- Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Là lợi nhuận thu được do tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, lao vụ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp... - Chi phí bán
Trang 1CHƯƠNG I:
LỢI NHUẬN VÀ CÁC BIỆN PHÁP TĂNG LỢI NHUẬN
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.Lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của lợi nhuận
1.1.1.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường , các doanh nghiệp đều có quyền tự chủ tài chính, thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định pháp luật
và đặt lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh là việc thực hiện một hoặc một số công đoạn từ khâu mua sắm nguyên vật liệu… phục vụ cho tất cả quá trình sản xuất đến khi sản phẩm tiêu thụ Sau mỗi chu kì kinh doanh,doanh nghiệp thu được khoản tiền từ việc tiêu thụ, kinh doanh sản phẩm Sau khi bù đắp các chi phí bỏ ra cho việc tạo doanh thu đó, phần còn lại chính là lợi nhuận của doanh nghiệp
Như vậy, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động kinh doanh của công ty, là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí
mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của công ty
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí tạo ra doanh thu
- Nội dung lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận : lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận tài chính và lợi nhuận khác
- Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Là lợi nhuận thu được
do tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, lao vụ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 2Có thể xác định bằng công thức:
Lợi nhuận từ tiêu thụ sản phẩm= DTT – GVHB – CPBH - CPQLDN
Trong đó:
- Doanh thu thuần (DTT) là khoản doanh thu bán hàng sau khi trừ
các khoản giảm trừ như giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế gián thu
- Giá vốn hàng bán (GVHB) là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp
đã bỏ ra để tạo ra sản phẩm, hàng hóa bán ra trong kì như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
- Chi phí bán hàng (CPBH) là các khoản chi phí phát sinh trong quá
trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa như tiền lương, phụ cấp cho người bán hàng, tiếp thị, vận chuyển…
- Chi phí quản lý doanh nghiệp (CPQLDN) là các chi phí cho bộ
máy quản ký doanh nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp như khấu hao TSCĐ (tài sản cố định) phục vụ bộ máy quản lý, tiền lương…
- Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: là lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư và kinh doanh vốn, xác định bởi chênh lệch giữa thu và chi về hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Trang 3- Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm : thu nhập từ hoạt động
tham gia góp vốn liên doanh, thu từ đầu tư tài chính, mua bán chứng khoán, thu lãi cho vay…
- Chi phí hoạt động tài chính gồm: chi phí liên doanh, chi phí mua bán
chứng khoán, chi phí mua bán ngoại tệ…
- Lợi nhuận từ hoạt động khác: là thu nhập từ các hoạt động bất thường như thanh lý, nhượng bán tài sản, nộp vi phạm hợp đồng… và được xác định bằng công thức:
Doanh thu khác là thu nhập của doanh nghiệp từ các hoạt động không
thường xuyên trong kì như: thu từ thanh lí, nhượng bán tài sản, thu tiền phạt vi phạm hợp đồng kinh tế…
Chi phí khác là các khoản chi bất thường trong kì của doanh nghiệp
như chi liên quan thanh lí nhượng bán, chi vi phạm hợp đồng kinh tế… Tổng lợi nhuận từ các hoạt động trên là lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp Sau khi hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước, khoản doanh nghiệp thực sự thu về là lợi nhuận sau thuế:
Lợi nhuận sau thuế = Tổng lợi nhuận –Thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.1.2 Ý nghĩa của lợi nhuận với doanh nghiệp
- Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp bị thua lỗ liên tục trong một thời gian dài thì sẽ sớm lâm vào tình trạng phá sản Bởi vậy, một trong những mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp chính là lợi nhuận
Trang 4- Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng đảm bảo cho doanh nghiệp tăng trưởng kinh doanh một cách ổn định và bền vững, đồng thời cũng là nguồn thu quan trọng của Ngân sách nhà nước.
- Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh hiệu quả của toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi các điều kiện khác không đổi, việc giảm chi phí sản xuất , hạ giá thành sản phẩm sẽ trực tiếp làm tăng lợi nhuận
- Lợi nhuận còn là nguồn lực tài chính chủ yếu để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp
1.1.2 Phương pháp xác định lợi nhuận
Lợi nhuận là một chỉ tiêu kinh tế, tài chính quyết định đến hiệu quả của doanh nghiệp nên việc xác định chính xác lợi nhuận của doanh nghiệp trong kì rất quan trọng
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí tạo ra doanh thu
Để xác định được lợi nhuận, ta phải xác định được các chỉ tiêu cấu thành là doanh thu và chi phí tạo ra doanh thu
1.1.2.1 Doanh thu
Doanh thu là chỉ tiêu luôn được xác định đầu tiên khi xem xét kết quả kinh doanh Doanh thu của doanh nghiệp thường bao gồm hai bộ phận là doanh thu bán hàng và doanh thu hoạt động tài chính
- Doanh thu bán hàng là biểu hiện của tổng giá trị các loại sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra trong một thời kì nhất định
Doanh thu bán hàng của doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất, tiêu thụ của từng ngành và có ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu bán hàng của doanh nghiệp là chất lượng, giá cả sản phẩm hàng hóa, dịch vụ bán ra, uy tín doanh nghiệp cũng như thương hiệu sản phẩm trên thị trường
Trang 5Khi hoàn thành việc bán hàng, về cơ bản doanh nghiệp đã xác định được doanh thu Doanh thu bán sản phẩm hàng hóa căn cứ vào vào số lượng sản phẩm bán ra trong kì và giá bán sản phẩm nên được xác định như sau:
DT = ∑
=
n
i 1 (Qti x Gi)Trong đó:
Qti = Qđi + Qxi - Qci
Trong đó:
Qđ: Là số lượng sản phẩm tồn kho đầu kì
Qx: Là số lượng sản phẩm sản xuất trong kì
Qc: Là số lượng sản phẩm tồn kho cuối kì
i : Là loại sản phẩm
Đối với doanh nghiệp, không chỉ xác định doanh thu bán hàng mà còn xác định doanh thu thuần về bán hàng bằng cách lấy doanh thu bán hàng trừ đi các khỏan giảm trừ như: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, các loại thuế gián thu được tính gộp vào giá bán (nếu có) như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu…
Trang 6- Doanh thu hoạt động tài chính: là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà
doanh nghiệp thu được trong kì do hoạt động tài chính mang lại bao gồm các khoản thu từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi do bán ngoại tệ, lãi được chia từ việc đầu tư vốn ra ngoài công ty…
- Thu nhập khác của doanh nghiệp là các khỏan thu được trong kì do các hoạt động không thường xuyên ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu như: thu do nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, thu tiền phạt khách hàng
vi phạm hợp đồng…
1.1.2.2 Chi phí kinh doanh
Chi phí kinh doanh tạo ra doanh thu là toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp để đạt được doanh thu trong một thời kì nhất định, bao gồm hai bộ phận:
- Chi phí sản xuất kinh doanh tạo ra doanh thu bán hàng trong kì: Là
biểu hiện bằng tiền của các loại vật tư đã tiêu hao, chi phí hao mòn máy móc, thiết bị, tiền lương và các khỏan chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất, bán hàng của doanh nghiệp để đạt được doanh thu bán hàng trong một thời kì nhất định
Chi phí sản xuất kinh doanh tạo ra doanh thu bao gồm:
+ Chi phí cho việc sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa dịch vụ bán ra tạo nên doanh thu trong kì
+ Chi phí bán hàng cho việc tiêu thụ các sản phẩm tạo ra doanh thu trong kì
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp cho việc sản xuất kinh doanh các sản phẩm tạo ra doanh thu trong kì
- Chi phí tài chính tạo ra doanh thu tài chính trong kì: Là chi phí có
liên quan đến hoạt động đầu tư, huy động vốn, hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp để đạt doanh thu tài chính trong một thời kì nhất định, bao gồm các khoản chủ yếu: chi phí trả lãi tiền vay vốn kinh doanh trong kì, chi
Trang 7phí liên quan việc doanh nghiệp tiến hành cho các tổ chức, doanh nghiệp khác vay vốn…
1.1.3 Các chỉ tiêu lợi nhuận
1.1.3.1 Chỉ tiêu tuyệt đối
- Lợi nhuận gộp: Là tổng lợi nhuận từ hoạt động bán hàng và cung cấp
dịch vụ của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định
Lợi nhuận gộp căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ, và chỉ tiêu giá vốn hàng bán, được xác định theo công thức sau:
LG = DT – GVHB
Trong đó:
LG: Là lợi nhuận gộp từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
DT: Là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
GVHB: Là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tạo ra sản phẩm, hàng hóa bán ra
Lợi nhuận gộp căn cứ vào hai chỉ tiêu trên nên cũng chịu ảnh hưởng cùng những nhân tố khác nhưng lợi nhuận gộp có quan hệ tỷ lệ thuận với doanh thu bán hàng, có quan hệ tỷ lệ nghịch với giá vốn hàng bán
Lợi nhuận gộp từ bán hàng là nguồn thu đầu tiên và chủ yếu, nguồn chi trả các khoản chi phí trong sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp trong kì
- Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT) hay còn gọi là lợi nhuận hoạt
động: Là lợi nhuận của doanh nghiệp chưa tính đến tác động của lãi vay và thuế, được xác định như sau:
EBIT = DT – CPHĐ = LG – CPBH – CPQLDN
Trong đó:
DT : Là doanh thu bán hàng
CPHĐ: Là chi phí hoạt động CPHĐ = GVHB + CPBH + CPQLDN
LG : Là lợi nhuận gộp
Trang 8CPBH: Là chi phí bán hàng
CPQLDN: Là chi phí quản lý doanh nghiệp
EBIT phản ánh lợi nhuận trước khi trừ đi lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp, xóa đi sự khác biệt giữa các công ty có cấu trúc vốn và thuế suất khác nhau Do đó, ta có thể so sánh được EBIT của hai công ty có cấu trúc vốn, thuế suất khác nhưng cùng ngành nghề
EBIT giúp xác định mức sinh lời từ hoạt động của các doanh nghiệp và doanh nghiệp có khả năng thực hiện các nghĩa vụ nợ, nghĩa vụ với nhà nước từ mức sinh lời đó không
- Lợi nhuận trước thuế, sau lãi vay (EBT): Là lợi nhuận của doanh
nghiệp có tính đến ảnh hưởng của chi phí lãi vay và được xác định như sau:
EBT = EBIT - CPTC Trong đó:
EBT – Là lợi nhuận trước thuế, sau lãi vayEBIT – Là lợi nhuận trước lãi vay và thuếCPTC – Là chi phí lãi vay
- Lợi nhuận sau thuế (NI): Là lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi tính
đến tác động của lãi vay và thuế , và được xác định như sau:
NI = EBT – TNDNTrong đó:
NI – Là lợi nhuận sau thuếEBT – Là lợi nhuận trước thuế, sau lãi vay TNDN – Là thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kì TNDN = EBT * thuế suất
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không thể dùng nó để so sánh kết quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp khác nhau
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện thị trường
Trang 9làm cho lợi nhuận khác nhau Doanh nghiệp có quy mô lớn vẫn có thể có lợi nhuận nhỏ do công tác quản lý chi phí kém hơn là doanh nghiệp quy
mô nhỏ nhưng quản lý chi phí tốt và tiết kiệm hiệu quả
Từ lý do trên, để có thể so sánh, đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không những đánh giá chỉ tiêu tuyệt đối
mà ta còn phải xem xét đến các chỉ tiêu tương đối có liên quan
1.1.3.2 Chỉ tiêu tương đối
Để đánh giá một cách đầy đủ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì phải sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận chính là các chỉ tiêu sinh lời kinh doanh biểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí sản xuất thực tế hoặc với nguồn lực tài chính để tạo ra lợi nhuận Đồng thời cũng thể hiện trình độ năng lực kinh doanh của nhà kinh doanh trong việc sử dụng các yếu tố đó Như vậy ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối còn phải dùng các chỉ tiêu tương đối đó là
tỷ suất lợi nhuận
* Tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trên doanh thu thuần:
Đây là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh đạt được với doanh thu thuần trong kỳ Công thức:
Tdt = LN x 100%
DT
Trong đó:
TDt: là tỷ suất lợi nhuận doanh thu
LN: là lợi nhuận trước thuế
DT: là doanh thu thuần trong kì
Trang 10Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận doanh thu cho biết một đồng doanh thu thuần trong 1 kỳ kinh doanh sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao
* Tỷ suất lợi nhuận vốn:
Tv = LN
VBQ
Trong đó:
Tv : là tỷ suất lợi nhuận vốn
LN: là tỷ suất lợi nhuận trước/ sau thuế đạt được trong kì VBQ: là tổng số vốn sản xuất sử dụng bình quân trong kìChỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn sử dụng bình quân trong kì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận và hiệu quả của việc sử dụng vốn kinh doanh
* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu ROE:
ROE = LNst
VCSHbq
Trong đó:
ROE:là tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
LNst: là lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
VCSHbq: làvốn chủ sở hữu bình quân
Tỷ suất này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Hệ số này càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn chủ của doanh nghiệp càng cao
* Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản:
ROAE = LN
VBQ
Trong đó:
ROAE: Là tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
LN: là lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
Trang 11VBQ: là vốn kinh doanh bình quân trong kì
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến tác động của thuế thu nhập hay nguồn gốc của vốn kinh doanh
Ngoài các chỉ tiêu trên, trong quản lý người ta còn sử dụng các chỉ tiêu khác như: tỷ suất sinh lời ròng của tài sản, tỷ suất các loại chi phí trên doanh thu thuần… để đánh giá chất lượng từng mặt hoạt động, từ đó rút ra cái nhìn tổng quát về tình hình hiện tại của doanh nghiệp
Như vậy, việc kết hợp phân tích chặt chẽ giữa chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối sẽ giúp đánh giá một cách đầy đủ và chính xác hơn tình hình hoạt động của doanh nghiệp
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1.4.1 Các nhân tố khách quan
* Môi trường kinh doanh
- Thị trường : Chia thành thị trường đầu vào và thị trường đầu ra
+ Thị trường đầu vào: Là nơi cung cấp các yếu tố sản xuất cho doanh nghiệp như : nguyên vật liệu, lao động, máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất
Nếu doanh nghiệp tạo lập được cho mình một thị trường đầu vào ổn định, hàng hoá có chất lượng cao và giá cả hợp lý thì sẽ rất thuận lợi cho việc đảm bảo tiến độ sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng
và tăng khả năng cạnh tranh từ đó nâng cao lợi nhuận Ngược lại, nếu thị trường đầu vào của doanh nghiệp không ổn định, hàng hoá kém chất lượng, giá cao sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ sản xuất, chất lượng và giá thành sản phẩm
+ Thị trường đầu ra: Là nơi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của mình
và thực hiện giai đoạn cuối cùng của vòng chu chuyển vốn
Do tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận trong cơ chế thị trường nên doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhân tố quan hệ cung - cầu,
Trang 12hàng hoá dịch vụ Sự biến động này có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thị trường tiêu thụ ổn định sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có doanh thu ổn định và ngược lại Vì vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự ứng xử thích hợp phải luôn bám sát tình hình thị trường, kịp thời ra quyết định mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh để đảm bảo cung lớn Điều đó tạo khả năng tăng lợi nhuận của từng đơn vị sản phẩm hàng hoá, nhưng đặc biệt quan trọng là tăng tổng số hàng hoá bán ra và do
đó tăng tổng số lợi nhuận Cung thấp hơn cầu sẽ có khả năng định giá bán hàng hoá và dịch vụ, ngược lại cung cao hơn cầu thì giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ thấp, điều này ảnh hưởng đến lợi nhuận của từng sản phẩm hàng hóa hay tổng số lợi nhuận thu được
- Đối thủ cạnh tranh:
Các doanh nghiệp khi tham gia thị trường chắc chắn sẽ phải đối mặt với tình trạng cạnh tranh gay gắt Vì vậy, doanh nghiệp không thể lẩn tránh trước các đối thủ mà phải biết chấp nhận và linh hoạt sử dụng các lợi thế, các công cụ của mình để tham gia cạnh tranh một cách hữu hiệu và giành quyền chủ động về phía mình Cạnh tranh cũng tạo ra nhiều động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng đưa tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, đổi mới công nghệ sản xuất để tạo ra những sản phẩm có ưu thế hơn, giá cả hợp lý và phù hợp với nhu cầu thị trường để tạo ra ưu thế cạnh tranh
- Tập quán tiêu dùng và mức thu nhập bình quân của dân cư:
Đây là nhân tố quan trọng trong việc tăng lợi nhuận, nó quyết định số lượng, chất lượng, chủng loại, giá bán của sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ Doanh nghiệp cần phải nắm bắt và nghiên cứu để sản phẩm của mình phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng ở mức giá cả chấp nhận được
* Môi trường tự nhiên
- Nhân tố thời tiết, khí hậu, mùa vụ
Trang 13Nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình, tiến độ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng mang tính mùa vụ Với những điều kiện thời tiết, khí hậu, mùa vụ nhất định thì doanh nghiệp phải có biện pháp, chính sách cụ thể phù hợp với những điều kiện đó để đảm bảo tiến độ sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, hạn chế được những tác động xấu do các yếu tố này mang lại.
- Nhân tố tài nguyên
Nhân tố này ảnh hưởng chủ yếu đến các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên Một khu vực có nhiều tài nguyên thiên nhiên với trữ lượng lớn, dễ khai thác và chất lượng tốt sẽ là một ưu thế lớn đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng lợi nhuận của mình
- Nhân tố địa lý
Đây là nhân tố tác động rất lớn đến chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Do đó nó ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp
* Môi trường văn hoá xã hội
Xã hội ngày càng phát triển sẽ làm cho nhu cầu về hàng hóa và dịch
vụ tăng lên về số lượng, đa dạng về chủng loại, mẫu mã Mặt khác, trong điều kiện mở cửa nền kinh tế, mở rộng giao lưu với các quốc gia khác sẽ du nhập những lối sống mới, tập quán tiêu dùng mới Đây là điều kiện để các doanh nghiệp phát triển sản xuất, tăng lợi nhuận Tuy nhiên, trình độ dân trí ngày càng cao đã, đang và sẽ là thách thức đối với các nhà sản xuất
* Môi trường pháp luật, chính trị
Môi trường này cũng tác động đến hiệu quả kinh doanh, đến lợi nhuận của doanh nghiệp một cách trực tiếp Bởi vì môi trường luật pháp ảnh hưởng đến mặt hàng sản xuất, phương thức kinh doanh của doanh nghiệp Không những thế, nó còn tác động đến chi phí của doanh nghiệp
Trang 14như: Chi phí lưu thông, chi phí vận chuyển, mức đóng thuế của doanh nghiệp.
1.1.4.2 Các nhân tố chủ quan
* Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất hay giá thành sản phẩm sản xuất ra
Giá thành là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp
bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm hay một loại sản phẩm nhất định Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.Vì trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, việc hạ giá thành sản phẩm sẽ trực tiếp làm tăng sản lượng, doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp, là cơ sở xây dựng cơ chế giá phù hợp, đem lại vũ khí cạnh tranh quan trọng trong cơ chế thị trường Mặt khác, giá thành cũng phản ánh trình độ quản lý và sử dụng chi phí trong doanh nghiệp
Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến giá thành gồm:
- Nhân tố về tiến bộ khoa học- kĩ thuật, công nghệ
+ Đây là nhân tố phản ánh trình độ máy móc thiết bị, cơ giới hóa trong sản xuất của doanh nghiệp, giúp hạ giá thành sản phẩm Nếu máy móc, công nghệ, thiết bị hiện đại sẽ làm tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí nhân công, nguyên vật liệu, sản phẩm hỏng từ đó giúp hạ giá thành
+ Trong điều kiện hiện nay,càng đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải nắm bắt và đầu tư công nghệ, thiết bị mới vào sản xuất
- Nhân tố thuộc trình độ quản lý
+ Tổ chức quản lý và sử dụng lao động tốt sẽ giảm chi phí nhân công, năng suất lao động sẽ được nâng cao Đòi hỏi doanh nghiệp phải có chính sách đào tạo, nâng cao trình độ, tay nghề cán bộ nhân viên
Trang 15+ Tổ chức quản lý sản xuất và tài chính tốt giúp tiết kiệm chi phí, tạo động lực cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả làm hạ giá thành sản phẩm.
* Nhóm nhân tố ảnh hưởng doanh thu
Doanh thu là biểu hiện của tổng giá trị các sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ mà doanh nghiệp đã bán ra trong một thời kì nhất định Nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận doanh nghiệp và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố:
- Khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kì: Là nhân tố tác động cùng chiều đến doanh thu và cũng chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của khối lượng sản phẩm sản xuất khối lượng sản xuất ra càng nhiều,khả năng tăng doanh thu càng cao Để tăng được khối lượng sản phẩm tiêu thụ đòi hỏi doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất,chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường, sử dụng hình thức thanh toán thích hợp… có ý nghĩa quan trọng tăng doanh thu bán hàng
- Chất lượng sản phẩm: Là yếu tố liên quan đến giá bán, ảnh hưởng đến doanh thu bán hàng Chất lượng sản phẩm cao sẽ có giá bán cao hơn, tiêu thụ dễ hơn, thị trường mở rộng làm tăng doanh thu và ngược lại
* Nhóm nhân tố về giá cả sản phẩm:
Trong trường hợp các nhân tố khác không đổi thì việc thay đổi giá bán ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu Doanh nghiệp cần bám sát thị trường để xem xét, quyết định mở rộng hay thu hẹp nguồn hàng mà doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh Doanh nghiệp phải xây dựng chính sách giá phù hợp nhằm bù đắp chi phí, tạo lợi nhuận thỏa đáng, lại phù hợp quan hệ cung cầu trên thị trường
* Nhóm nhân tố về thị trường và phương thức tiêu thụ:
Thị trường bao gồm cả phạm vi hoạt động ( thị trường nội địa, thị trường quốc tế) và khả năng thanh toán, sức mua Nếu sản phẩm có thị trường tiêu thụ rộng lớn, khả năng cạnh tranh cao, sức mua lớn doanh nghiệp sẽ có điều kiện tăng doanh thu nhanh
Trang 16Việc lựa chọn phương thức tiêu thụ và thanh toán tiền hàng cũng ảnh hưởng đến doanh thu Thông thường thì bán sản phấm sẽ thu tiền về, song trong điều kiện cạnh tranh, các doanh nghiệp bán hàng thường dành sự ưu đãi nhất định cho người mua
* Uy tín doanh nghiệp, và thương hiệu sản phẩm: Là một tài sản quý giá làm cho khách hàng tin dùng sản phẩm và chọn mua trên thị trường.Không nên vì lợi ích trước mắt làm giảm uy tín doanh nghiệp, đánh mất thương hiệu sản phẩm
1.2 Phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp
Lợi nhuận là mục đích cuối cùng của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nó quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Cho nên việc phấn đấu tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp là vấn đề quan trọng và cần thiết Mỗi doanh nghiệp tuỳ vào điều kiện tình hình cụ thể của doanh nghiệp mình mà tìm ra những biện pháp thích hợp Do lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số lợi nhuận của doanh nghiệp nên người ta thường tập trung tìm mọi biện pháp để tăng lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Để tăng lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiện nay sử dụng một số phương hướng, biện pháp chủ yếu sau:
- Nâng cao năng suất lao động
Trang 17Năng suất lao động phản ánh năng lực lao động của người sản xuất, biểu hiện bằng số sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian hay số thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Khi tăng năng suất lao động , một mặt, ảnh hưởng tới chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm, làm cho chi phí trong giá thành 1 đơn vị sản phẩm giảm đi Mặt khác, với việc tăng năng suất lao động sẽ làm giảm hàng loạt các chi phí khác, đặc biệt là chi phí bất biến tính trên một đơn vị sản phẩm, ví dụ: chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khấu hao tài sản cố định, tiền thu về sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, làm giảm giá thành sản phẩm sản xuất.
Trong điều kiện hiện nay, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã tạo ra khả năng to lớn để doanh nghiệp có điều kiện đổi mới máy móc thiết bị, dần thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ giới, tự động hoá hoàn toàn nhằm nâng cao năng suất lao động, giảm bớt công việc năng nhọc cho người lao động Với khả năng có hạn về vốn đầu tư, các doanh nghiệp không thể cùng một lúc đổi mới máy móc thiết bị, mà cần phải tổ chức lại sản xuất, nâng cao hiệu suất sử dụng máy móc thiết bị hiện có, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động
Doanh nghiệp cần tổ chức, sắp xếp lao động một cách hợp lý, khoa học, tạo sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố sản xuất, tránh tình trạng sử dụng lao động lãng phí Khuyến khích người lao động gắn bó với công việc bằng những chính sách thưởng phạt hợp lý, tạo niềm say mê,động lực để năng suất lao động được nâng cao
Như vậy, tăng năng suất lao động là một biện pháp quan trọng và lâu dài, là một tiềm năng rất lớn để hạ giá thành sản phẩm
- Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu
Chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành thành phẩm (từ 60% đến 70%) Do vậy, tiết kiệm nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất là một vấn đề rất quan trọng trong công tác quản lý sản xuất
và nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp
Trang 18Trong quá trình sản xuất cần tích cực phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đổi mới mẫu mã sản phẩm, giảm định mức chi phí nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm
Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh để lập kế hoạch thu mua,
dự trữ nguyên vật liệu hợp lý nhằm đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra liên tục lại không bị ứ đọng vốn do lượng tồn kho lớn
Quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu từ khâu thu mua, vận chuyển, bảo quản đến khi đưa vào sản xuất Giao trách nhiệm quản lý, sử dụng nguyên vật liệu đến từng phân xưởng,đội sản xuất nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người lao động, tránh gây lãng phí hay mất mát trong quá trình luân chuyển
Xây dựng phương án sử dụng nguyên vật liệu thay thế trong trường hợp cần thiết nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu
1.2.2 Phấn đấu tăng doanh thu tiêu thụ
Đầu tư nghiên cứu, đổi mới công nghệ sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tăng sản lượng tiêu thụ, khối lượng thành phẩm hoàn thành tạo điều kiện gia tăng doanh thu tiêu thụ
Nghiên cứu thị trường, tạo ra các sản phẩm mới, đa dạng hóa sản phẩm, phát huy hết năng lực hiện có của doanh nghiệp nhằm chiếm lĩnh thị trường, tăng doanh thu
Định giá bán sản phẩm hợp lý, phù hợp cung cầu thị trường nhằm mở rộng thị trường, thu hút khách hàng từ đó tăng doanh thu
Tổ chức tốt công tác tiêu thụ sản phẩm, lựa chọn hình thức thanh toán hợp lý,áp dụng các chính sách khuyến mại, chiết khấu khuyến khích khách hàng mua sản phẩm
- Giảm chi phí quản lý
Đối với các chi phí gián tiếp phát sinh trong quá trình sản xuất, cần hạn chế các chi phí bất hợp lý, tổ chức sắp xếp bộ máy quản lý sao cho
Trang 19gọn nhẹ Trong thực tế hiện nay nhiều khoản chi phí bất hợp lý được các doanh nghiệp hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí này ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm Giảm chi phí gián tiếp, sẽ làm lợi nhuận sản phẩm tiêu thụ tăng Do vậy các doanh nghiệp sản xuất cần phải chú ý tới khoản mục chi phí này.
Trang 20CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI NHUẬN
Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG TUYÊN QUANG
2.1 Tổng quan về Công ty CP Xi măng Tuyên Quang
2.1.1 Lịch sử hình thành Công ty
Công ty Cổ phần Xi măng Tuyên Quang - Tiền thân là Xí nghiệp Xi măng Yên Lĩnh được thành lập từ năm 1979 với tên gọi là Xí nghiệp xi măng Yên Lĩnh được khởi công xây dựng từ năm 1977 gồm 1 dây chuyền sản xuất với công suất thiết kế là 1 vạn tấn/năm, gồm 2 lò đứng (1,5mx6m) Sau 2 năm xây dựng, đúng ngày 3/2/1979 công trình đã hoàn thành bàn giao và đưa vào sản xuất cho ra đời bao xi măng đầu tiên, đánh dấu một bước phát triển sản xuất công nghiệp tại tỉnh Tuyên Quang Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty trong giai đoạn 1979-1993 là sản xuất xi măng, đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ bản của tỉnh và xây dựng nhà cửa của nhân dân
Đến tháng 6 năm 1985 Công ty nhận bàn giao 1 phân xưởng khai thác quặng barite thuộc Xí nghiệp bột kẽm và được tỉnh giao thêm nhiệm vụ là khai thác và chế biến bột barite để xuất khẩu và cung ứng cho ngành khai thác và thăm dò dầu khí trong nước
Sau 12 năm sản xuất ổn định, do nhu cầu tiêu thụ xi măng trên thị trường trong tỉnh và một số tỉnh lân cận (Hà Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên) ngày càng tăng Năm 1991, Công ty vay vốn ngân hàng đầu
tư xây dựng tiếp dây chuyền sản xuất thứ 2 (gồm 2 lò đứng 1,5mx6m) với công suất 1 vạn tấn/năm, đưa tổng công suất của Công ty lên 2 vạn tấn xi măng/năm Bằng nhiều biện pháp cải tiến kỹ thuật, tổ chức quản lý sản xuất, năm 1994 CBCNV Công ty đã phấn đấu đạt sản lượng 40.000 tấn, gấp hơn 2 lần công suất thiết kế
Trang 21Để đáp ứng nhu cầu thị trường, năm 1993 Công ty đã vay vốn ngân hàng với số vốn là 36,5 tỷ đồng để đầu tư xây dựng tiếp thêm một dây chuyền sản xuất xi măng lò đứng Trung Quốc, công suất thiết kế 8 vạn tấn/năm Qua hai năm vừa sản xuất vừa tự đầu tư xây dựng, đổi mới quy trình công nghệ, năm 1995 dây chuyền mới chính thức đi vào sản xuất Cũng trong năm 1993, Công ty đã liên doanh với Công ty TMD (Công ty phát triển công nghệ và vật liệu) xây dựng lắp đặt một dây chuyền nghiền bột barite với công xuất 15.000 tấn/năm, địa điểm tại Làng Chanh - Xã Thái Bình - Huyện Yên Sơn Sản phẩm đạt tiêu chuẩn API (tiêu chuẩn của Viện dầu lửa Mỹ).
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, nhu cầu ximăng ngày càng tăng, công ty đã quyết định đầu tư cải tạo dây chuyền lò đứng thành lò quay vào tháng 8 năm 2005 Đến 30/ 12/ 2008,công trình chính thức hoàn thành đi vào hoạt động nâng tổng công suất lên 10 vạn tấn/năm
Đồng thời với việc triển khai xây dựng dự án ximăng lò quay, Công ty
cổ phần Xi măng Tuyên Quang đã đầu tư xây dựng Nhà máy chế biến gỗ công suất 6.000 m3 gỗ thành phẩm/năm tại xã Thái Bình (Yên Sơn), tổng mức đầu từ 55 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 500 lao động dôi dư
Cùng với việc đưa 2 dự án vào hoạt động, công ty còn sản xuất và xuất khẩu hơn 20.000 tấn bột barite, tổng doanh thu hàng năm đạt 250 tỷ đồng, nộp ngân sách 15 đến 20 tỷ đồng, thu nhập bình quân hơn 1.000 lao động đạt từ 2,8 triệu đồng - 3 triệu đồng/người/tháng
2.1.2 Khái quát về đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.2.1 Nhiệm vụ của Công ty
Căn cứ Quy chế thành lập và giải thể DNNN ban hành theo Nghị định 388/HĐ-BT, căn cứ vào Thông báo đồng ý thành lập DNNN - Xí nghiệp xi măng Tuyên Quang số 453/TB ngày 16/2/1992 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, UBND tỉnh Tuyên Quang đã quyết định thành lập DNNN: Xí nghiệp
xi măng Tuyên Quang (Quyết định số 46/QĐ-UB ngày 15/2/1992)
Trang 22Năm 2005 Căn cứ nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 của chính phủ về việc chuyển đổi Doanh nghiệp nhà nước thành Công ty Cổ phần Thực hiện công văn số 1683/UBND Ngày 3/8/2004 của UBND Tỉnh Tuyên Quang về việc đẩy nhanh công tác cổ phần hóa và sắp xếp lại tại các Doanh nghiệp, Xí nghiệp xi măng Tuyên Quang chuyển hình thức sở hữu sang Công ty Cổ phần Xi măng Tuyên Quang và chính thức hoạt động từ 01/04/2005 theo QĐ số 1344/QĐ-CT Ngày 04/11/2004 của chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang:
sở kế hoạch và đầu tư cấp, ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty CP
Xi măng Tuyên Quang được quy định như sau:
- Sản xuất bàn, ghế, giường, tủ, từ các nguyên liệu gỗ hợp pháp
- Lắp đặt máy móc và thiết bị công nghiệp
- Xây dựng nhà các loại, xây dựng công trình đường bộ, công trình thủy lợi
Trang 23Hiện nay, Công ty được xếp hạng là doanh nghiệp hạng II và có vai trò rất lớn trong việc cung cấp xi măng cho các công trình xây dựng cơ bản của tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang và đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở của nhân dân, góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội trong tỉnh Chính
vì vậy, trong định hướng phát triển kinh tế của tỉnh giai đoạn 2005-2010, Tỉnh uỷ và Uỷ ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã xác định sản lượng xi măng là 275.000 tấn/năm, bột barite là 30.000 tấn/năm Ngoài ra, Công ty còn phải có trách nhiệm duy trì hoạt động của máy móc thiết bị hiện có để sản xuất xi măng và bột barite đáp ứng nhu cầu của thị trường, ổn định việc làm và thu nhập cho người lao động
Qua hơn 29 năm xây dựng và trưởng thành, đến nay việc sản xuất kinh doanh của Công ty đã không ngừng mở rộng và đạt được hiệu quả cao, nộp ngân sách nhà nước tăng lên hàng năm, đời sống cán bộ công nhân viên Công ty được cải thiện và nâng cao
2.1.2.2 Tình hình nhân lực và bộ máy tổ chức
Công ty xi măng Tuyên Quang có đội ngũ cán bộ nhân viên có chuyên môn kĩ thuật, tay nghề cao, có trình độ quản lý tốt Tổng số CBCNV trong biên chế toàn Công ty hiện nay là: 1035 người, trong đó số lao động trực tiếp là 882 người Lực lượng lao động không ngừng được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng qua các năm
Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty được bố trí theo kiểu trực tiếp - chức năng, lãnh đạo trực tiếp chỉ huy các bộ phận tham mưu (các phòng ban chức năng) và các phân xưởng sản xuất theo đường thẳng, biểu diễn qua sơ đồ số 1
2.1.2.3.Chức năng của các phòng ban, phân xưởng sản xuất chính
Công ty là một đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân đầy đủ, hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản riêng ở ngân hàng Công ty gồm có một
số phòng, ban, phân xưởng chính như sau:
Trang 24- Ban giám đốc Công ty (gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc)
Giám đốc là người điều hành và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Trực tiếp lãnh đạo toàn diện, quản lý chung các công tác tổ chức quản lý toàn Công ty và công tác tài chính.Một phó giám đốc chịu trách nhiệm về kỹ thuật và một phó giám đốc chịu trách nhiệm về kinh doanh Các phó giám đốc có trách nhiệm thực hiện theo sự phân công của Giám đốc trong việc điều hành các hoạt động của Công ty
Trang 25Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của CTCP XM Tuyên Quang
B a n g i á m đ ố c
Phòng Tài Vụ
Ban
Y Tế
Ban Bảo Vệ
Đại hội đồng cổ đông
H ộ i đ ồ n g q u ả n t r ị B a n k i ể m s o á t
Trang 26- Phòng Tổ chức - Lao động tiền lương
Làm công tác tổ chức, quản lý lao động, tham mưu cho lãnh đạo Công
ty về các công tác : định mức lao động, tiền lương, an toàn lao động, bảo hộ lao động
- Phòng Kế hoạch - vật tư
Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty, kế hoạch giá thành các loại sản phẩm.Quản lý, theo dõi tình hình vật tư của công ty trong quá trình luân chuyển
- Phòng Tài vụ
Quản lý vốn, tài sản, vật tư của Công ty, nhằm sử dụng có hiệu quả vật
tư, tiền vốn; làm công tác thống kê kế toán, lập báo cáo tài chính và phân tích hoạt động kinh doanh theo quy định của Nhà nước; tham mưu cho Ban Giám đốc Công ty trong việc quản lý kinh tế - tài chính
- Phòng Kỹ thuật
Tổ chức thực hiện các giải pháp kỹ thuật đảm bảo yêu cầu của công nghệ sản xuất, kiểm tra, kiểm soát các chỉ tiêu kỹ thuật của vật tư, nguyên liệu đầu vào, các chỉ tiêu về định mức kinh tế kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng sản phẩm làm ra trong tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất
- Phòng Tiêu thụ sản phẩm
Tổ chức thực hiện tiêu thụ sản phẩm, quản lý theo dõi các đại lý bán sản phẩm của Công ty, tiếp thị mở rộng thị trường trong và ngoài tỉnh
- Phân xưởng Cơ điện
Quản lý kỹ thuật, vận hành, bảo dưỡng toàn bộ máy móc, thiết bị công nghệ sản xuất của dây chuyền sản xuất
- Phân xưởng Nguyên liệu:
Quản lý, tổ chức cung cấp nguyên liệu cho sản xuất
- Phân xưởng Bán thành phẩm:
Quản lý, tổ chức sản xuất bán thành phẩm (clinke)
Trang 27- Phân xưởng Thành phẩm:
Quản lý, tổ chức sản xuất thành phẩm (xi măng)
- Phân xưởng Khai thác đá:
Tổ chức khai thác, bốc xếp, chế biến đá đảm bảo cho sản xuất xi măng của Công ty và đảm bảo các nhu cầu về đá khác cho xây dựng cơ bản Sản xuất các sản phẩm phụ (gạch xi măng, ngói xi măng, đá phục vụ cho khách hàng)
- Phân xưởng Barit:e Quản lý, tổ chức sản xuất bột barite tiêu chuẩn API.
Các chức năng quản lý được phân công rõ ràng cho từng phòng ban, phân xưởng, mỗi phòng ban, phân xưởng có chức năng nghiệm vụ giải quyết công việc trong phạm vi quyền hạn của mình, tuy nhiên, quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về Ban giám đốc Công ty
2.1.3 Đặc điểm, trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất
Quy trình công nghệ sản xuất xi măng PCB 30 tuy cũng là công nghệ lò đứng song dây chuyền này đã được tự động hoá, cơ giới hoá tới 80% công việc Với quy trình công nghệ phức tạp, kiểu chế biến liên tục, sản phẩm làm
ra phải qua nhiều giai đoạn công nghệ, được tự động cân đong đo đếm nguyên nhiên vật liệu bằng cân bằng định lượng tự động, các số liệu đều được
xử lý và xác định thể hiện trên màn hình máy vi tính Hệ thống vận chuyển bột liệu, bột xi măng, clinker đều được vận chuyển trên băng tải, gầu tải, vít tải Chỉ còn bộ phận chuẩn bị nguyên nhiên vật liệu là lao động thủ công như phơi than, phơi đất và vận chuyển xi măng bao từ máy đóng bao xếp vào kho
Ta có thể tóm tắt quy trình công nghệ sản xuất xi măng thành các bước công nghệ như sau : (tham khảo sơ đồ 2)
- Khai thác nguyên liệu: Đá vôi và đất sét là hai loại nguyên liệu chính
dùng để sản xuất xi măng, hai loại nguyên liệu này Công ty tự khai thác
Trang 28- Phối trộn nguyên liệu: hai loại nguyên liệu trên được phối trộn theo một
tỷ lệ hợp lý như xỉ Perít và than cám sẽ được nghiền nhỏ tạo ra hỗn hợp nguyên liệu xi măng
- Nung nguyên liệu: hỗn hợp nguyên liệu trên sẽ trải qua một giai đoạn
nung để tạo thành clinker
- Tạo sản phẩm: Cuối cùng để tạo ra sản phẩm xi măng , nung clinker
với thạch cao và một số phụ gia khác theo một tỷ lệ thích hợp Xi măng có thể được bán dưới dạng rời hoặc đóng bao
Sơ đồ 2 : Quy trình công nghệ sản xuất xi măng PCB 30 :
Trang 29Máy đập
búa
Máy cán, sấy
Máy đập búa
Xi lô xi măngĐóng bao
Máy vê viên
Kho thành phẩm
3A, 4A
Trang 302.1.4 Thuận lợi và khó khăn của công ty :
* Thuận lợi:
- Công ty là một thành viên của Tổng công ty xi măng Việt Nam, luôn được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Chính phủ cho những bước phát triển vững chắc của ngành kinh tế then chốt này Ngoài ra, công ty còn là ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh Tuyên Quang nên cũng có được sự quan tâm sâu sát, hỗ trợ của tỉnh trong sản xuất kinh doanh
- Công ty được đặt sát vùng nguyên liệu chính là đất sét và đá vôi, có trữ lượng dồi dào, là một lợi thế để hạ giá thành sản phẩm,phục vụ sản xuất lâu dài Các nguyên liệu còn lại hầu hết được mua ở trong nước nên có thể chủ động về nguồn đầu vào
- Lực lượng lao động dồi dào, được đào tạo cơ bản, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao tay nghề, bậc thợ
- Trong thị trường đầu ra hiện nay, công ty đang là nhà cung cấp chính,
có uy tín lớn và sự tín nhiệm của người tiêu dùng
* Khó khăn:
- Tuy có sự đầu tư nâng cấp máy móc thiết bị nhưng dây chuyền sản xuất mới vẫn chưa đi vào sử dụng được, dây chuyền sản xuất cũ đã lạc hậu sau thời gian sử dụng dài nên năng suất lò nung vẫn chưa đạt yêu cầu đặt ra của Ban giám đốc Công ty là 200 đến 205 tấn clinker/ngày
- Do sản phẩm xi măng là loại hàng nặng, khối lượng vận chuyển từ Công
ty đến nơi tiêu thụ, đến chân các công trình và các kho đại lý hàng năm là rất lớn thế nhưng vị trí địa lý, địa hình của tỉnh chỉ cho phép vận chuyển bằng đường bộ Hiện nay đội xe của Công ty mới có 11 chiếc, do lượng xe có hạn nên hầu như chỉ đảm đương được phần vận chuyển nội bộ, còn lại phần lớn khối lượng vận chuyển đi tiêu thụ Công ty phải thuê xe ngoài vận chuyển Điều này ảnh hướng không tốt đến giá thành của sản phẩm công ty do sự biến động luôn bất thường của giá xăng dầu và giá thuê xe Đây là một hạn chế
Trang 31khá lớn cho việc tăng lợi nhuận trong khâu tiêu thụ và nhiều khi làm mất tính chủ động của Công ty trong việc cung ứng hàng hoá.
Ngoài ra hiện nay, chi phí sửa chữa trung bình cho 1 xe/năm là khá lớn, điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty vì ngoài chi phí sửa chữa xe làm tăng giá thành sản phẩm, việc xe dừng để sửa chữa làm ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất, năng suất lao động
- Than là một nguyên liệu chính trong quá trình sản xuất xi măng nhưng công ty phải mua nguồn cung cấp từ Quảng Ninh và vận chuyển bằng đường sắt và đường bộ về Tuyên Quang, do đó chi phí vận chuyển nguồn nguyên liệu đầu vào này khá tốn kém, gây khó khăn cho việc hạ giá thành thành phẩm
- Nền kinh tế mở cửa, thị trường ngày càng nhiều sản phẩm xi măng mới
ra đời với trình độ công nghệ cao , tình hình hiện tại của công ty không đáp ứng được cơ chế cạnh tranh Thị trường vật liệu xây dựng luôn luôn biến động gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty
2.2 Thực trạng thực hiện lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Xi măng Tuyên Quang