Kinh tế tri thức là giai đoạn mới của sự phát triển lực lượng sản xuất xãhội...112.2.. Đó là xu thế phát triển khách quan của lịch sử “Quy luật về sự phù hợpquan hệ sản xuất với trình độ
Trang 1MỤC LỤC
Më ĐẦU ……… ……….5
ch¬ng 1 chñ nghÜa m¸c vµ nÒn kinh tÕ tri thøc
1.1 Kinh tế tri thức - lực lượng sản xuất tinh thần trong lí luận về lực lượngsản xuất 81.2 Kinh tế tri thức tính đến nay là ngành sản xuất tiếp theo các ngành sảnxuất thứ nhất, thứ hai, thứ ba đã lần lượt ra đời. 81.3 Kinh tế tri thức trở thành ngành sản xuất quan trọng nhất, có vị trí chủđạo trong nền kinh tế xã hội ngày nay 91.4 Tri thức là yếu tố sản xuất mới ngoài ruộng, đất, lao động và tưbản 91.5 Kinh tế tri thức với khoa học kĩ thuật là lực lượng sản xuất thứnhất 9
Ch¬ng 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC.
2.1 Kinh tế tri thức là giai đoạn mới của sự phát triển lực lượng sản xuất xãhội 112.2 Kinh tế tri thức là giai đoạn mới của kinh tế thị trường 122.3 Hình thái kinh tế xã hội và kinh tế tri thức 122.4 Kinh tế tri thức và triển vọng về một xã hội mới: Xã hội giàu có – côngbằng, dân chủ và văn minh 13
ch¬ng 3 THỰC TIẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY.
Trang 23.1 Sự cần thiết phát triển kinh tế tri thức ở nước ta 14
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 14
3.3 Giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay 16
3.3.1.Về nhận thức……… 16
3.3.2 Về hoạt động thực tiễn ……… 17
3.3.2.1 Tiếp tục đổi mới quản lí xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển quốc gia dựa trên tri thức……… ……….…… 18
3.3.2.2 Phát huy vai trò công đoàn……….……… 19
3.3.2.3 Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm xây dựng một xã hội có năng lực hấp thụ và tạo tri thức phục vụ phát triển……….…… 19
KẾT LUẬN……….…… 22
danh môc tµi liÖu tham kh¶o……… 23
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện tiểu luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các đoàn thể và cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn và kính trọng tới tất cả các tập
Trang 3thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vi Thái Lang người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện tiểu luận Tôi xintrân trọng cảm ơn Phòng sau đại học, thư viện, tập thể K16 TGT, các đơn vị liên quan của trường ĐHSP Hà Nội 2 những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thiện bài tiểu luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, chia
sẻ, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thiện tiểu luận này
Hà Nội, tháng 1 năm 2013
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Nghĩa
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong tiểu luận này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng
Trang 4mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện tiểu luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong tiểu luận này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Trang 5Học thuyết Mác Lê Nin đã chỉ ra rằng Xã hội loài người dù trải quanhững bước phát triển quanh co, khúc khuỷu như thế nào cuối cùng rồi sẽ dầnchuyển hoá từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái kinh tế xã hội caohơn Đó là xu thế phát triển khách quan của lịch sử “Quy luật về sự phù hợpquan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luậtchung nhất của sự phát triển xã hội Sự tác động này đưa loài người trải quaphương thức sản xuất kế tiếp nhau từ thấp đến cao: Công xã nguyên thuỷ,chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa và phương thức cộng sảntương lai” Xã hội loài người đi từ nền kinh tế tự cung tự cấp dần tiến lênkinh tế tri thức dựa trên sự xã hội hoá lao động về sản xuất Và hiện nay kinh
tế tri thức đang chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn kinh tế tri thức với đặcđiểm nổi bật là sử dụng khoa học kĩ thuật và trí lực của lực lượng sản xuấtvào đổi mới quan hệ sản xuất, kinh tế tri thức đang phát triển và tác độngngày càng sâu sắc đời sống kinh tế xã hội trên mọi lĩnh vực Kinh tế tri thứctạo triển vọng của một xã hội mới trong quá trình chuyển biến cách mạng từkinh tế công nghiệp tư bản chủ nghĩa sang kinh tế tri thức với hệ thống quan
hệ sản xuất mới và hệ thống chính trị mới, từ nền văn minh công nghiệp sangnền văn minh trí tuệ
Hiện nay nền kinh tế tri thức hình thành ở nhiều nước trên thế giới Đó
là xu thế tất yếu của quá trình phát triển sức sản xuất, là thành tựu quan trọngcủa loài người, chúng ta cần nắm lấy và vận dụng để phát triển lực lượng sảnxuất, xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật về chủ nghĩa xã hội và xét thực trạngnền kinnh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế nghèo thông tin và tri thức, trình
độ phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin chưa cao Chúng ta cần cónhững chính sách để vận dụng những cơ hội và khả năng tiếp cận thành tựukhoa học công nghệ hiện đại Đó chính là lí do chính để em chọn đề tài:
Trang 6“Lý luận về kinh tế tri thức và vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở nước
ta hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề liên quan đến đề tài này đã có nhiều tác giả với nhiềucông trình đã được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án Triếthọc
§ã có nhiều công trình nghiên cứu quản lý “Vai trß cña lý luËn trong nÒn kinh tÕ tri thøc” dưới nhiều góc độ khác nhau,… song việc tiếp tục
nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra là một quátrình lâu dài
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở vận dụng lý luận và phương pháp của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các văn kiện của Đảng CộngSản Việt Nam kế thừa các tác phẩm, các công trình nghiên cứu trong và ngoàinước
Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp: Phương pháp phân tích,phương pháp tổng hợp, phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp tiếp cận
hệ thống để nghiên cứu và trình bày
Trang 75 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, đề tài gồm 3 chương:
ch¬ng 1 chñ nghÜa m¸c vµ nÒn kinh tÕ tri thøc
Ch¬ng 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC
ch¬ng 3 THỰC TIẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC ỞNƯỚC TA HIỆN NAY
Trang 8NỘI DUNGch¬ng 1 chñ nghÜa m¸c vµ nÒn kinh tÕ tri thøc
1.1 Kinh tế tri thức - lực lượng sản xuất tinh thần trong lý luận về lực lượng sản xuất
Kinh tế tri thức vốn không phải là khái niệm hoàn toàn mới Chủ nghĩaMác nói về lực lưọng sản xuất gồm hai bộ phận: Một là lực lựợng sản xuấtvật chất và lực lượng sản xuất tinh thần Kinh tế tri thức chính là lực lượngsản xuất tinh thần được đề cập tới trong lý luận Macxit
1.2 Kinh tế tri thức tính đến nay là ngành sản xuất tiếp theo các ngành sản xuất thứ nhất, thứ hai, thứ ba đã lần lượt ra đời
Ở các nước phát triển, vì sao lực lượng sản xuất tinh thần của vật chấtlại vựợt hơn so với ngành sản xuất thứ nhất Trước hết, do sự giàu có của conngười tăng lên, thì nhu cầu của con người có sự biến đổi sâu sắc và theo đó là
sự biến đổi về kết cấu công nghiệp Theo lí luận về kết cấu các ngành sảnxuất, để thoả mãn nhu cầu về ăn, ở, mặc con người trước hết phải ra sức pháttriển nông nghiệp, coi đó là ngành sản xuất thứ nhất Đi đôi với việc ăn nomặc ấm thì vấn đề đi lại, tiêu dùng trở thành nhu cầu nổi bật Do đó người taphải ra sức phát triển công nghiệp vốn được coi là ngành sản xuất thứ hai vàviệc nâng cao hơn nữa sản lượng nông nghiệp nhê sự giúp đỡ của côngnghiệp Nhưng nếu muốn cung cấp sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp tốthơn, dồi dào hơn, có cơ cấu hoàn chỉnh để phục vụ công nghiệp và nôngnghiệp Vì vậy ngành sản xuất dịch vụ phát triển với tất cả các ngành sản xuấtthứ nhất, thứ hai và bao gồm các loại dịch vụ đời sống và tiêu dùng của nhândân Sự phân loại ngành sản xuât thứ nhất, thứ hai, thứ ba đồng thời phản ánh
xu thế lịch sử tức cái sau hơn cái trước Ngành sản xuất sau có nhịp độ caohơn ngành trước Trong ngành thứ ba nhip độ tăng trưởng của khoa học và
Trang 9giáo dục là hết sức nhanh, nên ta có thể tách khoa học giáo dục từ ngành sảnxuất thứ ba thành ngành sản xuất thứ tư - đó là nền kinh tế tri thức Xét theonhận thức bây giờ thì tri thức không những có vai trò sáng tạo, truyền bá màcòn có vai trò truyền thông, sử dụng vì vậy lấy ngành sản xuất dựa trên cơ sởtri thức làm ngành sản xuất thứ tư là một đỉều xác đáng Tuy nhiên nói mộtcách tương đối với các ngành sản xuất vật chất thì đương nhiên ngành sảnxuất tri thức là ngành dịch vụ, nhưng đó là ngành phục vụ cấp cao, mang đặctrưng hình thái hoạt động tinh thần và là một ngành sản xuất phát triển vớinhịp độ nhanh nhất trong nền kinh tế hiện nay
1.3 Kinh tế tri thức trở thành ngành sản xuất quan trọng nhất, có vị trí chủ đạo trong nền kinh tế xã hội ngày nay
Một nguyên nhân trực tiếp khiến kinh tế tri thức phát triển nhanh là dolực lượng sản xuất tăng mạnh mẽ cần có sự phát triển mạnh mẽ, lực lượng sảnxuất tinh thần Lực lượng sản xuất thời đại nay phát triển trong giai đoạn pháttriển mới, trong chế tạo sản phẩm sử dụng lớn khí cụ cảm ứng, máy móc điềukhiển tự động cùng phần mềm Việc thao tác bằng máy móc đảm bảo chấtlượng sản phẩm, tiết kiệm nhiều sức lao động cho con người
1.4 Tri thức là yếu tố sản xuất mới ngoài ruộng, đất, lao động và tư bản
Mác từng nói: “Các nhà tư bản có thể không tốn một đồng nào mà lợidụng được sức mạnh của khoa học” Trong một chế độ hợp lí vựơt lên sự chia
rẽ về lợi ích thì yếu tố tinh thần sẽ được liệt kê là một trong yéu tố sản xuất và
sẽ tìm được vị trí của nó trong các hạng mục tri phí sản xuất của chính trị kinh
tế học
1.5 Kinh tế tri thức với khoa học kĩ thuật là lực lượng sản xuất thứ nhất
Loài người khhông chỉ cần những sản phẩm vật chất mà còn cân cảnhứng sản phẩm tinh thần, tức tri thức Khoa học – kĩ thuật phát triển, lựclượng sản xuất, kinh tế tri thức phát triển gây biến đổi sâu sắc trong xã hội,
Trang 10kết cấu chịnh trị kinh tế Trí thức là một bộ phận của giai cấp tư nhân, là giaicấp công nhân lắm khoa học, văn hoá hiện đại gắn liền với nền đại sản xuất
xã hội hoá, nắm tương lai của thế giới
Tóm lại khoa học kĩ thuật phát triển kinh tế tri thức ra đời giúp pháttriển lực lượng sản xuất kiểu mới và mang lại nhu cẩu một thị trường mới tạo
sự phát triển vựợt bậc các nước trên thế giới
Ch¬ng 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC2.1 Kinh tế tri thức là giai đoạn mới của sự phát triển lực lượng sản xuất
xã hội
Nhìn vào sự phát triển kinh tế của loài người, có thể phân biệt ba giaiđoạn phát triển lực lượng sản xuất xã hội:
Trang 11Giai đoạn đầu, lực lượng sản xuất xã hội dựa vào lao động chân tay với kĩthuật thủ công, giai đoạn này kéo dài từ xa xưa đến đầu thế kỉ XVIII Phùhợp lực lựợng sản xuất này là nền kinh tế tự cung tự cấp
Giai đoạn hai, lực lượng sản xuất dựa lao động thể lực là chủ yếu vớikhoa học kĩ thuật cơ khí Giai đoạn này diễn ra từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XX,thích ứng nó là nền kinh tế thị trường dựa khai thác tài nguyên chủ yếu
Giai đoạn ba, lực lượng sản xuất xã hội dựa lao động trí lực, hình thànhkinh tế thị trường dựa trên tri thức Trong tất cả nguồn lực kinh tế, nguồn lựctrí tuệ trở nên chủ yếu
Sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội trong giai đoạn kinh tế tri thức
có những đặc điểm nổi bật:
Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Lao động trí lực là lực lượng chủ yếu của nền sản xuất xã hội Nét nổibật của lao động này là tính sáng tạo, khác với lao động máy móc của giaiđoạn trước
Sự kết hợp khoa học, tư nhiên công nghệ với khoa học xã hội nhân vănngày càng mang tính chất nội sinh Đặc điểm này thể hiện sự ưu việt kinh tếnhư: Khả năng phát triển bền vững đồng thuận giữa tăng trưởng kinh tế vớitiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường Đặc điểm này mở ra khả năng đổi mớiquan hệ người với người, con người với tự nhiên khi có quan hệ sản xuất phùhợp
2.2 Kinh tế tri thức là giai đoạn mới của kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là nền kinh tế dựa trên xã hội hoá lao động và sảnxuất Do đó nó là nền kinh tế mở về sản xuất và trao đổi, nhu cầu và khả năngthoả mãn nhu cầu Do đó nó tạo ra những hình thức, tổ chức kinh tế xã hội vàchính trị phù hợp trình độ phát triển khoa học kĩ thuật và kinh tế Trong lịch
sử kinh tế, giai đoạn đầu là kinh tế thị trường dựa công nghiệp cơ khí, giai
Trang 12đoạn cao hơn hiện nay kinh tế dựa trên tri thức làm cơ cấu kinh tế biến đổisâu sắc, gồm các ngành chủ yếu: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,công nghiệp năng lượng mới và năng lượng tái sinh, công nghệ vật liệu, khoahọc kĩ thuật không gian, khoa học kĩ thuật hải dương, khoa học kĩ thuật quảnlí…
2.3 Hình thái kinh tế xã hội và kinh tế tri thức
Như thực tiễn diễn ra, kinh tế tri thức ra đời và đang lớn dần nên trongnền kinh tế tư bản chủ nghĩa Đó là kết quả quá trình phát triển lâu dài vềkhoa học, công nghệ và kinh tế thị trường, nó đang tác động mạnh mẽ lên cácmặt:
Kinh tế tri thức đem lại phương thức làm giàu kiểu mới, quy mô lớn vàthời gian nhanh
Trong xã hội cùng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến cơcấu xã hội và dân cư trong số công nhân áo trắng là đội ngũ lao động khoahọc nói chúng là lực lượng lao động tri thức này càng tăng mức thu nhập côngnhân kĩ sư thu hẹp dần Đồng thời kinh tế tri thức phát triển hình thành bộphận tầng lớp trung lưu đông đảo và bên cạnh là những người nghèo, thấtnghiệp Như vậy sự phân chia giai cấp chắc chắn sẽ tác động tới vấn đề chínhtrị và pháp lí chủ nghĩa tư bản
Kinh tế tri thức ra đời tiêu biểu giai đoạn phát triển lớn lực lượng sảnxuất, làm hệ thống quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa truyền thông lỗi thời,các công ty cổ phần ra đời và cổ đông là công nhân ngày càng tăng Ngoài xuhướng thu hẹp dần khoảng cách công nhân và trí thức, người lao động áotrắng với lao động quản lí đặt ra nhiều vấn đề trong quan hệ sản xuất Đây là
xu hướng không có gì ngăn cản tới khi xuất hiện hinh thức quan hệ sản xuấtcao hơn, phù hợp lực lượng sản xuất mới
Trang 132.4 Kinh tế tri thức và triển vọng về một xã hội mới: Xã hội giàu có – công bằng, dân chủ và văn minh
Đặc điểm phát triển kinh tế tri thức là dựa vào quá trình “ tri thức hoá
xã hội và xã hội hoá tri thức” Về bản chất kinh tế tri thức khác với kinh tếcông nghiệp trong chủ nghĩa tư bản ở các mặt:
- Quá trình tế tri thức hoá có khả năng đem lai giàu có mức sống đủ chomọi người
- Quá trình tri thức hoá làm xã hội biến đổi cơ cấu xã hội dân cư đòi hỏi
sự công bằng về kinh tế, tạo điều kiện vật chất thực hiện công bằng xã hội
- Quá trình tri thức hoá xã hội hình thành khả năng tạo văn minh mớimang tính nhân văn giữa quan hệ người với người
- Nền kinh tế tri thức tạo nền tảng cho nền dân chủ mới: “ Sự phát triển
tự do toàn diện mỗi người là điều kiện sự phát triển mọi người” Những khảnăng tiềm tàng kinh tế tri thức nói trên tạo triển vọng phát triển xã hội mớitrong quá trinh chuyển biến cách mạng từ kinh tế công nghiệp tư bản chủnghĩa sang kinh tế tri thức với hệ thống quan hệ sản xuất mới và hệ thốngchính trị phù hợp
ch¬ng 3 THỰC TIẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY3.1 Sự cần thiết phát triển kinh tế tri thức ở nước ta
Cho tới nay nước ta là nước nông nghiệp chậm phát triển, trong nhữngbước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội nền kinh tế vẫn còn lúng túng, cơ chếquản lí tập trung kém hiệu quả nhưng nhiều nguồn lực, cơ chế thị trường mới
Trang 14chớm nở, chịu nhiều hạn chế và tri thức là sự cần thiết, hiện đại và hữu ích tạocủa cải vật chất và sự giàu có trong quản lí quốc gia, kinh doanh và tạo khoahọc công nghệ Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nghèo thông tin và tri thức
do đó cần phải phát triển kinh tế tri thức để hướng tới một xã hội phát triểncông bằng dân chủ và tiến bộ
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Theo báo cáo phát triển công nghiệp năm 1999 của UNDP, GDP sứcmua ngang giá đầu người Việt Nam đứng thứ 133 trong tổng số 174 nướcthuộc 50 nước nghèo nhất thế giới Như vậy kinh tế Việt Nam ở xuất phátthấp và còn có chặng đường dài tiến tới đuổi kịp các nước trên thế giới và khuvực
- Về kết cấu hạ tầng thông tin: Theo đánh giá của WB, điểm trung bìnhchỉ tiêu Việt nam đạt xấp xỉ 0,5 điểm/ 10, ngang với Trung Quốc, thấp hơn sovới Hàn Quốc( 5/10), Malayxia(2/10),HồngKông(7/10) Điểm mạnh của ViệtNam trong nhóm chỉ tiêu này là mức độ tự do báo trí và lưu chuyển thông tin,nhưng Việt Nam rất yếu về số tờ báo, số máy tính và điện thoại trên 1000 dân
- Đánh giá hệ thống đổi mới, Việt Nam có điểm trung bình xấp xỉ 1/10,ngang vơi Trung Quốc, Indonexia, Thai Lan,Philipin, song thấp xa các nước
và lãnh thổ phát triển như HôngKông, Singapo Điểm trung bình Việt Nam vềnguồn lực con người là 3/10, một mức cao so với tiểm lực kinh tế Việt Namnhưng thấp hơn tương đối so với các nước trong khu vực yếu kém đặc biệtcủa Việt Nam là hệ thống các khuyến khích và thể chế Điểm trung bìnhnhóm này đứng trên không một chút
Như vậy qua xếp hạng WB, yếu tố phi vật thể như hệ thông đổi mới,chất lượng con người… Việt Nam là tương đối tốt so với yếu tố cơ cấu và thểchế như kết cấu hạ tầng, kết cấu kinh tế… Nhưng nhìn chung lại Việt Nam làđiểm xuất phát thấp so với các nước trên thế giới trên con đường tới kinh tế tri