1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán sao việt

95 217 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 872,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty chứng khoán CTCK là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán.Ở Việt Nam, theo quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24 tháng 04 năm 2007 của

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Môi giới là một trong những hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của mộtcông ty chứng khoán Nó có ảnh hưởng lớn tới quá trình hình thành và pháttriển của thị trường chứng khoán nói chung và của công ty chứng khoán nóiriêng Môi giới chứng khoán không chỉ đem lại lợi ích cho nhà đầu tư, chobản thân công ty chứng khoán mà còn mang lại lợi ích cho sự phát triển củathị trường chứng khoán

Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán chính thức ra đời với sự thành lậpTrung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày20/07/2000 Hiện nay, thị trường đã hoạt động được hơn 10 năm và đạt đượcnhững thành công nhất định Các công ty chứng khoán cũng lần lượt đượcthành lập để đáp ứng nhu cầu của thị trường Hoạt động của các công tychứng khoán cũng có những bước phát triển nhất định trên các mặt như mạnglưới hoạt động, quy mô vốn, cơ sở vật chất, nhân sự, quy mô cung cấp dịch vụ

và chất lượng hoạt động Tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn nhiều tồn tại, hạnchế cần phải khắc phục Thực trạng này bắt nguồn không chỉ từ bản thân cáccông ty chứng khoán mà còn do sự hạn chế của thị trường chứng khoán ViệtNam cũng như những bất cập trong các văn bản pháp quy Đặc biệt năm 2010nền kinh tế Việt Nam đã trải qua một giai đoạn khó khăn: tình hình lãi suấtcao khó có khả năng hạ, lạm phát ở mức cao, nhập siêu lớn và tỷ giá chưađược kiểm soát tốt Những vấn đề này đã ảnh hưởng đến thị trường chứngkhoán làm cho nghiệp vụ môi giới chứng khoán tại các công ty chứng khoánnói chung và Công ty cổ phần chứng khoán Sao Việt nói riêng chưa đạt hiệuquả cao

Trang 2

Đó chính là lý do em chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại Công ty cổ phần chứng khoán Sao Việt”.

- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động môi giớichứng khoán của CTCP chứng khoán Sao Việt

2 Đối tượng phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu: là hiệu quả hoạt động nghiệp vụ môi giới của công

ty cổ phần chứng khoán Sao Việt

- Phạm vi nghiên cứu: kết quả hoạt động môi giới của công ty từ năm 2008đến năm 2010 từ nhiều nguồn

4 Kết cấu của đề tài.

Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài của em gồm ba chương:

Chương 1: Lý luận chung về công ty chứng khoán và nghiệp vụ môi giới

chứng khoán của công ty chứng khoán

Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán của công ty

cổ phần chứng khoán Sao Việt

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng

khoán của công ty cổ phần chứng khoán Sao Việt trong thời gian tới

Trang 3

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian nghiên cứu vàkiến thức thực tế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rấtmong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và cácbạn để luận văn được hoàn thiện hơn.

Trong quá trình làm luận văn em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ,chỉ bảo tận tình của Cô giáo – ThS Hoàng Thị Bích Hà và cán bộ nhân viêncông ty chứng khoán Sao Việt giúp em hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

Công ty chứng khoán (CTCK) là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán.

Ở Việt Nam, theo quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24 tháng 04 năm

2007 của bộ tài chính, CTCK được thành lập dưới hình thức pháp lý là công

ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Đó là những tổ chức kinh tế có tưcách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán kinh tế độc lập Tùy theo vốn điều

lệ và đăng ký kinh doanh mà một công ty có thể thực hiện một hoặc một sốnghiệp vụ kinh doanh chứng khoán: môi giới chứng khoán, tự doanh chứngkhoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán

1.1.2 Vai trò.

Công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đối với các tổ chức pháthành, đối với nhà đầu tư, đối với thị trường chứng khoán và đối với cơ quanquản lý thị trường Xét trên các khía cạnh khác nhau thì vai trò của công tychứng khoán thể hiện là khác nhau:

Trang 5

1.1.2.1 Đối với các tổ chức phát hành:

Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các tổ chức phát hành là huy độngvốn thông qua việc phát hành các chứng khoán Vì vậy, thông qua hoạt độngđại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo

ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành

1.1.2.2 Đối với các nhà đầu tư:

Đối với TTCK, sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũngnhư mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức

và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư Nhưng thông quacác CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp cácnhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả Cụ thể, thông quacác hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí

và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư

1.1.2.3 Đối với thị trường chứng khoán:

+ Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường: Giá cả chứng khoán là do thị

trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua vàngười bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trực tiếp vàoquá trình mua bán Các CTCK là những thành viên của thị trường, do vậy họcũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường sơcấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên Chính vìvậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giácủa các CTCK

Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường

Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chínhmình, nhiều CTCK đã dành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vaitrò bình ổn thị trường

Trang 6

+ Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính: TTCK có

vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo ra cơ chếgiao dịch trên thị trường Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt độngnhư bảo lãnh phát hành, chứng khoán hóa, các CTCK không những huy độngmột lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà cònlàm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứngkhoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2.Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư Trên thịtrường cấp 2, do thực hiện các giao dịch mua và bán các CTCK giúp ngườiđầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại Những hoạt động

đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính

1.1.2.4 Đối với các cơ quan quản lý thị trường:

CTCK có vai trò cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lýthị trường Các CTCK thực hiện được những vai trò này bởi vì họ vừa làngười BLPH cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứngkhoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường Một trong những yêu cầucủa TTCK là các thông tin cần phải được công khai hóa dưới sự giám sát củacác cơ quan quản lý thị trường Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của

hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì cácCTCK cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động Các thông tinCTCK cố thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thịtrường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin vềcác nhà đầu tư… Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thểkiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường.Tóm lại, CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên TTCK, có vai trò cầnthiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành, đối với các cơ

Trang 7

quan quản lý thị trường và đối với TTCK nói chung Những vai trò này đượcthế hiện thông qua các nghiệp vụ hoạt động của CTCK.

1.1.3 Hình thức pháp lý và mô hình hoạt động của công ty chứng khoán.

1.1.3.1 Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán.

Công ty cổ phần:

+ Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập, với các chủ sở hữu là các cổđông Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác củacông ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

+ Giấy chứng nhận cổ đông của công ty không thể hiện trách nhiệm trả nợcủa công ty mà thể hiện quyền lợi của người sở hữu đối với các tài sản củacông ty Người sở hữu giấy chứng nhận được gọi là cổ đông của công ty.+ Đại hội đồng cổ đông có quyền bầu bầu hội đồng quản trị của công ty Hộiđồng này sẽ đề ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng cácchức vị quản lý khác để điều hành, quản lý công ty theo các chiến lược kinhdoanh đã đề ra

+ Công ty vẫn tồn tại bình thường khi quyền sở hữu của công ty bị thay đổi

Công ty hợp danh:

+ Là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu trở lên

+ Thành viên được tham gia vào quá trình ra quyết định tổ chức quản lý làcác thành viên hợp danh Các thành viên này chịu trách nhiệm vô hạn vềnhững nghĩa vụ tài chính của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình Còn lại,các thành viên không tham gia quản lý công điều hành công ty gọi là thànhviên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công tytrong số vốn góp vào công ty trong giới hạn vốn góp của họ vào công ty

Công ty trách nhiệm hữu hạn:

+ Đây là loại hình công ty đòi hỏi trách nhiệm của các thành viên giới hạntrong số vốn mà họ đã góp vào công ty

+ Xét về phương tiện huy động vốn cũng đơn giản và linh hoạt hơn so với

Trang 8

công ty hợp danh Hơn nữa vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũng năng độnghơn, không bị giới hạn bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh.

1.1.3.2 Mô hình hoạt động của công ty.

Mô hình hoạt động của CTCK có những đặc điểm khác nhau tùy vào sựphát triển khác nhau của từng khối thị trường Có thể khái quát mô hình hoạtđộng của CTCK theo hai nhóm sau:

Mô hình công ty chứng khoán đa năng:

Theo mô hình này, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thứcmột tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinhdoanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính Theo đó các ngân hàng thương mạihoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinhdoanh tiền tệ Mô hình này được tổ chức dưới hai hình thức sau:

+ Loại đa năng một phần: theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanhchứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độclập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ

+ Loại đa năng toàn phần: các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanhchứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụkhác

Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh:

Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công tyđộc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngânhàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán

Mỗi mô hình đều tồn tại những ưu, nhược điểm riêng của nó.Với môhình thứ nhất, ưu điểm lớn nhất của nó là các ngân hàng có thể kết hợp nhiềulĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằngviệc đa dạng hoá đầu tư Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khảnăng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài

Trang 9

chính Nhưng cũng chính vì thế mà khả năng chuyên môn sẽ không sâu, lànguyên nhân dẫn đến thị trường chứng khoán kém phát triển vì các ngân hàngthường có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện cácnghiệp vụ của thị trường chứng khoán Đồng thời nó dễ gây nên tình trạnglũng đoạn thị trường khi điều kiện môi trường pháp luật không lành mạnh Ưuđiểm của mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh là hạn chế được rủi rocho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vàochuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường pháttriển; tuy nhiên xu thế ngày nay lại chính là việc hình thành nên các tập đoàntài chính khổng lồ.

1.1.4 Các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán.

1.1.4.1 Môi giới chứng khoán.

Môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đóCTCK đứng ra làm đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơchế giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chínhkhách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch đó Người môigiới chỉ thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng để hưởng phí hoa hồng,

họ không phải chịu rủi ro từ hoạt động giao dịch đó Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng các sảnphẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán vớinhà đầu tư mua chứng khoán Và trong những trường hợp nhất định, hoạtđộng môi giới sẽ trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng

và đưa ra những lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư cónhững quyết định tỉnh táo

Với tư cách là người môi giới, ngoài việc tiến hành giao dịch theo chỉ thịcủa khách hàng, CTCK thường cung ứng các dịch vụ tiện ích khác:

+ Quản lý tài khoản tiền gửi và tài khoản chứng khoán cho khách hàng

Trang 10

+ Quản lý các lệnh giao dịch cho khách hàng.

+ Vận hành các đầu mối thông tin và tư vấn cho khách hàng về đầu tưchứng khoán

1.1.4.2 Bảo lãnh phát hành.

Bảo lãnh phát hành (BLPH) là cam kết giữa tổ chức bảo lãnh phát hành

và tổ chức phát hành (TCPH) về việc sẽ bán hết hoặc bán một phần số lượngchứng khoán dự định phát hành

Nghiệp vụ bảo lãnh được thực hiện bởi đội ngũ chuyên gia giỏi về chứngkhoán, am hiểu thị trường và có năng lực tài chính Họ thường có một mạnglưới bán hàng rộng khắp để đảm bảo cho đợt phát hành thành công Vì vậy,thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành, rủi ro của đợt phát hành sẽ giảm Cungứng dịch vụ này cho khách hàng, CTCK được nhận tiền hoa hồng bảo lãnh.Tiền hoa hồng bảo lãnh được xác định theo sự thỏa thuận giữa nhà phát hànhvới nhà bảo lãnh

Việc BLPH thường được thực hiện theo một trong những phương thứcsau:

+ Cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo

lãnh (TCBL) cam kết sẽ mua toàn bộ chứng khoán phát hành cho dù có phânphối được hết chứng khoán hay không Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theocam kết chắc chắn, một nhóm các TCBL hình thành một tổ hợp để mua chứngkhoán của TCPH với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng và bánlại các chứng khoán đó theo giá chào bán Chênh lệch giữa giá mua chứngkhoán của TCPH và giá chào bán ra công chúng là tiền hoa hồng bảo lãnh

+ Cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó TCBL thỏa

thuận là đại lý cho TCPH, TCBL không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán

Trang 11

mà cam kết sẽ cố gắng tối đa để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếukhông phân phối hết sẽ trả lại cho TCPH phần còn lại.

+ Tất cả hoặc không: trong phương thức này, TCPH yêu cầu TCBL bán

một số lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ hủy

bỏ toàn bộ đợt phát hành

+ Tối thiểu và tối đa: là phương thức trung gian giữa phương thức bảo

lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh tất cả hoặc không Theophương thức này, TCPH yêu cầu TCBL bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoánnhất định (mức sàn) Vượt trên mức ấy, TCBL được tự do chào bán chứngkhoán đến mức tối đa quy định (mức trần) Nếu lượng chứng khoán bán đượcđạt tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ

1.1.4.3 Tư vấn đầu tư chứng khoán.

Tư vấn đầu tư chứng khoán là hoạt động phân tích, dự báo các dữ liệu vềlĩnh vực chứng khoán, từ đó đưa ra các lời khuyên cho khách hàng

Với khả năng chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực này, họ sẽ đưa

ra các dự báo để khách hàng tham khảo, đưa ra quyết định đầu tư của mình.Nhà tư vấn không chịu trách nhiệm về hậu quả các quyết định của nhà đầu tư.Tùy vào loại hình tư vấn và thông tin nhà tư vấn cung cấp cho khách hàng màkhách hàng có thể phải trả các khoản phí

1.1.4.4 Tự doanh chứng khoán.

Tự doanh chứng khoán là hoạt động mua, bán chứng khoán cho chínhmình để hưởng lợi nhuận từ việc đầu tư chứng khoán mang lại như chênh lệchgiá, cổ tức, lãi trái phiếu và các quyền khác kèm theo việc sở hữu chứngkhoán

Hoạt động tự doanh công ty phải tự chịu trách nhiệm với quyết định củamình, tự gánh chịu rủi ro từ quyết định mua, bán chứng khoán của mình Hoạtđộng này thường song hành với hoạt động môi giới Vì vậy, khi thực hiện hai

Trang 12

hoạt động này có thể dẫn đến xung đột về lợi ích giữa CTCK và lợi ích củakhách hàng Để tránh trường hợp này thông thường các thị trường đều cóchính sách ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh củacác CTCK.

Đối với một số thị trường, hoạt động tự doanh của CTCK được gắn liềnvới hoạt động tạo lập thị trường Các CTCK được thực hiện nghiệp vụ tựdoanh thông qua việc mua bán trên thị trường có vai trò định hướng và điềutiết hoạt động của thị trường, góp phần bình ổn giá cả trên thị trường

1.1.4.5 Các hoạt động phụ trợ.

(1) Lưu ký chứng khoán: Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách

hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán Đây là quy định bắt buộctrong giao dịch chứng khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tậptrung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu kýchứng khoán tại các CTCK (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghisổ) hoặc ký gửi các chứng khoán (nếu phát hành dưới hình thức chứng chỉ vậtchất) Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽnhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi,, phí rút, và phíchuyển nhượng chứng khoán

(2) Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): xuất phát từ việc

lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổtức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức chokhách hàng thông qua tài khoản của khách hàng

(3) Nghiệp vụ tín dụng: Đối với các thị trường chứng khoán phát triển,

CTCK còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiệngiao dịch bán khống (short sale) hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàngthực hiện nghiệp vụ mua ký quỹ (margin purchase)

Trang 13

Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của CTCK cho khách hàng củamình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thếchấp cho khoản vay đó Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số còn lại sẽ doCTCK ứng trước tiền thanh toán Đến kỳ hạn thỏa thuận, khách hàng phảihoàn trả đủ số gốc vay cùng với lãi cho CTCK Trường hợp khách hàngkhông trả được nợ, thì công ty sẽ phát mãi số chứng khoán đã mua để thu hồinợ.

1.2 NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN.

1.2.1 Khái niệm.

Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian mua bán chứng khoán chokhách hàng để hưởng hoa hồng, làm dịch vụ nhận các lệnh mua, lệnh bánchứng khoán của khách hàng, chuyển các lệnh mua bán đó vào Sở giao dịchchứng khoán và hưởng hoa hồng môi giới Nghiệp vụ môi giới, do đó, cònđược hiểu là làm đại diện – được ủy quyền thay mặt khách hàng mua bán mộthoặc một số loại chứng khoán

Ở Việt Nam, theo Luật chứng khoán ngày 29-6-2006 thì: “môi giới

chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng”.

Hoạt động môi giới tuân theo một số nguyên tắc: ký kết hợp đồng dịch

vụ với khách hàng, nhận các lệnh mua hoặc bán của khách hàng, thanh toán

và quyết toán các doanh vụ, cung cấp các giấy chứng nhận chứng khoán

1.2.2 Vai trò của nghiệp vụ môi giới chứng khoán.

Môi giới chứng khoán vừa là kết quả của quá trình phát triển của nềnkinh tế thị trường, và ngược lại vừa thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế vàcải thiện môi trường kinh doanh Vai trò của môi giới chứng khoán được thểhiện trên các khía cạnh:

Trang 14

1.2.2.1 Đối với công ty chứng khoán

Hoạt động môi giới là hoạt động cơ bản của các CTCK và cũng là hoạtđộng mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho CTCK Nguồn thu của nghiệp vụ

môi giới bao gồm: hoa hồng môi giới, các khoản chi phí cho dịch vụ đặc biệt,

các hoa hồng cho những dịch vụ kèm theo của công ty Các kết quả nghiêncứu cho thấy, ở những thị trường phát triển, 20% trong tổng số những nhàmôi giới đã tạo ra 80% nguồn thu từ hoa hồng cho ngành Chính đội ngũ nhânviên này đã nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty, thu hút khách hàng, đadạng hoá sản phẩm của công ty, tạo nên uy tín, hình ảnh tốt của công ty nếu

họ được khách hàng tín nhiệm và uỷ thác tài sản của mình Từ đó góp phầnđem lại thành công cho công ty

1.2.2.2 Đối với khách hàng.

(1) Góp phần làm giảm chi phí giao dịch: Ở mọi thị trường, để thực hiện

giao dịch, người bán và người mua phải có cơ hội để gặp nhau, trao đổi, thẩmđịnh chất lượng hàng hóa, và thỏa thuận giá cả Tuy nhiên, trên TTCK – thịtrường của những sản phẩm và dịch vụ bậc cao – để thẩm định chất lượng vàgiá cả hàng hóa, người ta cần nguồn chi phí rất lớn để phục vụ cho việc thunhập, xử lý thông tin, đào tạo kỹ năng phân tích và tiến hành giao dịch theomột quy trình xác định của hệ thống thị trường đấu giá tập trung Những chiphí đó chỉ các CTCK hoạt động chuyên nghiệp với quy mô lớn mới có khảnăng trang trải do được hưởng lợi thế quy mô Ngoài ra, sự hiện diện của một

tổ chức trung gian chuyên nghiệp làm cầu nối cho các bên mua, bán gặp nhaulàm giảm đáng kể chi phí tìm kiếm đối tác, chi phí soạn thảo và chi phí giámsát thực thi hợp đồng Trong trường hợp này, môi giới chứng khoán giúp tiếtkiệm chi phí giao dịch kể cả đối với từng giao dịch riêng lẻ, cũng như đối vớitổng chi phí các giao dịch trên thị trường

Trang 15

(2) Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng: Khi thực hiện chức năng

môi giới chứng khoán, các CTCK và nhân viên môi giới của công ty phảicung cấp cho khách hàng thông tin, loại chứng khoán và cách thức, thời điểmmua bán chứng khoán, và vấn đề có tính quy luật của hoạt động đầu tư chứngkhoán Nghiệp vụ này đòi hỏi nhiều kiến thức và kỹ năng chuyên môn Tínhtrung thực của cá nhân tư vấn hay công ty tư vấn có tầm quan trọng lớn Người môi giới luôn là người nắm bắt được các thông tin cập nhật vềchứng khoán do có các mối quan hệ rộng rãi, hơn nữa họ lại là người biếtcách tiếp cận các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và tiến hành sàng lọctrước khi cung cấp cho khách hàng Dịch vụ tư vấn đầu tư có thể được CTCKcung cấp qua các hình thức: khuyến cáo, lập báo cáo, tư vấn trực tiếp, hoặcthông qua ấn phẩm về chứng khoán Nhờ hoạt động tư vấn đầu tư chứngkhoán mà khách hàng mới biết và hiểu rõ các sản phẩm và dịch vụ sẵn có trênthị trường, hiểu được sản phẩm, dịch vụ nào đáp ứng được mục tiêu đầu tư vànhu cầu đầu tư của riêng mình, từ đó đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn Hơnnữa, tuỳ từng lúc nhà môi giới có thể là người bạn tin cậy, nhà tâm lý lắngnghe những câu hỏi liên quan đến tình trạng tài chính của khách hàng, trongmột chừng mực có thể đưa ra các lời khuyên chính đáng Đối với khách hàngngoài nhu cầu được tư vấn về tài chính, những nhu cầu tâm lý liên quan đếnvấn đề tài chính cũng quan trọng không kém, đôi khi họ gọi điện cho nhà môigiới chỉ là để chia sẻ, giải toả những căng thẳng về tâm lý

(3) Cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tài chính, giúp khách hàng thực

hiện được những giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích của họ:

Nhà môi giới nhận lệnh từ khách hàng và thực hiện giao dịch thay chokhách hàng Quy trình này bao gồm: nhận lệnh từ khách hàng, thực hiện lệnhgiao dịch của họ, xác định giao dịch và chuyển kết quả giao dịch cho kháchhàng Không những vậy khi giao dịch được hoàn tất nhà môi giới phải tiếp tục

Trang 16

theo dõi tài khoản của khách hàng, đưa ra các khuyến cáo và cung cấp thôngtin; theo dõi tài khoản để nắm bắt những thay đổi từ đó kịp thời thông báo chokhách hàng…Hay còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thêm như ứng trước tiềnbán chứng khoán, cầm cố chứng khoán…Nhìn chung nhà môi giới luôn cốgắng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách đầy đủ và tốt nhất.

1.2.2.3 Đối với thị trường.

(1) Phát triển dịch vụ và sản phẩm trên thị trường:

Khi thực hiện vai trò trung gian giữa người bán và người mua chứngkhoán, CTCK, các nhân viên môi giới, nhân viên bán hàng của CTCK có thểnắm bắt được nhu cầu của khách hàng và phản ánh với người cung ứng hànghóa, dịch vụ Có thể nói, hoạt động môi giới chính là một trong những nguồncung cấp ý tưởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng.Kết quả, về lâu dài, sẽ cải thiện được tính đơn điệu của sản phẩm và dịch vụ,nhờ đó giúp đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa cơ cấu khách hàng, thu hútngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, trong xã hội cho đầu tư pháttriển

Trong những năm gần đây, các loại chứng khoán đã được tăng trưởngnhanh với tốc độ lớn do rất nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố dung lượngthị trường và biến động thị trường ngày càng lớn, khách hàng ngày càng nhậnthức rõ hơn về thị trường tài chính và hiểu được nỗ lực của các CTCK trongquá trình bán hàng tiếp thị và bán hàng tư vấn Có thể thấy kết quả được thểhiện rõ không những trong việc bán từng loại hàng hóa riêng biệt như cổphiếu, trái phiếu, hay các công cụ tài chính khác, mà còn trong cả ý tưởng lậpdanh mục đầu tư, về sự phối hợp sản phẩm để đạt được mục tiêu, lợi ích nhấtđịnh

(2) Cải thiện môi trường kinh doanh:

Trang 17

 Góp phần hình thành nền văn hóa đầu tư, nền văn hóa đầu tư có những nétđặc trưng chủ yếu sau:

+ Ý thức và thói quen đầu tư trong cộng đồng: Trong những nền kinh tế

mà môi trường đầu tư còn sơ khai, thu nhập được tạo ra trong các hộ gia đìnhsau khi đã trang trải cho những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống thường đượctiêu dùng cho các mục đích phi sản xuất với tỷ lệ khá cao, trong khi vốn tăngtrưởng cho nền kinh tế lại thiếu trầm trọng Khi nhân viên môi giới tiếp cậnkhách hàng tiềm năng với những sản phẩm tài chính phù hợp nhu cầu củakhách hàng, giải thích về lợi ích mà sản phẩm đem lại, và sau khi khách hàngchấp nhận mở tài khoản, nhân viên môi giới sẽ thường xuyên quan tâm chămsóc tài khoản theo cách có lợi nhất cho khách hàng Hoạt động này dần dần sẽtạo nên thói quen đầu tư vào tài sản tài chính Hơn nữa, trong quá trình thamgia thị trường tài chính, nhà đầu tư hình thành được kỹ năng dự đoán, lựachọn và kết hợp các sản phẩm để giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận.Khi đã trở thành nếp suy nghĩ và hành xử của cả cộng đồng, đây sẽ là mộtkhía cạnh quan trọng của nền văn hóa đầu tư, yếu tố không thể thiếu đượctrong một nền kinh tế thị trường

+ Thói quen và kỹ năng sử dụng dịch vụ đầu tư, mà chủ yếu là sử dụngdịch vụ môi giới chứng khoán: Thời gian qua đi, dần dần nhà đầu tư sẽ tintưởng và ủy thác cho người môi giới chứng khoán chăm sóc tài khoản củamình Họ ý thức được lợi ích mà dịch vụ này mang lại, lựa chọn việc trả tiền

để được hưởng những dịch vụ đó Không những thế, nhà đầu tư còn biết lựachọn nhà môi giới thích hợp, nhà đầu tư am hiểu còn đánh giá được đâu lànhững rủi ro không tránh khỏi, đâu là sai lầm của chính họ, chứ không quytrách nhiệm cho người môi giới Yếu tố quan trọng này của môi trường đầu tưvừa tạo điều kiện cho nghề môi giới lành mạnh, vừa là kết quả của quá trìnhhoạt động lâu dài của nghề môi giới

Trang 18

+ Môi trường pháp lý, sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật: Chính hoạtđộng của các CTCK và nhân viên môi giới là một yếu tố góp phần hoàn thiệnmôi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh chứng khoán, vì hoạt động ởlĩnh vực này sẽ làm phát sinh và bộc lộ rõ những xung đột lợi ích giữa các đốitượng tham gia thị trường Hoạt động của người môi giới sẽ giúp nhà đầu tưhiểu biết về pháp luật chứng khoán, giúp họ trong quá trình theo đuổi lợi íchcủa mình luôn có ý thức tìm hiểu pháp luật và tuân thủ pháp luật Đồng thờingười môi giới cũng phản ánh những bất cập trong khuôn khổ pháp lý cho cácnhà làm luật để chỉnh sửa kịp thời Đây là một đặc trưng quan trọng của nềnvăn hóa đầu tư.

 Tăng chất lượng và hiệu quả dịch vụ nhờ cạnh tranh:

Để thành công trong nghề môi giới, điều quan trọng là mỗi CTCK vàmỗi người môi giới phải thu hút được nhiều khách hàng mới, duy trì đượckhách hàng hiện hữu, và ngày càng làm tăng khối lượng tài sản khách hàng

ủy thác quản lý Quá trình cạnh tranh giữa những người làm nghề môi giới,khiến họ phải không ngừng trau dồi nghiệp vụ, nâng cao đạo đức và kỹ nănghành nghề, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và những quy định của công ty.Quá trình này đã nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động môi giớichứng khoán một cách toàn diện

 Hình thành dịch vụ mới trong nền kinh tế, tạo thêm việc làm và làmphong phú môi trường làm việc:

Với phương thức hoạt động là chủ động tìm đến khách hàng, đặc biệtkhách hàng cá nhân, và đem đến cho họ những dịch vụ tài chính tốt nhất, mỗiCTCK có một lực lượng đông đảo người bán hàng Bên cạnh đó, để hỗ trợcho việc xây dựng cơ sở khách hàng của người môi giới, trong xã hội sẽ xuấthiện các dịch vụ khác, như cung cấp danh sách khách hàng tiềm năng đượcphân loại theo tiêu chí riêng của mỗi người môi giới Có thể nói, phát triển

Trang 19

nghề môi giới chứng khoán là tạo ra được một lĩnh vực thu hút nhiều lao động

có kỹ năng, làm phong phú thêm môi trường kinh doanh

1.2.3 Đặc trưng của môi giới chứng khoán.

Xung đột lợi ích - đặc trưng của môi giới chứng khoán Xét theo một

khía cạnh khác, khía cạnh thể hiện những xung đột, tranh chấp về lợi ích, về

bản chất, trong lĩnh vực môi giới chứng khoán không thể tránh khỏi tranhchấp, xung đột lợi ích Những sai phạm có thể tồn tại bất cứ trong lĩnh vựcnào, trong hoạt động môi giới chứng khoán, khi người môi giới hoặc kháchhàng cố tình vi phạm pháp luật để kiếm lời một cách bất chính thì đó khôngphải là do bản chất của nghề môi giới chứng khoán, mà gắn liền với gian dối

và lừa đảo Trong hoạt động môi giới chứng khoán, có những tranh chấp hayxung đột lợi ích liên quan tới những đặc trưng riêng có của lĩnh vực môi giớichứng khoán mà đôi khi xử lý bằng pháp luật cũng không hẳn là giải pháphữu hiệu Ví dụ, do không hiểu rõ trách nhiệm và khả năng của người môigiới, khách hàng đã kỳ vọng một cách không hợp lý về những gì mà ngườimôi giới có thể đem đến cho mình, và khiếu nại khi thực tế không diễn ra nhưmong muốn

Hoạt động môi giới dẫn đến xung đột lợi ích giữa CTCK, người môi giới

và khách hàng CTCK làm trung gian giữa các nhà đầu tư mua và bán chứngkhoán, khi CTCK tham gia vào việc kinh doanh với mục tiêu cũng vì lợinhuận, với khả năng xử lý thông tin và nghiệp vụ chuyên môn, chắc chắn sẽxảy ra mâu thuẫn giữa công ty và nhà đầu tư Do vậy, CTCK cần phải táchbiệt giữa 2 hoạt động tự doanh và môi giới, tách biệt giữa nguồn vốn củakhách hàng với công ty; luôn phải đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu,nghĩa là cung cấp thông tin cho khách hàng một cách trung thực, chính xác vàkịp thời nhất; đảm bảo ưu tiên lệnh của khách hàng

Trang 20

1.2.4 Đạo đức nghề nghiệp đối với nghề môi giới chứng khoán.

1.2.4.1 Khái niệm.

Để tạo ra và duy trì lòng tin cho công chúng đầu tư, ngành chứng khoán

đã xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử cho các tổ chức

và cá nhân hành nghề chứng khoán Khi hành nghề chứng khoán theo giấyphép do UBCK quốc gia cấp, họ phải tuân thủ theo các chuẩn mực này

Bản chất của đạo đức nghề nghiệp nói chung là tính tin cậy Đạo đứcnghề nghiệp được thể hiện qua bốn khía cạnh sau:

- Trình độ và năng lực để thực hiện công việc đạt kết quả cao

- Đủ tiêu chuẩn hành nghề có nghĩa là phải làm việc theo đúng tiêuchuẩn và đúng quy trình công việc

- Thẳng thắn, trong sạch và công bằng

- Niềm tự hào về nghề nghiệp

Như vậy, có thể hiểu đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanhchứng khoán là tập hợp các chuẩn mực hành vi cách cư xử và ứng xử trongnghề nghiệp kinh doanh chứng khoán nhằm bảo vệ và tăng cường vai trò, tínhtin cậy và niềm tự hào của nghề kinh doanh chứng khoán trong xã hội

Đạo đức nghề nghiệp bao gồm sự tuân thủ các quy định của luật pháp vàtinh thần của các văn bản, đó là các yếu tố văn hóa nghề nghiệp, lòng tự hào,trình độ giải quyết các tình huống trong thực tiễn Người hành nghề chứngkhoán phải tuân thủ các quy tắc này cả về câu chữ lẫn tinh thần và chủ trươngcủa các quy tắc đó

1.2.4.2 Nội dung đạo đức nghề nghiệp đối với nhà môi giới chứng khoán.

Người môi giới chứng khoán là người trực tiếp làm việc với khách hàng,

vì vậy việc đánh giá đạo đức nghề nghiệp của họ được thực hiện thông quathái độ ứng xử với khách hàng

Trang 21

Tính cẩn trọng:

Nhân viên môi giới phải thực hiện nhiệm vụ của mình một cách cẩn thận,

có trách nhiệm, thực hiện đúng theo quy trình môi giới mà công ty đã banhành (trong việc tiếp xúc với khách hàng, thu thập thông tin của khách hàng,lưu giữ thông tin, đưa ra các lời hướng dẫn phù hợp, thực hiện lệnh theo yêucầu của khách hàng )

Tính tin cậy, trung thực, công bằng:

Nhân viên môi giới phải cư xử với khách hàng một cách công bằng trongviệc hướng dẫn và thực hiện lệnh cho khách hàng một cách bình đẳng, khôngphân biệt đối xử, sao cho các khách hàng có thể sử dụng lợi ích từ thông tincủa thị trường một cách đồng đều

Tính chuyên nghiệp:

Nhà môi giới cần có những lời hướng dẫn rõ ràng, dựa trên cơ sở thôngtin đầy đủ và công khai, phù hợp với mục tiêu đầu tư của khách hàng Nhàmôi giới phải thực hiện lệnh theo yêu cầu của khách hàng, phải thực hiện lệnhcủa khách hàng trước tiên

Nhà môi giới không được sử dụng tài sản hay tài khoản giao dịch củakhách hàng để mua bán chứng khoán trong tài khoản của khách hàng hoặcmua bán chứng khoán khác thông qua tài khoản của khách hàng Nhân viênmôi giới không được có lợi ích gì liên quan đến lỗ hay lãi của khách hàng.Trong trường hợp có xung đột lợi ích, nhân viên môi giới phải công bố

rõ ràng các thông tin liên quan đến xung đột lợi ích giữa công ty và kháchhàng, giữa nhân viên môi giới và khách hàng

Tính tuân thủ:

Nhà môi giới chứng khoán phải thực hiện nhiệm vụ của mình theo đúngquy định của luật pháp, quy trình môi giới của công ty

Tính bảo mật:

Trang 22

Nhân viên môi giới không được cung cấp thông tin cá nhân, thông tin vềmua bán chứng khoán, thông tin liên quan đến tài chính của khách hàng chongười khác, trừ khi được khách hàng đồng ý

1.2.4.3 Kỹ năng của người môi giới chứng khoán.

Xuất phát từ những đặc điểm, yêu cầu của kinh doanh chứng khoán nóichung và của nghề môi giới nói riêng, nghề môi giới chứng khoán đòi hỏinhững phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp cao với chất lượng công việc tốt Kỹnăng của người môi giới thể hiện trên các khía cạnh sau:

- Kỹ năng truyền đạt thông tin: Phẩm chất hay thái độ của người môi giới

đối với công việc, với bản thân và với khách hàng được truyền đạt rõ ràng tớihầu hết các khách hàng mà người môi giới thực hiện giao dịch Để thành côngtrong việc bán hàng (cung ứng dịch vụ mua, bán) người môi giới phải đặtquyền lợi của khách hàng lên đầu tiên, sau đó mới đến quyền lợi của ngườimôi giới Đây là điểm then chốt trong hoạt động dịch vụ tài chính và phảiđược thể hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng

- Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: Người môi giới có thể tìm kiếm khách hàng

thông qua: qua công ty chứng khoán hoặc các tài khoản chuyển nhượng lại,những lời giới thiệu khách hàng, mạng lưới kinh doanh, chiến dịch viết thư,hội thảo, gọi điện làm quen

- Kỹ năng khai thác thông tin: Người môi giới phải hiểu khách hàng, nắm

được khả năng tài chính và khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng, qua đó

mà phục vụ khách hàng tốt hơn và có chiến lược khách hàng thích hợp

1.3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN.

1.3.1 Khái niệm.

Hiệu quả hoạt động kinh doanh là các lợi ích kinh tế, xã hội đã đạt được

từ quá trình hoạt động kinh doanh

Trang 23

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán là một phạmtrù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được những mụctiêu xác định.

Xét về phương diện mục tiêu của chủ sở hữu: CTCK được coi là hoạtđộng hiệu quả khi công ty thực hiện được tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sởhữu

Xét về phương diện quyền lợi của khách hàng: hiệu quả hoạt động củaCTCK là công ty giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách cóhiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách hàng

Xét về phương diện nhà quản lý: CTCK được coi là hoạt động hiệu quảkhi cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về tình hình thị trường, thực hiện cácnghiệp vụ kinh doanh đúng quy định

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán bao gồm:

+ Hiệu quả hoạt động tự doanh

+ Hiệu quả hoạt động môi giới

+ Hiệu quả hoạt động bảo lãnh phát hành

+ Hiệu quả hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán

Hiệu quả hoạt động môi giới là kết quả từ hoạt động môi giới đem lại

sau khi trừ đi các khoản chi phí Trong đó, doanh thu môi giới từ phí môi giới,chi phí môi giới là phí giao dịch phải trả sở giao dịch, lương nhân viên môigiới…

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá.

1.3.2.1 Chỉ tiêu định tính.

Mức độ chuyên nghiệp của nhân viên môi giới: Mức độ chuyên nghiệp của

nhân viên môi giới được thế hiện ở rất nhiều khía cạnh như: cách tiếp cận tâm

lý khách hàng, phong cách phục vụ, tác phong của họ… Một nhà môi giớichuyên nghiệp giàu kinh nghiệm sẽ tạo cho mình một tác phong làm việc

Trang 24

năng động và khoa học Xây dựng riêng cho mình một quy trình môi giớichuẩn cũng khẳng định mức độ chuyên nghiệp của một nhà môi giới chứngkhoán Mức độ thành công của CTCK phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ nhânviên môi giới, do đó xây dựng được một đội ngũ những nhà môi giới chứngkhoán chuyên nghiệp là một yếu tố chiến lược trong quá trình hoạt động củacác CTCK.

Mức độ hoàn thiện quy trình nghiệp vụ: Bộ phận môi giới luôn luôn phải

xác định được quy trình hoạt động của mình như thế nào Nhìn chung thì quy

trình của các hoạt động càng đơn giản, ngắn gọn mà vẫn đảm bảo được cáchoạt động hiệu quả thì quy trình đó càng tốt

Khả năng cắt giảm chi phí cho nghiệp vụ, đem lại lợi nhuận cao hơn cho

công ty.

Khả năng cung cấp các dịch vụ: Tiện ích, đơn giản cho khách hàng, đảm

bảo độ an toàn tuyệt đối về những thông tin giao dịch, tài khoản của khách

hàng

Mức độ chuyên nghiệp của các dịch vụ cung cấp cho khách hàng.

Mức độ hài lòng của khách hàng: Nếu khách hàng thường xuyên không

hài lòng về thái độ, tác phong phục vụ của nhân viên môi giới, thường xuyênxảy ra các xung đột lợi ích giữa môi giới với khách hàng, giữa công ty vớinhà đầu tư, điều đó sẽ gây khó khăn rất lớn cho hoạt động của công ty, khôngchỉ đối với hoạt động môi giới

Sự tin tưởng và trung thành của khách hàng: Đối với một CTCK giành

được sự tin tưởng từ phía khách hàng chính là yếu tố sống còn Khách hàng làmột kênh marketing hiệu quả, hình thức marketing truyền miệng chính là mộthình thức đắc lực và lâu dài Đặc biệt với tâm lý bầy đàn của người Việt, sựgiới thiệu truyền bá từ những người thân quen, bạn bè là một nguồn thông tinkhá tin cậy

Trang 25

1.3.2.2 Chỉ tiêu định lượng

Doanh thu môi giới:

Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, người ta cũng quan tâmđến doanh số mà nó đem lại Hiện nay, môi giới đang là hoạt động đem lạidoanh thu chủ yếu cho các CTCK, đặc biệt là các CTCK mới tham gia thịtrường

Doanh thu môi giới từ phí môi giới Khi thực hiện nhận lệnh giao dịchchứng khoán cho khách hàng hay cung cấp một dịch vụ chứng khoán nào đócho nhà đầu tư, CTCK thực hiện thu phí Phí giao dịch này lớn hay nhỏ tùythuộc vào tổng giá trị chứng khoán giao dịch thành công của nhà đầu tư

Lợi nhuận từ hoạt động môi giới:

Là chỉ tiêu định lượng phản ánh rõ nét, cho ta thấy ngay hiệu quả khi xem xét đánh giá hiệu quả của hoạt động môi giới.

Lợi nhuận từ hoạt động môi giới = Doanh thu môi giới – Chi phí môi giới Trong đó:

Doanh thu môi giới từ phí môi giới

Chi phí môi giới là phí giao dịch phải trả SGD, lương nhân viên môigiới

Hoạt động môi giới của CTCK được đánh giá là có hiệu quả khi có lợinhuận từ hoạt động môi giới và lợi nhuận đạt được càng cao thì hiệu quả hoạtđộng môi giới càng tốt Qua các năm, hoạt động môi giới có lợi nhuận khidoanh thu và chi phí cùng tăng nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc

độ tăng của chi phí, hoặc doanh thu và chi phí cùng giảm nhưng tốc độ giảmcủa doanh thu nhỏ hơn tốc độ giảm của chi phí, hoặc doanh thu tăng còn chiphí giảm Và như vậy, để tối đa hóa lợi nhuận CTCK không chỉ tìm cách tối

đa hóa doanh thu mà còn phải tìm cách để tối thiểu hóa chi phí, hay nói cách

Trang 26

khác là việc giảm thiểu chi phí cũng đóng vai trò quan trọng khi xem xét đánhgiá hiệu quả hoạt động.

Thị phần môi giới của các công ty chứng khoán:

Một CTCK với chất lượng dịch vụ tốt sẽ thu hút được nhiều khách hàng.

Trong môi trường cạnh tranh, số lượng khách hàng có giới hạn mà các CTCKmọc lên ngày càng nhiều, vì vậy nơi nào thu hút được nhiều khách hàng,chiếm thị phần lớn hơn trên thị trường thì nơi đó sẽ có ưu thế hơn trong cạnhtranh Thị phần lớn đồng nghĩa với vị thế cũng sẽ cao hơn, doanh thu và lợinhuận đem lại từ hoạt động môi giới cũng sẽ cao hơn Thị phần lớn hơn thểhiện sự tin tưởng từ phía khách hàng đối với công ty

Giá trị giao dịch bình quân:

Phí giao dịch được tính dựa trên giá trịgiaodịch của công ty, bởi vậy giátrị giao dịch lớn sẽ nâng tổng phí giao dịch, nâng doanh thu từ hoạt động môigiới lên cao hơn

Mạng lưới khách hàng, số tài khoản được mở:

Các CTCK đều cố gắng làm các công việc nhằm thu hút các nhà đầu tư

đến mở tài khoản tại công ty chứng khoán của mình Một công ty chứngkhoán sẽ không thể hoạt động ổn định nếu không có tài khoản của nhà đầu tưnào hoặc số lượng tài khoản quá ít Số lượng tài khoản được mở, mạng lướikhách hàng cũng là chỉ tiêu quan trọng để xác định hiệu quả hoạt động môigiới của một CTCK Nó thể hiện quy mô khách hàng, quy mô giao dịch tạicông ty và uy tín của công ty trên thị trường

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ môi giới chứng khoán.

1.3.3.1 Nhân tố chủ quan.

Chiến lược phát triển của lãnh đạo công ty về hoạt động môi giới:

Trang 27

Môi giới là bộ mặt của công ty chứng khoán Một công ty chứng khoán

mà hoạt động môi giới không mạnh thì công ty không tạo được chỗ đứng,danh tiếng và uy tín trên thị trường cho dù công ty kinh doanh có lãi từ nhiềunguồn khác Chính vì vậy, ban lãnh đạo công ty cần xác định rõ được vai trò

đó của hoạt động môi giới Từ đó, ban lãnh đạo công ty xây dựng chiến lượcphát triển, có được các chính sách phù hợp với yêu cầu của thị trường nhưcung cấp dịch vụ giá rẻ hay chất lượng cao; đào tạo, tuyển dụng, lươngthưởng cho nhân viên, tăng cường hoạt động kiểm soát… Mỗi chính sáchkhác nhau sẽ ảnh hưởng tới hoạt động môi giới của công ty chứng khoán làkhác nhau

Nhân sự là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng của các CTCKnói chung và nghiệp vụ môi giới chứng khoán nói riêng Những nhà môi giớithành công sẽ đem lại cho công ty những khoản tiền khổng lồ và họ được gọi

là những nhà sản xuất hàng đầu Thành công của những nhà môi giới cũngchính là thành công của CTCK nếu họ chiếm được lòng tin của khách hàng,thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến với mình, được khách hàng gửigắm ngày càng nhiều tài sản để quản lý Khi đã chiếm được lòng tin củakhách hàng, người môi giới có thể tin rằng ngay cả khi những khuyến nghịcủa họ không mang lại những kết quả như mong muốn thì không vì thế mà họmất khách hàng Điều quan trọng là khách hàng vẫn còn nhận thức được mộtcách nhất quán rằng sự hiện diện của nhà môi giới là nhằm phục vụ lợi íchcủa họ

Để đạt hiệu quả và nâng cao được chất lượng của hoạt động môi giới,hiện nay các công ty chứng khoán và các nhà môi giới luôn phải cạnh tranh

để thu hút khách hàng và cung cấp các dịch vụ cho khách hàng tiềm năng Đểlàm được điều đó nhà môi giới phải không ngừng trau dồi kiến thức nhằm

Trang 28

nắm vững và sử dụng thuần thục các kỹ năng cơ bản đến chuyên nghiệp Vìvậy các công ty chứng khoán muốn giành thắng lợi trong cạnh tranh thì họphải không ngừng đào tạo đội ngũ nhân viên môi giới trở thành các nhà môigiới chuyên nghiệp, có kỹ năng, có đạo đức nghề nghiệp nhằm phát huy sứcmạnh nghề nghiệp để chiếm được lòng tin của khách hàng, từ đó nâng cao uytín của công ty góp phần làm tăng hiệu quả của hoạt động môi giới chứngkhoán.

Vốn là điều kiện không thể thiếu khi một doanh nghiệp muốn tiến hànhkinh doanh Riêng chứng khoán, một lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi khá nhiềuchi phí hoạt động thì quy mô vốn là điều kiện cần quyết định hiệu quả hoạtđộng môi giới Một CTCK muốn đi vào hoạt động cần phải chịu chi phí máymóc thiết bị về công nghệ thông tin vì hệ thống giao dịch của toàn thị trườngdiễn ra liên tục, thay đổi trên diện rộng hay máy móc phục vụ cho tìm kiếm,phân tích thông tin; chi phí để đào tạo và duy trì đội ngũ nhân viên môi giớilành nghề; chi phí nghiên cứu thị trường, khách hàng để xây dựng các sảnphẩm, dịch vụ cung cấp cho phù hợp; chi phí cho hoạt động marketing, quảngcáo, tìm kiếm khách hàng… Do vậy, CTCK có quy mô vốn lớn thì hiệu quảhoạt động chắc chắn sẽ cao hơn nhiều

Ngoài ra, vốn điều lệ lớn cũng sẽ tạo niềm tin cho khách hàng là công tyhay hoạt động đó có thể thực hiện tốt, công ty có thể mở rộng mạng lưới chinhánh thu hút khách hàng Khi nhà đầu tư tìm đến với công ty có vốn lớn họcũng kỳ vọng rằng nhu cầu của họ cũng được đáp ứng hiệu quả nhất

Trang 29

nhận và thực hiện các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh tróng và chínhxác Vì thị trường chứng khoán luôn nhạy cảm với sự biến đổi của nền kinh tế

xã hội trong nước và quốc tế, do đó nếu công ty chứng khoán không có đủtrang thiết bị cần thiết để thu thập và xử lý thông tin thì không thể bảo vệquyền lợi cho khách hàng

Các nhân viên môi giới sẽ không có đủ các thông tin cần thiết để thựchiện tư vấn và cung cấp các sản phẩm dịch vụ tốt nhất cho khách hàng

Hiện nay tại các công ty chứng khoán, cơ sở vật chất chủ yếu là sàn giaodịch, hệ thống mạng luới và hệ thống thông tin Các hệ thống này mặc dùphục vụ cho tất cả các hoạt động của công ty nhưng thực tế thì nó phục vụcho hoạt động môi giới là chủ yếu

Kiểm soát nội bộ:

Nguyên tắc bảo mật thông tin tại các công ty chứng khoán là một yếu tốquyết định đến sự thắng lợi của công ty trong việc cạnh tranh Vì vậy công táckiểm soát nội bộ là rất cần thiết Tất nhiên không phải chỉ có các thông tinmới cần kiểm soát, ngay từ các quy trình nghiệp vụ, các thủ tục tiến hànhnghiệp vụ của công ty cần phải được kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm không viphạm pháp luật và nâng cao chất lượng hoạt động của các nghiệp vụ Nếu nhưcông ty để lộ thông tin hay vi phạm pháp luật đều dẫn kết kết quả là thất bạitrong kinh doanh

Sự phát triển của các hoạt động khác:

Không có một hoạt động nào hoạt động độc lập mà thành công, nó luôncần có sự hỗ trợ từ các hoạt động khác Đối với lĩnh vực chứng khoán cũngvậy Hoạt động môi giới không thể tách rời với các hoạt động khác trong công

ty Hoạt động marketing, quảng cáo sẽ tăng cường hình ảnh của công ty, sẽ cónhiều người biết đến thương hiệu đó, dẫn đến làm gia tăng lượng khách hàngcho bộ phận môi giới

Trang 30

Bộ phận phân tích cũng có thể cung cấp nguồn thông tin đã qua xử lýcho nhân viên môi giới hay họ có thể nghiên cứu những sản phẩm, dịch vụmới cung cấp cho bộ phận môi giới để làm việc với khách hàng Khách hàngđến với công ty nhiều phần lớn là nhờ vào sản phẩm, dịch vụ cung cấp đadạng, phong phú, đáp ứng được nhu cầu của đông đảo khách hàng Vì vậy,hoạt động môi giới làm được tốt là nhờ vào các bộ phận khác.

Bên cạnh đó, hoạt động môi giới cũng tác động làm cho bộ phận khácphát triển Hoạt động môi giới sẽ chính là nơi cung cấp ý tưởng cho hoạt độngnghiên cứu dịch vụ mới Bởi chính họ trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nhiềunhất, hiểu về nhu cầu cũng như mục tiêu của khách hàng

1.3.3.2 Nhân tố khách quan.

Sự phát triển và thực trạng của nền kinh tế:

Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính quốc giahay nó là một bộ phận của nền kinh tế Vì vậy sự phát triển của nền kinh tế cóảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của TTCK Sự ổn định chínhtrị và tăng trưởng của nền kinh tế là cơ sở cho mọi sự phát triển của một quốcgia, là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của các CTCK nói chung và hoạtđộng môi giới chứng khoán nói riêng

Nền kinh tế phát triển sẽ tạo nhiều việc làm mới, giảm tình trạng thất nghiệp

và tăng thu nhập của dân cư Do thu nhập của dân cư tăng bảo đảm cho nhà đầu

tư có khả năng chuyển tiết kiệm thành đầu tư trên thị trường chứng khoán

Sự ổn định và tăng trưởng kinh tế làm giảm rủi ro và tăng hiệu quả củahoạt động đầu tư Điều này làm tăng tính hấp dẫn của thị trường trong nước

và thu hút đầu tư nước ngoài Đồng thời, nhu cầu đầu tư ra nước ngoài củanhà đầu tư và các doanh nghiệp trong nước cũng tăng theo Đây là tiền đề cho

sự phát triển các dịch vụ của công ty chứng khoán

Trang 31

Sự phát triển của thị trường chứng khoán:

Công ty chứng khoán nói chung và hoạt động môi giới chứng khoán nóiriêng không thể tồn tại nếu thiếu một nền thị trường chứng khoán Sự pháttriển của TTCK ở đây là sự phát triển cả cung và cầu chứng khoán, các thànhviên tham gia thị trường và sự phát triển của các trung gian tài chính và cáchoạt động khác

Thị trường tài chính phát triển ở trình độ cao là tiền đề để môi giới chứngkhoán có thể đảm nhận tốt chức năng cung cấp các dịch vụ và tài sản tài chính.Trên thị trường này, các công cụ phái sinh được tạo lập nhằm cung cấp các công

cụ phòng vệ hữu hiệu cho các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư có tổ chức

TTCK phát triển cùng với hệ thống công bố thông tin, hệ thống đăng ký,

hệ thống công bố công khai của nó đã cung cấp cho các nhà đầu tư các thôngtin đầy đủ và chính xác liên quan đến chứng khoán, tăng độ tin cậy cho thịtrường và giải quyết vấn đề thông tin không cân xứng và rủi ro đạo đức Từ

đó, các nhà đầu tư có niềm tin để tham gia đầu tư, mà những nhà môi giới làcầu nối cho họ

Môi trường pháp lý:

Các điều kiện pháp lý có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển CTCK nóichung và nghiệp vụ môi giới chứng khoán nói riêng Một hệ thống pháp lý cótính chất khuyến khích về tổ chức, hoạt động của công ty sẽ góp phần tạo lập,

ổn định hoạt động của nó Đồng thời, việc kiểm soát hoạt động của công ty sẽlàm tăng lòng tin của công chúng đầu tư Ngược lại, sự phức tạp và thiếu hoànthiện của hệ thống pháp luật sẽ cản trở sự phát triển của công ty chứng khoán

và theo đó, nghiệp vụ môi giới cũng không thể nâng cao được

Thu thập kiến thức và thói quen đầu tư của công chúng:

Sự phát triển của nền kinh tế và khả năng tiết kiệm để đầu tư của công

Trang 32

chúng chỉ là điều kiện có tính chất tiên quyết Còn để chuyển tiết kiệm thànhđầu tư thông qua thị trường chứng khoán thì một yếu tố cũng hết sức quan trọng

là kiến thức đầu tư của công chúng- những nhà đầu tư tiềm năng trên thị trường.Thực tế cho thấy, ở những nước có nền kinh tế phát triển, trình độ dân trí caonhư Mỹ, Anh, Đức một tỷ lệ tương đối cao (30-40%) dân cư tham gia thị trườngchứng khoán

Để công chúng rộng rãi tham gia thì họ cần phải thấy được bản chất củachứng khoán Họ phải nhận thức rằng, chứng khoán có giá trị, song nó cũngchứa đựng rủi ro, nghĩa là, các nhà đầu tư có thể tăng tài sản của họ nhờ kinhdoanh chứng khoán, nhưng họ cũng có thể bị thua lỗ, thậm chí mất toàn bộ tàisản và bị phá sản Các nhà quản lý cần trang bị kiến thức cơ bản cho nhà đầu

tư và tạo điều kiện hỗ trợ về tài chính khi họ tham gia

Sự cạnh tranh của các công ty chứng khoán khác:

Trong thị trường chứng khoán tồn tại nhiều công ty chứng khoán, cáccông ty đều có nghiệp vụ môi giới chứng khoán Trong khi khách hàng lại

là một yếu tố có giới hạn về số lượng Khách hàng đã tìm đến công ty này

sẽ không thể tìm đến công ty khác nữa Do đó, hoạt động môi giới củaCTCK luôn phải chịu sự cạnh tranh của các công ty cùng ngành Chính áplực cạnh tranh sẽ khiến CTCK không ngừng nâng cao các sản phẩm nhằmphục vụ tốt nhất cho khách hàng

Các nhân tố khác:

Bên cạnh ảnh hưởng của những nhân tố trên, hoạt động môi giới củacông ty chứng khoán còn chịu sự tác động của các yếu tố khác như hoạt độngcủa cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan quản lý thị trường, hiệp hội chứngkhoán, hiệp hội nhà đầu tư… Các chính sách, quy định của mỗi tổ chức nàycũng ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động môi giới

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SAO VIỆT

2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN

SAO VIỆT_VSSC.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển.

2.1.1.1 Khái quát về công ty cổ phần chứng khoán Sao Việt:

Công ty cổ phần chứng khoán Sao Việt chính thức đi vào hoạt động từngày 09/04/2007 theo chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103005730 do Sở

KH & ĐT TP Hồ Chí Minh cấp ngày 18/12/2006 và Giấy phép hoạt độngkinh doanh chứng khoán số 33/UBCK –GPHĐKD do Ủy ban chứng khoánnhà nước cấp ngày 25/12/2006 với vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng Trụ sởchính đặt tại số 58/1 – 58/2 Trần Xuân Soạn – Phường Tân Kiểng – Quận 7 –

TP Hồ Chí Minh

Công ty được công nhận là thành viên Giao dịch của Trung tâm Giaodịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Giao dịch Chứngkhoán Thành phố Hồ Chí Minh) theo Quyết định số 52/QĐ-TTGDHCM củaTrung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ngày 06/04/2007

và được công nhận là thành viên giao dịch của Trung tâm Giao dịch Chứngkhoán Hà Nội (nay là Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội) theo Quyết định số106/QĐ-TTGDHN do Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội cấp ngày03/05/2007

Công ty tăng vốn điều lệ lên 36 tỷ đồng theo Quyết định số UBCK của UBCKNN ngày 01/06/2007

Trang 34

346/QĐ-Đến 31/12/2007, Công ty tăng vốn điều lệ lên 135 tỷ đồng theo Quyếtđịnh số 102/QĐ-GPĐCCTCK ngày 31/12/2007 của UBCKNN.

Công ty chuyển trụ sở chính đến Tầng 6,8 Tòa nhà CTM - 299 Cầu Giấy–thành phố Hà Nội theo Quyết định số 157/UBCK-GP của UBCKNN ngày10/10/2008

Ngày 19/06/2009, Công ty được công nhận là thành viên hệ thống đăng

ký giao dịch của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (nay là Sở Giaodịch chứng khoán Hà Nội) theo Quyết định số 299/QĐ-TTGDHN do Trungtâm giao dịch chứng khoán Hà Nội ngày 19/06/2009

Hiện nay, Công ty hoạt động với vốn điều lệ là 135 tỷ đồng và đượcphép hoạt động trên các lĩnh vực: Môi giới chứng khoán, Tự doanh chứngkhoán, Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, Lưu ký chứng khoán

Mục tiêu mà công ty đặt ra:

+ Trở thành một trong những công ty chứng khoán hàng đầu trên thị trườngtài chính Việt Nam và vươn ra tầm châu lục

+ Tạo dựng hình ảnh VSSC như một công ty chứng khoán nổi trội nhất trongtâm trí nhà đầu tư

+ Xây dựng mối quan hệ liên kết bền vững và phối hợp chặt chẽ với các đốitác chiến lược

“ Tạo lập niềm tin, giá trị vững bền” là kim chỉ nam cho mọi hành động

mà VSSC đã và đang nỗ lực thực hiện nhằm mang lại những lợi ích thiết thựcnhất cho khách hàng và cho sự phồn thịnh của VSSC

Trang 35

2.1.1.2 Một số thông tin chính về công ty:

 Tên công ty: Công ty Cổ phần Chứng khoán Sao Việt

 Tên Tiếng Anh: Viet Star Securities Corporation

 Tên viết tắt tiếng Anh: VSSC

 Trụ sở chính: Tầng 6-8, Toà nhà CTM, 299 Cầu Giấy, Hà Nội

 Điện thoại: 04.22201592

 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103005730 ngày 18/12/2006 do

Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp

Giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán số 33/UBCK GPHĐKD do Uỷ

ban Chứng khoán Nhà nước cấp ngày 25/12/2006

 Vốn điều lệ: 135.000.000.000 (Một trăm ba mươi lăm tỷ) đồng

 Số lượng cổ phần: 13.500.000 (Mười ba triệu năm trăm ngàn) cổ

phần

 Lĩnh vực kinh doanh chính: Môi giới chứng khoán, Tự doanh chứngkhoán, Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, Lưu ký chứng khoán

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty.

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức và quản lý của VSSC.

Trang 36

(Nguồn: Bản công bố thông tin công ty cổ phần chứng khoán Sao Việt)

Chức năng các phòng ban.

Ban Tổng Giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm Tổng Giám đốc làngười điều hành mọi hoạt động kinh doanh của Công ty, chịu sự giám sát củaHội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị trước pháp luật

BAN KIỂM SOÁT

KIỂM SOÁT NỘI BỘ

Trang 37

về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Tổng Giám đốc là ngườiđại diện theo pháp luật của Công ty

Phòng Hành Chính- Nhân sự thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Phòng Hành chính – Nhân sự có chức năng tổ chức các hoạt động hànhchính, quản lý cơ sở vật chất;

- Xây dựng môi trường làm việc và văn hoá công ty phù hợp với địnhhướng phát triển của VSSC;

- Tổ chức tuyển dụng và bố trí nhân sự;

- Xây dựng hệ thống thông tin nhân viên trong toàn công ty;

- Thực hiện công tác đánh giá nhân viên theo định kỳ;

- Tổ chức đào tạo cán bộ, nhân viên;

- Xây dựng hệ thống tiền lương, thưởng, phụ cấp cho người lao động, thựchiện các chính sách về bảo hiểm y tế, bảo hiểm lao động theo luật định;

- Tổ chức các sinh hoạt động sinh hoạt tập thể của công ty

Phòng Kế toán của VSSC có chức năng ghi chép mọi nghiệp vụ kinh tế,tài chính phát sinh trong hoạt động kinh doanh của công ty, nhằm cung cấp sốliệu chính xác, kịp thời phục vụ công tác quản lý, ra quyết định kinh doanhcủa công ty và báo cáo định kỳ hay theo yêu cầu cho các cơ quan quản lý.Nhiệm vụ chính của phòng kế toán bao gồm:

- Tổng hợp tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả hoạt động kinh doanh;

- Xây dựng hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán theo đúng chế độ và chuẩnmực;

- Tổ chức, quản lý hoạt động kế toán trong toàn công ty;

- Đăng ký, kê khai thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quyđịnh của pháp luật

Trang 38

Phòng Công nghệ Thông tin.

Phòng công nghệ thông tin của VSSC có nhiệm vụ sau:

- Xây dựng và quản lý hệ thống mạng và hệ thống điện thoại nội bộ;

- Xây dựng và vận hành hệ thống thư điện tử, hệ thống an ninh, bảo mật vềcông nghệ thông tin;

- Quản lý các phần mềm ứng dụng nội bộ và dành cho khách hàng;

- Xây dựng và quản lý trung tâm dữ liệu;

- Nghiên cứu và triển khai các ứng dụng công nghệ mới nhằm cung cấp chokhách hàng các tiện ích và công cụ hiện đại;

Phòng Môi giới.

Phòng Môi giới có chức năng thực hiện nghiệp vụ chủ yếu sau:

- Mở và quản lý tài khoản giao dịch của khách hàng;

- Hướng dẫn, hỗ trợ và thực hiện lệnh giao dịch của khách hàng;

- Khai thác và phát triển mạng lưới khách hàng;

- Quản lý và thực hiện chăm sóc khách hàng;

- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị khác tổ chức thực hiện đại lý đấu giá

- Hỗ trợ khách hàng giao dịch chứng khoán chưa niêm yết

- Quản lý lưu ký chứng khoán;

- Thực hiện quyền;

- Giữ vai trò đầu mối thanh toán bù trừ và kết nối với trung tâm lưu kýchứng khoán

Trang 39

Phòng Phân tích – Đầu tư.

Phòng Phân tích - Đầu tư có chức năng thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Thực hiện các báo cáo phân tích vĩ mô, ngành, doanh nghiệp, nhận địnhthị trường;

- Xây dựng và duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ cho hoạtđộng nghiên cứu, phân tích;

- Hỗ trợ chuyên môn cho hoạt động tư vấn doanh nghiệp và các phòng bankhác trong công ty;

- Quản lý đầu tư;

- Thu thập thông tin, thực hiện phân tích phục vụ công tác đầu tư;

- Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư;

- Thiết lập các kênh khai thác đầu tư;

- Xây dựng quan hệ đối tác với các tổ chức đầu tư

Phòng Tư vấn tài chính doanh nghiệp có chức năng cung cấp các dịch vụ

tư vấn tới khách hàng, bao gồm:

- Cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp: Tư vấn cổ phần hóa, Tưvấn niêm yết, Tư vấn phát hành, Tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, Tưvấn tái cấu trúc doanh nghiệp, Tư vấn mua bán, sáp nhập, hợp nhất, chiatách doanh nghiệp;

- Cung cấp các dịch vụ tư vấn khác: Tư vấn chuyển đổi loại hình doanhnghiệp, Tư vấn quản trị doanh nghiệp, Quản lý sổ cổ đông, Tổ chức đại hộiđồng cổ đông;

- Thiết lập và phát triển mạng lưới khách hàng doanh nghiệp

2.1.3 Các sản phẩm và dịch vụ cung cấp.

Hiện nay, công ty hoạt động với vốn điều lệ là 135 tỷ đồng, và được phéphoạt động trên các lĩnh vực: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tư vấn

Trang 40

tài chính và đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán Trên mỗi lĩnh vực hoạtđộng công ty cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tương ứng nhằm cố gắng đápứng tốt nhất nhu cầu của thị trường cũng như của khách hàng.

2.1.3.1 Đối với hoạt động môi giới chứng khoán.

Trong vai trò làm trung gian mua, bán chứng khoán cho nhà đầu tư,VSSC luôn quan tâm, chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường

hỗ trợ thông tin tư vấn cho nhà đầu tư Về cơ bản, bộ phận môi giới củaVSSC đã và đang cung cấp cho các nhà đầu tư một số nhóm sản phẩm và dịch

vụ sau:

Các dịch vụ hỗ trợ khách hàng trong giao dịch chứng khoán:

Môi giới trong giao dịch chứng khoán niêm yết:

- Tại sàn giao dịch của công ty, qua cổng điện thoại, qua cổng internet

- Tra cứu thông tin tài khoản, tin thị trường qua website

- Hệ thống SMS cung cấp thông tin khớp lệnh

Dịch vụ gia tăng tiện ích đầu tư:

Bên cạnh những nghiệp vụ môi giới cơ bản và truyền thống VSSC luôn kết

nối và phối hợp với các tổ chức tài chính – tín dụng như: Ngân hàng TMCPPhương Đông, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển – Chi nhánh Cầu Giấy đểcung cấp các dịch vụ tiện ích cho khách hàng như:

(1) Cho vay cầm cố chứng khoán

Để tăng khả năng quay vòng vốn và cơ hội của nhà đầu tư, VSSC đã kếthợp với Ngân hàng Phương Đông, Ngân hàng Đầu tư phát triển cung cấpdịch vụ cầm cố chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch Khi sử dụng dịch

Ngày đăng: 14/04/2016, 18:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức và quản lý của VSSC. - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán sao việt
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức và quản lý của VSSC (Trang 35)
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu của công ty cổ phần Sao Việt trong thời gian qua. - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán sao việt
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu của công ty cổ phần Sao Việt trong thời gian qua (Trang 46)
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình giao dịch tại VSSC. - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán sao việt
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ quy trình giao dịch tại VSSC (Trang 53)
Bảng 2.6: Số lượng tài khoản mở tại VSSC qua các năm. - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán sao việt
Bảng 2.6 Số lượng tài khoản mở tại VSSC qua các năm (Trang 56)
Bảng 2.10:  Doanh thu môi giới của VSSC qua các năm. - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán sao việt
Bảng 2.10 Doanh thu môi giới của VSSC qua các năm (Trang 59)
Biểu đồ 2.4: Đồ thị cơ cấu doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán qua các năm. - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán sao việt
i ểu đồ 2.4: Đồ thị cơ cấu doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán qua các năm (Trang 61)
Bảng 2.11: Chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán qua các năm. - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán sao việt
Bảng 2.11 Chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán qua các năm (Trang 62)
Bảng 2.12: Lợi nhuận môi giới qua các năm. - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán sao việt
Bảng 2.12 Lợi nhuận môi giới qua các năm (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w