1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về người phụ nữ trong giáo lý đạo Phật và ảnh hưởng của nó đến cuộc sống của người phụ nữ Việt Nam hiện nay

117 562 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 602 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Phật giáo ra đời rất sớm trên đất nước Ấn Độ cổ đại. Không lâu sau khi ra đời, nó đã phát triển rộng khắp các nước thuộc khu vực Châu Á và trên thế giới. Phật giáo trở thành một nguồn đề tài bất tận cho giới nghiên cứu. Có rất nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề trong giáo lý đạo Phật như Tứ diệu đế, Duyên khởi, Nhân quả... Trong đó có một số công trình nghiên cứu về con người, về người phụ nữ của các tác giả trên thế giới và Việt Nam như: Mở đầu công nguyên trong tác phẩm Lý hoặc Luận, Mâu Tử đã đề cập đến nhiều vấn đề của Phật giáo trong đó có vấn đề về người phụ nữ. Ở Việt Nam thời phong kiến có những tên tuổi nghiên cứu Phật giáo như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung... đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu về giáo lý Phật giáo nhưng chủ yếu nghiên cứu Phật giáo nói chung và vấn đề thiền định chưa đi sâu vào vấn đề con người hay người phụ nữ. Chương trình Phật học cơ bản Giáo hội Phật giáo Việt Nam NXB TP Hồ Chí Minh, đã đưa ra những vấn đề bao quát trong giáo lý Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đến xã hội hiện nay. Cuốn sách Giáo lý cơ bản, dịch giả Hòa thượng Thích Hân Hiền NXB TP Hồ Chí Minh. Trong tác phẩm này nói về một số vấn đề như Tam bảo, Thập nhị nhân duyên, Tứ đế, Giới luật... đây là những giáo lý cơ bản và là nền tảng Phật pháp giúp ích cho mọi người trong quá trình đến với đạo Phật. Nữ học giả Isaline Blew Horne (1896 1981) với tác phẩm Vai trò nữ giới trong Phật giáo nguyên thủy xuất bản 1930 đã trình bày những kiến thức rộng rãi, sinh động về vai trò của người phụ nữ trong xã hội Ấn Độ thế kỷ VI. TCN. Tác giả Diana Mary Paul với công trình Địa vị người đàn bà trong đạo Phật nguyên thủy (1980) đã nghiên cứu quan niệm của đức Phật về vị trí người phụ nữ chủ yếu trong gia đình, tuy nhiên tác giả chưa đề cập đến địa vị người phụ nữ trong xã hội, những quan điểm chủ yếu nói về người phụ nữ phương Tây. Tác phẩm Lời Phật dạy trong kinh tạng Nikaya NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh đã khái quát những luận điểm cơ bản của đức Phật về nhiệm vụ, bổn phận của người vợ, người mẹ trong gia đình và cuộc sống đời thường. Trong Phật học quần nghi tác giả Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm, dịch giả Thích Minh Quang, tác giả có bài viết “Phật giáo có quan niệm thế nào về địa vị người phụ nữ”, chủ yếu nói về địa vị của người phụ nữ xuất gia ở phương Tây và phương Đông, đề cập quyền bình đẳng của họ. Tiến sĩ, hòa thượng Sri Dhammananda trong cuốn Những viên ngọc trí tuệ Phật giáo với bài viết “Địa vị người phụ nữ trong Phật giáo” đã đề cập một cách cơ bản những vấn đề của người phụ nữ trong cuộc sống đời thường theo quan niệm Phật giáo như vai trò, địa vị của người vợ, người mẹ, người con dâu trong gia đình... Tác giả cũng chủ yếu nhấn mạnh quyền tự do, bình đẳng của người phụ nữ. Tác giả cũng nhìn thấy những trở ngại, thành kiến của người phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới đều giống nhau tuy nhiên lại chưa tìm ra lối thoát cho họ. Trong cuốn Xã hội học Phật giáo, Nandasena Ratnapala đã dành một chương để nói về người phụ nữ. Chương VI: Phụ nữ và xã hội, trong đó đề cao phẩm giá và địa vị người phụ nữ. Cuốn Phật giáo và nữ giới, Nữ giới và Phật giáo, biên soạn Ellison Banks Findly NXB phương Đông 2011. Cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả là nữ giới và ni giới nghiên cứu về phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới, giới thiệu một số nét về những công việc mà người phụ nữ đương thời đang tham gia trong các nghi thức, hệ phái, tu viện Phật giáo... tuy nhiên cũng chưa phản ánh được thái độ, tâm lý nữ giới trong môi trường đương đại. Luật Tứ phần tỳ kheo ni giới bổn hội nghĩa Sa Môn Đức Cơ, dịch giả Thích Nữ Diệu Sơn NXB Tôn giáo. Tác giả đã đề cập những giới luật mà người nữ xuất gia phải tuôn theo. Ngoài ra còn có nhiều công trình trên các tạp chí, website khác nhau cũng đề cập đến vấn đề về người phụ nữ trong Phật giáo như: Phụ nữ với một hệ thống giáo dục đúng (Thích Nữ Minh Bảo tham luận tại Hội nghị Nữ giới Phật giáo lần thứ XI), Phật giáo và nữ quyền (Trần Khải), Kinh nghiệm phụ nữ qua đạo Phật (Diệu Anh Quỳnh Trâm dịch), Nẻo về đạo Phật của người phụ nữ Việt Nam (Trịnh Thanh Thủy dịch) trên website: Thuvienhoasen.org. Địa vị người phụ nữ trong giáo lý đức Phật (Thích Nữ Huệ Hướng), Tusachphathoc.com.vn... Qua các công trình nghiên cứu trên có thể rút ra một số kết luận sau: Vấn đề Phật giáo đã thu hút được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu. Trong đó vấn đề người phụ nữ ngày càng được làm sáng tỏ hơn. Mỗi tác giả có cái nhìn, hướng phân tích riêng về quan niệm của Phật giáo với người phụ nữ. Các công trình nghiên cứu đều đề cập đến địa vị và quyền bình đẳng của người phụ nữ. Như vậy có thể nói, trong các công trình nghiên cứu chưa có được sự khái quát sâu sắc và hệ thống vấn đề quan niệm về người phụ nữ trong giáo lý đạo Phật và ảnh hưởng của nó đến cuộc sống của người phụ nữ Việt Nam hiện nay. Vì vậy, tác giả luận văn muốn thông qua đề tài của mình góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề trên và những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là cơ sở cho tác giả tiếp thu và nghiên cứu đề tài của mình.

Trang 1

sự vô thường ấy, giải thoát con người khỏi vòng khổ đau do chính con ngườigây ra Giáo lý của đức Phật xuất phát từ con người, nhằm mục đích vì conngười Ngài đưa ra Tứ đế, Nhân duyên, Luân hồi nghiệp báo, Thiền định, Niếtbàn tất cả vì con người Trong những lời thuyết giáo đó, Ngài đã dành mộtphần nhỏ để nói về người phụ nữ - người phụ nữ trong xã hội Ấn Độ cổ đạibấy giờ Nhưng những giáo lý, quan niệm đó có phải chỉ dành cho phụ nữ Ấn

Độ cách đây 2600 năm hay không?

Khi nghiên cứu, tìm hiểu giáo lý Phật giáo ta thấy dường như có sự mâuthuẫn khi một mặt Ngài đề cao, coi trọng người phụ nữ trong cuộc sống đờithường Mặt khác Ngài cho rằng nền chánh pháp đáng lẽ trụ thế 1000 năm hoặclâu hơn nữa nhưng vì cho hàng nữ xuất gia nên nền chánh pháp bị giảm bớt chỉtrụ thế 500 năm Đức Phật đã lý giải ra sao trong giáo lý của mình Điều đó cómâu thuẫn không? Vấn đề này đã làm cho nhiều người hiểu sai giáo lý củaNgài Tuy nhiên vào thời gian đó, khi xã hội Ấn Độ có sự phân biệt đẳng cấpkhá nặng nề Người phụ nữ bị coi là đẳng cấp thứ tư trong hệ thống bốn đẳngcấp Đức Phật đã làm một điều phi thường đó là nâng cao địa vị người phụ nữlên so với các đẳng cấp khác Ngài được coi là người khởi xướng cho phongtrào giải phóng phụ nữ và phong trào bình đẳng giới hiện nay

Sự phát triển của kinh tế, xã hội đã nâng cao vai trò của người phụ nữtrong mọi lĩnh vực của đời sống Những biến động xã hội và những luồng tưtưởng mới ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống của người phụ nữ Trongkhoảng 40 năm trở lại đây, phong trào giải phóng phụ nữ không ngớt làm sôi

Trang 2

động dư luận Năm 1952, Liên Hợp Quốc long trọng tuyên khai bản Tuyênngôn về quyền chính trị của Nữ giới Năm 1975 được coi là năm Quốc tế Nữquyền Năm 1995, Liên Hợp Quốc tổ chức Đại hội nữ quyền thế giới tại BắcKinh Sự phát triển của kinh tế, xã hội cũng có những mặt trái của nó như tệnạn xã hội ngày càng gia tăng, sự xuống cấp trong đạo đức lối sống của một

bộ phận giới trẻ, con người đang dần trở thành một hàng hóa đặc biệt là phụ

nữ và trẻ em Những vấn đề này phải chăng đức Phật đã có sự cảnh báotrước trong những lời thuyết giảng của mình không chỉ riêng với phụ nữ màvới toàn xã hội Ngài đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh từ hàng ngànnăm trước mà ngày nay nhân loại đang bắt đầu nếm trải

Bản thân là một người phụ nữ, tác giả nhận thấy những vấn đề đức Phậtđưa ra trong giáo lý của mình có ý nghĩa rất thiết thực và tác động mạnh đến

xã hội hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Quan niệm về

người phụ nữ trong giáo lý đạo Phật và ảnh hưởng của nó đến cuộc sống của người phụ nữ Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phật giáo ra đời rất sớm trên đất nước Ấn Độ cổ đại Không lâu sau khi rađời, nó đã phát triển rộng khắp các nước thuộc khu vực Châu Á và trên thế giới.Phật giáo trở thành một nguồn đề tài bất tận cho giới nghiên cứu Có rất nhiềucông trình nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề trong giáo lý đạo Phật như Tứ diệu

đế, Duyên khởi, Nhân quả Trong đó có một số công trình nghiên cứu về conngười, về người phụ nữ của các tác giả trên thế giới và Việt Nam như:

Mở đầu công nguyên trong tác phẩm Lý hoặc Luận, Mâu Tử đã đề

cập đến nhiều vấn đề của Phật giáo trong đó có vấn đề về người phụ nữ

Ở Việt Nam thời phong kiến có những tên tuổi nghiên cứu Phậtgiáo như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung đã có nhiều tácphẩm nghiên cứu về giáo lý Phật giáo nhưng chủ yếu nghiên cứu Phậtgiáo nói chung và vấn đề thiền định chưa đi sâu vào vấn đề con người hay

Trang 3

Chương trình Phật học cơ bản- Giáo hội Phật giáo Việt Nam - NXB

TP Hồ Chí Minh, đã đưa ra những vấn đề bao quát trong giáo lý Phật giáo vàảnh hưởng của Phật giáo đến xã hội hiện nay

Cuốn sách Giáo lý cơ bản, dịch giả Hòa thượng Thích Hân Hiền

-NXB TP Hồ Chí Minh Trong tác phẩm này nói về một số vấn đề như Tam bảo,Thập nhị nhân duyên, Tứ đế, Giới luật đây là những giáo lý cơ bản và là nềntảng Phật pháp giúp ích cho mọi người trong quá trình đến với đạo Phật

Nữ học giả Isaline Blew Horne (1896- 1981) với tác phẩm Vai trò nữ giới

trong Phật giáo nguyên thủy- xuất bản 1930 đã trình bày những kiến thức rộng rãi,

sinh động về vai trò của người phụ nữ trong xã hội Ấn Độ thế kỷ VI TCN

Tác giả Diana Mary Paul với công trình Địa vị người đàn bà trong

đạo Phật nguyên thủy (1980) đã nghiên cứu quan niệm của đức Phật về vị trí

người phụ nữ chủ yếu trong gia đình, tuy nhiên tác giả chưa đề cập đến địa vịngười phụ nữ trong xã hội, những quan điểm chủ yếu nói về người phụ nữphương Tây

Tác phẩm Lời Phật dạy trong kinh tạng Nikaya - NXB Tổng hợp TP

Hồ Chí Minh đã khái quát những luận điểm cơ bản của đức Phật về nhiệm vụ,bổn phận của người vợ, người mẹ trong gia đình và cuộc sống đời thường

Trong Phật học quần nghi - tác giả Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm, dịch giả Thích Minh Quang, tác giả có bài viết “Phật giáo có quan

niệm thế nào về địa vị người phụ nữ”, chủ yếu nói về địa vị của người phụ nữ

xuất gia ở phương Tây và phương Đông, đề cập quyền bình đẳng của họ

Tiến sĩ, hòa thượng Sri Dhammananda trong cuốn Những viên ngọc

trí tuệ Phật giáo với bài viết “Địa vị người phụ nữ trong Phật giáo” đã đề cập

một cách cơ bản những vấn đề của người phụ nữ trong cuộc sống đời thườngtheo quan niệm Phật giáo như vai trò, địa vị của người vợ, người mẹ, ngườicon dâu trong gia đình Tác giả cũng chủ yếu nhấn mạnh quyền tự do, bìnhđẳng của người phụ nữ Tác giả cũng nhìn thấy những trở ngại, thành kiến củangười phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới đều giống nhau tuy nhiên lại chưa tìm

ra lối thoát cho họ

Trang 4

Trong cuốn Xã hội học Phật giáo, Nandasena Ratnapala đã dành một chương để nói về người phụ nữ Chương VI: Phụ nữ và xã hội, trong đó đề

cao phẩm giá và địa vị người phụ nữ

Cuốn Phật giáo và nữ giới, Nữ giới và Phật giáo, biên soạn Ellison

Banks Findly - NXB phương Đông 2011 Cuốn sách tập hợp nhiều bài viếtcủa nhiều tác giả là nữ giới và ni giới nghiên cứu về phụ nữ ở khắp nơi trênthế giới, giới thiệu một số nét về những công việc mà người phụ nữ đươngthời đang tham gia trong các nghi thức, hệ phái, tu viện Phật giáo tuy nhiêncũng chưa phản ánh được thái độ, tâm lý nữ giới trong môi trường đương đại

Luật Tứ phần tỳ kheo ni giới bổn hội nghĩa- Sa Môn Đức Cơ, dịch

giả Thích Nữ Diệu Sơn - NXB Tôn giáo Tác giả đã đề cập những giới luật

mà người nữ xuất gia phải tuôn theo

Ngoài ra còn có nhiều công trình trên các tạp chí, website khác nhau

cũng đề cập đến vấn đề về người phụ nữ trong Phật giáo như: Phụ nữ với một

hệ thống giáo dục đúng (Thích Nữ Minh Bảo tham luận tại Hội nghị Nữ giới

Phật giáo lần thứ XI), Phật giáo và nữ quyền (Trần Khải), Kinh nghiệm phụ

nữ qua đạo Phật (Diệu Anh Quỳnh Trâm dịch), Nẻo về đạo Phật của người phụ nữ Việt Nam (Trịnh Thanh Thủy dịch) trên website: Thuvienhoasen.org Địa vị người phụ nữ trong giáo lý đức Phật (Thích Nữ Huệ Hướng), Tusachphathoc.com.vn

Qua các công trình nghiên cứu trên có thể rút ra một số kết luận sau:

- Vấn đề Phật giáo đã thu hút được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu.Trong đó vấn đề người phụ nữ ngày càng được làm sáng tỏ hơn

- Mỗi tác giả có cái nhìn, hướng phân tích riêng về quan niệm của Phậtgiáo với người phụ nữ

- Các công trình nghiên cứu đều đề cập đến địa vị và quyền bình đẳngcủa người phụ nữ

Như vậy có thể nói, trong các công trình nghiên cứu chưa có được sự

Trang 5

đạo Phật và ảnh hưởng của nó đến cuộc sống của người phụ nữ Việt Namhiện nay Vì vậy, tác giả luận văn muốn thông qua đề tài của mình góp phầnlàm sáng tỏ thêm vấn đề trên và những công trình nghiên cứu của các tác giả

đi trước là cơ sở cho tác giả tiếp thu và nghiên cứu đề tài của mình

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.2.Đối tượng nghiên cứu

- Quan niệm về người phụ nữ trong giáo lý đạo Phật và ảnh hưởng của

nó đến phụ nữ Việt Nam hiện nay

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu quan niệm về người phụ nữ trong những giáo lý,những lời thuyết giảng của đức Phật được tập trung trong một số kinh sách vàảnh hưởng của những quan niệm đó đến phụ nữ Việt Nam hiện nay về một sốmặt trong gia đình và ngoài xã hội

4 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

4.1 Những luận điểm cơ bản của luận văn

- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản của Phật giáo về người phụ nữ

- Phân tích ảnh hưởng, những mặt tích cực và hạn chế của những vấn

đề đó với phụ nữ Việt Nam

- Rút ra ý nghĩa phương pháp luận với việc xây dựng hình tượng ngườiphụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện đại

Trang 6

4.2 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ hơn quan niệm của Phật giáo về ngườiphụ nữ như địa vị, vai trò, trách nhiệm, bổn phận của họ trong gia đình vàngoài xã hội

- Luận văn phân tích ảnh hưởng của những quan niệm đó với cuộcsống của người phụ nữ Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử cùng một số phương pháp khác như phương pháplogic - lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp

6 Kết cấu của luận văn

- Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 2 chương 4 tiết

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG GIÁO LÝ

ĐẠO PHẬT

Đức Phật là một chúng sinh, một nhà tư tưởng, một diễn giả có tàithuyết phục, một người làm việc đầy nghị lực, một nhà cách mạng thànhcông, một vị đạo sư có lòng từ bi và khoan dung Đặc tính quan trọng nhấtcủa đức Phật là sự thanh tịnh tuyệt đối và đức tính hoàn hảo Trí tuệ, từ bi,thiện chí, phục vụ, từ bỏ thế tục, sống cuộc đời mô phạm, phương pháp truyền

bá giáo pháp hiệu quả đã đưa đến sự thành công cuối cùng của Ngài, nhữngyếu tố đó đã góp phần tôn vinh đức Phật - bậc Đại Sư vĩ đại!

Trong giáo lý đạo Phật, chúng ta thấy Ngài quan tâm tới tất cả chúngsinh và vạn vật trong vũ trụ Trong đó có những quan niệm về người phụ nữkhá sâu sắc, có ý nghĩa không nhỏ với chúng ta ngày nay

1.1 Cơ sở thực tiễn và lý luận của quan niệm về người phụ nữ trong giáo lý đạo Phật

1.1.1 Cơ sở thực tiễn

Ấn Độ vừa là một đại lục, vừa là một bán đảo, tiếp giáp với nhiều nơicủa nhiều quốc gia như Tây Tạng, Tây Khang, Vân Nam Trung Quốc,Afghanistan, vịnh Bengan, Srilanka chính điều đó đã tạo cho Ấn Độ trởthành cái nôi văn hoá lớn thời bấy giờ Ấn Độ có đến hàng trăm tộc ngườinhưng có 5 tộc người chính là người Vecldas là loại người nguyên thuỷ nhấtphân bố ở vùng cực Nam xa xôi, người Dravidian là tộc người từ 5000 nămtrước ở miền Bắc và Trung Ấn Độ, người Aryan đến Ấn Độ từ những năm3000- 1500.TCN đánh đuổi người Dravidian, người Hồi giáo đến từ Thổ Nhĩ

Kỳ xâm nhập vào chừng năm 700.TCN, người Mông Cổ ở vùng Tây Bắc Ấn

Độ có khoảng 200 thứ ngôn ngữ trong đó chủ yếu là tiếng Phệ Đà, tiếng Phạnphát triển thành chữ Sankit, ngoài ra còn có tiếng Pali đức Phật hay dùng

Trang 8

là thời kỳ văn hoá Ha - ra - pa và thời kỳ văn hoá Vê-đa.

Các di chỉ khảo cổ và cổ vật tìm thấy có thể thấy rằng thời kỳ Ha ra

-pa có trình độ phát triển không hề thấp, qua khai quật thì đây là một thànhphố được xây dựng theo quy hoạch khá hợp lý, có dãy phố ngang dọc, nhàcửa lớn nhỏ khác nhau, cung điện, đền đài Văn hoá Ha - ra - pa bắt đầu xuấthiện giai cấp, nhà nước - thời kỳ đầu của nhà nước Phương Đông cổ đại Chủnhân của văn hoá Ha - ra - pa là người Đra - vi - a Thời kỳ văn hoá Vê-đađược phản ánh qua bộ sách Vê - đa Văn hoá Vê - đa (1600- 600.TCN) đượcchia thành hai thời kỳ là tiền Vê - đa (1600 - 1000.TCN) và thời hậu Vê-đa(1000- 600.TCN) Toàn bộ sinh hoạt, phong tục, tập quán, tư tưởng của người

Ấn Độ cổ đại đều được thể hiện trong kinh Vê-đa và hai bộ sử thi làMahabharata và Ramayana Đây cũng là thời kỳ người A - ri - an xâm nhậpvào Ấn Độ Vào khoảng thế kỷ XVI.TCN các bộ lạc du mục của người A - ri

- an từ Trung Á xâm nhập vào Ấn Độ đem theo những phong tục, tập quán,tín ngưỡng và bắt người bản xứ làm nô lệ Đây là thời kỳ hình thành các quốcgia chiếm hữu nô lệ đầu tiên của người A - ri - an trên lưu vực sông Ấn vàsông Hằng

Với văn hoá Vê - đa, văn minh Ấn Độ chuyển từ lưu vực sông Ấn sangsông Hằng Cùng với sự phát triển về kinh tế, về mặt xã hội thời kỳ này cónhững chuyển biến quan trọng Đây là thời kỳ tan rã hẳn của chế độ thị tộc vàhình thành nhà nước hoàn chỉnh Trong giai đoạn tiền Vê - đa, Ấn Độ pháttriển khá mạnh về mọi mặt, chưa có sự phân chia đẳng cấp, gia đình là nềntảng của xã hội Xã hội A - ri - an là xã hội gia trưởng, cha là người đứng đầutrong gia đình và được gọi là Grabapathi Kinh Vê - đa cũng nhấn mạnh sự

Trang 9

diễn ra nhưng chưa sâu sắc và gay gắt như sau này Nhà nước bắt đầu được đềcao Các gia đình theo chế độ phụ hệ và cầu nguyện cho sự ra đời của contrai, người phụ nữ cũng có một vị trí nhất định Việc tổ chức các cuộc hônnhân được diễn ra dưới những hình thức đơn giản, việc tái hôn và cưới hỏi lầnnữa với goá phụ cũng được thực hiện trong thời kỳ này Phụ nữ khá bình đẳngvới nam giới, họ có quyền được giáo dục, được nghiên cứu kinh Vê - đa, chế

độ một vợ một chồng được thành lập mặc dù chế độ đa phu, đa thê cũng đượcbiết đến Có những phụ nữ chiếm những vị trí đáng nể trong xã hội, họ cóquyền tự do chọn chồng Tuy nhiên đến thời kỳ hậu Vê - đa vị trí của họ bịthay đổi một cách nhanh chóng

Thời kỳ hậu Vê - đa đã xuất hiện đẳng cấp góp phần quyết định cơ cấu xãhội và ảnh hưởng đến hình thái tư tưởng Ấn Độ cổ đại Đó là chế độ xã hội dựatrên sự phân biệt chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệgiao tiếp, tục cấm kị trong hôn nhân được hình thành trong thời kỳ người A - ri

- an chinh phục và thống trị người Đra - vi - đa cũng như cả quá trình phân hoá

xã hội ngày càng sâu sắc giữa quý tộc và thường dân A - ri - an Bên cạnh quátrình phân hoá giai cấp và hình thành nhà nước, ở Ấn Độ xuất hiện đạo Bà - la -môn, hình thành chế độ phân chia đẳng cấp còn gọi là chế độ Vác-na

Đạo Bà - la - môn ra đời vào thời kỳ hậu Vê - đa Kinh sách của đạo Bà

- la - môn là bốn tập sách Vê - đa (Rich Vê - đa, A - tác - ta Vê - đa, Ya - jua

Vê - đa, Xa - ma Vê - đa) Đạo Bà - la - môn thờ Phạm thiên Thượng đế Họquan niệm thế giới do Phạm thiên sáng tạo nên Con người có thể xác và linhhồn, con người sau khi chết linh hồn vẫn tồn tại để được đầu thai vào kiếpkhác, chịu sự chi phối của quy luật luân hồi- nghiệp báo Việc cúng lễ của đạoBà-la-môn rất nhiều và rườm rà, mang yếu tố ma thuật Đạo Bà-la-môn pháttriển khá mạnh vào giữa thế kỷ I.TCN

Chế độ phân chia đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ hình thành bốn giai tầng

với thành phần xuất thân khác nhau Đứng đầu là tầng lớp Bà - la - môn gồm

giới tăng lữ của đạo Bà - la - môn là những người hoạt động tôn giáo chuyên

Trang 10

nghiệp Đây được coi là đẳng cấp có địa vị cao nhất Đẳng cấp này thực hiệnchức năng thần quyền và một phần chức năng thế quyền Mặc dù đạo Bà - la -môn không tổ chức giáo hội song sự kết hợp của nó với thế quyền làm cho

đẳng cấp này có địa vị cao nhất Thứ hai là Sát - đế - lị đây là tầng lớp bao gồm

vua quan cai trị và tầng lớp võ sĩ Theo sự phân công của xã hội thì đẳng cấpnày thực hiện chức năng thế quyền Song một phần quyền lực đã bị đẳng cấp

Bà - la - môn lấn lướt, nắm giữ Thứ ba là tầng lớp Vệ - xá bao gồm dân tự do

đó là những người làm nông nghiệp, buôn bán, thợ thủ công Dân tự do ở Ấn

Độ cũng như ở khu vực châu Á khác với dân tự do ở phương Tây, vì ở cácnước này dân tự do là lực lượng sản xuất chủ yếu, do vậy họ cũng là bộ phậnđông đảo nhất có vai trò nhất định trong xã hội chiếm hữu nô lệ hay phong

kiến Thủ - đà - la là đẳng cấp thứ tư gồm những chiến binh bại trận trong các

cuộc chiến tranh, những người ở tầng lớp trên bị phá sản, họ không có tư liệusản xuất, đứng ngoài tổ chức công xã Là đẳng cấp nô lệ, song nô lệ ở đâykhông phải là lực lượng sản xuất chủ yếu mà là nô lệ có tính gia đình, làm côngviệc hầu hạ, phục dịch cho các đẳng cấp trên Bên cạnh bốn đẳng cấp trên,trong xã hội Ấn còn có đẳng cấp Pa - ri -a là người có bố là một trong ba đẳngcấp trên với mẹ là Thủ - đà - la Đẳng cấp này tuy ít nhưng mang thân phận củanhững người cùng khổ Các đẳng cấp này theo chế độ thế tập cha truyền connối nên giai cấp nô lệ cứ đời đời phải làm nô lệ, tạo thành một xã hội bất công

Sự phân hoá đẳng cấp như trên bị đẳng cấp Bà - la - môn thần thánhhoá, tuyệt đối hoá làm cho mâu thuẫn ngày càng thêm sâu sắc Điều này dẫntới các đẳng cấp thấp đấu tranh chống lại đẳng cấp cao với mong muốn xoá

bỏ bất bình đẳng giữa các đẳng cấp, tuy nhiên điều đó không đạt kết quả tronghiện thực

Sự phân chia đẳng cấp thể hiện ở nhiều mặt không chỉ ở quyền lợi, địa

vị chính trị, kinh tế, xã hội mà cả trong quan hệ giao tiếp, đi lại, ăn mặc, sinhhoạt thậm chí cả trong những việc nhỏ nhặt như đặt tên cho con, sử dụng màusắc Ba đẳng cấp trên là lực lượng bóc lột và thống trị xã hội trong đó nổi bật

là Bà - la - môn đẳng cấp được coi là cao quý, trong sạch nhất sánh ngang với

Trang 11

mà không che mặt, không có quyền tham gia các hoạt động xã hội, không cómặt trong các lĩnh vực tôn giáo, những ngày vô tận của họ chỉ là chờ đợitrong thầm lặng sự viếng thăm của người đàn ông cho đến khi người này chếtthì phải chịu sự thiêu sống để đi theo người đã chết (tục lệ Sati) Sự đau khổ,bất công tràn ngập khắp xã hội Ấn Độ, các nhà triết lý, lịch sử chỉ bàn luậnnhững vấn đề siêu hình, bản thể vũ trụ, sự hiện hữu hay không hiện hữu củalinh hồn mà quên đi sự bất bình đẳng con người đang gánh chịu đặc biệt làngười phụ nữ.

Ở Ấn Độ cổ đại, vị trí của người phụ nữ không mang lại cho họ một đờisống hạnh phúc Phụ nữ bị coi là thấp kém hơn nam giới Đôi khi họ được xếpvào hạng tương tự như người làm thủ công, đầy tớ và thợ thuyền, tự do bị hạnchế cực độ Cuộc đời người phụ nữ có thể thấy rằng khi nhỏ họ sống dưới sựchăm sóc của cha mẹ, khi lấy chồng nghe theo sự sắp đặt của chồng, khi vềgià chịu sự kiểm soát của con trai Vì vậy xã hội Ấn Độ không chấp nhận rằngphụ nữ xứng đáng với bất cứ sự tự do nào Vai trò chính của họ là nội trợ,

Trang 12

quản lý các công việc theo ý muốn của chồng Điều này càng đúng khi họphải chịu cảnh chung chồng với những người phụ nữ khác Sự ghen tị vànhững cuộc xung đột giữa các bà vợ là một đặc trưng phổ biến trong xã hội

Ấn Độ cổ đại Cảnh ngộ của người goá phụ cũng tồi tệ hơn khi họ khôngđược phép tái hôn Người goá phụ phải chứng minh sự chung thuỷ của mìnhbằng cách nhảy vào giàn hoả thiêu trong lễ tang của chồng mình Phụ nữkhông có sự tự do trong giáo dục Giáo dục được xem là không có bất kỳ ýnghĩa gì với phụ nữ Tự do tôn giáo của họ cũng bị hạn chế trong các nghi lễtôn giáo

Một người phụ nữ được xem là gánh nặng gia đình vì những người đànông phải chịu trách nhiệm chăm sóc họ Bên cạnh đó họ không được thựchiện các nghi lễ tôn giáo khi bố mẹ qua đời và do đó họ không mang lại lợiích gì cho gia đình Đây là lý do tại sao sự ra đời của một bé gái được coi làmột dấu hiệu bất hạnh trong gia đình Cha mẹ cầu nguyện sinh ra những đứacon trai, vừa để mang tên họ gia đình vừa để thực hiện các nghi thức tôn giáocần thiết cho lợi ích của họ Người cha sẽ vô cùng đau khổ khi nhìn thấy một

bé gái ra đời Một trong những nghi lễ quan trọng nhất của Ấn Độ là tang lễ.Con trai được xem là thiết yếu khi thực hiện các nghi thức tang lễ và thờ cúngtrong gia đình Từ đó đã nảy sinh việc ngăn chặn sinh con gái Vai trò ngườiphụ nữ là làm mẹ và làm vợ, người vợ phải phục tùng chồng và cha mẹchồng Mặc dù trong một số kinh thư có đề cập đến một vài nữ khổ tu nhưngkhổ tu vẫn được xem là đặc quyền của nam giới Một tâm lý thường tình làcác nhà khổ hạnh của tất cả mọi tôn giáo đều xem phụ nữ là những cám dỗcần tránh xa

Cũng trong thời kỳ này, các tín ngưỡng đang tồn tại ở Ấn Độ từ họcthuyết vạn vật hữu linh, phong tục thờ ngẫu tượng, thuyết nhất thần luận đều sùng bái các nhân vật siêu nhiên, thần thánh Nhưng con người cũng đãdồn mọi nỗ lực tìm kiếm về sự sinh tử, bệnh tật, sự già nua, những phương

Trang 13

pháp loại trừ sự ham muốn, hận thù, vô minh Điều đó đã đưa đến sự ra đờicủa Phật giáo - hướng đến con người, vì con người

Phật giáo khởi thuỷ trong bối cảnh văn hoá, xã hội Ấn Độ còn tồn tại

sự bất bình đẳng nên Phật giáo chia sẻ với Bà - la - môn một số khái niệm nềntảng tuy rằng đức Phật đưa ra những lối giải thích khác nhau Điểm quantrọng chính là ở chỗ đức Phật không chấp nhận những nghi lễ của Bà-la-môntrên nền tảng của hệ thống giai cấp Điều này đã đóng góp cho quan điểm củađức Phật về vị trí của người phụ nữ

Vị giáo chủ sáng lập ra đạo Phật - Đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni 544.TCN) Ngài sinh ra thuộc tầng lớp Sát - đế - lị, con vua Tịnh Phan, vớibản tính thông minh, sự nỗ lực rèn luyện nên Ngài tinh thông mọi học thuật.Sau bốn lần ra ngoài thành thấy cảnh sinh - già - bệnh - tử và hình ảnh người

(624-Sa - môn, Ngài nhận ra cuộc sống không có gì là thường định, không màngtới cuộc sống xa hoa, Ngài nảy sinh tư tưởng xuất gia và đã dấn thân từ bỏ tất

cả để đi vào con đường tu khổ hạnh tìm cầu chân lý giải thoát Khi đắc đạo,Ngài đã thuyết giảng cho toàn chúng sinh thoát khỏi bể khổ của tham - sân -

si trong cuộc sống hàng ngày hướng đến sự giải thoát hoàn toàn trong tâm.Trước sự phân chia đẳng cấp và sự bất công với người phụ nữ như vậy đãkhiến Ngài lên tiếng bảo vệ người phụ nữ

Khi còn tại thế, được sống trong sự nuôi dưỡng của người dì, đức Phật

đã nhận ra vai trò to lớn của người phụ nữ trong cuộc sống gia đình Bà Go

-ta - mi với tinh thần tận tụy, đức hi sinh, ý chí và nghị lực phi thường đã khiếncho đức Phật nể phục Khi hoàng hậu Maya băng hà, bà Go - ta - mi đã chấpnhận hi sinh tình mẫu tử, giao con đẻ của mình cho người khác nuôi dưỡng đểgánh trọng trách chăm sóc, dưỡng dục hoàng tử Siddhattha vừa được bảyngày tuổi Khi đó bà đâu biết rằng bà đang nuôi dưỡng vị Phật tổ tương lai -người góp phần làm thay đổi đời sống tinh thần của nhân loại Bản thân đứcPhật được nuôi dưỡng, lớn lên trong tình mẫu tử bao la của bà Go - ta - mi,một người không phải mẹ đẻ của mình, lớn lên Ngài được chứng kiến nỗi đaukhổ và nhiều bất công trong xã hội đối với người phụ nữ, chứng kiến ý chíquyết tâm và nghị lực phi thường của họ Như vậy, lòng biết ơn, tình yêu

Trang 14

thương, niềm tin vào phẩm hạnh, tài năng và nghị lực của người phụ nữ đãđưa đức Phật tới quyết định sáng suốt để nói về người phụ nữ như một sự đềnđáp công lao của người phụ nữ Lòng biết ơn là một trong những phẩm hạnhchính yếu của đức Phật

Người phụ nữ trong cuộc sống đời thường và cả khi xuất gia cũng cókhả năng như nam giới nên không lẽ chi họ phải chịu những tập tục hà khắcnhư vậy Với lòng yêu thương con người và muôn vật, đức Phật đều trântrọng và trong lời thuyết giáo của mình phải chăng Ngài muốn nhắc nhở nhânloại sự bình đẳng, kiến tạo mọi vật, những lời truyền chỉ đó của Ngài ngaynay đã vang khắp thế giới Nhân loại đang tìm về đạo Phật bởi đâu? Thế giớikêu gọi xoá bỏ giai cấp, giải phóng con người, giải phóng phụ nữ, vấn đề bìnhđẳng giới được đề cập thường xuyên Có thể thấy, đức Phật nói về người phụ

nữ qua bối cảnh Ấn Độ cổ đại nhưng Ngài không dừng lại ở đó mà muốnhướng đến một nền văn minh hiện đại Nam giới cũng như phụ nữ, ai cũngphải trải qua sinh - lão - bệnh - tử, Ngài nhận thấy sự bình đẳng giữa ngườinam và người nữ, phụ nữ cũng có thể làm được những việc như nam giới,cũng có khả năng giải thoát Vậy tại sao lại có sự bất bình đẳng?

Như vậy, xuất phát từ xã hội Ấn Độ lúc đó với sự phân chia đẳng cấpkhắc nghiệt, khinh rẻ người phụ nữ, hạ thấp địa vị người phụ nữ, tư tưởngtrọng nam khinh nữ xuất hiện cùng những tập tục, lễ nghi mang lại bất cônghơn với người phụ nữ Chính vì vậy trong giáo lý của mình, đức Phật luônmong muốn giải thoát cho hết thảy chúng sinh, mang lại sự bình đẳng cho tất

cả mọi người đặc biệt là người phụ nữ bởi họ phải chịu quá nhiều thiệt thòi,Ngài hiểu được những khó khăn mà người nữ phải trải qua

Trang 15

được gom thành bốn cuốn đó là: Rich Vê - đa đây là cuốn quan trọng nhất

cung cấp hầu hết những giảng huấn cốt tuỷ, là bộ xưa nhất trong bốn bộ kết

tập năm 1200.TCN, Sama Vê - đa bao gồm các giai điệu và các thánh ca, gồm

585 khổ thơ tương ứng với các giai điệu được dùng trong những tụng ca, hiến

tế, Yaju Vê - đa cung cấp những chi tiết cần thiết khi thực hiện các tế lễ và một chuỗi các công thức hàm chứa các nghi lễ khác nhau, Arthava Vê - đa

bao gồm các thần chú và bùa chú Đây có thể là những sản phẩm gốc bản địa

có từ trước khi người Ari - an xâm lăng Mỗi Vê - đa có ba phần ca tụng, nghithức và giáo điều Triển khai ý nghĩa ba phần này gồm các bài thuyết giáo cónội dung triết học thiết thực Các bài thuyết giáo chứa đựng nội dung tâm linh

căn bản của Hin - đu giáo Arthava Vê - đa được lấy tên từ các vị tư tế xưa

chuyên lo việc cúng thần lửa gọi là các Arthava Những gì phù hợp với kinh

Vê - đa thì được coi là chính thống, không phù hợp thì bị coi là không chínhthống

Theo kinh Vê - đa các đẳng cấp được sinh ra từ những bộ phận khácnhau của Phạm thiên, Bà - la - môn được sinh ra từ mồm, Sát - đế - lị đượcsinh ra từ tay, Vệ - xá được sinh ra từ đùi còn Thủ - đà - la được sinh ra từ bànchân Do sinh ra từ bốn chỗ khác nhau của Phạm Thiên nên các đẳng cấp có

số phận khác nhau Đạo Bà - la - môn còn lập luận rằng trong các loài sinh vật

ưu tú nhất là con người, trong con người ưu tú nhất là Bà - la - môn Phụ nữ bịcoi là Thủ - đà - la Kinh Vê - đa cũng như kinh điển khác đã phỉ báng phụ

Trang 16

nữ Kinh Vê - đa nói rằng tình bạn của người nữ không bền lâu, bản chất của

họ giống như con linh cửu Manu miêu tả phụ nữ như đồ trang sức, họ cónhững mong muốn nhơ bẩn, nhiều sân hận, không tử tế, hiểm độc và đạo đứctồi Trong Arthava Vê - đa có đoạn nói rằng: Thượng đế trao người vợ chongười chồng để họ phục vụ chồng và sinh con Hơn nữa cô ấy bị quy là kẻ lệ

thuộc và nô lệ Các vị thần trong Ấn giáo đã nói “giống như người đồ tể

không thoả mãn với việc sát hại không biết bao nhiêu động vật, cũng giống vậy phụ nữ có thể có nhiều người nam” Các tín đồ Bà - la - môn căm ghét

người phụ nữ, gọi họ là kẻ cắp, thổ phỉ, hải tặc Một đoạn kinh thánh nói: có

tám phẩm chất của người phụ nữ đó là nói láo, trắng trợn, cẩu thả, ngu xuẩn, tham lam, dơ bẩn, tinh quái và hấp tấp.

Trong Mahabharata, sử thi nổi tiếng về tôn giáo Ấn có nguyên mộtchương trong đó Apsara mô tả chi tiết về đặc tính người phụ nữ và nói về cáccăn nguyên của vấn đề như thế nào, họ tìm kiếm những người đàn ông khác

ra sao cho dù chồng họ có tốt đi chăng nữa Nên một người phụ nữ khôngđáng được tự do vì họ chưa bao giờ trung thực Có thể thấy được những điềunày ở khắp nơi trên đất Ấn cổ đại Thật khó khăn cho phụ nữ phải chịu đựngmặc cảm tự ti, căn bệnh tâm lý để đến gần đấng tối cao Họ bị giới hạn trongsuy nghĩ tôi sinh ra trong thân phận thấp hèn, không có nhân quyền, làm thếnào để có thể đến gần đấng tối cao Những nhà cơ hội tuyên bố rằng phụ nữkhông được cứu rỗi nếu muốn điều đó họ phải tái sinh là một người nam Đây

là một điều phi thực tế và vi phạm vào tính nhân quyền của con người Hơn

5000 phụ nữ bị giết mỗi năm vì không đưa thêm tiền hồi môn Phụ nữ Ari - an

có thể thiêu sống bởi người chồng bất cứ lúc nào bởi bất cứ lý do gì Nếu cô

ấy bị nghi ngờ không chung thuỷ thì các chức trách trong làng buộc họ phải điqua ngọn lửa Họ bị trừng phạt bằng cách cho chó cắn trước chứng kiến củacông chúng Thân phận người phụ nữ bị hạ thấp phẩm giá một cách tệ hại quahàng ngàn năm Đến khi Phật giáo ra đời, người phụ nữ mới được thừa nhận

Trang 17

để cho người phụ nữ được độc lập.

Bên cạnh các cuốn kinh Vê - đa phục vụ cho giai cấp thống trị thì tầnglớp này còn được bảo hộ bởi bộ luật Manu Bộ luật Manu vừa là sách kinhđiển tôn giáo đồng thời một bộ sách luật Đây là bộ luật hoàn chỉnh nhất trongtất cả các luật lệ cổ ở Ấn Độ được xây dựng vào thời kỳ hậu Vê - đa bởi cácgiáo sĩ Bà - la - môn Thực chất đó là những luật lệ, những tập quán pháp củagiai cấp thống trị do các giáo sĩ Bà - la - môn tập hợp lại dưới dạng trường cagồm 2615 điều chia thành 12 chương Nội dung của bộ luật không chỉ lànhững quan hệ pháp luật mà còn là những vấn đề khác như chính trị, tôn giáo,thế giới và vũ trụ Xét trên phương diện pháp lý, luật Manu được chia thànhcác chế định cụ thể như chế định quyền sở hữu, chế định hợp đồng, chế địnhhôn nhân và gia đình, chế định thừa kế, chế định tội phạm và hình phạt, chếđịnh tố tụng Trong đó có thể thấy rõ sự phân biệt đẳng cấp và kỳ thị phụnữ.Chẳng hạn như bộ luật này quy định khung hình phạt cho mỗi tội danh sẽtăng với những đẳng cấp thấp, đặc biệt là đối với đẳng cấp Thủ - đà - la Việcvay mượn cũng vậy, đẳng cấp Bà - la - môn không phải trả lãi, Sát - đế - lị2%, Vệ - xá 4%, Thủ - đà - la 16% Luật Manu còn quy định, đẳng cấp Thủ -

đà - la không được tham gia các cuộc hội họp, không được tham dự và hưởng

lễ vật trong các buổi tế lễ, không được sờ vào người Bà - la - môn khi họ chết,

Trang 18

không được đi đưa mai táng Đẳng cấp Thủ - đà - la không được mặc quần áokiểu dáng đẹp mà phải mặc kiểu dáng xấu và màu sắc tối xỉn Họ không đượcđặt những tên biểu hiện sự cao quý, hùng tráng hay thanh lịch mà phải đặtnhững tên thể hiện sự ngu dốt, thấp hèn Trong chế định hôn nhân gia đình,hôn nhân mang tính chất mua bán, người vợ được chồng mua về, tất cả củahồi môn của người vợ thuộc quyền sở hữu của người chồng Thừa nhận sự bấtbình đẳng trong quan hệ vợ chồng, lúc nào người phụ nữ cũng phải chịu sựbảo hộ của người đàn ông (tam tòng) Người vợ không được ly dị chồng trongmọi trường hợp Người chồng dù tàn bạo, ngoại tình thì người vợ cũng phảitôn trọng và coi như thánh nhân của đời mình Ngược lại người chồng cóquyền ly dị nếu người vợ không có con hoặc sinh toàn con gái, ngoài ra ngườichồng có quyền đánh đập, hành hạ vợ con mà không bị tội Bộ luật này cònquy định chỉ được kết hôn trong cùng đẳng cấp Tuy nhiên đàn ông vẫn có thểlấy vợ thuộc đẳng cấp dưới Những quy định như vậy đã khiến người phụ nữgặp phải không ít những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống

Không chỉ ở Ấn Độ đưa ra những luật lệ như vậy mà hầu hết các quốcgia cổ đại đều có những chế định, những bộ luật để bảo vệ vị trí thống trị củagiai cấp mình Trong đó hầu hết đều có những kỳ thị với người phụ nữ, cónhững quy định khá rõ dành riêng cho phái nữ Ở vùng Lưỡng Hà củaBabilon có bộ luật Hamurabi nổi tiếng, công khai khẳng định hôn nhân muabán, trước khi kết hôn bên nam giao nộp cho bên nữ tiền sính lễ và bán thân.Babilon thực hiện chế độ một vợ một chồng cũng chỉ đối với nữ Vợ không cócon, chồng có thể lấy vợ lẽ nhưng địa vị người vợ lẽ không thể bằng vớingười vợ chính Nếu vợ lẽ sinh con, không được bán vợ chính những có thểđưa vào đội ngũ nô lệ Nếu vợ lẽ không sinh con thì vợ chính có thể bán Lyhôn không có sự bình đẳng giữa vợ và chồng Người vợ nếu có tình ý kháchay lãng phí làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản gia đình chồng, ngườichồng có thể bỏ mà không cấp cho khoản tiền nào Người chồng cũng có thể

Trang 19

Có thể thấy đạo Phật ra đời trong xã hội Ấn Độ cổ đại bắt nguồn từnhững nguyên nhân chính trị xã hội sâu xa, là trào lưu xã hội chống lại đẳngcấp và đạo Bà - la - môn Đạo Phật ra đời xét về mặt tư tưởng là sự kế thừatiếp nối các học thuyết tư tưởng đương thời Ấn Độ cổ đại có nền triết học rấtphát triển, không kể giáo thuyết Bà - la - môn còn có sáu trường phái triết họckhác nhau Các trường phái này cũng có những quan niệm về con người vàngười phụ nữ nói riêng.

Đức Phật ra đời trong bối cảnh xã hội như vậy nên Ngài mong muốntìm ra một chân lý để giải thoát chúng sinh, giải thoát người phụ nữ Giảithoát ở đây không phải là xa rời trần thế về cõi cực lạc mà Ngài muốn conngười tự nhận ra bản ngã của mình, tu tập, rèn luyện trong cuộc sống Giảithoát người phụ nữ khỏi những bất công của chế độ phân biệt đẳng cấp khắcnghiệt, cho nhân loại thấy được vị trí, vai trò của người phụ nữ Đem lại sựbình đẳng cho tất cả mọi người, góp phần đấu tranh loại bỏ giai cấp và sựphân biệt tôn giáo, đẳng cấp

Toàn bộ những lời thuyết giáo của đức Phật được các đệ tử của Ngài kết

tập lại và thể hiện trong Tam tạng kinh điển gồm Kinh, Luật, Luận Kinh tạng

là những sách ghi những lời Phật Thích Ca giảng về giáo lý do đại đệ tử A-nan

kết tập gồm Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tương Ưng Bộ kinh, Tăng Bộ

kinh và Tiểu Bộ kinh Ngoài ra còn có những cuốn khác như Hoa Nghiêm kinh,

Trang 20

Diệu Pháp Liên Hoa, Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Kim Cương, Di Đà Luật tạng

là sách ghi những giới luật do Phật chế định làm khuôn phép cho việc sinhhoạt, tu học của đệ tử nhất là với những người xuất gia tu hành Luận tạng lànhững sách được các vị Bồ Tát biên soạn sau khi đức Phật nhập diệt Nhằmmục đích giới thiệu giáo lý Phật giáo một cách có hệ hống, uốn nắn nhữngnhận thức sai trái và chống lại những quan điểm đả kích, xuyên tạc giáo thuyết

Phật giáo Với một số tác phẩm như Đại thừa khởi tín luận của Mã Minh, Đại

thừa không tôn của Long Thọ, Duy Thức của Vô Trước và Thế Thân.

Giáo lý của đức Phật đề cập đến nhiều vấn đề về thế giới và nhân sinh,

tập trung ở một số giáo thuyết chủ yếu như Pháp, Bản thể, Tâm, Vô thường,

Nhân duyên, Sắc không, Vô ngã, Nhân quả, Luân hồi nghiệp báo, Thập nhị nhân duyên, Tứ diệu đế Quan niệm về người phụ nữ được đức Phật nhắc

đến chủ yếu trong Tăng Bộ kinh, Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh và trong

Luật tạng.

1.2 Nội dung của quan niệm về người phụ nữ trong giáo lý Phật giáo

1.2.1 Quan niệm về người phụ nữ trong một số tôn giáo

Để hiểu rõ quan niệm của Phật giáo về người phụ nữ chúng ta cần tìmhiểu hình ảnh người phụ nữ trong những nền văn hoá khác nhau, trong các tôngiáo khác nhau Khi các tôn giáo ra đời, đã có một sức ảnh hưởng không nhỏkhông chỉ đến những người dân ở khu vực nó ra đời mà sức ảnh hưởng đócòn lan toả khắp các khu vực khác nhau trên thế giới Mỗi đất nước thường córất nhiều các tôn giáo khác nhau Các học giả đều công nhận rằng tất cả cáctôn giáo đều phát sinh từ sự sợ hãi Vào những thời kỳ xa xưa, con ngườikhiếp sợ sấm sét, bóng tối và các hiện tượng mà họ không thể khắc phụcđược Nhằm mục đích mong cầu tránh được nguy hiểm, họ luôn tìm cách đểbiểu lộ thân phận nhỏ bé, sự ngoan ngoãn đồng thời tôn vinh những thứ ấy.Sau khi kiến thức và sự hiểu biết của con người phát triển hơn, sự sợ hãi trướcđây với các hiện tượng thiên nhiên, thần linh và các nhân vật trên trời càng trở

Trang 21

nên khôi hài vì sự sợ hãi đã trở nên tinh tế hơn đó là sợ hãi trước những khổđau Với sự sợ hãi này không có một phương tiện vật chất nào làm cho nógiảm bớt đi được Con người bắt đầu cảm thấy sợ hãi trước sinh, lão, bệnh, tử

kể cả những nỗi lo buồn khác bắt nguồn từ sự thèm muốn, giận dữ và vôminh Đó là điều mà không có một quyền lực hay sự giàu có nào làm nguôingoai được, các tôn giáo cũng phát sinh từ đó

1.2.1.1 Người phụ nữ trong Do thái giáo và Ki Tô giáo

Đạo Ki Tô phát sinh từ đạo Do thái do đó mọi quan niệm chính yếuliên quan đến niềm tin tôn giáo của đạo Ki Tô đều được dập khuôn theo đạo

Do thái Câu chuyện thần thoại Vườn địa đàng của người Sumerians ởBabilon đã có từ 3000 năm.TCN, trở thành nòng cốt cho niềm tin của Do tháigiáo, Ki Tô giáo và Hồi giáo sau này Trong Vườn địa đàng, Thiên Chúadựng nên tổ tiên loài người là Adam bằng đất sét sau đó Chúa thấy Adamsống cô đơn, buồn bã nên Ngài rút một khúc xương sườn cụt của Adam tạo raEva Eva bị con rắn nói tiếng người dụ dỗ ăn trái cấm Eva dụ dỗ chồng làAdam cùng ăn và phạm tội chống lại Thiên Chúa nên cả hai trở thành những

kẻ đầu tiên phạm tội Tội này được gọi là nguyên tội và là tội đầu tiên của loàingười, tội này có đặc điểm là di truyền cho con cháu đến muôn đời

Câu chuyện thần thoại Vườn địa đàng đã được thánh Augustine khaithác tạo thành những giáo lý, biến Công giáo La Mã thành một tôn giáo nổitiếng về óc kỳ thị phụ nữ

Câu chuyện thần thoại này đưa đến nhiều hậu quả bất lợi cho người phụ

nữ Họ phải phụ thuộc vào đàn ông vì đàn bà chỉ là một cái xương sườn cụtcủa đàn ông Eva không được sinh ra từ cha mẹ, không được cưu mang trongbụng mẹ ngày nào, không được cắt rốn nên Eva là người duy nhất trên thếgiới không có lỗ rốn Một trong những lý thuyết quan trọng nhất củaAugustine là tội tổ tông được di truyền cho con cháu muôn đời bởi do hành vigiao cấu tội lỗi của cha mẹ Ông quan niệm dù là hành vi giao cấu của những

vợ chồng hợp pháp nhưng động lực chính yếu vẫn là sự ham muốn dâm dục

Trang 22

Vì vậy hành vi này vẫn cấu thành hành vi tội lỗi và làm cho tội tổ tông được

di truyền muôn đời

Bà Maria có cha là ông Joachin và mẹ là bà Anna Bà được sinh ra bởicha mẹ nên bà được cắt rốn và có lỗ rốn Cái lỗ rốn của bà là bằng cớ hùnghồn chứng tỏ bà đã mắc tội tổ tông Một khi bà đã nhiễm tội thì bà sẽ truyềntội cho thằng con trai của bà là chúa Giê - su, biến Giê - su thành kẻ có tội.Hậu quả cuối cùng là Giê - su không thể vừa là một tội nhân, vừa là đấng tríthánh Giê - su phải hiện nguyên hình là một người thường chứ không phảimột thứ quái thai nửa người nửa thiên chúa

Tội ác dã man mà người phụ nữ phải chịu của Công giáo La Mã và đạoTin lành dưới chiêu bài dệt nạn phù thuỷ Trong tác phẩm Búa phù thuỷ củahai linh mục quan án đạo Heinrich Kramer và James Sprenger xuất bản vàonăm 1468 được làm tài liệu chính thức cho các quan toà án đạo sử dụng.Trong sách có in sắc lệnh 1482 của giáo hoàng Innocent VIII, sắc lệnh là vănkiện luật pháp tối cao chỉ đạo công cuộc diệt phù thuỷ Đây là chứng tíchkhông thể chỗi cãi về một thời kỳ kinh hoàng cho phụ nữ kéo dài hàng trămnăm Bất cứ một phụ nữ nào cũng có thể bị ghép vào tội phù thuỷ Người phụ

nữ có thể bị hàng xóm thù ghét vu cáo cho tội đã dùng bùa phép làm chết con

bò hay con ngựa của hắn Ngay lập tức, người phụ nữ bị truy tố ra toà án đạo

và bị kết tội phù thuỷ Một phụ nữ bỗng nhiên bị nổi ở trên mặt vài cái nốtruồi hay mụn cơm có hình thù đặc biệt khiến cho kẻ mê tín tin đó là dấu hiệucủa ma quỷ Trong sắc lệnh này đã đưa ra nhiều kiến thức lạ lùng về phùthuỷ, thầy cúng, bói toán như các phù thuỷ có thể thông đồng với quỷ đực vàquỷ cái để gây ra bão táp phá hoại mùa màng, giết hại súc vật, phù thuỷ cókhả năng vận dụng sự di chuyển các ngôi sao để gây ra bệnh hoạn Họ kếtước với ma quỷ để có thể biết trước tương lai bằng cách đoán mộng Đó lànhững kiến thức tiêu biểu của giáo hoàng về phù thuỷ Chủ trương diệt nạnphù thuỷ đã bắt nguồn từ Cựu Ước ít nhất 3000 năm.TCN Người phụ nữ bị

Trang 23

Trên bình diện tôn giáo, hình ảnh người phụ nữ được thể hiện theo mẫumực của đạo Do thái Đạo Do thái được hình thành vào thế kỷ XI.TCN gắnliền với bộ lạc người Do thái Những người Do thái tôn thờ thần Ja - hơ - vê

và cho rằng kinh Cựu Ước là nguồn gốc của mọi tín ngưỡng, chứa đựng điều

bí mật vĩ đại Nó là cảm hứng của thánh Ja - hơ - vê được truyền tới cho giáodân qua các nhà tiên tri Kinh Cựu Ước là bộ kinh người Do thái kính trọng

đã lăng mạ người phụ nữ một cách thậm tệ Những người đàn ông mộ đạoluôn chống lại những ai tôn thờ nữ thần Theo nhà tiên tri Ezeliel và Hosea,chuyện thờ kính nữ thần cổ đại cũng đồng nghĩa với sự bội tín, yêu thuật.Theo kinh Cựu Ước, người phụ nữ sẽ bị ném đá đến chết nếu mất sự trinhtrắng Người đàn ông cưỡng hiếp họ chỉ cần bồi thường 50 đồng tiền bạc chonạn nhân Sau đó nạn nhân còn bị ép lấy kẻ đã cưỡng hiếp mình làm chồng đểgiảm bớt sự hổ thẹn cho nạn nhân Cũng trong kinh này, người ta tìm thấyphần nói về sự ghen tuông của người chồng Nếu người vợ ghen thì khôngthành vấn đề nhưng ngược lại, nếu người chồng ghen vợ mình thì anh ta đem

vợ mình tới các nhà tu sĩ, những người này sẽ kiểm tra lòng trung thành củangười vợ bằng cách lấy nước pha với chất dơ dưới đất, nếu người vợ khôngphát bệnh sau khi uống thì chứng tỏ cô ta vô tội Trong thời gian gần đây, cácgiáo sĩ Do thái giáo đã so sánh chuyện một người phụ nữ phơi bày tóc củamình, không dùng khăn che đầu cũng giống như việc phô bày những phần kíncủa thân thể Họ cho rằng tóc của người phụ nữ có thể gây kích thích tính dục,

họ cũng cấm việc cầu nguyện khi có phụ nữ để đầu trần

Cũng trong bộ kinh này, khi nàng Eva hái trộm trái cấm, Thượng Đế đã

có lời nguyền rằng “Ta sẽ khiến cho nhà ngươi phải chịu đau đớn khi mang

thai và càng đau hơn khi sinh con Sự ham muốn của nhà ngươi sẽ được dành cho chồng nhà ngươi và luôn phải chịu sự khuất phục trước chồng nhà ngươi” Chúng ta không thể tin rằng Thượng đế lại nói những lời như vậy.

Thậm chí đến ngày nay, những người Do thái mộ đạo luôn lặp lại những lời

cầu nguyện của họ: Kính lạy đức Chúa trời, ngài đã không khiến con trở

Trang 24

thành phụ nữ Theo truyền thống Do thái giáo, người chồng sở hữu vợ mình

như sở hữu người hầu trong nhà Người chồng có thể ly dị vợ mình bất cứ lúcnào họ muốn, nhưng chuyện ngược lại hầu như không cho phép

Trong đạo Do thái, có khá nhiều nghi lễ do luật Toral đặt ra nhằm phânbiệt cái thanh tịnh với cái không thanh tịnh, cái phàm tục với cái thiêng liêng,người đàn ông không được mặc quần áo của người đàn bà, chết được xem làkhông thanh tịnh Khi gia đình đi lễ ở lễ đường thì người đàn ông ngồi ở hộitrường lớn, còn phụ nữ ngồi ở một khoảng nhà thờ dành riêng cho họ Giáo sĩ

Do thái bắt buộc đàn ông Do thái phải có con để tăng dân số Cùng lúc đó, họ

không dấu diếm việc ưa thích bé trai hơn “thật tốt cho những ai có con trai

nhưng thật tồi nếu có con gái, khi đứa bé trai được sinh ra tất cả đều vui mừng, khi đứa bé gái được sinh ra tất cả đều đau buồn và khi bé trai chào đời hoà bình đến với thế giới, khi bé gái chào đời chẳng có gì đến cả ” Con gái bị

coi là gánh nặng vất vả, sẽ gây hổ thẹn cho người cha “con gái của ngươi ương

ngạnh? Hãy giám sát cô ta cẩn thận để cô ta không làm cho ngươi trở thành trò cười của kẻ thù, câu chuyện của thành phố, chủ đề của chuyện tầm phào tầm thường và đặt ngươi vào cảnh xấu hổ công khai, giữ người con gái ương ngạnh dưới sự kiểm soát chắc chắn, nếu không cô ta sẽ lạm dụng bất kỳ sự xá tội nào mà cô ta nhận được Hãy theo dõi nghiêm ngặt đôi mắt trơ tráo của cô

ta, đừng ngạc nhiên nếu cô ta làm ngươi hổ thẹn” Việc đối xử với con gái như

nguồn gốc gây hổ thẹn dẫn tới việc người ngoại giáo Ả Rập thời tiền Hồi giáo

có hủ tục giết trẻ sơ sinh gái Những quan điểm của đạo Do thái đã trở thành vũkhí tư tưởng gây ra các cuộc chiến tranh của một số nước Hồi giáo

Tuy nhiên, có những đức tính của người phụ nữ mà Ki Tô giáo đưa rađược kế thừa từ Do thái giáo được mọi người chấp nhận để làm tròn vai trò,trách nhiệm của mình trong gia đình Trước tiên, người vợ Ki Tô giáo phải làngười con gái của Chúa, sức mạnh của nàng chủ yếu là để giúp đỡ cho chồngnàng Kinh thánh có mô tả nhiều đức tính phải có của một phụ nữ Ki Tô giáo,

Trang 25

những phụ nữ được Kinh thánh đề cập đến có một niềm tin vững chắc, sâu xavào Chúa, vào lời Ngài hứa với chính họ và gia đình họ Mỗi khi gặp âu lo, họtin tưởng và phó thác cho Chúa, tin rằng lời Chúa sẽ chiến thắng Trong nềnvăn hoá của chúng ta thì ngược lại, người phụ nữ thường hay lo sợ, bất an,buồn rầu về chồng con, lo cho tương lai, họ có đủ mọi chuyện để âu lo trongcuộc sống Nhưng ý Chúa là muốn người phụ nữ không phải lo sợ gì chotương lai mà tươi cười khi nghĩ đến tương lai Cách duy nhất có thể giúpngười ta đọc báo mà không lo sợ gì là tin tưởng vào Chúa Người phụ nữ Ki

Tô giáo ngày nay cũng phải có đức tin nơi Thiên Chúa cũng giống như nhữngngười phụ nữ trong Kinh thánh, họ cũng phải ghi nhớ lời Chúa hứa trong lòng

và tin tưởng vào những lời hứa đó chắc chắn Chúa sẽ thực hiện Hai là đức ái.

Đức ái không chỉ khiến cho nàng yêu thương thăm thiết gia đình mà còn thúcđẩy nàng quan tâm tích cực đến các nhu cầu của dân Chúa nữa Chúng ta cóthể thấy điều đó trong cách nàng xây dựng tổ ấm, trong những bữa ăn nàngdọn ra, trong việc nàng lưu tâm chăm sóc con cái Tình yêu đã khiến cho sựphục vụ của nàng nổi bật lên trong cộng đoàn Ki Tô giáo, là nơi họ tự nguyệngiúp đỡ những người đau khổ và rửa chân cho các tín hữu Đức tính thứ ba

được Kinh thánh gọi là tinh thần thanh thản Thánh Phê - rô gọi tinh thần này

là “sự kiều diễm không phai tàn có giá trị trước Thiên Chúa” Cách hay nhất

để hiểu tinh thần thanh thản là nghĩ về một phụ nữ có đời sống trật tự ngănnắp, bình an, niềm tin tưởng rằng mình có tương quan thân thiện với Chúa vàvới chồng mình Nhờ vậy, nàng có thể tập trung mọi năng lực để chu toàn mọitrách nhiệm của nàng, chứ không hành động theo tính hiếu kỳ, sự lo âu haynhững áp lực tình cảm Nàng không ăn nói bừa bãi mà ăn nói có chừng mực,

tự chủ được lời ăn tiếng nói của mình, tin tưởng vào sự điều khiển của chồngmình Để nói về họ, Kinh thánh dùng những từ ngữ như chừng mực, nghiêmtrang, tinh tế, giản dị Người phụ nữ có tinh thần thanh thản luôn sống trongbình an Nàng sống an hoà với chính mình, với Chúa, với chồng con nàng cósức mạnh, nàng làm chủ được sức mạnh đó, điều đó khiến nàng dễ thương vì

Trang 26

nàng biết rằng quyền năng của Thiên Chúa đang hoạt động trong nàng đểgiúp nàng thực hiện tất cả Nàng phục tùng chồng không phải vì nàng có tínhthụ động hay sợ hãi mà vì nàng ý thức được vai trò, trách nhiệm, quyền hành

mà Chúa ban cho nàng Trong nền văn hoá của chúng ta hôm nay, người phụ

nữ cảm thấy cần phải tỏ ra cứng rắn để có được điều mình muốn nhưng Chúalại thích những người phụ nữ nào biết đợi đến giờ Ngài đã ấn định để xemmọi việc xảy ra Đó là một thái độ quan trọng mà người phụ nữ nên áp dụngtrong gia đình mình, không lấn át quyền của chồng và Chúa sẽ hoạt động qua

quyền lực của chồng mình Đức tính thứ tư là thánh thiện Người phụ nữ Ki

Tô giáo cần phải sống thánh thiện Kinh thánh nói về những người phụ nữbiết kính sợ Chúa, luôn sống trong tâm tình cầu nguyện cả ngày lẫn đêm.Kinh thánh nói đến những đức hạnh đáng nể phục của người phụ nữ Tươnggiao thân thiện giữa người phụ nữ Ki Tô giáo với Chúa tạo nên một phần rấtquan trọng trong tính cách và cuộc đời nàng

Tự đào luyện tính cách để trở thành người vợ Ki Tô giáo đúng nghĩaxem ra là việc khó nhất của người vợ Không có mấy phụ nữ tin rằng họ cóthể trở nên thánh thiện, tin tưởng vững vàng và sống cho dũng cảm, họ dễchấp nhận người phụ nữ yếu đuối và hay thay đổi do nền văn hoá đưa ra Cóthể đó là cá tính Chúa tạo nên trong người phụ nữ, Chúa ban cho họ nhiều ânsủng và sức mạnh để làm một người phụ nữ, Ngài cũng sẽ giúp họ trở thànhnhững người phụ nữ Ki Tô giáo đúng nghĩa Điều quan trọng là hiểu cho đúngvai trò làm chồng, làm vợ của chúng ta là gì, sự hiểu biết đó chính là nền tảngcho cuộc sống gia đình của chúng ta, tương quan thân thiện giữa vợ và chồnglúc nào cũng vẫn là trọng tâm của gia đình Khi vợ chồng bắt đầu có con cái,Thiên Chúa mới tỏ cho họ thấy một phần mới mẻ trong chương trình củaNgài

Chính vì có những điểm như vậy nên các tín đồ của Ki Tô giáo vẫn tintưởng vào Chúa của họ mà không dám đấu tranh cho những bất công mà họ

Trang 27

phải chịu hoặc không có bất kỳ phản kháng nào trong suốt nhiều thế kỷ qua

và tồn tại cho tới bây giờ tuy đã có phần can thiệp của xã hội

1.2.1.2 Người phụ nữ trong Thiên Chúa giáo (Cơ đốc giáo)

Eva trong Cựu Ước đóng vai trò lớn hơn nhiều ở Thiên Chúa giáo sovới Do thái giáo Tội lỗi của bà là chủ chốt trong toàn bộ đức tin Thiên Chúagiáo vì nhiệm vụ của Chúa Giê - su trên trái đất bắt nguồn từ sự bất tuân củaEva với Thượng đế Bà đã mắc tội sau đó dụ dỗ Adam làm theo, do đóThượng đế đã trục xuất cả hai từ thiên đàng xuống trái đất - nơi bị nguyền rủa

vì họ Họ truyền lại cho đời sau lỗi lầm của mình, lỗi mà không được Thượng

đế tha thứ, do đó con người sinh ra đã mang tội tổ tông Thượng đế đã phải hysinh Giê - su trên cây thánh giá Do đó Eva chịu trách nhiệm do lỗi của mình,lỗi của chồng, tội tổ tông của toàn nhân loại và cái chết của con trai Thượng

đế Nói cách khác, phụ nữ hành động theo ý mình đã gây nên sự sụp đổ của

toàn nhân loại “Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy lại phải vâng phục mọi

đàng Ta không cho phép đàn dạy dỗ cũng không được cầm quyền trên đàn ông nhưng phải ở yên lặng Vì Adam được dựng lên trước nhất rồi mới tới Eva, lại không phải Adam bị dỗ dành mà là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi”(Timothy 2:11-14).

Chúng ta dễ dàng tìm thấy những đoạn trích dẫn trong Kinh thánh nói

về sự áp đặt đối với phụ nữ Trong Timothy có đoạn “Hãy để phụ nữ học

cách im lặng với tất cả sự khuất phục” hay trong Ephesian thánh Paul có nói

“người vợ phải luôn phục tùng người chồng”.

Những quan toà dị giáo người Đức mô tả phụ nữ như là những ngườithiếu tri thức, kém cỏi về triết học, không có khuynh hướng tự chủ bản thânthường hay bốc đồng Sự phân biệt đối xử bất công với phụ nữ là một phầnkhông thể thiếu với xã hội Cơ đốc giáo và Do thái giáo ngày nay Sự thốngkhổ của phụ nữ dưới chế độ Cơ đốc giáo được biết là không giới hạn như bị

Trang 28

ép lấy người mình không yêu, hàng ngàn phụ nữ bị thiêu sống sau khi bị cho

là phù thuỷ Họ cũng bị thiêu sống vì những tội như cãi lại lời giới tăng lữ, ăncướp, mại dâm, có con ngoài giá thú Hiện nay đàn ông tiếp tục thống trị hệthống tổ chức trong giáo hội còn phụ nữ vẫn tiếp tục là những người làmkhông công cho nhà thờ Thánh Tertullian thậm chí còn nặng lời hơn thánh

Paul khi ông nói: “Các con có biết, mỗi người trong các con là một Eva? Cái

gì Chúa gán cho các con thì nó tiếp tục tồn tại cho đến thời đại của chúng ta bây giờ, tội lỗi cũng tiếp tục như thế Các con là cửa ngõ để ma quỷ bước vào, các con là người mở dấu niêm phong của cây cấm, các con là kẻ đầu tiên leo lên tội lỗi, các con đã thuyết phục anh ta- người mà ma quỷ không đủ can đảm để tấn công Các con đã phá huỷ dễ dàng quan hệ giữa con người và hình tượng của Chúa, vì tội lỗi đó mà con trai của Chúa bị giết”.

Thánh Augustine trung thành với di sản của tổ tiên, ông viết: “Đâu có

sự khác nhau giữa vợ và mẹ, Eva vẫn là người dụ dỗ mà chúng ta phải biết trong bất kỳ người phụ nữ nào Tôi không thấy phụ nữ có ích cho đàn ông như thế nào nếu loại bỏ chức năng sinh đẻ ra”.

Hàng thế kỷ sau, thánh Thomas Aquinas vẫn coi “phụ nữ là khiếm

khuyết và thiếu chín chắn, vì sức chủ động trong đàn ông nghiêng về sự sản sinh một chân dung hoàn hảo ở đàn ông, trong khi sự sản sinh phụ nữ đến từ một khiếm khuyết trong sức chủ động hay từ một số khó khăn vật chất, hay thậm chí từ ảnh hưởng bên ngoài”.

Nhà cải cách Martin Luther cũng không thấy được lợi ích nào từ phụ

nữ ngoài việc mang đến cho thế giới nhiều trẻ con bất chấp mọi tác động “nếu

họ mệt thậm chí chết đi, không vấn đề gì cả, hãy để họ chết trong quá trình sinh đẻ, đó là lý do họ ở đây”.

Có thể thấy, một lần nữa phụ nữ bị bôi xấu bởi hình ảnh của Eva.Người phụ nữ trong Do thái giáo và Thiên Chúa giáo đều bị huỷ hoại bởiniềm tin vào bản chất tội lỗi của Eva và con cháu phụ nữ của bà Điều này có

Trang 29

1.2.1.3 Người phụ nữ trong Hồi giáo

Tổng số một tỷ hai trăm triệu tín đồ Hồi giáo trải rộng trên khắp các lụcđịa nên số phận của phụ nữ không đồng nhất Tuỳ theo luật pháp của mỗiquốc gia, số phận của phụ nữ ở mỗi nước cũng khác nhau và tuỳ theo phongtục, tập quán của mỗi dân tộc, cũng như sự biến chuyển của lịch sử, số phậnngười phụ nữ Hồi giáo cũng thay đổi theo

Vượt lên trên mọi khác biệt của khu vực và qua những giai đoạn khácnhau của lịch sử vẫn có những yếu tố chung của đạo Hồi quyết định phần lớn

số phận phụ nữ Hồi giáo Đó chính là những điều luật về phụ nữ được nêu rõtrong kinh Cô - ran và trong Thánh luật Sharia Kinh Cô - ran là cuốn sáchthiêng liêng ghi chép các lời của Thiên Chúa Allah nên Cô - ran được coi là

bộ luật tối cao và không ai có quyền sửa đổi Bộ luật Sharia được triển khai từkinh Cô - ran nên cũng là thánh luật bất khả xâm phạm Do đó, những điều gì

dù bất công và vô lý đều được kinh Cô - ran và thánh luật Sharia áp đặt lên sốphận phụ nữ trở thành bất di bất dịch trong các nước Hồi giáo

Kinh Cô - ran quy định chế độ y phục của phụ nữ hết sức khắt khe như

sau: “Phụ nữ phải mặc che kín hoàn toàn, không được để lộ một phần nào

của thân thể trước mặt bất cứ một người đàn ông nào bao gồm cả mặt và tay” Kinh Cô - ran xác nhận uy quyền của đàn ông với đàn bà Đàn ông có

quyền đối với đàn bà vì Chúa đã sinh ra đàn ông cao quý hơn đàn bà vì đànông phải bỏ tài sản của mình ra để nuôi họ Đàn bà tốt phải biết vâng lời đànông vì đàn ông săn sóc cả phần tinh thần của đàn bà Đối với những phụ nữkhông biết vâng lời, đàn ông có quyền ruồng bỏ, không cho nằm chunggiường và có quyền đánh đập

Kinh Cô - ran coi thiên đàng là “khu vườn của lạc thú nhục dục muôn

đời, còn trên thế gian này thì đàn bà là cánh đồng lạc thú mà mọi người đàn ông đều có quyền bước vào nếu muốn ”

Đàn bà bị xã hội Hồi giáo coi là một thứ công cụ để đẻ con và thoả mãndục tính của đàn ông Kinh Cô - ran còn quy định khi cha mẹ chia gia tài con

Trang 30

gái chỉ được hưởng một nửa so với con trai Khi các nhân chứng ra trước toàthì lời chứng của đàn bà chỉ có giá trị bằng một nửa lời khai của đàn ông Khinạn nhân là phụ nữ bị giết thì thân nhân chỉ được lãnh một nửa số tiền bồithường Đàn ông có quyền lấy nhiều vợ nhưng đàn bà chỉ được phép lấy mộtchồng do đó đàn ông không có tội ngoại tình, trái lại đàn bà ngoại tình sẽ bịđem ra nơi công cộng ném đá cho đến chết

Tiến sĩ Nawa Sadawi, một phụ nữ Hồi giáo đã can đảm chống lạinhững điều mà tôn giáo của mình chống lại phụ nữ Bà đã nói rằng thật khó

mà nói về quyền lợi của người phụ nữ dưới chế độ cưới hỏi của đạo Hồi, phụ

nữ chẳng khác nào người nô lệ Hôn nhân là sự tiến đến nô lệ Nhà tiên tri

Mohamet nói rằng “không có tai ương đem đến cho loài người hơn là sự hiện

diện của nữ giới”.

Các nhà hiền triết Hồi giáo có quyền lực mạnh đến nỗi những nguyêntắc họ đưa ra được các nước theo đạo Hồi tuôn theo như một quy phạm phápluật Đó là lý do dân chúng của các nước này không có bất kỳ sự phản khángnào ngay cả trong suy nghĩ Nên kiến thức, văn hoá, kinh tế ở các nước theođạo Hồi đã và đang đình trệ, nạn mù chữ cao nhất thế giới Các nhà thần họcHồi giáo đã tuyên bố rằng, đàn ông là một sáng tạo nguyên gốc, còn phụ nữđược tạo ra để thoả mãn thú vui của đàn ông Al - Ghazzali một nhà triết học

tôn kính của đạo Hồi đã định nghĩa vai trò của phụ nữ như sau: “Phụ nữ nên

ở nhà và làm công việc nhà, không nên ra ngoài thường xuyên, không được tán gẫu với hàng xóm, láng giềng Đối với chồng, phải luôn chăm sóc và làm thoả mãn tất cả những gì chồng muốn, không được ngoại tình và moi tiền của chồng Ra khỏi nhà phải có sự cho phép của chồng, nếu chồng cho phép phải biết hổ thẹn khi ra ngoài, không được vứt bỏ quần áo cũ, không ở nơi đường vắng người, tránh chợ búa, không được để người lạ nghe và nhận ra tiếng của mình Không được nói chuyện với bạn của chồng, sự quan tâm duy nhất

Trang 31

1.2.1.4 Người phụ nữ trong Nho giáo

Tư tưởng Nho giáo ở Trung Quốc và một số nước Đông Á được coinhư một thứ tôn giáo Ra đời cùng thời gian với Phật giáo, Nho giáo được coi

là quốc sách của Trung Quốc cổ đại với một học thuyết đồ sộ Nho giáo đãgóp phần cho xã hội phong kiến Trung Quốc tồn tại hàng nghìn năm TrongNho giáo có thể thấy tư tưởng trọng nam khinh nữ thể hiện rất rõ qua tư tưởng

tam tòng - tứ đức Con gái chỉ được học nữ công gia chánh mà không nên học

kinh sách thánh hiền Nữ giới chỉ được xem như là cái bóng hoàn toàn lệ

thuộc vào nam giới, không được sống độc lập “người phụ nữ có nghĩa vụ

phải theo tam tòng, không có con đường nào khác Theo đó, người phụ nữ chưa lập gia đình thì phải theo cha, khi lập gia đình thì theo chồng, chồng chết thì theo con” Quy định của tam tòng như thế không phải là sự bảo vệ

tích cực với phụ nữ mà nó khẳng định một cách tiêu cực vị thế của phụ nữrằng họ phải lệ thuộc vào nam giới Từ đó, phụ nữ chỉ còn là cái bóng mờtrong gia đình, ngoài xã hội Quan niệm như thế đã tồn tại trong nền giáo dụcgia giáo cổ xưa của Trung Quốc hàng nghìn năm Người sáng lập Nho giáo làKhổng Tử, ông cũng không nhắc nhiều đến phụ nữ Nhưng sau khi Nho giáotrở thành quốc giáo thì những gì ông nói bắt đầu được chú ý Khổng Tử nói:

“Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nán dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán” (Duy chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là khó giáo dưỡng Gần thì họ khinh

Trang 32

rằng: “Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho” (Người làm nho quân tử

đừng làm nho tiểu nhân) Theo cách hiểu đó thì Khổng Tử xếp phụ nữ vàocùng một hạng với tiểu nhân, khó có thể nuôi dưỡng, dạy dỗ được Vì câu nóinày của Khổng Tử, nhiều người sau này cho rằng Khổng Tử có ý kỳ thị, thànhkiến với phụ nữ Tuy nhiên, nhiều người cũng cho rằng nhận định này củaKhổng Tử có lý do riêng của mình chứ không hẳn là có ý thành kiến riêng vớiphụ nữ

Như vậy, qua các quan điểm của một số tôn giáo về người phụ nữ cóthể thấy các tôn giáo ra đời từ nhiều quốc gia trên thế giới, cùng xuất phát từnguồn gốc về nhận thức, tâm lý, xã hội tuy nhiên ở mỗi quốc gia có nhữngđặc điểm về tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau nên các tôn giáo cónhững quan điểm khác nhau, đặc biệt trong quan niệm về người phụ nữ

Hầu như các tôn giáo đều có những hạn chế khi quan niệm về ngườiphụ nữ, chưa thấy được vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình cũngnhư ngoài xã hội, có cái nhìn khinh miệt với người phụ nữ, hạ thấp vai trò của

nữ giới dù trước đó đã có thời kỳ mẫu hệ - người phụ nữ giữ vai trò chủ chốttrong xã hội Các tôn giáo đều coi người phụ nữ không có giá trị mà nhữngngười đàn ông phải gánh thêm trong cuộc sống Chính điều này là nguyênnhân gây ra sự bất bình đẳng trong xã hội và sự mất cân bằng giới tính hiệnnay khi tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi con người ởkhắp nơi trên thế giới

Trong các tôn giáo có thể nói rằng, Phật giáo đã quan tâm đến ngườiphụ nữ Đức Phật đưa ra quan điểm của mình về người phụ nữ, không chỉ làphụ nữ ở Ấn Độ cổ đại mà phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới Ngài đã thấy đượcvai trò, sức mạnh của người phụ nữ, thấy được những bất công mà họ phải

Trang 33

gánh chịu và mong muốn xoá bỏ những bất công đó trong xã hội, trả lại địa vịcho người phụ nữ, nâng cao vị thế của họ trong xã hội

1.2.2 Quan niệm của đạo Phật về người phụ nữ trong cuộc sống đời thường

1.2.2.1 Đức Phật đã đề cập đến quyền bình đẳng cho người phụ nữ trên nhiều lĩnh vực

Nhìn từ khía cạnh tâm linh, Phật giáo với trí tuệ uyên thâm, thấu đáo đãchính thức công nhận quyền bình đẳng của con người bởi máu cùng đỏ vànước mắt cùng mặn Vấn đề giai cấp và giới tính là vấn đề hoàn toàn xa lạtrong Phật giáo bởi điểm đến của Phật giáo là sự vắng lặng của tịch diệt và vôngã cho nên giới tính không còn nữa Bị đè nặng bởi định kiến của xã hội nênphụ nữ vào thời đức Phật ít có cơ may để đến gần hơn với giáo lý bình đẳngcủa Ngài, tiếp xúc nhiều hơn với nhân cách sáng chói của Ngài Tuy vậy, đứcThế Tôn với con mắt đầy tuệ giác, bình đẳng và từ bi đã vượt lên trên và vượt

xa thời đại để khẳng định đúng vai trò, khả tính của người phụ nữ trong giađình và ngoài xã hội cũng như trong giáo pháp tâm linh của Ngài Đức Phậthiểu rằng tiềm năng của con người không lệ thuộc vào giới tính, nó nằm ởcách nhận định, đánh giá vấn đề dưới góc độ thực hành trong cuộc sống, khi

đề cập dưới góc độ đó thì tiềm năng của cả nam và nữ đều như nhau Tínhbình đẳng của đức Phật là một tính bình đẳng gần như tuyệt đối, bình đẳngxét ngay từ trong thể tính của vũ trụ, từ cội gốc của cuộc đời là sự sống, mọi

sự sống bất luận trong hình thức nào đều có giá trị ngang nhau, được tôntrọng như nhau, tất cả chúng sinh đều có Phật tính và đều có thể thành Phật

Xã hội được tạo nên bởi những con người khác nhau về rất nhiều mặt, từ giaicấp, địa vị, giàu nghèo… Tuy nhiên, đối với giáo lý đạo Phật, con người caothượng hay nhỏ bé không dựa trên giai cấp hay địa vị, bởi lẽ mọi con ngườiđều có quyền sống, tự do, và tìm cầu hạnh phúc cho riêng mình

Đối với đức Phật thì muôn vật và con người đều bình đẳng như nhau,

vì tất cả cùng chung luật Nhân quả Không một loài nào được hưởng ân huệ

riêng cũng không loài nào bị thiệt thòi riêng Hễ ai tạo nhân lành thì được quả

Trang 34

- Thưa Ngài hãy tránh ra vì con là dòng họ Thủ - đà - la A - nan trảlời:

- Tôi đến đây xin nước uống không xin giai cấp

Phật giáo đã mang lại cho phụ nữ sự bình đẳng trong cuộc sống Bình

đẳng trong quan niệm của Ngài là địa vị, quyền lợi của người phụ nữ tronggia đình cũng như ngoài xã hội Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh đến quyền lợi,địa vị cũng như vai trò của người phụ nữ trong gia đình Bởi khi đó người phụ

nữ hầu như chỉ được biết đến với những bổn phận, trách nhiệm trong gia đình

Có rất nhiều cách hiểu về bình đẳng nhưng có thể thấy, bình là bằng,ngang nhau, không cao, không thấp, không trên, không dưới Đẳng là sắphạng, là cấp bậc Bình đẳng là sắp ngang nhau, xem như nhau, không có cáinày cao cái kia thấp, không thiên vị hạng người này trừ bỏ hạng người kia

Trong Từ điển Triết học cho rằng: “Bình đẳng là khái niệm nói lên vị trí như

nhau của con người trong xã hội nhưng lại có một nội dung khác nhau trong những thời đại lịch sử khác nhau và ở những giai cấp khác nhau Sự bình đẳng hoàn toàn chỉ được tạo ra dưới chủ nghĩa cộng sản Nhưng sự bình đẳng của chủ nghĩa cộng sản không có nghĩa là một sự san bằng nào đó đối với tất cả mọi người mà ngược lại, nó mở ra những khái niệm vô hạn cho mỗi người tự do phát triển những năng lực và nhu cầu của mình, tương xứng với những năng khiếu và phẩm chất cá nhân” Aristoes cũng đã diễn tả một cách

chí lý quan niệm bình đẳng là công bình như sau: “Bất công là bất bình đẳng

và công bình là bình đẳng”, “Những người không bằng nhau được đãi ngộ tùy theo sự khác biệt của họ”.

Trang 35

Đức Phật đã chấn an họ, Ngài lấy sự tu đạo làm thước đo chuẩn mực

cao nhất của sự bình đẳng: “Sự sang hèn của con người là do nhân cách chứ

không phải do dòng họ mà có, đối với việc tu đạo, dòng dõi tuyệt đối không

có một ý nghĩa nào cả mà chỉ khác nhau ở chỗ có hăng hái hay không trong việc tiến tu mà thôi Đó là chủ trương cốt tủy của Phật và các đệ tử của Ngài” [19, 231].

Đức Phật để người phụ nữ tự do trong hôn nhân gia đình, họ được tự dolựa chọn người mình kết hôn và trong gia đình, vợ và chồng đều có địa vịngang nhau, người vợ không phải phục dịch người chồng của mình và ngượclại Trong kinh Thiện Sinh, chúng ta bắt gặp những câu kinh gián tiếp nói vềquyền bình đẳng giữa vợ và chồng Đức Phật dạy cách người chồng phải đối

xử với vợ như sau: “Người chồng nên lấy năm điều mà yêu thương, cấp

dưỡng vợ Năm điều là gì? Một là yêu thương vợ Hai là không khinh rẻ Ba

là sắm các chuỗi ngọc, đồ trang điểm Bốn là để vợ ở trong nhà được tự do Năm là xem vợ như chính mình Người chồng lấy năm điều để yêu thương cấp dưỡng vợ”[3,III] Cũng trong bài kinh ấy, đức Phật khuyên người phụ nữ

phải bày tỏ lòng thương kính chồng bằng cách như làm tròn phận sự củamình, ân cần đón tiếp thân bằng quyến thuộc của chồng, trung thành vớichồng, cẩn thận giữ gìn tiền bạc, của cải mà chồng đem về, luôn siêng năng,không bao giờ tháo trút công việc Bằng cách nói đến bổn phận của ngườichồng với người vợ và ngược lại, đức Phật đã âm thầm gieo vào lòng quầnchúng tư tưởng yêu thương, tôn trọng và đề cao nữ giới Vô hình chung, vấn

đề bình đẳng nam nữ trên phương diện quyền lợi đã dần được thiết lập trong

xã hội, quyền lợi bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ Trong giáo lý của đứcPhật, người phụ nữ đã từng bước khẳng định mình, tìm được chỗ đứng chomình tương xứng với quyền lợi, nghĩa vụ của họ Họ đòi quyền bình đẳngnhưng vẫn hoàn thành vai trò, nghĩa vụ của người vợ, người mẹ trong giađình thậm chí tham gia công việc xã hội

Trang 36

Đức Phật đã làm một điều phi thường lúc bấy giờ là nâng cao địa vị

người phụ nữ lên ngang tầm với nam giới để họ có những quyền lợi như nam

giới Nếu trong Ấn giáo cổ, người phụ nữ bị coi là hạng thấp kém trong gia

đình và ngoài xã hội, họ không được tham gia tôn giáo, không được học hành,không được tự do lựa chọn trong hôn nhân Khi đức Phật ra đời, Ngài chorằng, nữ giới cũng như nam giới cũng có khả năng học hành và thành đạo, họ

có thể tu và chứng đắc như nam giới Nhìn từ góc độ tâm sinh lý, có thể thấy

nữ giới không bằng được nam giới nhưng theo tinh thần bình đẳng của đứcPhật, mỗi loài đều có chức năng, nhiệm vụ riêng nên không thể có sự kỳ thịvới nữ giới

Người nam có thể thành công thì người nữ cũng có thể thành công

trong khả năng của họ Đức Thế Tôn đã nói với Visakha: “Này Visakha, đầy

đủ bốn pháp nữ nhân thành tựu ở đời này Đời này rơi vào trong tầm tay của nàng Nữ nhân khéo làm các công việc, biết thâu nhiếp các người phục vụ, sở hành vừa ý chồng, biết giữ gìn tài sản Ở đây, này Visakha, nữ nhân có đầy

đủ lòng tin, giới đức, đầy đủ bố thí, trí tuệ Đủ bốn pháp này, nữ nhân thành tựu chiến thắng ở đời sau ” [3, III, 8] Một người phụ nữ được xem là thành

công trong cuộc đời, ngoài hạnh phúc của bản thân còn là niềm vui, niềm tựhào cho gia đình chồng con Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vô cùngquan trọng vì thế phụ nữ cần phấn đấu để hoàn thiện mình hướng đến sựthành công Theo đức Phật, người phụ nữ có khả năng thành công nếu khéolàm tròn các công việc, ngoài công việc nhà phải có một nghề nghiệp chuyênmôn cùng chồng con xây dựng gia đình Bên cạnh đó là khả năng điều hành,quản lý nhân sự, nhân công làm việc trong gia đình mình Đối với phụ nữngày nay thì đó là chuyện bình thường nhưng với xã hội Ấn Độ cổ đại thìđiều đó thực sự cấp tiến, đã nâng người phụ nữ lên tầm cao mới

Người phụ nữ bị coi là phái yếu, xã hội Ấn giáo cổ không nhìn ra sứcmạnh của họ, nhấn chìm họ xuống đáy xã hội Đức Phật đã chỉ ra cho mọi

Trang 37

hạnh, khi đức Thế Tôn nhấn mạnh rằng: “Này các Tỳ kheo, người đàn bà

không do nhân nhan sắc, không do nhân tài sản, không do nhân bà con hay sinh con trai được sinh thiện thú, thiên giới, người đàn bà do nhân giới hạnh, sau khi thân hoại mạng chung được sinh thiên giới ”[27] Các tầng lớp khác

đã không nhận ra những đức tính đó ở người phụ nữ, một phần vì đó nên họ

bị vùi dập Đức Phật chỉ cho nhân loại thấy được và có thể coi đây là điềukiện tiền đề cho phong trào bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ sau này

Tạo hoá sinh ra hai giới nam và nữ không chỉ khác nhau về ngoại hình

mà quan trọng là khác nhau về tố chất dẫn đến khác nhau về thiên chức, nănglực hành động, nhu cầu và cảm xúc Tổng hoà của những khác biệt ấy tạo ra

sự khác nhau về giá trị giới Nhìn tổng quát, giá trị giới của đàn ông là thuộcphái mạnh, có khả năng làm những việc nặng nhọc, đòi hỏi nhiều trí lực vàsức lực Giá trị giới của phụ nữ là thuộc phái yếu, có thiên chức làm nhữngcông việc có tính chất khéo léo, nhẹ nhàng, kiên trì Ngay từ thời nguyênthuỷ, loài người đã có sự phân công lao động tự nhiên theo giá trị giới Đànông đi săn bắn, chặt cây, xây nhà Phụ nữ hái lượm, nấu ăn, trông con cái Đến nay hầu như đàn ông vẫn thường làm những việc nặng nhọc Tất nhiên

đó không phải là ranh giới tuyệt đối, trên thực tế có nhiều người phụ nữ cónăng lực cao của đàn ông, có người đàn ông có tính chất khéo léo của phụ nữ.Đức Phật không dựa vào đó để quy định sự bình đẳng về giới Cho nên, nếu

Ấn giáo và Bà-la-môn đau khổ khi sinh ra bé gái thì đức Phật đã cho họ thấy

rằng: “Có một số thiếu nữ, thưa đức vua, đôi khi còn tốt hơn con trai Vì thiếu

nữ ấy khi trưởng thành, có trí tuệ và đức hạnh được cha mẹ chồng vị nể, rồi sinh được con trai, là anh hùng quốc chủ của một quốc gia”[4, I, 3] Ngài đã

Trang 38

“tất cả năm thứ giác quan làm thoả mãn tâm ý đàn ông đều tập trung vào

ngoại hình của người phụ nữ”[3, III, 69] Bổn phận và nhu cầu về quan hệ vợ

chồng là bình đẳng, vì thế việc quan hệ trước hôn nhân được xem là khôngthích hợp, cũng như sau khi đã kết hôn chung thuỷ được xem là đức tính cầngiữ gìn, không nên vi phạm, sự chung thuỷ không chỉ xuất phát từ phía người

vợ mà phải từ cả hai phía

Phật giáo chủ trương thiết lập đời sống hạnh phúc gia đình trên nguyêntắc tôn trọng, bình đẳng về vấn đề giới tính, không có thái độ đối xử phân biệttrọng nam khinh nữ, hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi lễ giáo phong kiến.Người phụ nữ được hoàn toàn tự do, không bị hạn chế bởi những quy tắc tamtòng, tứ đức, nền tảng của hôn nhân là tình yêu Người phụ nữ đến tuổi phảilấy chồng và sinh con Người phụ nữ độc thân bị khinh thường trong xã hội

Ấn cổ đại Kinh Mi Tiên vấn đáp đã phản ánh như sau: “Trên thế gian này có

mười hạng người đáng bị khinh miệt, chỉ trích, chê trách, trong đó phụ nữ không chồng là một trong mười hạng ấy”.

Kinh điển Phật giáo phản đối nội dung này Với sự ảnh hưởng của đức

Phật, phụ nữ độc thân không bị thành kiến, sống chan hoà, vui vẻ, bình đẳng

với mọi thành viên trong gia đình, chăm sóc cha mẹ, trông nom các em của

Trang 39

được nâng cao hơn rất nhiều, việc kén rể của cha mẹ cho con gái đã suy giảmrất nhiều

Tuy nhiên, người goá phụ rất đáng thương, đức Phật dạy không nên

đưa ra bất kỳ lý do nào để lăng mạ hay sỉ nhục người goá phụ Ngài cũng

không chấp nhận việc hạn chế các quyền lợi của người goá phụ như quyềnthừa kế tài sản, bảo vệ tài sản hay tham gia các lễ hội, người goá phụ cóquyền tái hôn và nếu họ muốn có thể xuất gia trở thành Tỳ kheo ni trong giáođoàn của đức Phật Cốt lõi trong giáo lý của Ngài là bình đẳng và diệt khổ nênkhông thể nào hoan nghênh lại càng không thể chủ trương một lối ứng xửkhông nhân bản đối với người đàn bà goá Đức Phật cho phép sự ly hôn khi bị

đổ vỡ, nếu cả hai bên không thể kết nối yêu thương nữa thì họ có thể tái hônmột đời sống mới, hạnh phúc phù hợp với đạo lý Đạo Phật tán thành quanđiểm hôn nhân phải dựa trên nền tảng đạo đức luân lý, trên cơ sở hiểu biết lẫnnhau, đồng cảm giữa người nam và người nữ

Nữ học giả Horner đã đưa ra một kết luận rất thâm thuý về địa vị người

phụ nữ “Trong giáo lý Phật giáo, chúng ta có thể nói rằng, vị trí của nữ giới

trong xã hội Ấn Độ thời đức Phật rất đáng ganh tị, rất đáng tôn kính mà trước thời kỳ này chưa hề có Người phụ nữ và những goá phụ đã không còn

bị xã hội khinh rẻ hay bị xem là nỗi thất vọng của gia đình Họ đáng nhận được nhiều kính trọng hơn và xác lập địa vị cá nhân mình trong xã hội Họ có được tự do và độc lập hơn để tự quyết định cuộc sống cá nhân của mình”[15].

Nô lệ hay người đầy tớ là một hiện tượng không xa lạ trong thời đó Họ

bị xem là tài sản của chủ nhà Phật giáo không chấp nhận việc chiếm hữu nô

lệ và kêu gọi quyền tự do cho các nữ đầy tớ Bất kỳ phụ nữ thuộc hạng ngườinào cũng được đức Phật tôn trọng dù là cao quý hay thấp hèn

Những quan niệm của đức Phật về sự bình đẳng cho người phụ nữ lànhằm vào chế độ bất bình đẳng thời bấy giờ, đồng thời lên án sự phân biệt,phân chia giai cấp gây ra bất bình đẳng trong xã hội

Trang 40

Xuyên suốt những quan niệm của đức Phật có thể thấy Ngài đã nói ranguyên nhân sâu xa của những khác biệt trong xã hội về vấn đề bình đẳng vàgiai cấp, địa vị của con người Phật giáo đưa ra thuyết nghiệp báo luân hồi, làđịnh luật chi phối toàn bộ chúng sinh Những việc làm trong quá khứ là nhânđưa đến đời sống hôm nay, những tạo tác hôm nay sẽ là nền móng kiến tạomột cảnh giới trong tương lai mà mỗi người tự nhận lấy cho riêng mình Đây

là sự bình đẳng tuyệt đối, bình đẳng trên vấn đề nghiệp lực Nghiệp là mộtquan tòa công minh, không thương ghét, thiên vị ai Con người sinh ra khác

nhau chẳng qua là do nghiệp, và người ta có thể thay đổi về điều này: “Con

người tạo nên mọi thứ, tất cả những buồn đau và bất hạnh cũng như hạnh phúc và thành công của mình Những người khác có thể sử dụng ảnh hưởng

vì cuộc sống của họ, nhưng chính con người ấy nay tạo ra nghiệp của mình Cho nên người ấy chịu trách nhiệm về những hậu quả”[38] Như vậy, sở dĩ

hôm nay người ấy sinh vào dòng dõi thiếu phước báu là do kiếp trước họ chưagieo nhân thiện lành, ngược lại người sinh được vào dòng Sát - đế - lị, Bà - la

- môn…là do họ đã tạo những nghiệp tốt trong quá khứ Dẫu biết rằng conngười sinh ra trên cuộc đời này với tấm thân giả tạm do tinh cha huyết mẹ vàthức tạo thành Ai cũng phải chịu sự chi phối của định luật vô thường, sinh,già, bệnh, tử, nhưng tại sao có người được trường thọ, có người lại quá yểu

mạng, có người chưa ra khỏi bào thai đã tử: “Nếu có kẻ nam hay người nữ

nào sát sanh, hung dữ, cực ác, uống máu, có ý sát hại, mang tâm niệm xấu

ác, không có tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh cho đến các loài côn trùng, thì người ấy thọ lấy nghiệp ấy, tạo tác đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung chắc chắn đi đến chỗ ác, sanh vào trong địa ngục, mãn kiếp địa ngục rồi, lại sinh vào nhân gian tuổi thọ rất ngắn ngủi ”[7, III, 747] Người hay

khiến người khác lo lắng, bất an thân tâm cũng như sát sinh hại vật tùy theomức độ nhận lấy quả báo đoản mạng hay bệnh tật Ngược lại, người sốngđược trường thọ và ít bệnh tật, vì người ấy sống với tâm từ bi, thương yêu mọi

Ngày đăng: 14/04/2016, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Basnayoda Rahula, Lời dạy của đức Phật về sự thành tựu trong gia đình, nơi công sở, ngoài xã hội, NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời dạy của đức Phật về sự thành tựu trong gia đình,nơi công sở, ngoài xã hội
Nhà XB: NXB Tôn giáo
2. Nguyễn Phúc Bửu, Đạo Phật và nữ quyền, Tạp chí Hoa sen số 28 ngày 15.5.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Phật và nữ quyền
3. Hòa thượng Thích Minh Châu (người dịch) (1996), Kinh Tăng chi bộ I, II, III, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Tăng chi bộ I, II,III
Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu (người dịch)
Năm: 1996
4. Hòa thượng Thích Minh Châu (người dịch) (1996), Kinh Tương ưng bộ I, II, III, IV, V, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Tương ưng bộ I,II, III, IV, V
Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu (người dịch)
Năm: 1996
5. Hòa thượng Thích Minh Châu (người dịch) (1996), Kinh Trung bộ I, II, III, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Trung bộ I, II,III
Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu (người dịch)
Năm: 1996
6. Hòa thượng Thích Minh Châu (người dịch) (1996), Kinh Trường Bộ I, II, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Trường Bộ I, II
Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu (người dịch)
Năm: 1996
7. Hòa thượng Thích Minh Châu (người dịch) (1996), Kinh Trung A Hàm III, IV, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Trung A HàmIII, IV
Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu (người dịch)
Năm: 1996
8. Hòa thượng Thích Minh Châu (1990), Kinh Pháp cú, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Pháp cú
Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu
Năm: 1990
9. Đoàn Trung Còn, Đạo lý nhà Phật, NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo lý nhà Phật
Nhà XB: NXB Tôn giáo
10. Đoàn Trung Còn (2009), Triết lý nhà Phật, NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý nhà Phật
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2009
11. Sa môn Đức Cơ (2003), dịch giả Thích Nữ Diệu Sơn, Luật Tứ Phần tỳ kheo ni giới bổn hội nghĩa, NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tứ Phần tỳkheo ni giới bổn hội nghĩa
Tác giả: Sa môn Đức Cơ
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2003
12. Lê Văn Đính (10.2007), Bàn thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đờisống xã hội Việt Nam hiện nay
13. Hòa thượng Thích Mãn Giác (2002), Tìm hiểu sáu phái triết học Ấn Độ, NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sáu phái triết học Ấn Độ
Tác giả: Hòa thượng Thích Mãn Giác
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2002
14. Sa Môn Trí Hải (2000), Phật học thường thức, NXB Học viện Phật giáo Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học thường thức
Tác giả: Sa Môn Trí Hải
Nhà XB: NXB Học viện Phật giáoViệt Nam
Năm: 2000
15. I.S. Horner (1930), Vai trò nữ giới trong Phật giáo nguyên thủy, NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò nữ giới trong Phật giáo nguyên thủy
Tác giả: I.S. Horner
Nhà XB: NXBTôn giáo
Năm: 1930
16. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2 (2002), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2
Tác giả: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
17. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10 (2002), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10
Tác giả: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
18. Junjiro Takakusu, người dịch Tuệ Sĩ (2008), Tinh hoa triết học Phật giáo, NXB phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa triết học Phật giáo
Tác giả: Junjiro Takakusu, người dịch Tuệ Sĩ
Nhà XB: NXB phương Đông
Năm: 2008
19. Kimurataken, Thích Quảng Độ (dịch), (1996), Nguyên thủy Phật giáo luận, NXB Viện đại học Vạn Hạnh Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên thủy Phật giáoluận
Tác giả: Kimurataken, Thích Quảng Độ (dịch)
Nhà XB: NXB Viện đại học Vạn Hạnh Việt Nam
Năm: 1996
20. Diệu Kim (2008), Đố vui Phật pháp, NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đố vui Phật pháp
Tác giả: Diệu Kim
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w