1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của vốn oda của qũy dân số liên hợp quốc với vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản ở việt nam

108 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 706 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nguồn chi này, nhà nước tập trung thực hiện đảm bảo nângcao chất lượng dân số thông qua việc đầu tư vào các mục tiêu quốc gia đầu tưvào cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế, chất lượng

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.

Tác giả luận văn

Đinh Thị Ngọc Anh

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA VỐN ODA CỦA QŨY DÂN SỐ LIÊN HỢP QUỐC VỚI VẤN ĐỀ DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM 4

1.1 Vai trò của vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản đối với nền kinh tế xã hội Việt Nam 4

1.1.1 Khái niệm dân số và sức khỏe sinh sản 4

1.1.2 Vai trò của vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản đối với kinh tế xã hội Việt Nam 5

1.1.3 Các nguồn vốn sử dụng trong chương trình dân số và sức khỏe sinh sản 6

1.2 ODA của Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc 8

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại ODA 8

1.2.3.ODA của UNFPA cho Việt Nam 19

1.3.2 Nguyên tắc quản lý và thực hiện chương trình và dự án do LHQ hỗ trợ Việt Nam 24

1.3.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án ODA 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ODA CỦA LIÊN HỢP QUỐC TẠI DỰ ÁN “HỖ TRỢ BỘ Y TẾ THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020” 29

Trang 3

2.1 GIỚI THIỆU DỰ ÁN 29

2.1.1Thông tin cơ bản về dự án: 29

2.1.2Bối cảnh và sự cần thiết của dự án: 30

2.1.3.Mục tiêu và các chỉ số của dự án: 32

2.1.4 Các dự án của Chiến lược thực hiện song song cùng dự án hỗ trợ của Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc ………35

2.1.5 Lý do lựa chọn UNFPA là đơn vị của Liên Hợp Quốc thực hiện hỗ trợ dự án: 35

2.2.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DỰ ÁN 37

2.2.1 Quy đinh tổ chức quản lý dự án 37

2.2.1 Quy trình xin cấp vốn cho dự án 41

2.2.3 Quy trình chuyển tiền cho cơ quan thực hiện dự án: 43

2.2.5 Quy định điều chỉnh ngân sách dự án 46

2.2.2 Tình hình quản lý dự án 49

2.3 ĐÁNH GIÁ 64

2.3.1 Kết quả đạt được 64

2.3.2.Những vướng mắc tồn tại 67

2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại 69

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ODA TẠI DỰ ÁN “HỖ TRỢ BỘ Y TẾ THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020” 71

3.1.NHIỆM VỤ CÒN LẠI CỦA DỰ ÁN VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN……… 71

3.1.1 Nhiệm vụ còn lại của dự án 71

3.1.2.Cơ hội và thách thức tác động đến dự án thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản……… 73

Trang 4

3.2.GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ODA TẠI DỰ ÁN 75

3.2.1 Tăng cường theo dõi, đánh giá thực hiện dự án 75

3.2.2 Đơn giản hoá, hài hoà hóa thủ tục giữa Việt Nam và UNFPA 77

3.2.3 Đảm bảo cung cấp đủ vốn đối ứng để thực hiện dự án 79

3.2.4 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ 80

3.2.5.Tăng cường tính làm chủ và trách nhiệm các Ban quản lý dự án 81

3.3.6 Tăng cường kiểm toán các đơn vị tiếp nhận ODA 82

3.2.7 Phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tham gia trực tiếp vào dự án……… 83

KẾT LUẬN 85

Tài liệu tham khảo 87

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CQQLVT Các cơ quan quản lý viện trợ của Chính phủ

FACE Yêu cầu chuyển tiền và xác nhận chi tiêu

HPPMG Quy chế chung về Quản lý chương trình và dự

LHQ tại Việt Nam

TCDS- KHHGĐ Tổng cục dân số, kế hoạch hóa gia đình

Trang 6

UNCO Văn phòng tổ chức LHQ

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Trong thời đại hiện nay, song song với việc phát triển con người toàndiện về mọi mặt đời sống, kinh tế, văn hóa xã hội thì y tế là một trong nhữngvấn đề rất được quan tâm

Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng, có sự phát triển về lượng nhưngchưa có sự phát triển về chất Hàng loạt vấn đề rất đáng lo ngại làm ảnhhưởng đến cuộc sống an toàn xã hội của người dân như: hiện tượng già hóadân số, mất cân bằng giới tính, bạo lực gia đình, tình dục không an toàn songsong với sự phát triển lệch lạc của một bộ phận giới trẻ hiện nay,… Đó lànhững vấn đề cần phải được giải quyết lâu dài và triệt để Việc đầu tư cho sứckhỏe chính là đầu tư phát triển, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước

Để thực hiện được tốt các mục tiêu chiến lược trên thì Đảng và Nhànước cần phải có sự đầu tư thích đáng, song nguồn kinh phí trong nước dànhcho phát triển sự nghiệp y tế còn hạn hẹp nên việc mở rộng khai thác nguồntài chính từ bên ngoài cho y tế có ý nghĩa rất quan trọng nhằm phát triển kinh

tế - xã hội ở nước ta

Trong những năm qua, với việc trở thành thành viên của các tổ chức lớntrên thế giới như ASEAN, APEC, WTO… quan hệ quốc tế của nước ta đặcbiệt là trong ngành y tế có nhiều chuyển biến thuận lợi Nguồn vốn hỗ trợ pháttriển chính thức (Official Development Assistance - ODA) do các tổ chức songphương, đa phương tài trợ cho ngành y tế trở nên vô cùng quan trọng Việc thuhút và sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành y tế đã góp phần cải thiện chấtlượng cuộc sống cho người dân ở Việt Nam

Nguồn vốn ODA là nguồn lực từ bên ngoài có những ưu điểm nổi trội:

ưu đãi về thời gian vay, thời gian ân hạn, lãi suất phù hợp để hỗ trợ các nước

Trang 9

đang phát triển.Tuy nhiên, ODA không chỉ đơn giản là một nguồn viện trợ mà

đi kèm với nó là những điều kiện ràng buộc về chính trị, kinh tế Sẽ là mộtgánh nặng lớn nếu chúng ta không biết quản lý và sử dụng nguồn vốn ODAmột cách hợp lý và hiệu quả Bởi vậy việc tăng cường hiệu quả quản lý ODAcủa UNFPA vào dự án “Hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số

và sức khỏe sinh sản ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” là rất cần thiết

Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận về ODA, thực trạng quản lý và

sử dụng nguồn vốn ODA tại dự án tìm ra được kết quả, hạn chế và nguyên nhân

Từ đó đề xuất ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý ODA tại dự án

Nguồn vốn ODA do UNFPA tài trợ thực hiện tại dự án hỗ trợ bộ y tếthực hiện chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020

Tình hình thực hiện, sử dụng và quản lý vốn ODA tại dự án hỗ trợ bộ y

tế thực hiện chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng các biện pháp thống kế, sosánh đối chiếu, phân tích, tổng hợp, để giải quyết các nội dung nghiên cứucủa khóa luận Các phương pháp đó được kết hợp chặt chẽ với nhau dựa trên

cơ sở các quan điểm, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách sử dụngnguồn vốn ODA của Đảng và Nhà nước

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:Chương 1: Vai trò của vốn ODA của Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc vớivấn đề dân số và sức khỏe sinh sản ở Việt Nam

Trang 10

Chương 2: Thực trạng quản lý ODA của UNFPA tại dự án “Hỗ trợ bộ

Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản ở Việt Namgiai đoạn 2011-2020”

Chương 3: Các giải pháp tăng cường quản lý ODA của UNFPA tại

dự án “Hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sức khỏe sinhsản ở Việt Nam giai đoạn 2011-2012”

Trang 11

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA VỐN ODA CỦA QŨY DÂN SỐ LIÊN HỢP QUỐC VỚI VẤN ĐỀ DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM

1.1 Vai trò của vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản đối với nền kinh tế

xã hội Việt Nam.

1.1.1 Khái niệm dân số và sức khỏe sinh sản.

Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa

lý hoặc một không gian nhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự pháttriển kinh tế - xã hội, thường được đo bằng một cuộc điều tra dân số và biểuhiện bằng một tháp dân số

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: Sức khoẻ là một trạng thái

hoàn hảo cả về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc tàn phế Như vậy có thể thấy, khái niệm sức khoẻ là một khái

niệm rộng hơn nhiều so với những quan niệm đơn giản như: sức khoẻ là cómột cơ thể cường tráng, sức khoẻ là không ốm đau, sức khoẻ là người lànhlặn, không bị tàn phế…

Sức khoẻ sinh sản là một phần rất quan trọng của sức khỏe Sức khỏesinh sản gắn với toàn bộ cuộc đời của con người, từ lúc bào thai đến khi tuổigià Sức khoẻ sinh sản quan tâm đến các vấn đề của bộ máy sinh sản nam nữ

ở mọi lứa tuổi, đặc biệt chú trọng đến tuổi vị thành niên và độ tuổi sinh sản(15-49)

Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển họp tại Cai rô - Ai Cập năm

1994 đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản: “Sức khoẻ sinh sản là mộttrạng thái khỏe mạnh, hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọikhía cạnh liên quan đến hệ thống, chức năng và quá trình sinh sản chứ khôngphải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản”

Trang 12

1.1.2 Vai trò của vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản đối với kinh tế xã hội Việt Nam.

Chăm sóc sức khỏe cho toàn xã hội, đảm bảo chất lượng sức khỏecho lực lượng sản xuất

Ở mọi thời đại, con người luôn là vốn quý nhất của xã hội, là nhân tốquyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Con người là sự kết hợp giữa thểlực và trí tuệ Trong đó thể lực là cơ sở, điều kiện để phát huy trí tuệ Thế nênviệc chăm sóc thể lực cho con người là thật sự cần thiết, luôn cần được quantâm và đặt lên hàng đầu Sức khỏe là một vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội vàtrên hết là quyền cơ bản của con người Sự bất bình đẳng, nghèo đói, bạo lực

và bất công là nguyên nhân gây ra bệnh tật và chết chóc trong xã hội Bởivậy, nếu được quan tâm và hỗ trợ đúng mức cho chương trình dân số và sứckhỏe sinh sản thì hàng loạt các vấn đề khác sẽ được giải quyết Tất cẩ mọingười sẽ được hưởng những dịch vụ chăm sóc, thăm khám chữa bệnh thườngxuyên, nâng cao thể lực, trí lực Đầu tư cho sức khỏe là đầu tư phát triển, gópphần xây dựng nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước.Cải thiện sức khỏe, nâng cao tầm vóc và thể lực chính là cho thế

hệ tương lai, duy trì và phát triển giống nòi

Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011- 2020được thực hiện trên phạm vi cả nước, chăm sóc sức khỏe cho toàn xã hội vànhiều mặt Mục tiêu của chiến lược là nâng cao chất lượng sinh sản, giảiquyết tốt vấn đề cơ cấu dân số Như vậy sẽ tạo ra sự cân bằng và phù hợp trêncác vùng miền tổ quốc, lực lượng lao động có thể đảm bảo được việc làm, ổnđịnh về mặt gia đình, tạo nền tảng vững chắc cho xã hội.Việc quan tâm đúngmực đến sức khỏe của người dân sẽ góp phần ổn định về mặt tinh thần, thểchất tạo ra lối sống xã hội lành mạnh, an toàn , đảm bảo cho lực lượng sảnxuất phát huy tốí đa vai trò và năng lực của bản thân trong xã hội

Trang 13

Đảm bảo mức độ tăng dân số phù hợp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 -

2020 là một nội dung quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chấtlượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội

Chăm sóc sức khỏe cũng góp phần làm tăng của cải xã hội chứ khôngchỉ tiêu tốn của cải xã hội

Tăng dân số phù hợp sẽ:

- Đảm bảo môi trường sống hiện tại và tương lai

- Đảm bảo an toàn cho kết cấu hạ tầng xã hội

- Đảm bảo sự cân đối và hợp lý về sự gia tăng lực lượng lao độngtrong tương lai

Vấn đề sức khỏe sinh sản rất quan trọng, để duy trì giống nòi và đảmbảo nâng cao sức khỏe sản xuất cho toàn dân

Chiến lược đã giải quyết đồng bộ các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản,tập trung nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, pháthuy lợi thế của cơ cấu “dân số vàng”, chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số

và kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh Tạo điều kiện để giảm bớt mất cấn bằnggiới tính, duy trì giống nòi cho thế hệ tương lai

1.1.3 Các nguồn vốn sử dụng trong chương trình dân số và sức khỏe sinh sản.

a Ngân sách nhà nước:

Trong sự nghiệp phát triển đất nước thì mục tiêu đầu tư vào y tế để ổnđịnh an sinh xã hội luôn luôn được đặt lên là mối quan tâm hang đầu Nhànước luôn dành một phần vốn thuộc ngân sách để đầu tư cho lĩnh vực này.Ngân sách nhà nước là nguồn vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất và quan trọng nhất

Trang 14

trong cơ cấu nguồn vốn cung cấp cho y tế nói chung và cho chương trình dân

số và sức khỏe sinh sản nói riêng riêng Hằng năm căn cứ vào dự toán củangành y tế mà quốc hội xem xét phân bổ ngân sách phù hợp Các cơ sở y tế ởcác tuyến hầu hết sử dụng nguồn chủ yếu là từ ngân sách nhà nước, các thiết

bị y tế cũng như đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng y tế đòi hỏi phải có nguồnvốn đầu tư lớn chỉ có ngân sachsn hà nước mới có thê đáp ứng được

Dự báo ngân sách nhà nước cho chương trình trong những năm tới còntiếp tục tăng Với nguồn chi này, nhà nước tập trung thực hiện đảm bảo nângcao chất lượng dân số thông qua việc đầu tư vào các mục tiêu quốc gia đầu tưvào cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế, chất lượng đội ngũ cán bộ,…

Trong nguồn vốn từ ngân sách nhà nước để sử dụng trong chươngtrình dân số và sức khỏe sinh sản một phần là nhà nước đi vay nước ngoàithông qua việc bán trái phiếu chính phủ, và một phần là sử dụng ODA khônghoàn lại của các tổ chức trên thế giới như WB, ADB, Liên Hợp Quốc,…

b Nguồn vốn từ xã hội hóa ngành y tế.

Đây là nguồn vốn từ mọi thành phần kinh tế trong xã hội có nhu cầuđầu tư vào y tế theo hình thức cùng góp vốn đầu tư hoặc bệnh viện vay vốnkích cầu mua trang thiết bị máy móc, góp phần nâng cao chất lượng điều trị,góp phần xây dựng một mạng lưới y tế đều khắp, đáp ứng nhu cầu chăm sócsức khỏe nhân dân trong tình hình mới

c Nguồn vốn từ các cá nhân, hộ gia đình

Nhu cầu khám và chữa bệnh hình thành từ bất trắc trong cuộc sống

Trang 15

việc diễn ra không như mong đợi vì thế nhu cầu phát sinh đó là chi phí cho y

tế Chi phí cho y tế không như cho các dịch vụ khác, như tiêu dung hay giảitrí, chúng ta có thể sử dụng hoặc không Nhưng một khi có nhu cầu khámchữa bệnh thì chắc chắn chi phí cho y tế gần như là bắt buộc dù trong hoàncảnh giàu hay nghèo Và đặc biệt trong tương lai thì chi phí này có xu hướngtang do nhiều nguyên nhân như giá cả các chi phí liên quan, thuốc men, dịchvụ,… hơn nữa là do nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tang của con người.Bởi vậy đây là một trong những nguồn vốn tuy không nhiều nhưng rất quantrọng bổ sung cho y tế

d Nguồn vốn từ ODA nước ngoài.

Ngoài nguồn vốn từ tích lũy ngân sách trong nước có nhược điểm lànguồn vốn đầu tư rất thấp và không đủ đáp ứng cho nhu cầu trong nước,nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) từ bên ngoài thường tập trungvào những ngành, lĩnh vực có khả năng thu hồi vốn cao, đem lại lợi nhuậncao,… thì nguồn vốn ODA là một nguồn rất quan trọng đầu tư cho y tế Bởiđặc tính có khối lượng lớn, ưu đãi nhiều, không chi có ý nghĩa về mặt kinh tế

mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội nên thực sự là một nguồn vốn rất quan trọng

bổ trợ cho nguồn vốn trong nước, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảmnghèo, nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho nhân dân

Chính vì vậy ODA được xem là một cứu cánh để giải quyết khó khantrên đối với các nước đang phát triển

1.2 ODA của Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc.

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại ODA

1.2.1.1 Khái niệm ODA

- Có khá nhiều khái niệm đã được đưa ra về nguồn vốn ODA, song cóthể kế đến một số khái niệm cơ bản khá tổng quát sau:

Trang 16

những nguồn tài chính do các chính phủ hoặc các tổ chức liên chính phủ hoặcliên quốc gia viện trợ cho một quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế vàphúc lợi của quốc gia đó” ( Hà Thị Ngọc Oanh - 2002)

- Ngân hàng thế giới (WB) lại cho rằng “Vốn hỗ trợ phát triển chínhthức (ODA) là những khoản cho viện trợ không hoàn lại cùng các khoản chovay ưu đãi có thời gian trả nợ dài và lãi suất thấp hơn lãi suất trên thị trườngquốc tế Mức độ ưu đãi của các khoản vay được đo bằng yếu tố cho không.Khoản tài trợ không phải hoàn trả có yếu tố cho không là 100%, gọi là việntrợ không hoàn lại Còn khoản vay ưu đãi có yếu tố cho không ít nhất 25% vàđược gọi là ODA.”

- Theo Nghị định 38/2013/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam: “ODA làhoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc chính phủ của một quốc giavới nhà tài trợ, bao gồm chính phủ nước ngoài và các tổ chức liên chính phủhoặc liên quốc gia dưới hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc vốn vay ưu đãi

có yếu tố cho không đạt ít nhất 25%”

- Nói tóm lại, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, song Nguồn vốn

hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có thể được hiểu là các khoản viện trợkhông hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ,các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ (Non GovernmentalOrganization- NGO), các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (UnitedNations- UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậmphát triển nhằm hỗ trợ và thúc đẩy quốc gia đó phát triển kinh tế xã hội.Trong đó các điều kiện ưu đãi chung nhất bao gồm:

+ Các khoản không hoàn lại chiếm ít nhất 25%

+ Lãi suất thấp ( dưới 3% một năm)

+ Thời gian trả nợ dài ( 25 đến 40 năm)

+ Thời gian ân hạn dài ( 8 đến 10 năm)

Trang 17

1.2.1.2 Đặc điểm nguồn vốn ODA

Nguồn vốn ODA có các đặc điểm sau:

a ODA là nguồn vốn hợp tác phát triển

- ODA thể hiện sự hợp tác phát triển giữa các nước phát triển, các tổchức quốc tế với các nước đang phát triển Nguồn vốn hợp tác khi bỏ ra sẽđem lại lợi ích cho cả hai bên: bên viện trợ và bên tiếp nhận viện trợ Cácnước phát triển khi cung cấp ODA sẽ nâng cao được vị thế của mình trêntrường quốc tế, tạo tiền đề cũng như thị trường để tiến hành đầu tư trực tiếp.Còn các nước đang phát triển thì có điều kiện cải tạo cơ sở hạ tầng, học hỏikinh nghiệm kỹ thuật để thúc đẩy nền kinh tế phát triển

- Một khi hiểu được như vậy, các nước nhận viện trợ sẽ phải có cáchnhìn khác đi về nguồn vốn ODA Đó không phải là một khoản “cho không” hay

“từ thiện” mà là một khoản vay có nghĩa vụ trả nợ Việc tiếp nhận và sử dụngODA có hiệu quả cũng là nền tảng cho quan hệ hợp tác kinh tế lâu dài về saugiữa các quốc gia

b ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi

Tính ưu đãi của nguồn vốn ODA thể hiện ở các khía cạnh sau :

- Lãi suất thấp: Phần vốn vay phải hoàn trả được hưởng lãi suất ưuđãi và thông thường chỉ dưới 3% một năm, thấp hơn nhiều so với lãi suất thực

tế trên thị trường quốc tế (khoảng từ 7% đến 7.5%)

- Thời gian sử dụng vốn dài Trong đó thời gian cho vay thườngvào khoảng 30 đến 40 năm (tiêu biểu như ODA của Nhật, ADB hoặc WB );thời gian ân hạn (thời gian trả lãi suất thấp hoặc không trả lãi) cũng khádài, thường từ 5 đến 10 năm

- Trong ODA còn bao gồm yếu tố không hoàn lại, được quy địnhchiếm ít nhất 25% Nhìn chung 4 yếu tố quyết định khoản không hoàn lại, làthời gian trả nợ, thời gian ân hạn, lãi suất khoản nợ và tỉ lệ chiết khấu Chính

Trang 18

yếu tố không hoàn lại là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại.

- Bên cạnh đó, tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện ở chỗ nó lànguồn vốn dành riêng cho các quốc gia đang và chậm phát triển, để thực hiệncác mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội

c.ODA là nguồn vốn có nhiều ràng buộc

- Các ràng buộc mà các nước đang phát triển gặp phải khi tiếp nhận và

sử dụng nguồn vốn ODA có thể chia thành 3 loại cơ bản: ràng buộc về mặtkinh tế, ràng buộc về mặt chính trị và ràng buộc về mặt xã hội

- Vốn ODA có thể đi kèm nhiều ràng buộc về mặt kinh tế Những điềukiện ràng buộc thường rất khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mốiquan hệ giữa nước viện trợ và nước nhận viện trợ, trình độ phát triển kinh tế

xã hội hay thể chế chính trị của nước tiếp nhận viện trợ Hình thức ràng buộckinh tế thông thường nhất là gắn ODA với việc tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ

từ quốc gia viện trợ Thông qua những ràng buộc như vậy, các nhà tài trợ cóthể mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường đầu tư và đem lại lợinhuận cho hàng hóa và dịch vụ của nước mình

- Những ràng buộc trong thực hiện ODA có thể mang đến cho nước nhậnviện trợ không ít rủi ro Ví dụ như với hỗ trợ kỹ thuật, các nước tiếp nhận có nhiềunguy cơ phụ thuộc lâu dài vào nước viện trợ do các trang thiết bị khó có thể thaythế bằng thiết bị của nước khác và đội ngũ vận hành trong nước cũng phải phụthuộc nhiều vào các chuyên gia nước ngoài Thêm vào đó, do không được lựachọn đồng tiền để vay ODA, các nước nhận viện trợ còn phải chịu rủi ro khi tỷ giáthay đổi Nếu đồng tiền viện trợ tăng giá, khi trả nợ, các quốc gia tiếp nhận việntrợ sẽ phải trả thêm một khoản tiền do chênh lệch tỉ giá gây ra

- Về những ràng buộc chính trị, cần hiểu rằng trong ODA luôn chứađựng hai mục tiêu song song Thứ nhất là để thúc đẩy phát triển kinh tế, xãhội ở các nước đang và chậm phát triển Thứ hai là tăng cường vị thế chính trị

Trang 19

của các nước và tổ chức tài trợ Thông qua ODA, các nước phát triển xác lập

vị trí và ảnh hưởng của mình tại khu vực tiếp nhận viện trợ Trong nhiềuchương trình viện trợ, có thể thấy các nước tài trợ rất hay đòi hỏi nước tiếpnhận phải thay đổi chính sách phát triển của mình cho phù hợp với lợi ích củabên tài trợ Chính vì những rủi ro như thế, các nước khi tiếp nhận viện trợluôn phải cân nhắc thật kỹ lưỡng các điều kiện mà nhà tài trợ đưa ra, khôngnên vì những lợi ích trước mắt mà đánh đổi quyền lợi lâu dài

- ODA còn là một nguồn vốn gắn liền với các nhân tố xã hội Xét về mặtbản chất, cung cấp ODA chính là quá trình chuyển giao có hoàn lại hoặckhông hoàn lại một phần tổng sản phầm quốc dân (GNP) từ các nước giàusang các nước nghèo Việc cung cấp và sử dụng ODA rất nhạy cảm về mặt

xã hội, chịu sự kiểm soát và điều chỉnh của dư luận xã hội cả ở nước viện trợ

và tiếp nhận viện trợ Với người dân ở các nước nhận viện trợ, nếu sử dụngsai phạm và lãng phí, ODA mang lại nguy cơ gây nợ lớn cho các thế hệtương lai Bởi vậy, quy chế sử dụng viện trợ rõ ràng, công khai, giảm thiểutình trạng tham nhũng là những yêu cầu hàng đầu mà người dân ở cả quốc giacho và nhận viện trợ luôn đòi hỏi ở chính phủ

1.2.1.3 Phân loại vốn ODA

ODA được phận loại dựa vào các tiêu chí khác nhau như tính chất tài trợ,nguồn cung cấp, mục đích sử dụng, điều kiện.v.v…

a Theo tính chất tài trợ

Viện trợ không hoàn lại

Viện trợ không hoàn lại thường có 2 dạng;

+ Hỗ trợ kỹ thuật: thông qua việc chuyển giao công nghệ, truyền đạtkinh nghiệm và bí quyết từ nước phát triển cho nước nhận viện trợ

+ Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật như thốc men, lương thực, quần áo,nhu yếu phẩm

Trang 20

Viện trợ có hoàn lại

Viện trợ có hoàn lại là các khoản vay có nhiều ưu đãi về lãi suất, thờigian trả nợ, thời gian ân hạn Viện trợ có hoàn lại được coi như một khoản tíndụng ưu đãi, phần lớn để bù đắp thâm hụt ngân sách của nhà nước Chính vìvậy nó thường chỉ được sử dụng để đầu tư cho các mục đích có khả năng thuhồi vốn, hoàn trả cho nhà nước cả vốn lẫn lãi để trả nợ nước ngoài Trongthực tế, viện trợ có hoàn lại thường được sử dụng cho các dự án cải tạo cơ sở

hạ tầng, tạo tiền đề vững chắc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Viện trợ hỗn hợp:

Viện trợ hỗn hợp là sự kết hợp một phần ODA không hoàn lại với mộtphần tín dụng thương mại Thậm chí loại hình viện trợ này còn có thể kếthợp cả 3 loại gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần vốn ưu đãi vàmột phần tín dụng thương mại

b Phân theo nguồn cung cấp

ODA song phương

- ODA song phương là các khoản viện trợ chính thức và trực tiếp từ Nhànước này đến Nhà nước kia thông qua hịêp định ký kết giữa hai chính phủ,không thông qua tổ chức thứ ba Hiện nay trên thế giới, phần viện trợ songphương chiếm tỉ lệ đến gần 80% tổng số ODA đang lưu chuyển

- ODA song phương có ưu điểm là nguồn vốn chuyển trực tiếp giữahai chính phủ nên nhanh gọn và đơn giản về mặt thủ tục cung cấp vầ tiếpnhận Thời gian ký kết viện trợ cũng nhanh hơn Tuy vậy viện trợ songphương thường đi kèm nhiều ràng buộc từ bên cung cấp tới bên nhận việntrợ Một số ràng buộc phổ biến có thể kể đến như bên viện trợ đảm nhậncung câp chuyên gia, cố vấn kỹ thuật và nước nhận viện trợ thường phảimua máy móc, hàng hóa của nước viện trợ

ODA đa phương:

Trang 21

- ODA đa phương là viện trợ phát triển chính thức của các tổ chức quốc

tế (IMF, ADB, WB…) hay tổ chức khu vực hoặc viện trợ của một chính phủdành cho một chính phủ khác thông qua các tổ chức đa phương như UNICEF(Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc ) hay UNDP ( Chương trình phát triển Liênhiệp quốc )

c Phân theo mục đích sử dụng

Hỗ trợ dự án

- Hỗ trợ dự án là hình thức hỗ trợ ODA chủ yếu để thực hiện các dự ánphát triển Hỗ trợ dự án gồm 2 loại:

+ Hỗ trợ cơ bản: là loại hình hỗ trợ các dự án xây dựng

+ Hỗ trợ kỹ thuật: là hình thức chuyển giao công nghệ, tri thức, đào tạo

kỹ thuật.v.v

Hỗ trợ phi dự án

- Hỗ trợ phi dự án bao gồm các loại hình sau:

+ Hỗ trợ chương trình: Là cung cấp ODA cho một mục đích tổng quátvới thời gian nhất định, không cần phải xác định chính xác khoản viện trợ đóđược sử dụng như thế nào

+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp, hỗ trợhàng hóa hay hỗ trợ nhập khẩu Hàng hóa và ngoại tệ được chuyển qua hìnhthức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách

d.Phân theo điều kiện

ODA không ràng buộc:

Với ODA không ràng buộc, những khoản vốn chuyển giao chỉ phải tuântheo các quy tắc tín dụng quốc tế chung còn việc sử dụng viện trợ không bịràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng

ODA có ràng buộc:

- ODA có ràng buộc là loại ODA mà việc sử dụng nó có bị ràng buộc

Trang 22

theo nguồn hoặc mục đích sử dụng Các ràng buộc này đều được thỏa thuận

và ký kết giữa nước hay tổ chức viện trợ và các nước nhận viện trợ Trong đó:+Ràng buộc bởi nguồn sử dụng là việc mua sắm hàng hóa, trang thiết bịhay dịch vụ bằng nguồn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nhà nước tàitrợ, sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc do công tycủa các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương)

+Ràng buộc bởi mục đích sử dụng là chỉ được sử dụng cho một lĩnh vựcnhất định hay một dự án cụ thể

và sự thiếu hụt nguồn lực tài chính, thì vốn ODA có tính bền vững đối với cáccông trình và dự án phát triển, do được thực hiện bằng viện trợ không hoànlại, hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ vốnvay dài

Tác động đầu tiên, rõ ràng và dễ thấy nhất của ODA là bổ sung chonguồn vốn trong nước của nước nhận viện trợ Các nước đang phát triển lànhững nước rất cần vốn cho đầu tư phát triển Vốn đầu tư được lấy từ nhữngnguồn vốn trong nước là chính, nhưng nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền kinh

tế lại rất hạn hẹp nên cần bổ sung bằng nguồn vốn nước ngoài

Trang 23

Mục tiêu của ODA là nhằm tập trung tài trợ cho các dự án phát triển kếtcấu hạ tầng kinh tế- xã hội, do vậy phù hợp với các chính sách phát triển kinhtế- xã hội của các nước đang phát triển Nguồn vốn ODA được sử dụng mộtcách hợp lý và có hiệu quả sẽ gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng của nước nhậnviện trợ

Viện trợ có thể ảnh hưởng tới việc tăng phúc lợi công cộng và nâng caochất lượng cuộc sống ở các nước đang phát triển

Nguồn vốn ODA còn giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh

tế, nâng cao năng lực bộ máy quản lý về kinh tế Các nước đang phát triểnthường ở trong tình trạng nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế

Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia đều phải cố gắng phối hợp với IMF, WB

và các tổ chức quốc tế khác tiến hành chính sách điều chỉnh cơ cấu Việc điềuchỉnh này cần có một lượng vốn lớn, trong đó có vốn ODA Khi tiếp nhận vốnODA, các nước đang phát triển cũng phải thực hiện các cam kết như cải cáchnền kinh tế thành kinh tế thị trường,cải cách bộ máy hành chính, phân rõ quyền

và chức năng giữa các cơ quan quản lý Nhờ đó, bộ máy quản lý Nhà nước vềkinh tế ngày càng đổi mới, phù hợp hơn ; năng lực cán bộ quản lý được nâng caothông qua tiếp thu được kinh nghiệm từ khâu khảo sát, ý tưởng đầu tư, xây dựng

dự án, giám sát, đánh giá hiệu quả của dự án ODA Cải thiện thể chế và chínhsách kinh tế ở các nước đang phát triển chính là chìa khoá để tạo bước nhảy vọt

về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng làm giảm đói nghèo Một cơ chế quản lýtốt, một nền kinh tế vĩ mô ổn định, một Nhà nước pháp quyền và hạn chế thamnhũng sẽ dẫn tới tăng trưởng cao và giảm đói nghèo

Ngoài ra ODA còn tạo điều kiện để tăng khả năng thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) và mở rộng đầu tư trong nước ở các nước đangphát triển Nhờ có ODA mà nước nhận viện trợ sẽ giải quyết được những khókhăn, bất cập về cơ sở hạ tầng và cơ chế quản lý, chính sách Các nước đang

Trang 24

phát triển sẽ tạo ra được một môi trường thuận lợi, đảm bảo tổn phí đầu tưthấp, hiệu quả đầu tư cao, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài cũng như đầu tư

tư nhân trong nước

Cuối cùng, ODA dưới hình thức viện trợ không hoàn lại thường đi kèmtheo việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lýtiên tiến cho các nước tiếp nhận Chẳng hạn, hỗ trợ kỹ thuật là một bộ phậnlớn trong viện trợ phát triển của Nhật Bản Nó bao gồm nhiều loại hình khácnhau và gắn với các dự án về huấn luyện đào tạo chuyên môn, các chươngtrình tuyển cử chuyên gia, các dự án về cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập,các chương trình cử các đoàn khảo sát về phát triển…Dưới hình thức ODA,việc hỗ trợ đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực đã tạo điều kiện cho cácnước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại,trình độ quản lý tiên tiến, kỹ năng chuyên môn cao.Việc phát triển của mộtquốc gia có quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực Đây chính làlợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia nhận tài trợ

Nguồn vốn ODA cung cấp cho các nước đang phát triển cũng thườnggắn với việc mua các sản phẩm từ các nước viện trợ mà không hoàn toàn phùhợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước đang phát triển Các dự án

Trang 25

ODA thường có những ràng buộc về mua sắm thiết bị, máy móc theo yêu cầucủa nhà tài trợ và phải ưu tiên đấu thầu cho doanh nghiệp của nước tài trợ Vínhư các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phầntrả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tàitrợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họquá cao so với chi phí thực tế thuê chuyên gia như vậy trên thị trường laođộng thế giới).

Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặcbiệt liên quan đến nhập khẩu tối đa các sản phẩm của nước tài trợ Cụ thể lànước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA làhàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất

Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưngthông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ýcủa nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể thamgia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia

Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phảihoàn lại tăng lên Sự biến động giá cả và lãi suất trên thị trường sẽ gây ranhững thách thức và rủi ro tài chính đối với nước tiếp nhận tài trợ như gánhnặng về nợ nước ngoài trong tương lai Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãngphí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào cáclĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trìnhtiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án khiến cho hiệu quả và chất lượngcác công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếpnhận ODA vào tình trạng nợ nần

Như vậy, nguồn vốn ODA có những tác động tích cực và tiêu cực nhấtđịnh đối với các nước đang phát triển được nhận nguồn vốn này Việc sửdụng nguồn vốn này là để tận dụng những nguồn lực bên ngoài phục vụ cho

Trang 26

sự phát triển của mỗi quốc gia Nhưng sự phát triển này chỉ có được khi cómột chiến lược tiếp nhận và hoàn trả hợp lý để vừa phát huy tốt nhất nhữngtác động tích cực, vừa hạn chế đến mức tối đa các tác động tiêu cực.

1.2.3.ODA của UNFPA cho Việt Nam

Do UNFPA là một cơ quan thuộc sự quản lý của Liên Hợp Quốc nên ta

có một vài thông tin sơ lược về Liên Hợp Quốc như sau:

Liên Hợp Quốc: là một tổ chức quốc tế có mục đích duy trì hòa bình và

an ninh trên thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc vàtiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bìnhđẳng và quyền tự quyết của các dân tộc Hiện nay, Liên Hiệp Quốc có 193thành viên, bao gồm hầu hết các quốc gia có chủ quyền trên Trái Đất LiênHiệp Quốc sử dụng 6 ngôn ngữ chính thức: tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếngNga, tiếng Pháp,tiếng Tây Ban Nha và tiếng Trung

- Từ trụ sở trong lãnh phận quốc tế tại thành phố New York, Liên HiệpQuốc và các cơ quan chuyên môn của nó quyết định các vấn đề về điều hành

và luật lệ Theo hiến chương LHQ thì tổ chức này gồm 6 cơ quan chính, chủyếu gồm: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo An, Hội đồng kinh tế và xã hội, Banthư kí, Tòa án Quốc tế vì Công lý, Hội đồng Ủy trị Liên Hiệp Quốc Ngoài ra,một số tổ chức tiến hành quản lý các cơ quan của Hệ thống Liên Hiệp Quốc,

ví dụ như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên HiệpQuốc(UNICEF)

- Kinh phí hoạt động của Liên Hiệp Quốc được hình thành bằng tài trợđóng góp tự nguyện và nguồn niên liễm có kiểm soát từ các nước thành viên

1.2.3.1 Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc.

a Tổchức:

Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) bắt đầu các hoạt động từ năm 1969 vàlúc đầu được đặt dưới sự quản lý của Chương trình phát triển Liên hợp quốc

Trang 27

(UNDP) Năm 1971, Đại hội đồng Liên hợp quốc giao cho UNFPA đóng vai tròchính trong việc thúc đẩy các hoạt động về dân số và một năm sau (năm 1972), do

sự phát triển về nguồn vốn và phạm vi hoạt động, UNFPA được đặt dưới sự điềuhành trực tiếp của Đại hội đồng Liên hợp quốc, nâng vị trí của UNFPA lên ngangvới Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và UNDP

Các nước thành viên của Liên hợp quốc đều được coi là thành viên củaUNFPA Các thành viên Hội đồng chấp hành UNFPA cũng đồng thời là thànhviên Hội đồng chấp hành UNDP Hội đồng chấp hành UNDP/UNFPA chịu

sự chỉ đạo về mặt chính sách của Đại hội đồng LHQ và Uỷ ban Kinh tế Xãhội LHQ (ECOSOC)

Trụ sở chính của UNFPA đặt tại thành phố New York (Mỹ) UNFPA cóVăn phòng Đại diện tại Việt Nam, do Đại diện thường trú UNFPA đứng đầu

b Tôn chỉ và mục đích của UNFPA:

Trợ giúp các nước đang phát triển thông qua việc cung cấp các dịch vụ

có chất lượng trong sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình trên cơ sở sựlựa chọn của cá nhân; Hỗ trợ việc xây dựng các chính sách dân số phục vụphát triển bền vững

Thúc đẩy việc thực hiện chiến lược dân số do Hội nghị Quốc tế về Dân số

và Phát triển thông qua năm 1994 (ICPD) và được kiểm điểm tại Khoá họp đặcbiệt của Đại hội đồng LHQ năm 1999 (ICPD + 5) Chiến lược này không chỉhướng vào các chỉ tiêu nhân khẩu học mà còn coi trọng yêu cầu nâng cao nănglực của phụ nữ, đưa lại cho phụ nữ nhiều sự lựa chọn hơn thông qua tăng cườngtiếp cận với giáo dục, các dịch vụ sức khoẻ và các cơ hội việc làm

Thúc đẩy sự hợp tác và điều phối giữa các tổ chức Liên hợp quốc, các tổchức song phương, các Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và khuvực tư nhân trong việc giải quyết các vấn đề về dân số và phát triển, sức khoẻsinh sản, bình đẳng giới và nâng cao năng lực phụ nữ

Trang 28

c.Các hình thức hỗ trợ của UNFPA:

Hỗ trợ của UNFPA mang tính hỗ trợ kỹ thuật thông qua các chươngtrình, dự án viện trợ được xây dựng với sự phối hợp của Chính phủ nước nhậnviện trợ Từ khi bắt đầu hoạt động năm 1969, Quỹ Dân số đã cung cấp 5 tỉ đô

la viện trợ cho các nước đang phát triển Viện trợ của UNFPA tập trung vào 3lĩnh vực chương trình chính sau:

 Sức khoẻ sinh sản:

-UNFPA hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sảnbao gồm việc đưa ra nhiều lựa chọn hơn về các biện pháp kế hoạch hoá giađình và cung cấp thông tin đường sinh sản và các bệnh lây nhiễm qua đườngtình dục bao gồm HIV/AIDS;

Chiến lược Dân số và Phát triển:

-UNFPA giúp các nước xây dựng, thực hiện và đánh giá các chính sách dân

số tổng thể như là một phần trọng tâm của các chiến lược phát triển bền vững Sự

hỗ trợ này bao gồm việc thu thập, phân tích số liệu và nghiên cứu về dân số

 Thông tin-giáo dục-truyền thông:

- UNFPA thực hiện các hoạt động thông tin-giáo dục-truyền thông vềcác mục tiêu của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) và Khoáhọp đặc biệt của Đại hội đồng LHQ năm 1999 (ICPD+5) bao gồm : sức khoẻsinh sản (SKSS) và các quyền về SKSS; nâng cao địa vị của phụ nữ; tăng tuổithọ; giảm tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh; tăng cường năng lực quốc gia về xâydựng và thực hiện các chiến lược về dân số và phát triển; nâng cao nhận thức

và tăng cường các nguồn lực về dân số và phát triển

d Quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và UNFPA

-UNFPA tiến hành các hoạt động đầu tiên của tổ chức này tại Việt Nam từnăm 1977 và chính thức hỗ trợ Việt Nam từ năm 1978 với Chương trình quốc

Trang 29

gia I (1978-1983) Từ đó đến nay, hợp tác giữa Việt Nam và UNFPA tiếp tụcphát triển mạnh và phong phú thông qua các Chương trình quốc gia (CTQG)

-Chương trình quốc gia được xây dựng dựa trên các ưu tiên của Chínhphủ trong lĩnh vực dân số-kế hoạch hoá gia đình Các Chiến lược quốc gia vềDân số và Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010 được Chính phủ thông quacuối năm 2000 là cơ sở cho việc xây dựng chương trình quốc gia 6 (2001-2005) và các CTQG tiếp theo Chương trình quốc gia cũng cần phù hợp vớitôn chỉ mục đích và các ưu tiên hỗ trợ của UNFPA Nguồn vốn phân bổ choCTQG của các nước được Hội đồng chấp hành UNDP/UNFPA thông qua,hay còn gọi là con số dự kiến viện trợ (Indicative Planning Figure), dựa trêncác thông số như thu nhập quốc dân và các chỉ số liên quan đến các mục tiêucủa ICPD Chương trình quốc gia tạo ra một khuôn khổ cho việc bố trí, sắpxếp các lĩnh vực, dự án cụ thể Các chương trình quốc gia hợp tác với UNFPA từnăm 1978 đến nay gồm:

-Chương trình quốc gia CP-I (1978-1983): có tổng số vốn là 15 triệuđôla Mỹ

-Chương trình quốc gia CP-II (1984-1987): có tổng số vốn là 14 triệuđôla Mỹ

-Chương trình quốc gia CP-III (1988-1991): có tổng số vốn là 25 triệuđôla Mỹ

-Chương trình quốc gia CP-IV (1992-1996): có tổng số vốn là 36 triệuđôla Mỹ

-Chương trình quốc gia CP-V (1997-2000): có tổng số vốn là 24 triệuđôla Mỹ

-Chương trình quốc gia CP-VI (2001-2005): có tổng số vốn là 27 triệuđôla Mỹ

Trang 30

-Chương trình quốc gia CP-VII (2006 - 2010): có tổng số vốn là 28 triệuđôla Mỹ (trong đó, cam kết từ quỹ thường xuyên là 20 triệu đôla, cam kết từquỹ vận động là 8 triệu đôla)

-Chương trình hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số vàsức khỏe sinh sản giai đoạn 2011- 2020: có tổng sô vốn là 7.3 triệu USD

-Nội dung của các chương trình quốc gia hợp tác với UNFPA cũng có

sự thay đổi qua từng thời kỳ, nhất là sau Hội nghị Dân số và Phát triển tạiCai-rô năm 1994 Nếu các chương trình quốc gia trước thời điểm đó tập trungchủ yếu vào lĩnh vực kế hoạch hoá gia đình thì từ CTQG 5 (1997-2000), chấtlượng dân số và vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản trở thành những nội dungchính của CTQG 5, 6 và hiện nay là CTQG 7 (2005-2010)

-Việt Nam là thành viên Hội đồng chấp hành UNDP/UNFPA từ năm2000-2002 và là Phó Chủ tịch Hội đồng này trong 2 năm 2000 và 2001 Việc Việt Nam được trao giải thưởng dân số của Liên hợp quốc năm 1999 làmột trong những sự kiện quan trọng và có ý nghĩa nhất trong quan hệ hợp tácViệt Nam - UNFPA trong gần 30 năm qua

1.3 Nguyên tắc và quy trình quản lý, sử dụng ODA của UNFPA cho

các dự án của Việt Nam.

1.3.1 Dự án ODA

1.3.1.1 Khái niệm

Dự án ODA là một tập hợp các hoạt động ccó liên quan đến nhau nhằm đạđược một hay một số mục tiêu xác định, được thực hiện trong một thời gianxác định, có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

1.3.1.2 Đặc điểm

Một dự án ODA có 5 đặc điểm cơ bản sau :

- Toàn bộ hoặc một phần nguồn vốn thực hiện dự án ODA là do các tổchức/chính phủ nước ngoài, các tổ chức song phương tài trợ Cơ chế tài chính

Trang 31

đối với việc sử dụng ODA là cấp phát, cho vay (toàn bộ hoặc một phần) từNgân sách nhà nước Các dự án ODA thường có vốn đối ứng là khoản đónggóp từ phía Việt Nam bằng hiện vật và giá trị để chuẩn bị và thực hiện cácchương trình, dự án ( có thể dưới dạng tiền được cấp từ ngân sách nhà nướchoặc nhân lực, cơ sở vật chất) Nguồn vốn là điểm khác biệt lớn nhất giữa dự

án ODA và dự án khác ; kèm theo nó là các yêu cầu, quy định, cơ sở pháp lý

về quản lý và thực hiện của nhà đầu tư và nhà tài trợ

- Dự án ODA có tính chất tạm thời, có nghĩa là các dự án ODA cókhởi điểm và kết thúc xác định Dự án có thể được thực hiện trong một thờigian ngắn hoặc kéo dài trong nhiều năm Về mặt nhân sự, dự án không cónhân sự cố định, họ chỉ gắn bó với dự án trong một thời gian nhất định Đó cóthể là các cán bộ được tuyển chọn hoặc kiêm nhiệm từ các tổ chức khác tùytheo phân công Khi kết thúc dự án, các cán bộ có thể phải chuyển sang, tìmkiếm một công việc hoặc hợp đồng mới

- Tính duy nhất của dự án Mặc dù có những mục đích tương tự nhưngmỗi dự án ODA phải đối mặt với những vấn đề về nguồn lực, môi trường vàkhó khăn khác nhau Hơn thế nữa,ở mức độ nhất định, mỗi dự án đều đem lạimột kết quả duy nhất, không giống hoàn toàn với bất kỳ dự án nào

- Tính giới hạn Mỗi dự án ODA được thực hiện với một nguồn lựcnhất định, kinh phí nhất định và thời gian nhất định Bởi vậy các nhà quản lýcần phải liên tục cân bằng về nhu cầu, tài chính, nguồn lực và lịch trình đểhoàn thành dự án, đảm bảo yêu cầu của nhà đầu tư và nhà tài trợ

- Tính phát triển và chi tiết hóa liên tục : đặ tính này đi kèm với tínhtạm thời và duy nhất của một dự án ODA Trong suốt quá trình thực hiện dự

án, ở mỗi bước thực hiện cần có sự phát triển liên tục được cụ thể hóa vớimức độ cao hơn, kỹ lưỡng, công phu hơn

1.3.2 Nguyên tắc quản lý và thực hiện chương trình và dự án do LHQ hỗ

Trang 32

trợ Việt Nam.

Dựa theo các nội dung cơ bản của ‘Sáng kiến Một LHQ’ tại Việt Nam,Chính phủ Việt Nam cùng các tổ chức LHQ thống nhất các nguyên tắc chínhcho việc quản lý và thực hiện chương trình và dự án do LHQ hỗ trợ cho ViệtNam như sau:

- Đảm bảo việc thực hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với các thỏathuận đa phương mà Việt Nam là một bên tham gia ký kết trong khuôn khổLHQ

- Cơ sở pháp lý cho các hoạt động hợp tác phát triển giữa Chính phủ

và các tổ chức LHQ tại Việt Nam là các Hiệp định hợp tác cơ bản được ký kếtgiữa Chính phủ và các tổ chức này Do vậy, trong quá trình áp dụng Quy chếnày nếu có những nội dung không được quy định hoặc khác biệt giữa Quy chếvới Hiệp định hợp tác cơ bản gây ra tranh chấp giữa các bên liên quan màkhông giải quyết được bằng hợp tác và tham vấn ở các cấp, thì các nội dung

đó sẽ thực hiện theo quy định của Hiệp định hợp tác cơ bản

- Các tổ chức LHQ là đối tác phát triển tin cậy của Chính phủ Tôn

chỉ xuyên suốt của các tổ chức LHQ là hỗ trợ Chính phủ thực hiện các camkết quốc tế của mình, thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và cáccông ước về quyền con người của LHQ mà Việt Nam cam kết tham gia Các

tổ chức LHQ thực hiện tôn chỉ của mình bằng cách cung cấp trợ giúp kỹ thuậtcho Việt Nam, qua đó góp phần tăng cường năng lực và thực hiện các mụctiêu phát triển quốc gia

- Áp dụng và thực hiện tối đa hệ thống các quy định và quy trình thủtục quốc gia về quản lý và sử dụng ODA Trong trường hợp không khả thi,các tổ chức LHQ tương ứng sẽ hỗ trợ Chính phủ để thống nhất xây dựng và

áp dụng các quy định và thủ tục mang tính hài hòa Nếu cả hai trường hợp

Trang 33

trên đều không thực hiện được, các quy định của tổ chức LHQ tài trợ sẽ được

áp dụng

- Cơ quan thực hiện chương trình, dự án chịu trách nhiệm toàn bộ trướccấp có thẩm quyền của Chính phủ Việt Nam và tổ chức LHQ về sự thành côngcủa dự án theo mục tiêu đề ra Cơ quan đồng thực hiện dự án chịu trách nhiệmtrước Cơ quan thực hiện về kết quả thực hiện phần việc của mình

- HPPMG cũng được áp dụng đối với việc quản lý chương trình chung(joint programmes) do các tổ chức LHQ hỗ trợ trừ trường hợp nhà tài trợ cóyêu cầu khác và Chính phủ Việt Nam thống nhất áp dụng yêu cầu đó

- HPPMG trước hết được áp dụng cho các dự án do UNDP, UNFPA

và UNICEF là thành viên của Ban chấp hành (ExCom) các tổ chức thuộc hệthống phát triển của Liên hợp quốc (UNDG) hỗ trợ Dự kiến các tổ chức khácthuộc hệ thống LHQ tại Việt Nam sẽ áp dụng HPPMG theo lộ trình sẽ đượcthống nhất với các cơ quan hữu quan của Chính phủ Việt Nam

- Đảm bảo tính minh bạch của tất cả các quy trình, thủ tục, hoạt động

sử dụng kinh phí của Kế hoạch chung và các CTQG đã được Chính phủ ViệtNam và Hội đồng điều hành của từng tổ chức của LHQ thông qua, bao gồmviệc chia sẻ thông tin có liên quan giữa các đối tác

- Các tổ chức LHQ chịu trách nhiệm giải trình trước Hội đồng chấphành của mình đối với việc tuân thủ đầy đủ các luật lệ, quy định và thủ tụccủa tổ chức tương ứng Do vậy, khi trực tiếp thực hiện các hoạt động dự án,Văn phòng của tổ chức LHQ (UNCO) sẽ áp dụng các luật lệ, quy định và thủtục của tổ chức mình và các quy định có liên quan trong HPPMG

1.3.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án ODA

Có 5 tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng ODA của dự án đó là:

a Tính hiệu suất

Trang 34

Hiệu suất đó lường mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và các sản phẩm đầu

ra cả đinh tính và định lượng Đây là thuật ngữ kinh tế cho biết dự án ODA sửdụng các nguồn lực với chi phí thấp nhất có thể ssạt được các kết quả mongmuốn Khi đánh giá hoặc theo dõi hiệu suất, cần xem xét các vấn đề sau:

- Chi phí cho các hoạt động có hiệu suất hay không

- Các kết quả và mục tiêu đạt đúng tiến độ đề ra hay không

- Đầu tư có được thực hiện hiệu suất nhất so với các phương án kháchay không

b Tính hiệu quả

Hiệu quả là thước đo mức độ đạt được các kết quả và mục tiêu của mộthoạt động phát triển Khi đánh giá hiệu quả của một dự án ODA, cần xem xétcác vấn đề sau:

- Mức độ các kết quả và mục tiêu đạt được hoặc có khả năng đạt được

- Những nhân tố chính tác động đến việc đạt được hay không đạtđược các kết quả và mục tiêu

c Tính tác động

Tác động đề cập đến những thay đổi tích cực và tiêu cực do hoạt độngphát triển tạo ra, trực tiếp hoặc gián tiếp, chủ ý hay không chủ ý Khái niệmnày lien quan đến các tác động và hiệu ứng chính sách bắt nguồn từ hoạt độngdựa trên các chỉ số xã hội, kinh tế, môi trường và cácchỉ số phát triểnkhác.Khi xem xét tác động phải dựa trên các kết quả đạt được do vô tình hayhữu ý và phải tính đến tác động tích cực hay tiêu cực của các nhân tố bênngoài như thay đổi các điều kiện thương mại và tài chính Khi đánh giá tácđộng của một dự án ODA cần xem xét các vấn đề sau:

- Những gì đã xảy ra như một kết quả của dự án ODA

- Hoạt động đầu tư đã tạo ra những sự khác biệt thực sự nào đối vớingười thụ hưởng

Trang 35

- Có bao nhiêu người chịu tác động của hoạt động đầu tư.

d Mức độ phù hợp

Mức độ phù hợp đề cập đến mức độ thích hợp của dự án ODA đối với các ưutiên, chính sách của nhóm đối tượng, quốc gia đối với các nhà tài trợ Khiđánh giá mức độ phù hợp cần xem xét các vấn đề sau:

- Mục tiêu và mục đích của dự án ODA có còn phù hợp hay không vàmức độ phù hợp đến đâu Có nhất quán với các mục đích tổng thể và đạt đượccác mục tiêu của dự án không

- Các hoạt động và các sản phẩm đầu ra của dự án ODA có nhất quánđối với các tác động và hiệu ứng dự kiến hay không

e Tính bền vững

Tính bền vững được xác định liệu các lợi ích của dự án ODA có khảnăng tiếp tục được duy trì sau khi nguồn vốn của nhà tài trợ cho hoạt độngđầu tư đã kết thúc Dự án ODA cần đảm bảo tính bền vững về môi trường vàtài chính Khi đánh giá tính bền vững của một dự án ODA cần xem xét cácvấn đề sau:

- Mức độ duy trì các lợi ích của dự án ODA sau khi kết thúc

- Những nhân tố chính nào tác động đến việc đạt được hay không đạtđược tính bền vững của dự án

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ODA CỦA LIÊN HỢP QUỐC TẠI DỰ

ÁN “HỖ TRỢ BỘ Y TẾ THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC DÂN

SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020”

2.1.Giới thiệu dự án

2.1.1 Thông tin cơ bản về dự án:

- Tên dự án: Hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sứckhỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011- 2020

- Cơ quan hỗ trợ của Liên Hợp Quốc: UNFPA

- Cơ quan chủ quản: cơ quan đối tác cấp quốc gia: Bộ y tế

- Địa chỉ liên lạc: 138A, Giảng Võ, Hà Nội

- Số điện thoại/Fax: 0462732273

- Đơn vị đề xuất dự án: Vụ Kế hoạch- Tài Chính, Bộ Y tế

- Chủ dự án: Vụ Kế hoạch- Tài Chính, Bộ Y tế

- Các cơ quan đồng thực hiện: Tổng cục dân số- kế hoạch hóa gia đình,

Vụ sức khỏe bà mẹ- trẻ em, Vụ khoa học và đào tạo, Vụ tổ chức cán bộ, Cụcquản lý khám chữa bệnh, Cục quản lý dược

- Thời gian thực hiện dự án: 2011- 2020

- Địa điểm thực hiện dự án: cấp quốc gia

- Tổng vốn dự án: 9.100.000 USD và các hiện vật là cơ sở vật chất kỹthuật, nhà cửa, thiết bị…Cụ thể:

 Vốn ODA: 7.300.000 USD

Trong đó:

Ngân sách cấp phát hành chính sự nghiệp 100% tổng vốn ODA

Cho vay lại không áp dụng

 Vốn đối ứng: 39.600.000.000 VND, tương đương 1.800.000 USD.Trong đó:

Trang 37

Hiện vật: cơ sở vật chất, nhà cửa, thiết bị, sẵn có.

Tiền mặt: 39.600.000.000 VND

Nguồn vốn đối ứng : từ nguồn chi sự nghiệp hàng năm của Bộ Y tế

- Hình thức cấp vốn: ODA không hoàn lại

2.1.2 Bối cảnh và sự cần thiết của dự án:

Chính sách dân số của Việt Nam trong suốt 50 năm qua đã góp phầnđáng kể tạo ra sự chuyển biến về nhân khẩu học Việt Nam bước vào giaiđoạn cuối của quá độ dân số với mức sinh và tỉ lệ tử vong có xu hướng giảmdần, mức sinh thấp dưới mức thay thế và tuổi thọ trung bình không ngừngtăng từ đó dẫn đến tình trạng già hóa dân số

So với năm 2002, vào năm 2009 tỷ số chết sản phụ đã giảm từ165/100000 xuống còn 69/100000 trẻ sinh sống Tỷ lệ các cặp vợ chồng sửdụng biện pháp tránh thai tăng từ 76,9% lên 78,2% năm 2010, trong đó tỷ lệ

sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả tăng từ 64,41% lên 68,6%

Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được công tác dân số và sứckhỏe sinh sản còn nhiều vướng mắc và bất cập

 về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục và HIV:

- Tử vong mẹ giảm nhưng có chênh lệch khá lớn giữa tử vong và bệnh tật,giữa các vùng miền, đặc biệt là dân tộc thiểu số Tình trạng sinh sản k có cán bộ

đỡ đẻ và cán bộ thăm khám sau khi sinh ở các dân tộc miền núi còn thấp, cơ sởvật chất phục vụ cho cấp cứu sản khoa cơ bản và toàn diện còn rất thấp

- Chăm sóc sức khỏe vị thành niên chưa được quan tâm đúng mức, tỷ lệquan hệ tình dục trước hôn nhân không an toàn đang tăng lên Hiểu biết vềsức khỏe sinh sản của vị thành niên còn thấp, tỷ lệ nạo phá thai cao Hiện naychưa có 1 chương trình nào về sức khỏe sinh sản tập trung cho vị thành niên

- Sàng lọc phát hiện ung thư cổ tử cung chưa được phát hiện rộng rãi

Trang 38

- Tỉ lệ nhiểm khuẩn đường sinh sản và nhiễm khuẩn lây truyền quađường tình dục tăng cao nhưng ở Việt Nam vẫn chưa có một biện pháp nào đểthống kê và phòng chống được.

- Trong những năm qua chưa có 1 khung an ninh sức khỏe toàn diện nào,đặc biệt là các loại thuốc thiết yếu và các sản phẩm dược cho cấp cứu sản khoa,thuốc cho các bệnh về HIV vẫn chưa được đầu tư đúng mức

 Về dân số và phát triển:

- Có một số hạn chế về khung pháp lý và các nghiên cứu khoa học,hoàn thiện chính sách bởi phát sinh vấn đề dân số mới Việt Nam cần phảigiải quyết vấn đề già hóa dân số, mất cân bằng giới tính,

- Xu hướng thích con trai, xu hướng giảm sinh và tiếp cận công nghệlựa chọn giới tính là 3 yếu tố làm gia tăng tốc độ mất cân bằng giới tính ởViệt Nam Việc này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe sinh sản của ngườiphụ nữ, đến bé gái không mong muốn được sinh ra và ảnh hưởng tiêu cực đếntrật tự, an ninh xã hội, gây khó khăn trong việc xây dựng gia đình của các thế

hệ tương lai

- Tỷ lệ người già sống cô đơn có nguy cơ tăng cao nên cần phải có cácloại hình chăm sóc, nuôi dưỡng người già phù hợp

 Các vấn đề về bạo lực giới:

- Theo kết quả nghiên cứu cho thấy năm 2010 có đến 58% tỷ lệ phụ nữ

đã trải qua 1 trong 3 hình thức bạo lực thể chất, tình dục, tinh thần Điều nàycho thấy cần thiết phải thiết lập một gói chăm sóc dịch vụ toàn diện về phòngchống bạo lực giới, trong đó dịch vụ sàng lọc, tư vấn, chăm sóc y tế và điềutrị cho nạn nhân cần được chú trọng

 Các vấn đề liên quan đến hệ thống y tế:

- Nguồn nhân lực về y tế ở các huyện xã, thôn bản miền núi còn thiếu

về cả số lượng và chất lượng

Trang 39

- Việc áp dụng mô hình quản lý chất lượng y tế ở cơ sở còn nhỏ lẻ, chưatập trung

- Nội dung truyền thông y tế chưa theo kịp được tiến độ phát triển của xãhội, chưa thật phù hợp với đặc điểm của từng vùng miền

2.1.3.Mục tiêu và các chỉ số của dự án:

a) Mục tiêu tổng quát:

Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duytrì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số vàphân bố dân số, giúp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp cụng nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước

b) Các mục tiêu cụ thể:

- Mục tiêu 1: Phấn đấu tốc độ tăng dân số ở mức khoảng 1% vào năm

2015 và ổn định ở mức khoảng 1% vào năm 2020; chỉ số phát triển con người(HDI) ở mức trung bình cao của thế giới vào năm 2020

- Mục tiêu 2: Nâng cao sức khỏe, giảm bệnh, tật và tử vong ở trẻ em, thuhẹp đáng kể sự khác biệt về các chỉ số sức khỏe trẻ em giữa các vùng, miền.+ Chỉ tiêu 1: Giảm tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi xuống 19,3‰ vào năm

2015 và xuống 16‰ vào năm 2020

+ Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh đạt 15%vào năm 2015 và 50% vào năm 2020

+ Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ trẻ sơ sinh được sàng lọc đạt 30% vào năm 2015 và80% vào năm 2020

- Mục tiêu 3: Nâng cao sức khỏe bà mẹ, thu hẹp đáng kể sự khác biệt vềcác chỉ sồ sức khỏe bà mẹ giữa các vựng, miền

+ Chỉ tiêu: Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản xuống58,3/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2015 và xuống dưới 52/100.000 vào năm 2020

Trang 40

- Mục tiêu 4: Giảm mạnh tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh, đặc biệt tậptrung vào các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tình trạng mất cânbằng nghiêm trọng về tỷ số giới tính khi sinh, tiến tới đưa tỷ số này trở lạimức 105 - 106 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái khoảng năm 2025.

+ Chỉ tiêu: Tỷ số giới tính khi sinh dưới mức 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ

sơ sinh gái vào năm 2015 và dưới mức 115/100 vào năm 2020

- Mục tiêu 5: Duy trì mức sinh thấp hợp lý, đáp ứng đầy đủ nhu cầu kếhoạch hóa gia đình của người dân, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinhsản có chất lượng

+ Chỉ tiêu 1: Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một cặp vợ chồng trong

độ tuổi sinh đẻ) giảm xuống 1,9 con vào năm 2015 và 1,8 con vào năm 2020

+ Chỉ tiêu 2: Quy mô dân số không vượt quá 93 triệu người vào năm

2015 và 98 triệu người vào năm 2020

- Mục tiêu 6: Giảm tỷ lệ phá thai, cơ bản loại trừ phá thai không an toàn.+ Chỉ tiêu: Giảm tỷ lệ phá thai xuống 27/100 trẻ đẻ sống vào năm 2015

và xuống dưới 25/100 vào năm 2020

- Mục tiêu 7: Giảm nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn lâytruyền qua đường tình dục; chủ động phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớmung thư đường sinh sản, chú trọng sàng lọc ung thư đường sinh sản ở phụ nữtrong độ tuổi 30 - 54 tuổi

+ Chỉ tiêu 1: Giảm 15% số trường hợp nhiễm khuẩn đường sinh sản vàonăm 2015 và 30% vào năm 2020

+ Chỉ tiêu 2: Giảm 10% số trường hợp nhiễm khuẩn lây truyền quađường tình dục vào năm 2015 và 20% vào năm 2020

+ Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi 30 - 54 tuổi được sàng lọc ung thư

cổ tử cung đạt 20% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020

Ngày đăng: 14/04/2016, 18:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Học viện tài chính (2008), Giáo trình Tài chính quốc tế, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính quốc tế
Tác giả: Học viện tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2008
1. Đề cương chi tiết dự án Hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản ở Việt Namg giai đoạn 2011- 2020 Khác
2. Sổ tay hướng dấn của dự án án Hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản ở Việt Namg giai đoạn 2011- 2020 Khác
3. Báo cáo giải ngân của dự án Hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản ở Việt Namg giai đoạn 2011- 2020 Khác
4. Quy chế chung quản lý chương trình, dự án hợp tác Việt Nam- Liên Hợp Quốc Khác
5. Bộ Tài Chính (2013), Nghị định 38/2013/NĐ-CP ban hành về quản lý, sử dụng nguồn viện trợ chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w