1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

124 695 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 874 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái cho học sinh trung học cơ sở thành phố Sơn La, luận văn có mục tiêu đề xuất các biện pháp giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1. Khách thể: Hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc cho học sinh THCS 3.2. Đối tượng: Các biện pháp giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái cho học sinh THCS 4. Giả thuyết khoa học Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở Thành phố Sơn La thì sẽ giúp: Nâng cao chất lượng xây dựng chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp của nhà trường. Tăng cường vốn hiểu biết về văn hóa truyền thống có từ lâu đời của địa phương. Góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Thái, quảng bá du lịch địa phương khi có dịp. Hướng các em HS tới những hoạt động tập thể bổ ích, tránh xa các tệ nạn xã hội. Tăng thêm nhiều hứng thú đối với hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh góp phần nâng cao tinh thần trong học tập tại nhà trường. Phát huy tinh thần đoàn kết tập thể, khả năng làm việc nhóm của học sinh. Góp phần bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, nét đặc sắc văn hóa của dân tộc mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong kho tàng văn hóa của nhân loại, những di sản văn hóa phi vật thể

dễ có nguy cơ bị xóa bỏ trong tâm thức của con người và biến mất theo dòngthời gian trong đời sống xã hội Do đó việc gìn giữ và phát huy những giá trịvăn hóa phi vật thể là vô cùng quan trọng và cần có sự quan tâm đặc biệt củacác nhà quản lý, các lĩnh vực trong đó có giáo dục Ở nước ta, việc bảo tồn vàphát triển những giá trị độc đáo của văn hóa, bao gồm bản sắc văn hóa là mộtnhu cầu trong thời đại mới

Đối với văn hóa dân tộc Thái cũng vậy, đó được coi là di sản văn hóaquý báu của các cộng đồng dân tộc Việt Nam cần thiết phải được giữ gìn vàphát triển Hơn nữa văn hóa dân tộc Thái còn hàm chứa đậm nét bản chấtthẩm mĩ và sáng tạo của quần chúng nhân dân, được tồn tại cùng với lịch sửtiến hóa của các cộng đồng các dân tộc Việt Nam Công tác sưu tầm, nghiêncứu, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống dân tộc Thái sẽ góp phần pháttriển, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc

Ở tỉnh Sơn La nói chung và thành phố Sơn La nói riêng số lượng tỉ lệngười dân tộc Thái so với các dân tộc khác chiếm tỉ lệ rất lớn Do đó, việc giữgìn và bảo tồn văn hóa dân tộc Thái là rất cần thiết và phải đưa vào chươngtrình giáo dục học sinh Tuy nhiên, chương trình giáo dục học sinh sử dụngchung cho học sinh toàn quốc nên nội dung này chưa được đưa vào trong giờchính khóa vì không đủ thời lượng Để khắc phục những hạn chế đó cần đưanội dung văn hóa truyền thống dân tộc Thái vào chương trình hoạt động ngoàigiờ lên lớp cho học sinh

Việc tổ chức chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường trunghọc cơ sở (THCS) là một nội dung nhằm tổ chức cho HS rèn luyện những kĩnăng hoạt động làm cân bằng các nội dung học tập Hiện nay việc tổ chức các

Trang 2

hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) đã được các cơ quan banngành, các trường học quan tâm hơn Tuy nhiên không phải chương trình hoạtđộng ngoài giờ lên lớp nào cũng đem lại hiệu quả như mong muốn, cácchương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp trong trường THCS nhiều khi chỉmang tính hình thức, tham gia theo phong trào chung, các tiết mục văn nghệchưa được đầu tư, tổ chức sơ sài không sâu sắc dẫn đến hiệu quả chương trìnhchưa cao, chưa gây được nhiều hứng thú cho học sinh.

Việc giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái ở Thành phố Sơn Lachưa thực sự được quan tâm nhất là trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp ởtrường THCS trên địa bàn thành phố Hơn nữa bản thân tôi là một người dânsinh ra và lớn lên trên mảnh đất Tây Bắc tôi đã được tiếp cận nhiều với conngười, văn hóa dân tộc Thái Tôi cảm thấy đó là những nét văn hóa đặc trưng,phong phú và cần được giữ gìn và phát huy Với tất cả những điều nêu trên,

tôi chọn đề tài “Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt

động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn giáo dục văn hóatruyền thống dân tộc Thái cho học sinh trung học cơ sở thành phố Sơn La,luận văn có mục tiêu đề xuất các biện pháp giáo dục văn hóa truyền thống dântộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể: Hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc cho

học sinh THCS

3.2 Đối tượng: Các biện pháp giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc

Thái cho học sinh THCS

4 Giả thuyết khoa học

Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoàigiờ lên lớp cho học sinh THCS ở Thành phố Sơn La thì sẽ giúp:

Trang 3

- Nâng cao chất lượng xây dựng chương trình hoạt động ngoài giờ lênlớp của nhà trường.

- Tăng cường vốn hiểu biết về văn hóa truyền thống có từ lâu đời củađịa phương

- Góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộcThái, quảng bá du lịch địa phương khi có dịp

- Hướng các em HS tới những hoạt động tập thể bổ ích, tránh xa các tệnạn xã hội Tăng thêm nhiều hứng thú đối với hoạt động ngoài giờ lên lớp củahọc sinh góp phần nâng cao tinh thần trong học tập tại nhà trường Phát huytinh thần đoàn kết tập thể, khả năng làm việc nhóm của học sinh

- Góp phần bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, nét đặc sắc vănhóa của dân tộc mình

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc

cho học sinh THCS thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

5.2 Xác định thực trạng giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái

thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường THCS trên địa bàn TPSơn La

5.3 Đề xuất và thử nghiệm các biện pháp giáo dục văn hóa truyền

thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCSThành phố Sơn La

6 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn thành phố Sơn La với 14 trườngTHCS được phân bố trên 12 xã phường, với 8540 học sinh Tỉ lệ học sinhTHCS và học sinh dân tộc Thái tỉ lệ cao Tuy nhiên tôi chọn 4 trường mangnhững nét đặc trưng:

− Trường THCS Hua La: thuộc xã Hua La có tỉ lệ 100% học sinh làdân tộc Thái và là xã khó khăn trên địa bàn thành phố Sơn La

Trang 4

− Trường THCS Chiềng An: thuộc phường Chiềng An có tỉ lệ 70% họcsinh dân tộc Thái.

− Trường THCS Chiềng Cọ: thuộc xã Chiềng Cọ có tỉ lệ 50% học sinhdân tộc Thái

− Trường THCS Lê Quý Đôn: thuộc phường Chiềng Lề có tỉ lệ 30%học sinh dân tộc Thái

Chọn mẫu khảo sát trên tỉ lệ học sinh khoảng 5% của các trường

Số GV của 4 trường: giáo viên chủ nhiệm, giáo viên tổng phụ trách,giáo viên chuyên môn âm nhạc, mỹ thuật, thể dục

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.

Nhóm phương pháp này được sử dụng để xây dựng cơ sở lý luận cho

đề tài, xác định khái niệm công cụ có liên quan

Phương pháp cụ thể là: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóacác tài liệu trên sách báo, tạp chí, luận văn, luận án, internet, để kế thừanhững kết quả nghiên cứu và xây dựng hướng nghiên cứu của đề tài

7.2 Nhóm hương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Quan sát các hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh và giáo viênnhằm thu thập thông tin về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức của các

HĐ ngoài giờ lên lớp của HS được tiến hành thông qua các phiếu quan sát

- Phương pháp điều tra giáo dục.

Thông qua hệ thống Phiếu điều tra được xây dựng khoa học tiến hànhđiều tra đối với học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý nhằm khảo sát thực trạnggiáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái cho học sinh trung học cơ sở trênđịa bàn TP Sơn La thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục.

Trên cơ sở nghiên cứu phân tích các sản phẩm hoạt động ngoài giờ lênlớp để có cái nhìn toàn diện hơn

Trang 5

- Phương pháp đàm thoại

Tiến hành đàm thoại với học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý thông quacác câu hỏi liên quan tới nội dung đề tài, nhằm thu thập thêm thông tin vềthực trạng giáo dục văn hóa truyền thống thông qua hoạt động ngoài giờ lênlớp cho học sinh THCS hiện nay

- Phương pháp thử nghiệm sư phạm.

Chúng tôi tiến hành thử nghiệm sư phạm thông qua quá trình thửnghiệm nhằm đánh giá tính khả thi của biện pháp đã đề xuất

Thực nghiệm dàn dựng: Tôi trực tiếp cùng với nghệ nhân dàn dựng tiếtmục múa cho các em HS, hướng dẫn các động tác cơ bản sau đó ghép lạithành tiết mục hoàn chỉnh với nhạc và phục trang phù hợp

Thực nghiệm thiết kế chương trình HĐNGLL tìm hiểu về văn hóa múadân gian dân tộc Thái

- Phương pháp chuyên gia

Trên cơ sở tham khảo ý kiến chuyên gia, lập phiếu xin ý kiến đánh giá củachuyên gia nhằm xây dựng được hệ thống bảng hỏi, hoàn chỉnh các tiêu chí đánhgiá, chất lượng chương trình thử nghiệm, hướng nghiên cứu của đề tài

7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ:

Trên cơ sở những kết quả số liệu đã thu được từ phương pháp điều tragiáo dục, sử dụng phương pháp thống kê toán học với sự hỗ trợ của phầnmềm SPSS để lượng hóa những thông tin đã thu được

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì luận văngồm có 3 chương chính:

Chương I: Cơ sở lí luận của giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS

Chương II: Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

và giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL cho học sinh THCS trên địa bàn Thành phố Sơn La

Chương III: Các biện pháp giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp.

Trang 6

xã hội vì vậy xã hội càng phát triển thì đòi hỏi càng cao đối với chất lượnggiáo dục.

Hiện nay do yêu cầu của xã hội ngày càng cao, đòi hỏi giáo dục phảiđào tạo ra những con người năng động, có khả năng thích ứng tốt, nhạy bén,đáp ứng được bốn trụ cột chính của giáo dục thế kỉ XXI: học để biết, học đểlàm, học để chung sống, học để khẳng định mình

Một yêu cầu đặt ra cho giáo dục là phải tổ chức hướng dẫn học sinhhoạt động để các em có được những năng lực thực tiễn, học phải đi đôi vớihành Tuy nhiên không phải bây giờ tư tưởng đó mới xuất hiện mà đó là sự kếthừa tư tưởng của các nhà giáo dục vĩ đại của nhân loại

Trang 7

tam bách, thụ chi dĩ chính bất phạt, sứ vu tứ phương bất năng chuyên đối”(Đọc kinh thư 300 thiên, nhưng giao chính quyền cho không làm được, đi sứcác nước không đối đáp được, tuy có học nhiều cũng chẳng ích gì) Như vậyngay từ thời giáo dục chủ yếu đào tạo ra những con người “tầm chương chíchcú” thì vấn đề “học” để “hành” cũng đã được đề cập [17]

- J.A Cômenxki (1592 – 1670), là cha đẻ của nền giáo dục cận đại, đã

có những cống hiến quý báu cho sự nghiệp giáo dục Cômenxki đã nêu lênnhiều nguyên tắc, phương pháp sư phạm mới của việc dạy học nhằm phát huytính tích cực chủ động của học sinh, phản đối phương pháp giảng dạy kinhviện giáo điều Ông đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc trực quan, ông đã phântích tỉ mỉ những yêu cầu cơ bản đối với nguyên tắc dạy và học khác như: bảođảm tính hệ thống, liên tục, vừa sức, củng cố tri thức, ôn tập, khêu gợi hứngthú cho học sinh Ông chú trọng đến việc bồi dưỡng cho học sinh những tri

thức phong phú phục vụ cho nhu cầu thực tế [17]

- Petxtalôzi (1746 - 1827) - một nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ và ngườiđương thời gọi ông là “ông thầy của các ông thầy” Bằng con đường giáo dụcthông qua thực nghiệm ông muốn cứu vớt trẻ em mồ côi, con nhà nghèo.Nhân dân dựng tượng ông và ghi dòng chữ: “tất cả cho người khác, không gìcho mình” Ông dựng ra “trại mới” giúp trẻ vừa học văn hóa, vừa lao độngngoài lớp, ngoài trường học Ông cho rằng hoạt động ngoài lớp không nhữngtạo ra của cải vật chất mà còn là con đường giáo dục toàn diện cho học sinh.Ông quan niệm giáo dục gia đình đi trước, giáo dục trường học là sự tiếp nối

“giờ nào sinh ra trẻ em thì giờ đó bắt đầu sự giáo dục” [17]

- A.X Macarenco (1888 -1939), nhà giáo dục thực tiễn Xô Viết bằngkinh nghiệm gần 20 năm với trại lao động Goocki và công xã Deczinxkinhằm cải tạo trẻ em phạm pháp, ông đã nêu và làm sang rõ quan điểm giáodục bằng lao động và trong lao động của mình Thành công của cuộc thựcnghiệm này chính là ở chỗ, Macarenco không chỉ giáo dục trẻ em phạm pháptrong trường mà ông đã gắn liền giáo dục trong lao động, trong sinh hoạt tập

Trang 8

thể và hoạt động xã hội đồng thời chứng minh chân lý giáo dục XHCN; giáodục trong sinh hoạt xã hội; giáo dục trong tập thể, bằng tập thể; giáo dục tronglao động, giáo dục bằng tiền đồ viễn cảnh [17]

- Vào những năm 60 - 70, đất nước Liên xô đang trên con đường xâydựng CNXH, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng cộngsản và Nhà nước quan tâm Các nghiên cứu về lí luận giáo dục nói chung vàHĐGDNGLL nói riêng được đẩy mạnh Trong cuốn sách “Giáo dục học” tập

3, tác giả T.A.Ilina đã nêu: “Công tác giáo dục ngoại khoá bổ sung và làm sâuthêm công tác giáo dục nội khoá, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy

đủ tài năng và năng lực của trẻ em, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng củahọc sinh đối với một hoạt động nào đó; đó là một hình thức tổ chức giải trícủa học sinh và là cơ sở để tổ chức việc thực tập về hành vi đạo đức, để xâydựng kinh nghiệm của hành vi này”.[26]

Như vậy, từ luận điểm của C.Mác về bản chất xã hội của con nguời là

“tổng hòa các mối quan hệ xã hội” đến luận điểm về sự kết hợp giáo dục, xâydựng môi trường giáo dục… là một chặng đường dài hơn nửa thể kỷ XX vàđây là cơ sở lý luận cơ bản của việc tổ chức HĐGDNGLL hiện nay Ngàynay, cùng với xu thế hội nhập và sự phát triển của các quốc gia… giáo dụccủa các nước đang có những định hướng cơ bản nhằm tạo một thế hệ năngđộng, sáng tạo, thích nghi với hoàn cảnh sống luôn thay đổi, trong đó kĩ năngsống là thành tố cốt lõi của chất lượng giáo dục Điều này được thể hiện trongkhẳng định của UNSECO là:

- Giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời

- Nhà trường mở, giáo dục mở

- Tăng cường giáo dục cộng đồng, giáo dục gia đình

- Giáo dục cho mọi nguời

- Giáo dục hướng tới bốn tru cột: học để biết, học để làm, học để chungsống, học để tự khẳng định mình

Trang 9

Các nghiên cứu của các nhà giáo dục trên đều nhấn mạnh tầm quantrọng của giáo dục ngoại khoá, ngoài giờ lên lớp Để học sinh có thể pháttriển toàn diện, các thầy cô giáo không phải chỉ cần quan tâm đến việc cungcấp tri thức trong các giờ học trên lớp mà còn phải coi trọng các hoạt động tậpthể, vui chơi giải trí, thể dục thể thao, văn nghệ.

1.1.2 Ở Việt Nam

Nghiên cứu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) đãthu hút được sự tham gia của các nhà nghiên cứu, của các nhà giáo trong cảnước từ những năm 80 của thế kỉ 20 trở lại đây Chúng ta có thể chia làm haigiai đoạn sau:

a Giai đoạn từ năm 1979 trở về trước: điểm nổi bật ở giai đoạn này là

khái niệm “HĐGDNGLL” chưa được định hình và chưa có tên gọi như ngàynay Tuy nhiên, nội hàm cơ bản của khái niệm đã được Hồ Chủ Tịch đề cậptrong “Thư gửi cho học sinh” nhân ngày khai trường tháng 9/1945, Ngườiviết “…nhưng các cháu, ngoài giờ học ở trường, cũng nên tham gia vào cácHội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡmột vài việc nhẹ nhàng trong cuộc giữ gìn đất nước” [21] Đối với Bác, từ khicòn là thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học ở trường Dục Thanh PhanThiết(1909 - 1910) Bác đã thực hiện HĐGDNGLL để lại nhiều ấn tượng sâusắc, tốt đẹp trong học sinh “Bác thường đưa học sinh đi ngoại khóa ở dọc bờsông hay bờ biển Những lần đi chơi như vậy bác thường giảng về địa lý, lịch

sử đất nước cho học sinh nghe

Trong “Thư gửi hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc”, HồChủ Tịch lại nhắc tới một khía cạnh khác của nội hàm khái niệm khi Người viết:

“trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm chochúng học Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học” [21]

Tháng 7/1950 Hội đồng chính phủ thông qua đề án cải cách giáo dụclần thứ nhất Mục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn này là giáo dụcbồi dưỡng thế hệ trẻ thành người lao động tương lai, trung thành với chế độ

Trang 10

dân chủ nhân dân có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ nhân dân Với quanđiểm đào tạo thế hệ trẻ có đủ phẩm chất và năng lực đã thể hiện quan điểmgiáo dục toàn diện của nhà nước ta.

Tháng 5/1956, Chính phủ thông qua đề án cải cách giáo dục lần thứ hai

và giao cho Bộ giáo dục triển khai đề án đó Mục tiêu giáo dục được xác địnhlà: Đào tạo bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người phát triển về mọi mặt,những công dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cótài, có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng chủ ngĩa

xã hội ở nước ta, đồng thời thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập

Tác giả Hà Nhật Thăng, sau khi lấy ý kiến chuyên gia và hội thảo ở cácđịa phương đã dự thảo chương trình khung “Tổ chức HĐGDNGLL ở trườngTHCS” vào năm 1998

Qua nghiên cứu của nhóm cán bộ gồm Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn ĐăngThìn, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ về HĐGDNGLL ở trường THCS, nhóm

đã điểm qua về vị trí, nhiệm vụ của HĐGDNGLL, các hình thức và conđường chủ yếu thực hiện HĐGDNGLL ở trường THCS Đặc biệt đã giớithiệu quy trình chung của việc tổ chức HĐGDNGLL và một số hình thức hoạtđộng mẫu

Trang 11

Qua tài liệu bồi dưỡng giáo viên về HĐGDNGLL, nhóm tác giảNguyễn Dục Quang, Trần Quốc Thành, Lê Thanh Sử đã nêu được mục tiêu,nội dung và phương pháp tổ chức HĐGDNGLL.

Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu nghiên cứu cơ bản về HĐGDNGLL, nghiên cứu thực nghiệm, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm xâydựng quy trình tổ chức và đổi mới nội dung phương pháp HĐGDNGLL.Nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, luận án khác đã đề cập đến việc dàndựng chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp theo những cách nhìn khácnhau tùy theo những yêu cầu về nội dung và đề tài cũng như địa điểm cụ thể

mà họ đã tìm hiểu và nghiên cứu Mặc dù vậy vẫn chưa thấy ai đi sâu quantâm đến chi tiết là sẽ đưa một nội dung cụ thể vào chương trình ngoài giờ lênlớp một cách bài bản và có hệ thống

Tất cả những nghiên cứu trên sẽ là tài liệu hữu ích cho chúng tôi trongquá trình thực hiện luận văn này

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1 Giáo dục

Cuộc sống con người là một dòng hoạt động Con người là chủ thể củacác hoạt động thay thế nhau Trong đó hoạt động là quá trình con người thựchiện các quan hệ của mình với thế giới tự nhiên, xã hội, người khác và bản

thân Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là nhân tố quyết định

trực tiếp sự hình thành và phát triển nhân cách Hoạt động của con người làhoạt động có mục đích, mang tính xã hội, được thực hiện bằng những thao tácnhất định với công cụ nhất định Thông qua hai quá trình đối tượng hóa vàchủ thể hóa trong hoạt động mà nhân cách được bộc lộ và hình thành

Sự hình thành và phát triển tâm lí, ý thức, nhân cách gắn chặt với hoạtđộng của con người Muốn hình thành và phát triển nhân cách con người phảitham gia vào các dạng hoạt động khác nhau phải gia nhập vào các mối quan

hệ xã hội bởi sự tham gia của các cá nhân vào các hoạt động toàn diện là điềukiện cho sự phát triển toàn diện của con người với tư cách là một nhân cách.Hoạt động giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triểnnhân cách

Trang 12

Theo Giáo dục học đại cương giáo dục được hiểu theo hai nghĩa:

- Giáo dục (nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục

lí tưởng, động cơ, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành

vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ cáchoạt động và giao lưu

- Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổchức, có kế hoạch, có nội dung, và bằng phương pháp khoa học của nhà giáodục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thànhnhân cách cho họ [25]

Như vậy, hoạt động giáo dục (HĐGD) là hoạt động do người lớn tổ

chức theo kế hoạch, chương trình, điều hành và chịu trách nhiệm HĐGD cơbản của xã hội được thực hiện bởi nhà trường và trong nhà trường

Theo điều lệ trường trung học, HĐGD trong trường trung học bao gồm:

- HĐGD trên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn họcbắt buộc và tự chọn theo quy định trong chương trình giáo dục THCS, THPT

do Bộ GD&ĐT ban hành

- hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) do nhà trườngphối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tổ chức bao gồm hoạtđộng ngoại khóa về khoa học, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, nhằmphát triển năng lực toàn diện của học sinh và bồi dưỡng học sinh có năngkhiếu, các hoạt động vui chơi, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa, các hoạtđộng giáo dục môi trường … phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổihọc sinh HĐGD trên lớp và HĐGDNGLL là 2 bộ phận hữu cơ hợp thành mộtthể thống nhất trong quá trình giáo dục học sinh nhằm đạt được mục tiêu giáodục ở trường trung học [3]

Để HĐGD có hiệu quả, việc tổ chức các HĐGD trong nhà trường phảichú ý những vấn đề cơ bản sau:

- Cơ cấu các HĐGD trong nhà trường cần được xác định theo mục tiêugiáo dục mà trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và nhu cầu phát triển conngười nhưng không thể đi quá xa so với các hoạt động cơ bản của học sinh.Xét cho cùng HĐGD chỉ là một trong rất nhiều hoạt động của học sinh

Trang 13

- Các HĐGD tạo môi trường cho hoạt động của học sinh và chínhnhững hoạt động của học sinh quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cánhân Vì thế các HĐGD phải dựa vào hoạt động của học sinh, mặt khác hoạtđộng của học sinh phải được định hướng bởi các HĐGD Hoạt động giáo dục

và hoạt động của học sinh không thể thay thế cho nhau Do vậy tất cả cácHĐGD với các hình thức khác nhau trong và ngoài nhà trường cần phải hoạchđịnh sao cho phát huy tốt nhất những hoạt động cơ bản của học sinh tập trung

ưu tiên và đẩy mạnh những hoạt động này

- Các HĐGD thường hướng vào các mặt giáo dục tương ứng Vì vậytrong nhà trường có bao nhiêu mặt giáo dục thì sẽ có bấy nhiêu HĐGD Tuynhiên các HĐGD này đều dựa trên nền tảng dạy học, có hoạt động dạy học thìtất yếu có HĐGD

1.2.2 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Các nghiên cứu ở nước ngoài đã đưa ra các kết quả của hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp với tên gọi là “công tác ngoài lớp học” và đã đưa ra mục

đích, vai trò của HĐGDNGLL Các tác giả cũng đã khẳng định vai trò của

giáo viên chủ nhiệm trong tổ chức các HĐGDNGLL, trong việc phối hợp các

tổ chức Đoàn, Đội để tổ chức các hoạt động này

Như vậy, các tác giả đã đưa ra nhiều ý kiến xung quanh vấn đề tổ chứcHĐGDNGLL cho học sinh T.A.Ilina trong Giáo dục học, tập 3 đã đề cập

nhiều đến công tác này như sau: “Công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học

được gọi là công tác ngoại khóa Nó bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục nội khóa Nó là phương tiện để phát hiện đầy đủ tài năng và năng lực của các em, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của học sinh đối với một hoạt động nào đó.” [28]

* Ở Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức đưaHĐGDNGLL vào kế hoạch dạy học và giáo dục của nhà trường với một vị tríquan trọng như một môn học, có chương trình và sách giáo khoa Lần đầu

Trang 14

tiên, chương trình chính thức HĐGDNGLL ở trường THCS được ban hànhtheo quyết định số 03/2002/ QĐ – BGD&ĐT ngày 24/01/2002 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo Gần đây Bộ đã cho ban hành chương trình Giáo dụcphổ thông HĐGDNGLL từ lớp 6 đến lớp 12 (ban hành theo số 16/2006/ QĐ –

Bộ GD&ĐT ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Về khái niệm HĐGDNGLL, các tác giả đưa ra các ý kiến:

- Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt, HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục

thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học, kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa nghệ thuật, thẩm

mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí… để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách [12]

- Trong chương trình THCS về HĐGDNGLL, các tác giả đưa ra các

khái niệm: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ

chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy và học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết và thực tiễn, tại nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh [2]

Như vậy, HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động văn hoá, bằng hìnhthức sinh hoạt hấp dẫn với nội dung phong phú góp phần củng cố, khắc sâukiến thức, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng tình cảm, xây dựng ý thức độc lập,tinh thần tự chủ, phát triển tình đoàn kết của HS HĐGDNGLL còn là mộthoạt động phù hợp với nhu cầu của các em như: vui chơi, giải trí, văn hoá vănnghệ, thể dục thể thao…

Từ các ý kiến đã nêu trên, chúng tôi cho rằng: HĐGDNGLL là các

hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học ở trên lớp HĐGDNGLL

là sự tiếp nối, bổ sung, hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn ở HS.

Trang 15

1.2.3 Văn hóa truyền thống dân tộc Thái

Văn hóa

Trong nghiên cứu về văn hóa nhiều học giả cho rằng văn hóa (hiểu theonghĩa rộng) nói chung bao gồm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần Theonghĩa rộng nhất của nó, văn hóa bao gồm những sáng tạo về vật chất và tinhthần của con người trong quá trình cải tạo hiện thực khách quan Những trithức, các kết quả của hoạt động cải tạo xã hội và tự nhiên là thành phần củavăn hóa Văn hóa không tự hạn chế vào một số biểu hiện của đời sống tinhthần Nó là toàn bộ cuộc sống; cả vật chất, tinh thần của từng cộng đồngngười Như vậy, có thể khẳng định rằng: tất cả những gì không phải là thiênnhiên đều là văn hóa

Văn hóa tinh thần cũng được hiểu theo hai nghĩa cơ bản rộng vàhẹp Theo nghĩa rộng, văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị, nhữnghoạt động tinh thần của con người Taylor cho rằng “Văn hóa hiểu theonghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng,nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng và tập quánkhác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”.Tiêu biểu cho cách hiểu này là A.K Vlêđốp: “Việc coi văn hóa tinh thầnchỉ là tổng hợp những giá trị tinh thần là phiến diện Văn hóa tinh thầnnhư là sự hoạt động sáng tạo tích cực của con người, như là sự sản xuấtcất giữ và sử dụng những giá trị tinh thần”

Theo nghĩa hẹp, các tác giả cho rằng văn hóa tinh thần là những dấu ấntinh thần, những giá trị tinh thần đặc thù của một quốc gia dân tộc nhằm phânbiệt dân tộc này với dân tộc khác Tiêu biểu cho cách hiểu này là khái niệmvăn hóa của UNESCO được thừa nhận rộng rãi: Văn hóa là “tổng thể sốngđộng các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng nhưđang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấuthành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống

mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [18, 5]

Trang 16

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần docon người, loài người sáng tạo, tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn trongsuốt quá trình lịch sử của mình Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên

và văn hóa là sản phẩm đặc sắc nhất của con người Có thể nói văn hóa là sựhóa thân của đời sống, nó thấm vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người, nóxuyên suốt cơ thể xã hội, nó biểu hiện trình độ người, trình độ xã hội, vănminh quốc gia, văn minh nhân loại

Truyền thống

Truyền thống vốn là một từ Hán - Việt Theo Từ điển Hán - Việt của ĐàoDuy Anh "Truyền thống: đời nọ truyền xuống đời kia" Trong từ điển tiếng Việtphổ thông truyền thống được định nghĩa là "thói quen hình thành từ lâu đời tronglối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác"

Theo quan niệm của các nước phương Tây, Truyền thống (Tradition)

có nghĩa là "giao", "chuyển giao" Bách khoa thư Pháp định nghĩa "Truyềnthống là tất cả những gì người ta biết và thực hành bằng sự chuyển giao từ thế

hệ này đến thế hệ khác, thường là truyền miệng, hay bằng sự bảo tồn và noitheo những tập quán, những cách ứng xử, những mẫu hình và tấm gương"

Như vậy, có thể hiểu "truyền thống" như là một hệ thống các tính cách,các thế ứng xử của một cộng đồng, được hình thành trong lịch sử, trong môitrường sinh thái và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, trường tồn nhưngkhông vĩnh cửu, có thể được định chế hóa bằng luật hay bằng lệ (phong tụctập quán) và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Có thể gọi là sự

di truyền văn hóa bên cạnh sự di truyền sinh vật về thể xác - để đảm bảo tínhthống nhất của một cộng đồng trong lịch sử Mọi sự phát triển đều xuất phát

từ truyền thống, con người từ khi sinh ra trong một gia đình, một xã hội đã bịchi phối bởi truyền thống và các hiện tượng văn hóa cũng vậy Tuy nhiên mọivấn đề đều có tính hai mặt, truyền thống cũng vậy Truyền thống nào cũng cótruyền thống phù hợp và truyền thống không phù hợp Truyền thống có thểthúc đẩy sự phát triển nhưng mặt khác nó cũng có thể cản trở sự phát triển

Trang 17

Truyền thống mang tính cộng đồng Truyền thống được chuyên chở, lưu giữtrong ký ức và từ đó điều khiển hành động của cá nhân Nhiều khi nó trởthành vô thức, con người cứ hành động theo các quy định Truyền thống cóthể thay đổi, nhưng trong sự ổn định.

Văn hóa truyền thống

Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hóatruyền thống đặc trưng riêng của mình Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinhtất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nênbản sắc riêng của một dân tộc Giá trị văn hóa truyền thống đó được truyền lạicho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước

Một khái niệm Vậy, văn hóa truyền thống là gì? Theo tác giả Trần VănGiàu: “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mớiđược gọi là giá trị Thậm chí không phải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị;

mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sựhướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mớimang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống” Theo tác giả TrầnNgọc Thêm cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định(những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy

và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hóa dưới dạngnhững phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…” [32, 26]

khác: “Nền văn hóa được truyền lại được gọi là truyền thống văn hóa.Như vậy, nó phản ánh được những thành tựu con người, tích tập được trongquá trình tìm hiểu, thực hiện và truyền bá ý nghĩa sâu lắng nhất của cuộcsống Đó chính là truyền thống theo nghĩa hài hòa của nó như là một hiệnthân của trí tuệ” [7, 19]

Theo tác giả Trần Nguyên Việt thì: “truyền thống là một bộ phận tươngđối ổn định của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hìnhthành và phát triển của các nền văn hóa tinh thần và vật chất, là một giá trịnhất định đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nóichung” [7, 113]

Trang 18

Dân tộc Thái

Việt Nam là một nước giàu truyền thống văn hóa với 54 tộc người cùngchung sống Tính đa dạng về văn hóa tộc người thể hiện trên bình diện vănhóa các nhóm ngôn ngữ - tộc người, và văn hóa các nhóm địa phương củamỗi tộc người Như Việt - Mường, Tày - Thái, Môn - Khơme, Nam Đảo,Mông - Dao, Tạng - Miến, Hoa Mỗi tộc người lại gồm nhiều nhóm địaphương với sắc thái văn hóa phong phú Cái sắc thái văn hóa tộc người ấy đankết, thâm nhập, tiếp biến giữa nhân tố bản địa và ngoại lai, tạo nên bức tranh

đa sắc của văn hóa Việt Nam

Ở Việt Nam dân tộc Thái có trên 1 triệu người (đông thứ 3 sau ngườiKinh và người Tày) sinh sống chủ yếu tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn

La, Hòa Bình, Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hóa và sinh sống rải rác ở một sốtỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên do di dịch cư Dân tộc Thái còn cónhững tên gọi khác là Táy và có các nhóm Táy Đăm, Táy Khao, Táy Mười,Táy Thanh, Hàng Tổng, Pu Thay, Thổ Đà Bắc Tiếng Thái thuộc hệ ngôn ngữTày – Thái

Văn hóa truyền thống dân tộc Thái

Văn hóa truyền thống dân tộc Thái rất đa dạng và phong phú Trongphạm vi nghiên cứu vấn đề đưa giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Tháitrong nhà trường phổ thông, chỉ tập trung vào những giá trị truyền thống vănhóa tinh thần tiêu biểu, cốt lõi của dân tộc Thái, phù hợp với lứa tuổi, cấp họccủa các em, đồng thời nhằm phát huy vai trò của truyền thống đối với xâydựng nhân cách văn hóa vị thành niên trong cuộc sống và yêu cầu phát triểncủa đất nước hiện nay

1.2.4 Một số đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS

Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em bao gồm những em từ11,12 tuổi đến 14,15 tuổi, đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 trường THCS.Trên thực tế đa số các em học sinh THCS đã bước vào lứa tuổi thiếu niện nênngười ta gọi lứa tuổi này là lứa tuổi thiếu niên

Trang 19

Thời kì này có một vị trí hết sức quan trọng và đặc biệt, vì đặc biệt làthời kì chuyển từ cuối nhi đồng sang lứa tuổi thiếu niên Sự chuyển tiếp nàytạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù về mọi mặt ở thời kỳ này,được biểu hiện như sau:

* Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lí ở lứa tuổi THCS.

Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đều về mặt cơ thể.Tầm vóc của các em lớn lên trông thấy Sự phát triển của hệ xương mà chủyếu là sự phát triển của các xương tay, xương chân rất nhanh nhưng ươngngón tay, ngón chân phát triển chậm Vì thế ở lứa tuổi này các em không mậpbéo, mà cao, gầy và thiếu cân đối, các em có vẻ long ngóng, vụng về củamình mà cố gắng che giấu nó bằng điệu bộ không tự nhiên, cầu kì, tỏ ra mạnhbạo, can đảm để người khác không chú ý tới vẻ bề ngoài của mình

Sự phát triển của hệ tim mạch cũng không cân đối; tuyến nội tiết bắt đầuhoạt động hoạt động mạnh, thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh

Do đó, các em dễ xúc động, dễ bực tức Hệ thần kinh của lứa tuổi này còn chưa

có khả năng chịu kích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài dễ gây cho các em tìnhtrạng bị ức chế hay ngược lại, xảy ra tình trạng bị kích động mạnh

Tóm lại, sự thay đổi về thể chất của lứa tuổi này đã làm cho các em cónhững đặc điểm nhân cách khác nhau với các em ở lứa tuổi trước Lứa tuổinày là lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao có, có nhiều dự địnhlớn lao

* Sự phát triển trí tuệ của học sinh THCS.

Lứa tuổi này có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giáccác sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kếhoạch, có trình tự hoàn thiện hơn

Hoạt động tư duy của lứa tuổi này có những biến đổi cơ bản Do nộidung các môn học phong phú, đa dạng, phức tạp đòi hỏi tính chất mới mẻ củaviệc lĩnh hội tri thức, đòi hỏi phải dựa vào tư duy độc lập, khả năng khái quáthóa, trừu tượng hóa, so sánh, phán đoán mới rút ra được kết luận, mới hiểuđược tài liệu học Vì thế tư duy của học sinh THCS đã phát triển ở mức cao

Trang 20

* Hoạt động giao tiếp của lứa tuổi THCS.

Lứa tuổi này có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốnngười lớn quan hệ với nó một cách bình đẳng như người lớn, không muốnngười lớn coi nó như trẻ con trước đây nữa

Sự nảy sinh ở lứa tuổi này là cảm giác về sự trưởng thành và nhu cầuđược người lớn thừa nhận nó là người lớn đã đứa đến vấn đề quyền hạn củangười lớn và các em trong quan hệ với nhau

Như vậy việc chuyển tiếp từ kiểu quan hệ giữa người lớn và trẻ em,sang kiểu quan hệ mới về chất (đặc thù cho sự giao tiếp học sinh THCS vớingười lớn), tạo điều kiện phát triển mức độ trưởng thành ở lứa tuổi này

Sự giao tiếp giữa các em đã vượt qua ngoài phạm vi nhà trường, màcòn mở rộng trong những hứng thú mới, những việc làm mới, những quan hệmới trong đời sống của các em, các em có nhu cầu lớn trong giao tiếp với bạn

bè, Vì vậy, ở lứa tuổi này hoạt động giao tiếp với bạn bè đã trở thành hoạtđộng chủ đạo đứng sau hoạt động học tập Do đó, giáo dục đạo đức cho họcsinh ở lứa tuổi này cần lưu ý đến những nhóm bạn bè mà học sinh tham gia

Tóm lại, sự giao tiếp ở lứa tuổi học sinh THCS là một hoạt động đặcbiệt Nhờ hoạt động giao tiếp mà các em nhận thức được người khác và bảnthân mifnhh; đồng thời qua đó làm phát triển một số kĩ năng như năng sosánh, phân tích, khái quát hành vi của bản thân và của bạn, làm phong phúthêm những biểu tượng về nhân cách của bạn và của bản thân

* Sự phát triển nhân cách của học sinh THCS.

Sự hình thành tự ý thức

Ở lứa tuổi này, đặc điểm quan trọng về tự ý thức của lứa tuổi này là sựmâu thuẫn giữa nhu cầu tìm hiểu bản thân với kĩ năng chưa đầy đủ để phântích đúng đắn sự biểu lộ của nhân cách

Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuôi này là cuộcsống tập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, mối quan

Trang 21

hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự tự đánh giá của mình, nhưng

là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em,nguyện vọng tìm kiếm một vị trí trong hệ thống những mối quan hệ xã hộiđứng đắn đối với các em, cũng đồng thời giúp cho sự phát triển về mặt tự ýthức của các em

Sự hình thành tình cảm

Tình cảm của lứa tuổi này có một đặc điểm nổi bật là dễ xúc động, dễ

bị kích động, tình cảm còn mang tính chất bồng bột Nhiều khi do hoạt độngthần kinh không cân bằng, thường quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ứcchế mà khiến các em không thể kiềm chế nổi

Ở lứa tuổi này, đã bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đến bản thân, đếnnhững phẩm chất nhân cách của mình Ở các em đã biểu hiện nhu cầu tự đánhgiá, nhu cầu so sánh mình với người khác Các em đã bắt đầu xem xét mình,vạch cho mình một nhân cách tương lai, muốn hiểu biết về mặt mạnh, mặtyếu trong nhân cách của mình

Sự bắt đầu hình thành và phát triển tự ý thức đã gây ra nhiều ấntượng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tâm lý của lứa tuổi này, đến hoạt độnghọc tập, đến sự hình thành mối quan hệ qua lại mọi người Sự tự ts thứccủa lứa tuổi này bắt đầu từ sự nhận thức hành vi của mình Lúc đầu các

em tự nhận thức được những hành vi riêng lẻ, sau đó là toàn bộ hành vicủa mình Cuối cùng là các em nhận thức về những phẩm chất đạo đức,tính cách và khả năng của mình

Tóm lại, học sinh THCS là lứa tuổi đang hình thành nhân cách, lứa tuổirất thích hoạt động nhưng nhận thức và khả năng còn hạn chế Đây là yếu tốchi phối việc giáo dục Đạo đức cho học sinh THCS Xét cho cùng, kết quảgiáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào việctiếp nhận của đối tượng giáo dục Dù chủ thể giáo dục có tích cực đến đâu màđối tượng giáo dục không tiếp nhận thì quá trình giáo dục không có hiệu quả

Trang 22

1.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS

1.3.1 Khái niệm HĐGD ngoài giờ lên lớp ở trường THCS.

HĐGDNGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục ở nhà trường phổthông nói chung và trường THCS nói riêng Đó là những hoạt động được tổchức ngoài giờ học các môn văn hóa trên lớp, HĐGDNGLL là sự tiếp nốihoạt động dạy học trên lớp và là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạonên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần hình thành tìnhcảm, niềm tin đúng đắn ở học sinh HĐGDNGLL góp phần quan trọng vào sựhình thành và phát triển nhân cách cho các em

1.3.2 Vai trò của HĐGD ngoài giờ lên lớp đối với giáo dục nhân cách học sinh THCS

HĐGDNGLL là điều kiện tốt nhất để học sinh phát huy vai trò chủ thể

và tính tích cực, chủ động của các em trong quá trình học tập và rèn luyện.HĐGDNGLL vừa củng cố, bổ sung, mở rộng kiến thức đã học, vừa phát triểncác kĩ năng sống cơ bản cho học sinh để phù hợp với yêu cầu, mục tiêu củagiáo dục và đòi hỏi của xã hội Mặt khác HĐGDNGLL còn thu hút và pháthuy tiềm năng của các lực lượng giáo dục, góp phần quan trọng trong côngviệc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường

Với vị trí và vai trò như vậy, HĐGDNGLL thực sự là một bộ phậnhữu cơ của hệ thống hoạt động giáo dục ở trường THCS, HĐGDNGLLcùng với hoạt động dạy học trên lớp là một quá tr ình gắn bó thống nhấtnhằm thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học Dưới sự cố vấn, giúp đỡcủa giáo viên, học sinh cùng nhau tổ chức các hoạt động tập thể khácnhau trong đời sống hàng ngày ở nhà trường, ngoài xã hội Từ đó giúphình thành những kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử có văn hóa, giúp cho việchình thành và phát triển nhân cách ở các em

Trang 23

1.3.3 Mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS.

Mục tiêu của HĐGDNGLL ở trường THCS nhằm:

Củng cố và khắc sâu những kiến thức của các môn học; mở rộng vànâng cao hiểu biết cho học sinh về các lĩnh vực của đời sống xã hội; làmphong phú them vốn tri thức; kinh nghiệm hoạt động tập thể của học sinh

Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi THCSnhư: kĩ năng giao tiếp ứng xử có văn hóa; kĩ năng tổ chức quản lí và tham giacác hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể của hoạt động; kĩ năng tự kiểmtra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, củng cố, phát triển các hành vi, thóiquen tốt trong học tập, lao động và công tác xã hội

Bồi dưỡng thái độ tự giác, tích cực tham gia các hoạt động tập thể và hoạtđộng xã hội; hình thành tình cảm, niềm tin trong cuộc sống, với quê hương đấtnước, có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng tự nhiên và xã hội

Như vậy, HĐGDNGLL phải nhằm đạt được ba mục tiêu trên, sao chohọc sinh thực sự trở thành chủ thể tích cực, sáng tạo, hướng tới việc phát huy

và phát triển tiềm năng của các em

1.3.4 Nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS

Để đạt được chất lượng và hiệu quả giáo dục mong muốn, nhà trường

cần phải tuân thủ một số nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên

lớp sau đây:

Nguyên tắc về tính mục đích, tính kế hoạch

- Tính mục đích: Bất cứ hoạt động giáo dục nào cũng phải đạt được

những mục đích nhất định, tuy nhiên thực tiễn giáo dục trong nhà trường chothấy, mục tiêu giáo dục của các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thường

bị che lấp bởi những tiêu chí mang tính thi đua, phong trào như nhà trường sẽ

có giải vàng về điền kinh trong Hội khỏe Phù đổng cấp tỉnh, giải thi tìm hiểuLuật giao thông đường bộ…Vì vậy, nhà trường phải xác định mục đích củahoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho cả năm học, từng học kì, từng hoạt

động; trong đó cần định hướng tính đa dạng của mục tiêu giáo dục nhằm thực

hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.

Trang 24

- Tính kế hoạch: kế hoạch sẽ định hướng và giúp cho việc tổ chức hoạt

động có chất lượng và hiệu quả Tính kế hoạch của hoạt động giáo dục ngoàigiờ lên lớp sẽ đảm bảo tính ổn định tương đối, tính hệ thống và tính hướngđích, không gây sự hỗn loạn và tùy tiện trong tổ chức các hoạt động của nhàtrường Trên cơ sở kế hoạch, nhà trường chủ động định hướng cách thức tổchức, dự tính các nguồn lực (con người, kinh phí, cơ sở vật chất, thời gian),nội dung, hình thức cũng như qui mô hoạt động; sự chuẩn bị kế hoạch giáodục chu đáo sẽ đem lại chất lượng, hiệu quả giáo dục mà nhà trường và xã hộimong muốn

Nguyên tắc về tính tự nguyện, tự giác tham gia hoạt động

- Nếu học sinh bắt buộc phải học tập các môn học trên lớp thì các em

có quyền lựa chọn tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp mà các

em ưa thích

Nguyên tắc này đảm bảo học sinh có quyền lựa chọn tham gia các hoạtđộng phù hợp với khả năng, hứng thú, sức khỏe và điều kiện cụ thể của bảnthân mỗi em; chỉ có như vậy, nhà trường – nhà giáo dục mới tạo được sựhứng thú, tự giác và tích cực tham gia hoạt động, phát huy được thiên hướng,khả năng của mỗi học sinh, trên cơ sở đó giúp nhà trường và gia đình hướngnghiệp học sinh phù hợp nhất

- Nguyên tắc này đòi hỏi nhà trường – các nhà giáo dục phải tổ chứcđược nhiều

hoạt động phong phú, đa dạng; tổ chức và duy trì được nhiều nhómhoạt động với các chủ đề các khác nhau như các câu lạc bộ bộ môn, các độithể thao, đội văn nghệ…; các hoạt động giao lưu kết bạn trong và ngoài nhàtrường, hoạt động tham quan du lịch kết hợp học tập, các hoạt động văn nghệ,thể thao, lao động công ích, từ thiện xã hội…Chỉ khi nhà trường tổ chức đượcnhiều hoạt động phong phú, đa dạng thì học sinh mới có cơ hội được lựa chọntham gia loại hình hoạt động mà mình ưa thích, khi đó nguyên tắc đảm bảotính tự giác, tự nguyện tham gia hoạt động của học sinh mới trở thành hiệnthực Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dụctrong nhà trường

Trang 25

Nguyên tắc tính đến đặc điểm lứa tuổi và tính cá biệt của học sinh

Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh, mỗi lứatuổi có những đặc điểm tâm sinh lí khác nhau, cá biệt có một số ít học sinh cónhững biểu hiện khác biệt trong quá trình phát triển Nhà trường – giáo viênphải hiểu những nét đặc trưng của sự phát triển này để tổ chức hoạt động cónội dung và hình thức đáp ứng nhu cầu và phù hợp với khả năng của từng lứatuổi học sinh Vì vậy, giáo viên cần thường xuyên theo dõi học sinh, phát hiệnnhững nét mới, những khả năng mới được hình thành ở các em để kịp thời đềxuất và điều chỉnh nội dung và hình thức hoạt động cho phù hợp với sự pháttriển của các em trong từng giai đoạn của năm học, của cấp học

Nguyên tắc kết hợp sự lãnh đạo sư phạm của thầy với tính tích cực, độc lập và sáng tạo của học sinh

- Tính tích cực, độc lập và sáng tạo được coi là những tiêu chí đánh giákhả năng tham gia hoạt động của học sinh, trình độ tự quản các hoạt động tậpthể của các em Đặc biệt, đối với học sinh THCS, THPT thì nguyên tắc nàyphải được quán triệt trong quá trình tổ chức hoạt động cho học sinh, phảiđược thể hiện từ bước chuẩn bị hoạt động, đến bước tiến hành hoạt động chođến đánh giá kết quả hoạt động Trong mỗi bước, học sinh phải thực sự pháthuy khả năng của mình, được bày tỏ ý kiến của mình cũng như những sángkiến nhằm giúp cho chính hoạt động của tập thể đạt hiệu quả

- Ở lứa tuổi học sinh phổ thông, các em chưa có đủ kinh nghiệm sống,kinh nghiệm tổ chức hoạt động; vì vậy, vai trò của thầy cô giáo là người địnhhướng, gợi ý, dẫn dắt, giúp đỡ các em trong quá trình tổ chức hoạt độngnhưng không làm thay họ

1.3.5 Nội dung chương trình HĐGD ngoài giờ lên lớp ở trường THCS

Ở nhà trường THCS có 3 nội dung cơ bản về HĐGDNGLL

*Giáo dục về nhận thức

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh bổ sung, củng cố vàhoàn thiện những kiến thức đã được học ở trên lớp (qua hình thức câu lạc bộ,

Trang 26

tham quan, sưu tầm, sinh hoạt chuyên đề …) Những hoạt động đó còn giúpcác em có những hiểu biết mới, mở rộng nhãn quan với thế giới xung quanh,cộng đồng xã hội.

HĐGDNGLL giúp học sinh biết vận dụng những tri thức đã học để giảiquyết các vấn đề do thực tiễn đời sống (tự nhiên, xã hội) đặt ra

HĐGDNGLL giúp học sinh hướng nhận thức, tự điều chỉnh hành viđạo đức, lối sống cho phù hợp Qua đó cũng từng bước làm giàu thêm kinhnghiệm thực tế, xã hội cho các em

HĐGDNGLL giúp học sinh định hướng chính trị, xã hội, có nhữnghiểu biết nhất định về truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, truyền thống văn hóa tốt đẹp của đất nước… đồngthời làm tăng thêm sự hiểu biết của các em về Đảng, về Bác Hồ để các emthực hiện tốt nghĩa vụ của người học sinh và người đội viên

HĐGDNGLL giúp các em có những hiểu biết tối thiểu về các vấn đề cótính thời đại như vấn đề quốc tế, hợp tác, hòa bình và hữu nghị, vấn đề bảo vệmôi trường, vấn đề dân số và kế hoạch hóa gia đình…

*Giáo dục về thái độ

Khi tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phải tạo cho họcsinh hứng thú và lòng ham muốn hoạt động Điều đó đòi hỏi nội dung, hìnhthức tổ chức và qui mô hoạt động phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, lứatuổi và nhu cầu của học sinh Thực tế, hoạt động phải mang lại lợi ích cho họcsinh để thu hút, lôi cuốn các em tự giác tham gia mới đạt hiệu quả giáo dục

Từng bước hình thành cho học sinh niềm tin vào những giá trị mà các

em phải vươn tới, đó là niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa đang đổi mới màBác Hồ và Đảng ta đã chọn, tin vào tiền đồ, tương lai của đất nước Từ đó,các em có lòng tự hào dân tộc, mong muốn làm đẹp thêm truyền thống củatrường, của lớp, của quê hương mình, mong muốn vươn lên thành con ngoan,trò giỏi, đội viên tích cực để trở thành công dân có ích cho xã hội sau này

Trang 27

Bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm đạo đức trong sáng (tình cảmthầy trò, tình cảm bạn bè, tình yêu quê hương đất nước… ) qua đó giúp các

em biết kính yêu và trân trọng cái tốt, cái đẹp, biết ghét những cái xấu, cái lỗithời không phù hợp

Bồi dưỡng, xây dựng cho học sinh lối sống và nếp sống phù hợp vớiđạo đức, pháp luật, truyền thống tốt đẹp của địa phương và của đất nước

Bồi dưỡng cho học sinh tích cực, tính năng động, sẵn sang tham gianhững hoạt động xã hội, hoạt động tập thể của trường, của lớp vì lợi íchchung, vì sự trưởng thành và tiến bộ của bản than

Góp phần giáo dục cho học sinh tinh thần đoàn kết hữu nghị với cácbạn thiếu nhi quốc tế, với các dân tộc khác trên thế giới

*Rèn luyện kĩ năng, thói quen hành vi đạo đức.

Rèn luyện cho học sinh những kĩ năng giao tiếp, ứng xử có văn hóa,những thói quen tốt trong học tập, lao động công ích và trong các hoạtđộng khác

Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng tự quản, trong đó kĩ năng tổ chức,

kĩ năng điều khiển và thực hiện một hoạt động tập thể có hiệu quả, kĩ năngnhận xét, đánh giá kết quả hoạt động

Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng giáo dục, tự điều chỉnh, kĩ năng hòanhập để thực hiện tốt các nhiệm vụ do thầy giáo, cô giáo, do nhà trường hoặctập thể lớp giao cho

Ba nhiệm vụ trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ chonhau Nhiệm vụ thứ nhất là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ thứ hai và nhiệm vụthứ ba Nhiệm vụ hai là nhiệm vụ khó khăn nhưng rất quan trọng đối với giáodục THCS Bởi lẽ, mọi thái độ cần giáo dục cho học sinh phải giáo dục ngay

từ nhỏ khi mà những xúc cảm của các em còn chưa ổn định Nhiệm vụ bađược thực hiện trên cơ sở làm tốt nhiệm vụ một, nhiệm vụ hai, đồng thời việcthực hiện tốt nhiệm vụ này có tác dụng củng cố niềm tin và tăng cường thái

độ tích cực ở học sinh

Trang 28

1.3.6 Quy trình tổ chức các HĐGDNGLL

Lựa chọn và đặt tên cho hoạt động

Mỗi chủ đề cần được tiến hành bởi nhiều hoạt động khác nhau tùythuộc vào đối tượng học sinh của từng khối lớp giáo viên cần có sự lựa chọncác hoạt động: tìm tòi, cân nhắc khi đặt tên cho hoạt động Bởi tên của hoạtđộng tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạtđộng Đồng thời tên của hoạt động cũng tạo ra được sự hấp dẫn, cuốn hút, tạo

ra được trạng thái tâm lý đầy hứng khởi của học sinh

Việc đặt tên cho hoạt động cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

- Tên phải nêu rõ chủ đề, nội dung của hạt động

- Tên phỉ ngắn gọn, rõ ràng, chính xác

- Tên phải ấn tượng, gây sự hấp dẫn đối với học sinh

- Trong thực tế có thể lấy ngay tên hoạt động đã được gợi ý trongchương trình hoặc trong sách giáo viên Tuy nhiên tùy theo điều kiện cụ thểcủa từng trường, từng lớp giáo viên có thể lựa chọn tên khác nhau ch hoạtđộng hoặc có thể lực chọn hoạt động khác ngoài hoạt động đã được gợi ý,nhưng phải sát với chủ đề hoạt động và phục vụ tốt cho việc thực hiện cácmục tiêu giáo dục

Xác định mục tiêu của hoạt động

Mỗi hoạt động được xác định đều phải hướng tới việc thực hiện mục tiêuchung của chủ đề theo từng tháng nhưng bản thân nó cũng có mục tiêu riêng

Sau khi lựa chọn và đặt tên cho hoạt động, cần xác định mục tiêu củaHĐGDNGLL Mục tiêu của HĐGDNGLL phải nhằm giáo dục toàn diện chohọc sinh cả về tri thức, kỹ năng, thái độ Tuy nhiên, mỗi một hình thức hoạtđông khác nhau có thể có lợi thế hoặc tập trung hơn trong việc thực hiện mụctiêu khác nhau Chẳng hạn hình thức giao lưu, diễn đàn, tọa đàm có nhiều khảnăng hơn trong việc hình thành thái độ, hình thức thi tìm hiểu, thảo luận cónhiều khả năng giúp được mục tiêu tri thức…

Trang 29

Mục tiêu hoạt động cần xác định một cách rõ ràng, cụ thể, có tính xácđịnh và có thể lượng hóa để dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá.

Xác định nội dung và hình thức hoạt động

Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc xácđịnh một cách đầy đủ và hợp lý nhưng nội dung và hình thức hoạt động Cầncăn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện, hoàn cảnh cụthể của từng trường, từng lớp và khả năng của học sinh để:

- Xác định nội dung phù hợp cho các hoạt động

- Liệt kê đầy đủ những nội dung của hoạt động

- Lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng: để tạo nên sự phong phú,

đa dạng hấp dẫn học sinh có thể cùng hoạt động nhưng phải có nhiều hìnhthức tổ chức hoạt động khác nhau Chúng được thực hiện đan xen hoặc trong

đó có một hình thức nào đó làm trung tâm, còn hoạt động khác là hỗ trợ Cầntránh sự trùng lặp, gây nên sự nhàm chán đối với học sinh trong quá trình tổchức các chủ đề giáo dục

Chuẩn bị hoạt động

HĐGDNGLL diễn ra ở bình diện rộng cả về không gian và thời gian,rất đa dạng về nội dung và hình thức tổ chức Cần thiết phải có sự chuẩn bịcủa giáo viên và học sinh Chính trong bước này giáo viên có điều kiện pháthuy tính chủ động và có điều hiện thực hiện đổi mới phương pháp để thựchiện có hiệu quả Muốn vậy giáo viên phải:

- Dự kiến được nội dung công việc, hình dung được tiến trình hoạt động

- Dự kiến về các phương tiện, điều kiện thiết yếu cho mỗi hoạt độngtrong từng chủ đề để có sự chuẩn bị trước như phương tiện âm thanh, nhạc cụ,đạo cụ, phục trang, ánh sáng, băng đĩa hình, tranh ảnh, máy ảnh, máycamera…

- Dự kiến phân công nhiệm vụ cho cá nhân, bộ phận, thời gian phảihoàn thành các hoạt động

Trang 30

- Bản thân giáo viên phải có biện pháp để thúc đẩy học sinh trong quátrình chuẩn bị; phối hợp các cơ quan, đơn vị, các tổ chức, cá nhân ở địaphương để có sự trợ giúp.

- Chỉ đạo học sinh thực hiện nội dung các hoạt động tiến trình đã xác định

- Phát huy vai trò tự quản của ban cán sự lớp và đoàn (giáo viên chủnhiệm đóng vai trò cố vấn)

- Phát huy vai trò tự giác, tích cực, sáng tạo của học sinh

- Đảm bảo sự phong phú về nội dung, hình thức tổ chức để hoạt độngđược đưa ra nhẹ nhàng, hấp dẫn

- Giám sát việc thực hiện, giúp đỡ học sinh kịp thời, thiết lập mốiquan hệ thân ái, đoàn kết gắn bó giữa giáo viên và học sinh với nhau

- Có những hình thức động viên, khuyến khích nhằm thúc đẩy họcsinh hoạt động, tích cự duy trì hứng thú hoạt động

- Điều chỉnh kế hoạch (nếu cần thiết) để việc thực hiện các hoạt độngđúng hướng nhằm đạt mục tiêu đề ra

Kết thúc hoạt động

Bước này cũng do học sinh tự điều khiển, với nhiều cách kết thúc khácnhau Khikết thúc bước này, giáo viên có thể dự kiến lự chọn cách kết thúcsao cho hợp lý, để lại ấn tượng tốt đẹp với học sinh, tránh sự nhàm chán và tẻnhạt Giáo viên có thể lựa chọn một số cách kết thúc như: ý kiến phát biểu củađại biểu, giáo viên, ban cố vấn công bố kết quả cuộc thi, trao giải thưởng củaban tổ chức, tiết mục văn nghệ tập thể…

Trang 31

1.4 Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái cho HS thông qua HĐGD ngoài giờ lên lớp cho học sinh ở trường THCS.

1.4.1 Khái niệm giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái cho HS thông qua HĐGD ngoài giờ lên lớp cho học sinh ở trường THCS

Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL

giúp HS nâng cao hiểu biết và các giá trị truyền thống của dân tộc cũng nhưnhững giá trị tốt đẹp của dân tộc Thái; bổ sung, củng cố, mở rộng kiến thức

đã học trên lớp; tiếp tục củng cố rèn luyện các kĩ năng cơ bản đã có từ cấpTHCS để trên cơ sở đó tiếp tục phát triển các năng lực chủ yếu; giúp HS cóthái độ đúng đắn trước những vấn đề của cuộc sống, biết giữ gìn và phát triểnnền văn hóa truyền thống dân tộc Thái

Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL

là các hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn học ở trên lớp Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL là

sự tiếp nối, bổ sung, hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn cuộc sống của học sinh, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn ở HS về văn hóa truyền thống dân tộc Thái.

1.4.2 Mục tiêu giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái cho HS thông qua HĐGD ngoài giờ lên lớp cho học sinh ở trường THCS

Giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc Thái thông qua hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp ở nhà trường THCS nhằm cung cấp cho học sinh vốnhiểu biết về văn hóa truyền thống có từ lâu đời của địa phương, góp phần bồidưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, nét đặc sắc văn hóa của dân tộcmình Giáo dục truyền thống dân tộc Thái cần đạt được mục tiêu sau:

Về kiến thức

- Học sinh hiểu biết những nét văn hóa truyền thống dân tộc Thái,biết cách gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa đó

Trang 32

- Học sinh hiểu được ý nghĩa của việc bảo về, giữ gìn và phát huynhững truyền thống văn hóa dân tộc Thái Từ đó góp phần bồi dưỡng cho họcsinh tình yêu quê hương, nét đặc sắc văn hóa của dân tộc mình.

Về kỹ năng

- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổiTHCS như: kĩ năng giao tiếp ứng xử có văn hóa; kĩ năng tổ chức quản lí vàtham gia các hoạt động tập thể nhằm góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc vănhóa truyền thống dân tộc Thái ; kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập,rèn luyện, củng cố, phát triển các hành vi, thói quen tốt trong học tập, laođộng và công tác xã hội

Về thái độ

- Hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn, tạo nhiều hứng thú đối vớihoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh góp phần nâng cao nhận thức vềtruyền thống văn hóa dân tộc Thái và tinh thần trong học tập tại nhà trường

- Hình thành ở học sinh tinh thần đoàn kết tập thể, khả năng làm việcnhóm của bản thân, có nhu cầu tự điều chỉnh, tự hoàn thiện để trở thành mộtchủ thể tích cực, năng động

1.4.3 Nội dung giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái cho HS thông qua HĐGD ngoài giờ lên lớp cho học sinh ở trường THCS.

Văn hóa truyền thống dân tộc Thái rất đa dạng và phong phú Nội dunggiáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái cho học sinh thông qua HĐ ngoàigiờ lên lớp ở bậc THCS gồm những nội dung chính sau:

Phong tục tập quán của dân tộc Thái

Người Thái có nguồn gốc từ Vân Nam (Trung Quốc), trải qua các cuộcthiên di trong lịch sử dân tộc Thái có mặt ở Việt Nam từ hàng trăm nămtrước, họ có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng cọn, bắc máng lấy

nước làm ruộng nên trong dân gian thường truyền câu ca “Xá ăn theo lửa,

Thái ăn theo nước” Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ

thống thủy lợi thích hợp được đúc kết như một thành ngữ - “mương, phai, lái,

Trang 33

lịn” (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các

cánh đồng thung lũng Họ làm ruộng cấy 1 vụ lúa nếp 2 vụ lúa tẻ Họ còn làmnương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt là bong,cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải Trong từng gia đình còn chăn nuôi giasúc, gia cầm, đan lát, trồng bong nuôi tằm để dệt vải, một số nơi còn làm đồgốm… Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm với những nét hoavăn độc đáo để sắc màu rực rỡ, bền đẹp

Người Thái sinh sống ở Việt Nam nói chung và Tây Bắc nói riêng đã từrất lâu đời, họ có truyền thống văn hóa lịch sử và đậm đà bản sắc Cư trútrong những bản mường “Bản” là một từ trong hệ ngôn ngữ Tày Thái theocách gọi của Việt Nam Nó dùng để chỉ một tổ hợp cư dân trong đó mỗi giađình bất kể dạng lớn hay nhỏ đều có một nếp nhà riêng “Bản” là đơn vị tổchức cư dân ổn định có ranh giới đất đai rõ rệt, thường được đánh dấu bởi khenúi, con đường Về mặt hình thức thì tất cả đất đai, ruộng mương rừng rú,lạch, song suối đều thuộc quyền sở hữu của toàn dân bản nhưng để phân biệtranh giới giữa các bản người ta thường chọn những con suối và khe lạch đểlàm mốc phân chia giữa bản này với bản khác

Bộ máy hành chính trên bản là “mường” Đứng đầu là “tạo mường”,

chức danh này cũng thường được truyền trong nội bộ một dòng họ quý tộc Ví

dụ ở Mường Chai, xưa kia “tạo mường” do họ Cầm giữ chức này Hiện nay

“mường” chỉ còn trong lịch sử, tuy nhiên nó vẫn còn là một đơn vị hành chính

vô cùng quan trọng và có ảnh hưởng mạnh trong tiềm thức những người già

Trong xã hội truyền thống xưa kia mỗi bản Thái có nhiều dòng họ cưtrú, có dòng họ quý tộc, có dòng họ dân thường Ví dụ bộ phận người Tháiđen ở xã Ít Ong huyện Mường La thuộc 2 bản: bản Cháng và Huô Non baogồm 8 dòng họ chính: Cầm, Lò, Lường, Vì, Cà, Quàng, Lù và Tòng Cácdòng họ sống xen kẽ với nhau trong các bản Các họ của người Thái ở đâykhông có chi họ, tên đệm của nam là Văn, của nữ là Thị

Trang 34

Trong trang phục truyền thống, nam giới mặc quần áo thổ cẩm màuchàm xanh hoặc chàm đen, nhưng vài chục năm gần đây nam giới đã chuyểnsang mặc âu phục là chủ yếu Phụ nữ Thái hiện nay vẫn gắn bó với trang phụctruyền thống: áo cỏn màu trắng, xanh hoặc đen bó sát thân với hàng khuy bạctrắng, váy dài đen quấn suông hoặc được thêu viền hoa văn ở gấu Cùng vớiváy, áo phụ nữ Thái Đen còn có chiếc khăn Piêu thêu hoa văn bằng nhiều loạichỉ màu rất sặc sỡ và đẹp Đồ trang sức của phụ nữ chủ yếu là vòng bạc,xuyến bạc đeo ở cổ và tay; hoa tai bằng bạc hoặc vàng.

Bản mường Thái thường định cư gần nguồn nước, mỗi bản có từ vàichục đến hơn trăm nóc nhà kề bên nhau, người Thái ở nhà sàn, kết cấu bằng

gỗ, với những hàng cột gỗ vuông hoặc tròn được kê đá, sàn cao, lợp lá cọhoặc ngói Mỗi nhà tuỳ theo gia cảnh mà dựng 3 gian hoặc 5 gian NgườiThái Đen làm nhà thường tạo mái hình mai rùa, trang trí trên hai đầu nóc nhàbằng khau cút theo phong tục xưa truyền lại Trong hôn nhân gia đình, hiệnvẫn còn duy trì tục ở rể, vài năm sau, khi đôi vợ chồng có con mới về nhàchồng sinh sống rồi sau đó tách hộ ra ở riêng

Về thế giới tâm linh, người Thái có quan niệm đa thần và giữ tục cúng

tổ tiên Do đời sống gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên có tục lấy nướcđêm Giao Thừa, lễ hội đón tiếng sấm năm mới và một số lễ hội cầu mùa khác.Đối với người chết, họ quan niệm là tiếp tục “sống” ở thế giới bên kia vì vậyđám ma là lễ tiễn người chết về với “mường trời” Người Thái có nhiều họ,mỗi họ có những qui định kiêng kỵ khác nhau, chẳng hạn: họ Lò kiêng không

ăn thịt chim Táng Lò, họ Quàng kiêng con hổ…

Nghệ thuật múa dân gian dân tộc Thái

- Vài nét về múa dân gian dân tộc Thái

Thái là một trong những dân tộc vốn có nền dân vũ (múa) khá phongphú Một trong những điệu múa phổ biến nhất của dân tộc này là những điệuXòe duyên dáng, dịu dàng làm say mê lòng người Từ trước tới nay múa Xòehay Xòe luôn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và đã trởthành món ăn tinh thần không thể thiếu trong những dịp lễ tết, cúng bản cúngmường của người Thái Tây Bắc

Trang 35

- Vai trò của múa xòe trong đời sống hằng ngày

Một trong những sinh hoạt văn nghệ phổ biến của người Thái là “xòevòng” Xòe vòng là hình thức múa tập thể sơ khai nhất, là nét sinh hoạt vuichơi của người Thái xưa và nay Múa xòe phổ cập ở mọi lứa tuổi: trẻ già, traigái ai cũng biết Xòe và ai cũng thích Xòe Đây là một điệu múa, một hìnhthức nghệ thuật và cũng là một tục lệ Xòe vòng được xuất hiện trong cácnghi lễ mừng xuân, được mùa, lên nhà mới, cưới xin… và ngay cả trong cáccuộc liên hoan trên nhà sàn, quanh đống lửa, khi rượu đã ngà ngà, tiếngchiêng, tiếng trống nổi lên thúc giục, thế là không ai bảo ai mọi người cùngnắm tay nhau say sưa trong nhịp bước xòe vòng Xòe vòng gắn với một sốphong tục tập quán của người Thái trắng ở Phong Thổ và các vùng cư trú củangười Thái đen Tây Bắc

Trải qua một quá trinh lao động, đấu tranh với thiên nhiên và xã hội vôcùng lâu dài và gian khổ, từ hình thức múa sơ khai đã xuất hiện các bài múabiểu diễn phong cách dân gian Thái Một loạt điệu dân vũ Thái đã xuất hiện.Những điệu múa khăn, múa nón đơn giản, điệu múa chai, múa hái rau … rađời Bước xa hơn là sự cải biên, nâng cao các dân vũ tản mạn thành các điệumúa có tính chất biểu diễn của nghệ sĩ dân gian Thái trong các đội “xòe” ởcác châu mường Đặc biệt phải thấy những thành tựu múa cải biên cảu các độixòe Mường Xo, Mường Lay và Mường Chiên, người có công dựng tiết mục

là hai nghệ sĩ dân gian nổi tiếng: Đào Văn Chựa (còn gọi là Then Chựa) vàĐiêu Chính Ngâu Với 36 điệu múa của đội xòe Mường Xo về sau đã pháttriển sang Mường Lay, Mường Chiên, các điệu múa nói chung đã được điêuluyện và trở thành vốn dân vũ rất quý của vùng Thái Trắng miền Bắc

*Múa sạp

Múa sạp là điệu múa dân gian đặc sắc của dân tộc Thái trong những dịpvui, trong lễ hội xuân, ngày nay phát triển rộng ra nhiều dân tộc khác Đạo cụcần thiết cho múa sạp phải có hai cây tre to, thẳng và dài làm sạp cái và nhiềucặp sạp con bằng tre nhỏ hay nứa (đường kính 3 đến 4cm, dài 3 đến 4m) Khi

Trang 36

múa, người ta đặt hai sạp cái để cách nhau vừa đủ để gác hai đầu các cây sạpcon, từng cây sạp con đặt song song, cách đều nhau chừng 2 gang tay tạothành dàn sạp Người múa chia ra một tốp đập sạp và một tốp múa, mỗi tốp cóthể từ vài cặp trai gái đến nhiều cặp, càng nhiều đội hình càng phong phú,sinh động

Tốp đập sạp: mỗi đôi trai gái ngồi hai đầu một cặp sạp con và gõ theonhịp 4/4, cứ ba lần gõ sạp con lên sạp cái thì một lần gõ hai sạp con vào nhautạo ra âm thanh, tiết tấu cho múa, vừa gõ vừa hát Tốp múa: lần lượt từng cặptrai gái nhảy vào dàn sạp, mỗi người cầm một chiếc khăn màu dài, khi tung lên,khi uốn lượn quanh người Động tác khi lướt nhẹ nhàng, uyển chuyển, lúc dồndập quay, nhảy, bay trên sạp; đội hình uốn lượn, quấn quýt, biến đổi ngang,dọc, chéo, tròn, tất cả đều diễn ra trên dàn sạp và phải đúng nhịp, làm sao khihai sạp con chập vào nhau thì không bị kẹp chân vào Cứ hai tốp gõ sạp vànhảy múa thay nhau trong tiếng cồng, tiếng trống nhịp nhàng, sôi động

Nghệ thuật múa dân gian Thái đã trực tiếp bắt nguồn từ cuộc sống laođộng và đấu tranh Hình ảnh cuộc sống lao động và đấu tranh được chế tácthành “ngôn ngữ múa” để rồi trở lại phục vụ cho cuộc sống Đấy là sự thànhcông của các điệu múa Thái mà các nghệ sĩ dân gian đã dựng lên Và cũngnhờ có nội dung đó mà các điệu múa Thái đã và đang được yêu thích và trởthành vốn văn hóa quý báu của cả nước

Văn hóa ẩm thực của người Thái

Một trong những đặc trưng nổi bật của dân tộc Thái là văn hóa ẩmthực Dân tộc Thái ưa cái hương vị đậm đà, giàu chất dinh dưỡng của mónnướng Món thịt trâu hoặc bò, cá, gà nướng được người Thái tẩm, ướp gia vịrất cầu kỳ Gia vị để ướp là tiêu rừng hay còn gọi là “mắc khén”, ớt, tỏi, gừng,muối Trước khi đem ướp với thịt, các gia vị cũng được nướng lên cho chín,tỏa mùi thơm Trong mâm cơm của người Thái có nhiều món ăn, mỗi mónđều có hương vị đặc trưng Các loại thịt gia súc, gia cầm, hay thuỷ sản đều cóthể nướng Thịt thái miếng, ướp gia vị, dùng xiên hoặc kẹp tre tươi đặt lên

Trang 37

than hồng; hoặc thịt băm nhỏ, bóp nhuyễn với trứng, gói lá chuối, lá dong,kẹp lại, nướng trên than đỏ hoặc vùi tro nóng; khi chín, thịt rất thơm, ănkhông ngán Món cá nướng hấp dẫn bởi hương thơm của cá, vị cay của ớt.Món “pỉnh tộp” cũng là cá nướng, nhưng thường dùng cá to như chép, trôi,trắm mổ lưng, để ráo nước, xoa một lớp muối rang nổ; tẩm ớt tươi nướng,nghiền nát, mắc khén, để cá ngấm gia vị, cứng thịt lại rồi đặt lên than hồng.

Cá chín có vị thơm hấp dẫn, dùng để uống rượu rất độc đáo Sản phẩm cáđược người Thái chế biến ra nhiều món ăn khác nhau, đặc trưng và ngon: cáhấp trong chõ gỗ, người Thái gọi là cá mọ; món “pa giảng” là cá hun khói

Do đặc thù vùng cao, người Thái thường để dành cá sấy trong bếp Khi

có khách, nhà xa chợ, chưa làm kịp món ăn thì bỏ cá ra nướng lại cho thơm,rót rượu mời khách nhâm nhi Và ở bếp, người nhà tiếp tục chế biến món ăn,tiếp từng món lên đãi khách Đây là cách giữ chân khách, thể hiện sự hiếukhách của đồng bào vùng cao

Bên cạnh các món nướng, người Thái còn có tài chế biến gia vị để ănvới các món luộc, món hấp, hương vị thơm ngon Lên Điện Biên, du khách sẽđược thưởng thức món gà “đi bộ” - gà nuôi thả trên đồi, luộc lên chấm với gia

vị chéo rất ngon, không ngấy, uống với rượu Mông pê hoặc lẩu sơ rất thú vị

Từ thịt, cá, người vùng cao còn có các món lạp, luộc, canh chua với vị ngonđặc trưng

Xôi nếp là món ăn truyền thống của dân tộc Thái Người Thái cóphương pháp đồ xôi cách thuỷ bằng chõ gỗ rất kỹ thuật Xôi chín bằng hơi,mềm, dẻo nhưng không dính tay Xôi được đựng vào ép khẩu hoặc giỏ cơmđậy kín, ủ ấm, giữ cho cơm dẻo lâu Cơm lam là đặc sản của dân tộc Tháithường được sử dụng vào dịp lễ, tết hay đãi khách Mùa nào thức nấy, ngườiThái đãi khách bằng sản vật, như: măng đắng, măng ngọt, rau cải ngồng, raudớn chấm với gia vị chéo, đậm đà vị cay của ớt, riềng, mặn của muối rang,hương thơm của rau mang đến hương vị khó quên

Trang 38

Văn hóa lễ hội

Lễ hội là nơi hội tụ các hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc của dân tộccũng là nơi khởi nguồn cho nghệ thuật múa được giữ gìn và phát triển Nộidung và hành động lễ hội bao gồm những tập tục lâu đời, những hình thứcsinh hoạt phong phú, phù hợp với nguyện vọng và ước muốn chung của dânbản là được mùa lúa ngô, đời sống hạnh phúc, những thế lực siêu nhiên khônglàm hại, con cháu đuề huề thành đạt, nòi giống mãi mãi được trường tồn vàphát triển Hàng năm vào các dịp hội hè như hội đầu xuân, hội săn bắn, đánh

cá tập thể, gắn liền với các buổi lễ sinh hoạt cộng đồng, như lễ Xên mương,Xên bản, Xên hươn, lễ “kim pảng” Ðồng bào Thái thường tổ chức vui chơi

ca hát, nhảy múa tổ chức nhiều trò chơi dân gian

Trò chơi “ném còn”

Trong tất cả các lễ hội, ngày Tết của người Thái ở Tây Bắc, bên cạnhphần lễ là các nghi thức, nghi lễ thuộc về tâm linh thì phần hội không thểthiếu trò chơi ném còn

Để chuẩn bị cho ngày hội ném còn, các cô gái Thái đã chuẩn bị khâuquả còn trước vài tháng Quả còn được bàn tay khéo léo của các cô thôn nữThái khâu bằng vải, hình trái còn to bằng quả cam lớn, bên trong có nhồibông, cỏ mềm, vải vụn, hoặc hạt của cây bông Bên ngoài còn được trangđiểm bằng rua ngũ sắc trông sặc sỡ rất đẹp

Sân ném còn được tổ chức trên khoảng đất rộng tương đối bằng phẳng

và dựng một cây tre dài từ 15-20m Trên ngọn cột tre, ngoài lá cờ ngũ sắcphấp phới biểu hiện của hội Xuân còn có một vòng tre đường kính ướckhoảng hai gang tay, có quấn giấy đỏ Vòng tròn dán giấy đỏ này coi như làtâm điểm để các đội thi nhau ném Đội nào ném thủy tâm đó, coi như dànhphần thắng

Trong tâm thức của người Thái, trò chơi ném còn có ý nghĩa rất đặcbiệt Nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Thái Lò Văn Ín ở Điện Biên cho biết:

“Quả còn trong quan niệm của người Thái tượng trưng cho dương còn vòng

Trang 39

tròn dán giấy đỏ trên cây tre tượng trưng cho âm Người Thái chơi ném cònthể hiện âm-dương hòa hợp và mang ý nghĩa phồn thực Chính vì thế, nhữnggia đình hiếm muộn con cái rất hào hứng tham gia ném còn để cầu tự.”

Ngoài ra, khi tổ chức hội thi ném còn, quả còn ném thường hướng vềđầu nguồn sông hay suối, chính là hướng về các bản làng người Thái vì ngườiThái thường sinh sống bên đầu nguồn con nước Có lẽ vì thế, trò chơi némcòn vẫn trường tồn, trở thành trò chơi dân gian vui nhộn và thu hút nhiềungười hào hứng tham gia nhất

Cách chơi ném còn rất đơn giản, chỉ cần người chơi chia làm hai đội,đứng hai đầu cây tre và dùng quả còn xoay tròn ném lên vòng tròn treo trênđầu cây tre Nếu đội nào ném trúng thủng vòng tròn thì thắng cuộc Hội némcòn của người Thái không phân biệt lứa tuổi, ai cũng có thể tham gia

Trò chơi “Tó má lẹ”

Tó má lẹ theo tiếng Thái, Tó nghĩa là chơi hoặc đánh, còn má lẹ là tên

một loại quả được lấy từ một loài dây leo trong rừng già

Quả hình dẹt, có vỏ cứng, to bằng 3 - 4 ngón tay, dài khoảng 30 cm,mỗi quả có từ 4 - 5 hạt Muốn lấy hạt người ta phải đập vỡ lớp vỏ cứng bênngoài rồi dùng dao hoặc que cạo cho hết lớp lông dầy bao quanh Khi ấy hạt

má lẹ sẽ lộ ra có màu nâu đậm người ta dùng hạt này để chơi Hạt má lẹ có 3loại nhỏ, vừa và to Cả 3 loại đều có hình tròn, bẹt Loại ưa dùng hơn cả là má

lẹ to có đường kính từ 4 cm, dày 1cm trở lên, hạt chắc và nặng

Về trò chơi Tó má lẹ, chuyện dân gian dân tộc Thái kể rằng: Ngày ấy,các bạn gái trong bản rủ nhau đi rừng lấy củi Khi củi đã lấy đủ mọi ngườiđóng gánh ra về, nhưng có một số bạn chưa đóng gánh xong Mọi người bảonhau ngồi đợi, bỗng có một làn gió thổi tới làm các quả Má lẹ ở trên cao rơixuống Có điều rất lạ là chúng chỉ rơi vào chỗ các bạn gái đang ngồi và vỏquả lại tự tách làm đôi, hạt bung ra bắn vào nhau tạo nên những tiếng láchtách nghe thật vui tai Các bạn gái cho đó là một điềm lành, là món quà màtrời đất ban cho riêng họ Họ đã bảo nhau nhặt những hạt này cho vào “Kế

Trang 40

lếp” đem về, rồi cùng nhau chơi trò “Tó má lẹ” ở bản để nhớ về buổi lấy củiđáng nhớ ấy Các bà các chị trong bản thấy vậy cũng xin được chơi cùng Từ

đó “Tó má lẹ” trở thành một trò chơi phổ biến được nhiều người yêu thích,đặc biệt là với chị em phụ nữ Các bạn gái khi ấy đã giao hẹn với nhau rằng:Sau này, dù còn trẻ hay đã về già, dù ở bản gần hay mường xa, cứ mùa quả

má lẹ rơi, họ sẽ lại gặp nhau để tâm tình trò chuyện và cùng chơi Tó má lẹ

Kỳ lạ thay, lời hẹn mãi còn đó, đời nọ truyền đời kia, nơi này tới vùng khác

và cách chơi tuy có thêm bớt, khác nhau ít nhiều xong trò chơi Tó má lẹ vẫn

là một trò chơi dân gian truyền thống, một cách vận động có sử dụng những

kỹ năng, kỹ xảo cùng những động tác liên hoàn giúp con người khoẻ mạnh,hồn nhiên yêu đời và luôn có một thân hình khoẻ đẹp

Cách chơi Tó má lẹ cũng đơn giản nên tất cả mọi người đều có thểtham gia, nhưng chủ yếu vẫn là phụ nữ Họ thường chơi vào các ngày lễ tết,mừng nhà mới, mừng đám cưới, chơi khi có thời gian rỗi v.v Sân chơi chỉ làmột bãi đất nhỏ, bằng phẳng hoặc có thể chơi ngay dưới gầm sàn Thời gianchơi của một cuộc phụ thuộc chủ yếu vào số lượng người tham gia và kỹ năngcủa từng người Để chơi “tó má lẹ” tối thiểu cũng cần có 2 người hoặc 2 đội.Thông thường người chơi, đội chơi càng đông thì càng vui Khi thi đấu thì chỉchơi 2 đội, mỗi đội tối đa 7 người

Công việc chuẩn bị cho trò chơi Tó má lẹ rất đơn giản: Trên sân người

ta kẻ ra 3 vạch: Vạch thứ nhất được kẻ ở đầu sân là chỗ đứng của người chơi,

là vạch xuất phát Vạch thứ 2 cách vạch xuất phát ít nhất là 3m là vạch đểngười chơi đánh dấu điểm đánh, và vạch thứ 3 (vạch đánh) cách vạch thứ 2khoảng 1m hoặc ngắn hơn nếu người chơi giỏi

Tó má lẹ có nhiều bước chơi nhưng thông thường người ta chơi theobốn bước: Bước thứ nhất người chơi đặt má lẹ lên đầu gối, dùng ngón cái bật

má lẹ sao cho trúng má lẹ đội bạn và bay đến đích hoặc quá đich theo thoảthuận; bước thứ hai người chơi đúng ở vạch quy định tung má lẹ về phía hàng

má lẹ đội bạn, má lẹ dừng ở điểm nào, lấy điểm đó làm điểm để đánh; bước

Ngày đăng: 14/04/2016, 16:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng (2009), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Chương trình trung học cơ sở , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình trung học cơ sở
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007),Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Luật Giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
6. Lê Ngọc Canh(2001), 100 điệu múa truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 điệu múa truyền thống Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
7. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (chủ biên)
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2002
8. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học kĩ thuật
Năm: 2005
9. Trần Khánh Đức (2010), Giáo trình Sự phát triển các quan điểm giáo dục, ĐHGD - ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sự phát triển các quan điểm giáo dục
Tác giả: Trần Khánh Đức
Năm: 2010
10. Phạm Hoàng Gia, Hoạt động ngoài giờ của học sinh lớp 6, tạp chí nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động ngoài giờ của học sinh lớp 6
11. Đặng Vũ Hoạt (1996), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
12. Đặng Vũ Hoạt (2001), Hoạt động GDNGLL ở trường THCS, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động GDNGLL ở trường THCS
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
13. Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan và Nguyễn Văn Thàng (2000), Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan và Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
14. Nguyễn Văn Hộ (2009), Triết lý giáo dục, tài liệu dùng cho học viên cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ
Năm: 2009
17. Nguyễn Lân (1958), Lịch sử giáo dục thế giới, NXB Giáo dục 18. Thành Lê (2001), Văn hóa và lối sống, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục thế giới," NXB Giáo dục 18. Thành Lê (2001), "Văn hóa và lối sống
Tác giả: Nguyễn Lân (1958), Lịch sử giáo dục thế giới, NXB Giáo dục 18. Thành Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục 18. Thành Lê (2001)
Năm: 2001
19. Phan Thanh Long (chủ biên), Trần Quang Cấn và Nguyễn Văn Diện (2006), Lý luận giáo dục, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận giáo dục
Tác giả: Phan Thanh Long (chủ biên), Trần Quang Cấn và Nguyễn Văn Diện
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
20. Lâm Tô Lộc, Múa dân gian các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Múa dân gian các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
21. Lâm Tô Lộc. Xòe Thái, Nxb Văn hóa, Hà Nội – 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xòe Thái
Nhà XB: Nxb Văn hóa
23. Hồ Chí Minh (1977), Về vấn đề giáo dục, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1977
24. Hà Thế Ngữ (2001), Giáo dục học những vấn đề lý luận và thực tiễn, Viện khoa học và giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Thế Ngữ
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ   huynh học sinh về vị trí, vai trò của giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc   Thái thông qua HĐGDNGLL cho học sinh - Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Bảng 2.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh về vị trí, vai trò của giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL cho học sinh (Trang 53)
Bảng 2.2: Nhận thức về vai trò của  việc giáo dục văn hóa truyền   thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL cho học sinh THCS trên địa   bàn thành phố Sơn La. - Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Bảng 2.2 Nhận thức về vai trò của việc giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL cho học sinh THCS trên địa bàn thành phố Sơn La (Trang 55)
Hình thức được sinh viên đánh giá là giáo viên áp dụng thường xuyên là: - Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Hình th ức được sinh viên đánh giá là giáo viên áp dụng thường xuyên là: (Trang 64)
Bảng 2.6: Thực trạng đánh giá của giáo viên về hình thức tổ chức giáo dục   văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL cho học sinh - Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Bảng 2.6 Thực trạng đánh giá của giáo viên về hình thức tổ chức giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL cho học sinh (Trang 66)
Bảng 2.7. Khó khăn ảnh hưởng tới thực trạng giáo dục văn hóa   truyền thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL. - Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Bảng 2.7. Khó khăn ảnh hưởng tới thực trạng giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua HĐGDNGLL (Trang 68)
Bảng 2.8: Ý kiến của giáo viên và cán bộ quản lý về các yếu tố ảnh hưởng đến  việc giáo dục văn hóa dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp - Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Bảng 2.8 Ý kiến của giáo viên và cán bộ quản lý về các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục văn hóa dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp (Trang 70)
Bảng 3.1: Ý kiến đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp - Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Bảng 3.1 Ý kiến đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp (Trang 105)
Bảng 3.2: Ý kiến đánh giá về  mức độ khả thi của các biện pháp - Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Bảng 3.2 Ý kiến đánh giá về mức độ khả thi của các biện pháp (Trang 108)
Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng - Giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS ở thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w