêu thụ là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đếndoanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Khi doanh thu không thay đổi, giá bánsản phẩm tiêu thụ tăng lên thì doanh thu tiêu thụ sẽ tăng và ngược lại Giá bánsản phẩm hàng hóa tiêu thụ lại phụ thuộc vào chi phí đầu vào, chi phí sảnxuất, chất lượng sản phẩm, chi phí quảng cáo, tiếp thị, uy tín của doanhnghiệp Doanh nghiệp cần có một chính sách giá linh hoạt để vừa thúc đẩytiêu thu sản phẩm, vừa gia tăng lợi nhuận trên sản phẩm để đạt mục tiêu tối đahóa lợi nhuận cho doanh nghiệp
Thị trường tiêu thụ, phương thức tiêu thụ, thanh toán tiền hàng:
Doanh nghiệp phải có thị trường đầu ra cho sản phẩm thì mới có
cơ hội thu được lợi nhuận Thị trường tiêu thụ của sản phẩm càng lớn thị khảnăng thu lợi nhuận càng cao Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp cùng ngành cũng như với các sản phẩm ngoại nhậpngày càng trở nên gay gắt Do vậy mỗi sản phẩm cần có phân đoạn thị trườngphù hợp để tối đa hóa lợi nhuận của sản phẩm đó Có được phân đoạn thịtrường thích hợp giúp tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm từ đó tăng khả năngtạo lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trang 20Trong nền kinh tế thị trường, để đẩy cao tiêu thụ sản phẩm khôngchỉ là sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả phù hợp mà doanh nghiệp cần ápdụng các phương pháp thúc đẩy tiêu thụ linh hoạt đối với từng loại sản phẩmcũng như thanh toán tiền hàng Doanh nghiệp cần đa dạng hóa các phươngthức bán hàng, thanh toán tiền hàng như bán buôn, bán lẻ, bán trả góp, trảchậm
Tuy nhiên ta không thể xem tác động một chiều mà phải xem tácđộng đa chiều biện chứng của các nhân tố ảnh hưởng tới giá bán và khốilượng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ Doanh nghiệp cần tìm ra được mức giá vàsản lượng tiêu thụ sao cho doanh thu thu được là cao nhất mà chi phí là thấpnhất với cùng một năng lực sản xuất của doanh nghiệp
1.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng có liên quan đến nhiều khâu củaquá trình sản xuất Bất kỳ một khâu nào của quá trình sản xuất không có hiệuquả đều làm giảm lợi nhuận Trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh, lợi nhuận bán hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất Chính vì vậy, chuyên
đề xin giới hạn trong phạm vi lợi nhuận bán hàng và các biện pháp phấn đấutăng lợi nhuận tiêu thụ của doanh nghiệp
Lợi nhuận bán hàng của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi doanh thu bánhàng, giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ và thuế gián thu Nhưng cần nhậnthức rõ ràng rằng, thuế là chỉ tiêu thể hiện nghĩa vụ bắt buộc của doanhnghiệp đối với nhà nước Thuế là nhân tố khách quan ảnh hưởng nghịch chiềuvới lợi nhuận, doanh nghiệp không được tìm cách giảm thuế, trốn thuế đểtăng lợi nhuận
Còn lại lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi yếu tố doanh thu tiêu thụ và giáthành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ Nhưng mỗi nhân tố trên lại chịu ảnh hưởngcủa các nhân tố khác nhau theo những chiều hướng khác nhau Vì vậy, nhữngphương hướng chủ yếu để tăng lợi nhuận đều xoay quanh việc nghiên cứu vàtác động các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận: doanh thu tiêu thụ và giá thànhsản phẩm
Trang 211.3.1 Tăng doanh thu tiêu thụ và sản phẩm trong kỳ.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, việc tăng doanh thu tiêu thụ
sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên việc tăng doanh thu lạiphụ thuộc vào nhiều nhân tố ảnh hướng tới doanh thu theo chiều hướng tíchcực
Thứ nhất: Cần tăng số lượng và chất lượng của sản phẩm sản xuất
và tiêu thụ trong kỳ.
Ta thấy: nếu các nhân tố giá bán, giá thành toàn bộ , thuế gián thu được
cố định thì lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ sẽ tăng đồng hành cùng với sự gia tăngcủa sản phẩm tiêu thụ
Khối lượng sản phẩm tiêu thụ gia tăng trước hết phụ thuộc vào khối lượngchất lượng sản phẩm sản xuất ra.Để có thể tăng nhanh và nâng cao chất lượngsản phẩm, doanh nghiệp cần đầu tư cho sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiềusâu
Đầu tư cả chiều sâu đồng nghĩa với việc hiện đại hóa máy móc thiết bị,mạnh dạn ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất, song song với việcloại bỏ những máy móc đã lạc hậu, lỗi thời để các khâu của các dây chuyềnsản xuất được đồng bộ, hoạt động được ăn khớp nhịp nhàng với nhau Bêncạnh đó, việc đầu tư nâng cao tay nghề cho công nhân cũng đóng vai trò hếtsức quan trọng, để họ có thể làm chủ công nghệ hiện đại, vận hành có hiệuquả các dây chuyền sản xuất mới
Khối lượng sản phẩm tiêu thụ gia tăng còn phụ thuộc vào công tác tổchức bán hàng cảu doanh nghiệp Sản phẩm làm ra nhiều mà tiêu thụ chậmhoặc không tiêu thụ được, vốn sẽ bị ứ đọng, quá trình sản xuất tiếp theo sẽkhông thể tiến hành Chính vì vậy, công tác tổ chức bán hàng được ví như cầunối giữa tiêu dùng và sản xuất
Thứ hai: Cần xây dựng kết cấu sản phẩm để tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp
Ta đã biết, kết cấu sản phẩm cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới doanh thutheo những hướng khác nhau, có thể làm tăng lợi nhuận nhưng cũng có thểlàm giảm lợi nhuận tiêu thụ Trong thực tế, nếu doanh nghiệp thay đổi kết cấumặt hàng tiêu thụ theo hướng tăng tỉ trọng những mặt hàng có mức lợi nhuận
Trang 22đơn vị cao, giảm tỉ trọng tiêu thụ những mặt hàng có mức lợi nhuận đơn vịthấp sẽ làm cho doanh thu và lợi nhuận tăng lên và ngược lại.Để thu được lợinhuận cao, doanh nghiệp cần đầu tư nghiên cứu, đa dạng hóa chủng loại sảnphẩm nhằm cung cấp và thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường, đồng thời đảmbảo kết cấu mặt hàng tối ưu
Thứ ba: Cần xây dựng một chính sách giá cả hợp lý
Giá cả cũng là một nhân tố không thể không đề cập đến bởi nó liên quanđến lợi ích kinh tế của cả người bán lẫn người mua Một sản phẩm sản xuất rakhông những phải phù hợp với nhu cầu mà còn phải phù hợp với khả năngthanh toán của khách hàng, có như vậy mới có thể mở rộng khả năng và thịphần tiêu thụ nhờ đó mà nâng cao doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.Sản phẩm được tiêu thụ chứng tỏ nó đã được thị trường chấp nhận cả về giá
cả và chất lượng, sản phẩm tiêu thụ được ngày càng nhiều thì lợi nhuận củadoanh nghiệp ngày càng cao
Chính sách giá cả được coi là hợp lý nếu các mức giá đưa ra giải quyếthài hòa mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế giữa người bán và người mua, thựchiện phân đoạn thị trường một cách hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận chodoanh nghiệp Mặt khác chính sách giá cả hợp lý cũng tạo ra lợi thế cạnhtranh cho doanh nghiệp, đôi khi nó còn là một vũ khí lợi hại đánh bật các đốithủ cạnh tranh, giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường Do vậy, xây dựngchính sách giá cả hợp lý là điều hết sức cần thiết với mỗi doanh nghiệp
Thứ tư: Cần làm tốt công tác thanh toán.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khách hàng của mỗi doanh nghiệpkhông chỉ giới hạn ở một phạm vi nhỏ mà còn mở rộng đến khắp mọi miềnđất nước , thậm chí còn vượt ra ngoài biên giới của một quốc gia Do vậy, đadạng hóa phương thức thanh toán sẽ là một điều kiện giúp cho doanh nghiệp
mở rộng được mạng lưới tiêu thụ Những phương thức đó có thể là thanh toánbằng tiền mặt, bằng séc, chuyển khoản, tín dụng ngân hàng, tín dụng thươngmại, trả chậm, L/C… Với mỗi hình thức thanh toán có những ưu điểm riêng,cần linh hoạt áp dụng với từng trường hợp, từng loại khách hàng khác nhau để
có hiệu quả cao nhất và đảm bảo thuận tiện cho khách hàng
Trang 23Và cuối cùng, một biện pháp quan trọng không thể không nhắc đến, đặcbiệt trong tình hình kinh doanh hiện nay, đó là việc tổ chức tốt công tác xâydựng các chiến lược chung, trong đó chiến lược chung về Marketting đóngvai trò quan trọng Doanh nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chiếnlược: chiến lược sản phẩm, chiến lược định giá, chiến lược phân phối và chiếnlược xúc tiến yểm trợ Có thể nói, việc tăng doanh thu của các doanh nghiệpphụ thuộc vào nhiều yếu tố, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các chính sách,chiến lược để đạt hiệu quả cao nhất.
1.3.2 Tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
Đây là phương hướng cơ bản, lâu dài để tăng lợi nhuận cho các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh Đặc biệt trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh
về giá, nếu giá thành sản phẩm càng thấp thì doanh nghiệp càng có lợi thế để
hạ giá bán sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, làm tăng doanh thu và tănglợi nhuận
Việc tiết kiệm các chi phí về lao động sống, lao động vật hóa( chi phínguyên vật liệu, máy móc, chi phí quản lý…) có ý nghĩa to lớn đối với doanhnghiệp mà còn đối với toàn xã hội bởi nó làm cho lợi nhuận tăng lên màkhông cần phải tăng chi phí Ví vậy, nó tạo cho doanh nghiệp không chỉ tự bùđắp chi phí sản xuất, kinh doanh có lãi mà còn giúp doanh nghiệp sử dụng tiếtkiệm vốn để mở rộng quy mô sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm sản xuất ra
Để hạ giá thành sản phẩm, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp chủyếu sau:
+ Một là: thường xuyên đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất trongdoanh nghiệp, ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật vàosản xuất
+ Hai là: Không ngừng hoàn thiện và nâng cao trình độ tổ chức sản xuất,
tổ chức lao động, tiết kiệm chi phí lao động vật tư , chi phí quản lý, hạn chếtối đa các thiệt hại tổn thất trong quá trình sản xuất… từ đó có thể tiết kiệmchi phí và hạ giá thành
+ Ba là: Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính đồi với sửdụng chi phí và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 24+ Bốn là: Trong khâu cung ứng nguyên vật liệu cần phải chọn nguồncung cấp gần, thuận tiện cho việc chuyên chở, giá cả phải chăng, đặc biệt làphải ổn định hóa nguồn cung cấp cho những vật tư chính Đây cũng là nhân tốgiúp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải chú ýđến khâu bảo quản, dự trữ vật tư, tránh tình trạng để vật tư bị thất thoát, mấtphẩm chất hoặc không đủ đảm bảo cho sản xuất được liên tục Thực hiệnquản lý và sử dụng nguyên vật liệu tiết kiệm nhằm tối thiểu hóa chi phí quảntrị hàng tồn kho.
1.3.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Yêu cầu hoạch toán kinh tế và mục tiêu lợi nhuận đã đặt các doanhnghiệp trước vấn đề phải tổ chức sử dụng vốn kinh doanh sao cho có hiệuquả Vốn kinh doanh của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: Vốn lưu động vàvốn cố định
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các loại vật tư thành phẩm…
Sử dụng có hiệu quả vốn lưu động có nghĩa là trong quá trình sản xuất phảitận dụng tối đa vốn sản xuất, tăng nhanh vòng quay vốn vật tư hàng hóa, tránh
ứ đọng, mất mát hư hao Tiết kiệm chi phí sẽ làm giảm giá thành, từ đó làmlợi nhuận tăng lên
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định Đối với vốn cốđịnh, doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp bảo toàn cả về hiện vật vàgiá trị Nghĩa là phải có sự phân cấp quản lý chặt chẽ, huy động sử dụng tối
đa tài sản cố định và sản xuất, thanh lý nhượng bán kịp thời những tài sản cốđịnh không cần dùng hoặc không thể sử dụng được nữa, thực hiện tốt việc sửachữa bảo dưỡng, khấu hao tài sản cố định một cách hợp lý Song song vớiviệc cần phải đổi mới, hiện đại hóa máy móc thiết bị để có thể nâng cao chấtlượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trên đây là một số phương hướng biện pháp nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động sản xuất và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều song không phải làgiải pháp tối ưu cho tất cả các doanh nghiệp Để có thể phát huy hiệu quả củamột biện pháp nào đó, mỗi doanh nghiệp cần phải cân nhắc, đánh giá đặcđiểm và các mặt lợi thế của riêng mình( vốn, lao động, nguồn cung cấp, thị
Trang 25trường tiêu thụ) để lựa chọn được biện pháp phù hợp với chính doanh nghiệpđó.
Kết luận: Trên đây là phần trình bày những lý luận cơ bản về lợi nhuận
và các phương hướng, biện pháp phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp,
đó chính là cơ sở để đi sâu phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
và đánh giá tình hình thực hiện lợi nhuận của công ty cổ phần hải sản TháiBình được trình bày ở chương II, phần tiếp theo sau đây
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY
Công ty Cổ phần Hải sản Thái Bình có :
Tên giao dịch : Công ty cổ phần hải sản Thái Bình
Tên tiếng anh : Thai Binh seaproducts joint-stock Company
Tên viết tắt : Thai Binh seaproducts J.S.C
Trụ sở chính: số 22 – Phố Hai Bà Trưng – Phường Lê Hồng Phong - Thành Phố Thái Bình
Trang 26- Công ty cổ phần hóa 100% trong đó: Cổ phiếu ưu đãi chiếm 20%,
Cổ phiếu phổ thông chiếm 80%
- Công ty có : 127 Cổ đông, trong đó 87 Cổ đông là người lao độngtrong công ty
- Cổ đông chiến lược của công ty chiếm 10% vốn điều lệ trị giá250.000.000 VNĐ ( Hai trăm năm mươi triệu đồng chẵn )
- Cổ đông ngoài công ty chiếm 15% vốn điều lệ trị giá 375.000.000VNĐ ( Ba trăm bảy mươi lăm triệu đồng chẵn )
Qua hơn 50 năm hoạt động, Công ty cổ phần hải sản Thái Bình đã khôngngừng phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, đạt được những kết quả đángkhích lệ Sản lượng, doanh thu, vốn kinh doanh ngày càng cao, đời sống cán
bộ nhân viên được ổn định Đồng thời công ty tiếp tục đầu tư mua sắm trangthiết bị, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực sảnxuất đáp ứng nhu cầu khách hàng Hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng
có hiệu quả, đảm bảo trả vốn và lãi đúng kỳ hạn cho ngân hàng
- Công ty đã vinh dự đạt được cúp Vàng năm 2007 về Sản phẩm Việt
do Hội chuẩn WTO về sở hữu trí tuệ ban tặng
- Công ty đã đạt được Huy Chương Vàng tại hội chợ VN bestfood về “Thực phẩm chất lượng an toàn vì sức khỏe cộng đồng “ do Cục an toàn vệsinh thực phẩm, Ban tổ chức hội chợ VN bestfood ban tặng
Trang 27- Năm 2003, Sản phẩm nước mắm cốt cá cơm của công ty đã được tặngHuy Chương Vàng tại Hội chợ Xuất Nhập Khẩu và tiêu dùng đồng bằng Bắc
Bộ và được chứng nhận hàng Việt Nam chất lượng cao phù hợp tiêu chuẩn
- Năm 2004, công ty đã được Bộ Khoa học và Công nghệ tặng Giảithưởng Chất lượng Việt Nam
Công ty đang thực sự chuyển mình theo đà tăng trưởng kinh tế của đất nước.Những cơ hội và thách thức phía trước đòi hỏi Công ty phải xây dựng chomình chiến lược phát triển đúng hướng trên tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh của công ty
2.1.2.1 Chức năng
Thu mua và chế biến thủy sản nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa,xuất khẩu và dịch vụ hậu cần cho người dân, tối đa hóa lợi nhuận cho cổđông, tăng cường sức cạnh tranh, nâng cao giá trị công ty và không ngừng cảithiện đời sống, điều kiện làm việc, góp phần tạo công ăn việc làm, cũng nhưtăng tích lũy cho ngân sách Nhà nước thông qua nghĩa vụ nộp thuế đối vớiNhà nước
- Đại lý kinh doanh xăng dầu, mua bán các chất bôi trơn và làm sạch độngcơ
- Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hoá ven biển, đường sông bằng tàuthuỷ; dạy nghề ngắn hạn dưới một năm; kinh doanh lữ hành nội địa; kinhdoanh dịch vụ ăn uống đầy đủ; kinh doanh dịch vụ khách sạn
2.1.3 Tổ chức bộ máy
2.1.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Trang 28Qua sơ đồ trên ta thấy được cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các phòng ban như sau
- Đại hội đồng cổ đông : là cơ quan quyết định cao nhất của công ty,
đề ra các nghị quyết, chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh cũng như cácchiến lược khác nhằm ổn định, phát triển công ty
- Hội đồng quản trị : do Đại hội đồng cổ đông bầu ra thay mặt cho Đạihội đồng cổ đông lãnh đạo công ty thực hiện các nghị quyết do Đại hội đồng
cổ đông thông qua, thực hiện nhiệm vụ quản trị công ty, quyết định mọi vấn
đề liên quan tới mục đích, quyền lợi của công ty trong quá trình hoạt động sản
Đại hội đồng cổ đông
Chủ tịch hội đồng quản trị
Phó chủ tịch hội đồng quản trị ( kiêm Giám đốc)
Phó giám
đốc
Phó giám đốc
Phòng kế
toán
Phòng kinh doanh
Phòng tổ chức
XN Tam Lạc
XN Hải sản Diêm Điền
XN
Đông
Lạnh
XN Cửa Lân
XN Dịch vụ Hậu cần
Trang 29- Giám đốc : Điều hành trực tiếp hoạt động kinh doanh của công ty dựavào ý kiến chỉ đạo của Hội đồng quản trị, lãnh đạo và quản lý toàn diện cácmặt công tác, các hoạt động đối nội, đối ngoại của công ty Chịu trách nhiệmtrước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về thực hiện các quyền và nhiệm
vụ được giao
- Hai Phó giám đốc : Hỗ trợ cho Giám đốc trong chỉ đạo từng lĩnh vựccông tác của công ty theo sự phân công, uỷ quyền của Tổng giám đốc Giảiquyết các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực phụ trách, báo cáo công tác thường
kỳ lên Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về mọi nhiệm vụ đượcgiao
+ Chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kỹ thuật, đơn giá, định mức kinh tế kỹthuật
+ Tập hợp báo cáo thống kê kết quả sản xuất kinh doanh từng tháng,quý, năm cho công ty và các cơ quan liên quan
Trang 30+ Thực hiện công tác thống kê về lao động, tiền lương trong từng thời
kỳ, báo cáo kịp thời cho các cơ quan quản lý và lãnh đạo công ty
- Phòng kế toán :
+ Xây dựng các chỉ tiêu tài chính của công ty, tổng hợp quyêt toán tàichính toàn công ty Ngoài ra, phòng kế toán còn có nhiệm vụ nghiên cứu cácchế độ chính sách về tài chính để bổ sung hoàn thiện các quy chế tài chínhcủa công ty
Các xí nghiệp trực thuộc công ty :
Nằm trong hệ thống phân cấp của công ty không có tư cách pháp nhân
Do vậy công ty giao cho xí nghiệp tự chủ trong sản xuất tuy nhiên hạch toánkết quả kinh doanh cuối cùng là ở công ty
Với bộ máy kiện toàn theo hướng tinh gọn, cơ chế quản lý phù hợp, nội
bộ đoàn kết, kết quả sản xuất kinh doanh bước đầu đã có tiến bộ đáng ghinhận, tạo được lòng tin cho người lao động
2.1.3.2 Chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp
Xuất phát từ qui mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty cổ phần Hải Sản Thái Bình mà công ty đã lựa chọn hình thức tổ chức bộmáy kế toán tập trung Công ty chỉ có một phòng kế toán duy nhất, các đơn vịtrực thuộc và các cửa hàng hạch toán phụ thuộc định kì mỗi tháng lập bảng kêkèm theo chứng từ gốc gửi về phòng kế toán tổng hợp để lên sổ sách kế toán
và báo cáo toàn công ty Hình thức này đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất tậptrung tương đối cao đối với công tác kế toán
Công ty thực hiện theo chế độ kế toán ban hành theo quyết định số15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính và các thông
tư sử đổi bổ sung
- Niên độ kế toán: công ty áp dụng niên độ kế toán năm báo cáo (bắtđầu từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm)
- Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
- Phương pháp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thườngxuyên
- Khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng
Trang 31- Phương pháp tính giá hàng tồn kho: theo phương pháp bình quân cả
kì dự trữ
- Phương pháp tính giá hàng xuất kho theo phương pháp đích danh
- Tỷ giá sử dụng trong qui đổi ngoại tệ: Sử dụng tỷ giá thực tế bán ra
của ngân hàng ngoại thương Việt Nam; đồng tiền hạch toán: VNĐ
- Hình thức kế toán áp dụng là hình thức kế toán chứng từ ghi sổ
2.1.4 Cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh của CTCP hải sản Thái Bình
Công ty có: 5 xí nghiệp thành viên, bao gồm:
- Xí nghiệp chế biến hải sản Diêm Điền
- Xí nghiệp chế biến hải sản Cửa Lân
- Xí nghiệp chế biến thủy sản Tam Lạc
- Xí nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu Diêm Điền
- Xí nghiệp sản xuất kinh doanh hậu cần dịch vụ thủy sản
2.1.5 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của CTCP hải sản Thái Bình
2.1.5.1 Đặc điểm quy trình công nghệ của Công ty
Công ty CP Hải sản Thái Bình là doanh nghiệp chuyên sản xuất cácloại mặt hàng hải sản nhưng mặt hàng chủ yếu là nước mắm Nước mắm củacông ty từ nhiều năm qua đã chiếm được sự tin tưởng của người tiêu dùng
“Sản phẩm đã được Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng tặng bằng khen,Cục sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, Cục vệsinh an toàn thực phẩm và Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam tặng huychương vàng” Đây là động lực giúp Doanh Nghiệp phấn đấu hơn nữa vì sứckhỏe người tiêu dùng, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để đápứng được nhu cầu của thị trường, từ đó tiết kiệm chi phí hạ giá thành, tăngdoanh thu tối đa hóa lợi nhuận
Từ việc nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng ở miền Bắc là thíchloại nước mắm phải có mùi đặc trưng, đậm đà hương cá Công ty đã duy trìviệc sản xuất nước mắm bằng phương pháp cổ truyền, nghĩa là từ cá nguyên
Trang 32liệu, qua quá trình ngâm ủ, khuấy đảo, phơi nắng từ 6 đến 9 tháng để chượp
độ “ ngấu” mới tiến hành “kéo rút” ra nước mắm
Hiện nay, Công ty đã công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa cho 7loại sản phẩm nước mắm và 3 loại mắm tôm tại Chi cục Tiêu chuẩn Đo lườngChất lượng ( TCĐLCL) Thái Bình Nhìn chung, các sản phẩm của Công tyđều có mức chất lượng đảm bảo theo mức đã công bố có nhãn phù hợp vớiquy định về ghi nhãn hàng hóa theo Quyết định 178/1999/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ Trên nhãn hàng hóa được thể hiện đầy đủ các tiêu chí bắtbuộc như: Tên sản phẩm, tên địa chỉ, cơ sở sản xuất, định lượng, các chỉ tiêuchất lượng chính, thành phần cấu tạo, ngày sản xuất và hạn sử dụng
Với phương châm kinh doanh: Chỉ bán cho khách hàng những sản phẩmđạt yêu cầu chất lượng và với chiến lược phát triển không ngừng các sảnphẩm của Công ty đã được đông đảo người tiêu dùng ở các tỉnh phía Bắc mến
Trang 33Biểu số 1 : Quy trình sản xuất chượp bằng phương pháp đánh đảo
Biểu số 2 : Quy trình sản xuất nước mắm kéo rút
Trang 342.1.5.2 Đặc điểm về nguyên vật liệu
Công ty cổ phần hải sản Thái Bình thuộc loại hình doanh nghiệp sản xuất chếbiến thực phẩm ( chủ yếu là sản xuất nước mắm ) với nguyên liệu chính được
sử dụng là các thủy sản như: Cá, tôm và muối
Để sản phẩm nước mắm đạt yêu cầu chất lượng, công ty đã chú trọng ngay từkhâu mua cá nguyên liệu, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của quy trìnhsản xuất, có biện pháp kịp thời và phù hợp để khắc phục những diễn biến củathời tiết, khí hậu
2.1.5.3 Đặc điểm về đối thủ cạnh tranh của công ty
Đối thủ cạnh tranh được xác định là lớn nhất của công ty là nước mắmPhú Quốc, nước mắm Cát Hải và nước mắm Phan Thiết Những công ty đó cómạng lưới phân phối rộng khắp cả nước, sản phẩm của họ cũng đa dạng vềchủng loại, phong phú về mẫu mã và có chất lượng tốt Đặc biệt là nước mắmPhú Quốc, thương hiệu của họ đã được khẳng định từ lâu, nổi tiếng không chỉ
ở trong nước mà còn ở cả nước ngoài Năm 2002, công ty Unilerver đã đầu tư
1 triệu USD xây dựng nhà máy đóng chai tại Phú Quốc và bắt đầu bán nướcmắm với nhãn hiệu Knorr tại Việt Nam Điều đó khiến cho sức cạnh tranhtrên thị trường càng trở nên khốc liệt và việc kinh doanh của công ty ngàycàng khó khăn hơn
Nổi lên như một hiện tượng, nước mắm Hạnh Phúc cũng là một nhãn hiệu màcông ty cũng không thể xem thường khi họ đã bán hết 300.000 chai 60 độđạm loại 250cl- 500cl- 650cl được đưa ra trong dịp tết Ất Dậu Với sản lượnghơn 1000.000 lít nước mắm/năm, khi có nhu cầu, sản lượng có thể được nânglên gấp đôi Họ cũng đã xuất khẩu sản phẩm của mình sang các thị trường khótính như Nhật, Úc và Hoa Kỳ Và chúng ta cũng không thể không nhắc đếnnhững tên tuổi như nước mắm Chinsu, nước mắm Nam Ngư và nước mắmTam Thái Tử của công ty Masan Foods đang được quảng cáo rất rầm rộ trêncác phương tiện truyền thông và cũng được rất nhiều những bà nội trợ tindùng
Vì những lý do trên mà công ty cần phải nghiên cứu kỹ các đối thủcạnh tranh, xác định đâu là đối thủ cạnh tranh chính của mình và đề ra chiếnlược cụ thể trong sản xuất cũng như kinh doanh
Trang 352.1.6 Đánh giá khái quát tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của công ty
2.16.1 Tình hình vốn và nguồn vốn của công ty
Trang 37
Qua số liệu ở bảng 01, có thể rút ra nhận xét khái quát về tình hình tài chính
chủ yếu của công ty trong năm qua như sau :
Về tình hình sử dụng tài sản :
Theo số liệu tính đến ngày 31/12/ 2010 thì tổng tài sản hiện có của công
ty là 6.187.788 nghìn đồng, tăng thêm so với đầu năm là 405.096 nghìn đồng,với tỉ lệ tăng tương ứng là 7,01% Trong đó tài sản ngắn hạn tăng 17,79 %, tàisản dài hạn giảm 6,10 % Tài sản ngắn hạn cuối năm 2010 tăng chủ yếu là ởhàng tồn kho và tiền và các khoản tương đương tiền Hàng tồn kho tăng nhiều
có thể do công ty dự trữ nguyên vật liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất, tuynhiên việc dự trữ một lượng lớn hàng tồn kho như vậy có thể sẽ làm giảmvòng quay hàng tồn kho cũng như vòng quay của vốn, giảm hiệu suất sử dụngvốn Tiền tăng mạnh vào cuối năm là do vào thời điểm này, công ty tiêu thụđược lượng hàng lớn, khách hàng không mua chịu mà trả tiền ngay, điều này
đã góp phần nâng cao khả năng thanh toán cho công ty Tuy nhiên cần chú ýgiữ tốc độ tăng ở mức hợp lý, nếu để tăng quá cao mà lại tập chung ở khốitiền mặt sẽ gây nên hiện tượng ứ đọng vốn, tiền có nhưng không sinh lời
Về tình hình sử dụng nguồn vốn
Xét đến tình hình nguồn vốn của công ty cuối năm 2010, bảng số liệucho thấy nợ phải trả cuối năm là 1.067.645 nghìn đồng chiếm tỉ trọng 17,25 %trong tổng nguồn vốn, tăng 284.004 nghìn đồng so với năm 2009 Nguồn vốnchủ sở hữu chiếm đến 82,75%, so với năm 2009 (86,45%) mức tỉ trọng này đãgiảm xuống xong vẫn còn khá cao, đủ điều kiện để đảm bảo an toàn về mặttài chính cho công ty Hệ số nợ thấp, đạt 0.17 chứng tỏ trong năm công ty đã
sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức độ thấp, với tình hình sản xuất kinh doanhkhả quan như hiện nay thì đây là điểm thuận lợi giúp công ty có thể tăng tỷsuất lợi nhuận vốn chủ sở hữu Với nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng lớn
và năm 2009 đã có những khởi sắc hơn so với năm 2009 thì ta thấy việc công
ty tăng sử dụng nợ phải trả là để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh nhằmgóp phần nâng cao hơn nữa lợi nhuận cho công ty Tuy nhiên với lãi suất vẫncòn khá cao thì việc sử dụng nhiều nợ hơn cũng đồng nghĩa với việc công typhải tăng chi phí sử dụng vốn
Trang 38Để đánh giá một cách cụ thể hơn tình hình tài chính của công ty ta điđánh giá một số chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán được trình bày trong
Bảng 2 dưới đây.
Bảng 2: Hệ số khả năng thanh toán
Chỉ tiêu 31/12/2009 31/12/2010 Chênh
lệch
1 Hệ số khả năng thanh toán tổng quát 7,38 5,796 (1,584)
2 Hệ số khả năng thanh toán hiện thời 4,82 4,07 (0,75)
3 Hệ số khả năng thanh toán nhanh 1,26 1,13 (0,13)
4 Hệ số khả năng thanh toán tức thời 0,42 0,47 0,05
Từ số liệu Bảng 2 ta thấy: Hệ số khả năng thanh toán tổng quát của công
ty ở mức cao đạt 5,796 vào thời điểm 31/12/20010giảm 1,584 so với31/12/2009 ( đạt 7,38 ) Tuy nhiên mọi khoản nợ đều được đảm bảo bằng tàisản của công ty Hệ số khả năng thanh toán hiện thời của công ty cũng ở mứckhá cao 31/12/2009 đạt 4,82 và 31/12/2010 đạt 4,07 chứng tỏ công ty có khảnăng cao trong việc sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đến hạn Khả năngthanh toán nhanh 31/12/2010 đạt 1,13 giảm so với 31/12/2009 (1,26) Khảnăng thanh toán tức thời 31/12/2010 ở mức thấp đạt 0,47 tăng so với31/12/2009 (0,42) Hệ số khả năng thanh toán nhanh và tức thời ở mức thấpnhưng hệ số khả năng thanh toán tổng quát và hiện thời lại ở mức cao nêncũng không ảnh hưởng nhiều đến việc vay mượn và uy tín của công ty Công
ty đã đang cố gắng cải thiện tình hình thể hiện ở khả năng thanh toán tức thời31/12/2010 tăng so với 31/12/2009 tuy nhiên công ty cần nỗ lực hơn nữatrong vấn đề này Công ty cũng cần phải khắc phục tình trạng các khoản nợphải thu còn khá lớn và số hàng tồn kho còn nhiều vì như vậy công ty đã bịchiếm dụng vốn và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của công ty
Kết luận: Từ việc phân tích tình hình tài chính trên có thể thấy việc huy
Trang 39nền kinh tế tuy đã có sự hồi phục hơn so với năm 2009 nhưng vẫn còn tồn tạinhững khó khăn ảnh hưởng không nhỏ tới các doanh nghiệp Tuy nhiên, công
ty vẫn duy trì được kết quả kinh doanh và tình hình tài chính tương đối ổnđịnh, không có biến động quá lớn
2.1.6.2 Khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh một số năm gần đây
Trong những năm qua, tình hình kinh tế Việt Nam liên tiếp diễn ranhững biến động lớn có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp trong nước nói chung và của công ty hải sản TháiBình nói riêng Song dù ở bất cứ điều kiện, hoàn cảnh kinh tế nào, các thànhviên trong công ty cũng luôn đoàn kết, cùng nhau cố gắng nỗ lực vượt quamọi khó khăn để đem lại kết quả tốt nhất Những kết quả đó có thể được tổng
hợp thành một số chỉ tiêu chủ yếu được trình bày trong bảng 03