1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình thể loại thơ văn trung đại việt nam phần 1

56 455 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 342,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy các câu trong bài Đường phú hiệp vần với nhau nhưng không phải vì thế mà cho phú Đường luật là thơ được, bởi vì trong thơ – dù theo quan niệm cũ đi nữa- thì vần cũng chỉ là yếu tố q

Trang 2

LỜI GIỚI THIỆU 4

CHƯƠNG I: CÁC YẾU TỐ KỸ THUẬT VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG THƠ VĂN CỔ 7

I THANH 7

1 Số lượng và tên gọi 7

2 Sự phối hợp thanh trong các thể thơ bắt nguồn từ Trung Quốc 8

3 Sự phối thanh trong các thể thơ thuần Việt 10

4 Sự phối hợp thanh trong văn biền ngẫu 12

II VẦN 14

1 Nét khái quát 14

2 Cách gieo vần trong thơ bắt nguồn từ Trung Quốc 16

3 Cách gieo vần trong thơ thuần Việt 17

4 Cách gieo vần trong bài Đường phú 19

III ĐỐI 19

1 Nét khái quát 19

2 Phép đối trong thơ bắt nguồn từ Trung Quốc 21

3 Phép đối trong thơ thuần Việt 22

4 Phép đối trong văn biền ngẫu 23

IV NHỊP 25

1 Nét khái quát 25

2 Cách ngắt nhịp các thể thơ bắt nguồn từ Trung Quốc 25

3 Cách ngắt nhịp trong các thể thơ thuần Việt 27

V NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG NGÔN TỪ 29

1 Dùng thủ pháp nghệ thuật “đồng âm” (dị nghĩa) 29

2 Dùng thủ pháp nghệ thuật điệp âm, đảo âm, láy âm 31

3 Dùng thủ pháp nghệ thuật gợi liên tưởng bằng từ tượng thanh 33

4 Dùng thủ pháp nghệ thuật“nói lái” 34

5 Dùng thủ pháp nghệ thuật “đồng nghĩa”, “nghịch nghĩa” 34

6 Dùng thủ pháp gợi liên tưởng bằng từ cùng trường ngữ nghĩa 36

7 Dùng thủ pháp nghệ thuật so sánh, ám tỉ, hoán dụ, nhân hóa 36

8 Dùng thủ pháp nghệ thuật”chiết tự” 37

9 Dùng thủ pháp nghệ thuật”tiệt hạ”, “yết hậu” 38

10 Dùng thủ pháp nghệ thuật “tập cú”ù 38

11 Dùng thủ pháp nghệ thuật “tập Kiều” 39

VI SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ 40

CHƯƠNG II: CÁC LỐI VĂN KHOA CỬ XƯA 43

I TỔ CHỨC GIÁO DỤC 43

II CÁC LỐI VĂN KHOA CỬ 47

1 Kinh nghĩa 47

2 Chiếu, chế, biểu 49

Trang 3

3 Thi, phú 49

4 Văn sách 51

III THI CỬ VÀ KHOA DANH 54

CHƯƠNG III: NHỮNG THỂ THƠ THUẦN VIỆT 57

I THỂ NÓI LỐI 57

1 Vè bình dân 57

2 Vè bác học 58

3 Vè truyện hay Phú bình dân 59

4 Thể nói lối trong các vở hát tuồng, chèo 59

II LỤC BÁT 60

1 Định nghĩa và nguồn gốc 60

2 Thi pháp 62

3 Tinh thần thẩm mỹ của thể lục bát 67

III SONG THẤT LỤC BÁT 69

1 Định nghĩa và nguồn gốc 69

2 Thi pháp 70

3 Kết luận 73

IV HÁT NÓI 73

1 Qui tắc của một bài hát nói đủ khổ 73

2 Qui tắc môt bài hát nói dôi khổ 75

3 Qui tắc một bài hát nói thiếu khổ 76

4 Trường hợp một bài hát nói có mưỡu 76

5 Một số bài hát nói đặc biệt, ít gặp 78

CHƯƠNG IV: CÁC THỂ THƠ BẮT NGUỒN TỪ TRUNG QUỐC 81

I THƠ CỔ PHONG 81

II THƠ ĐƯỜNG LUẬT 85

1 Những qui tắc của bài thơ Đường luật bát cú 85

2 Những biệt loại trong thơ Đường 99

KẾT LUẬN 109

Trang 4

LỜI GIỚI THIỆU

Thuật ngữ thể loại thơ văn trung đại Việt Nam ở đây chỉ các thể thơ và văn

được sử dụng trong văn học cổ của ta, không kể các thể thơ văn chịu ảnh hưởng phương tây sau này Có thể xem những thể thơ văn sử dụng trong các tác phẩm văn học Việt Nam thời trung đại là đối tượng nghiên cứu của chuyên đề Những thể loại này sẽ được nhìn dưới góc độ thi pháp học trong đó các yếu tố kỹ thuật như thanh, vần, đối, nhịp và các phương thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ, điển cố cũng như đề tài, cấu trúc bố cục sẽ được đặc biệt lưu ý Có thể loại hội đủ các điều kiện trên như thơ Đường luật, phú Đường luật Cũng có thể loại chỉ dung nạp một số yếu tố nhất định như lục bát, song thất lục bát Rồi ở mỗi thể loại, sự xuất hiện và phối hợp của các yếu tố ấy cũng không giống nhau Nhưng dù ở trường hơp nào, hướng nghiên cứu dưới góc độ thi pháp thể loại hoàn toàn có hiệu qủa tích cực đối với việc thẩm định giá trị cũng như qúa trình hình thành và phát triển của nền văn học Việt Nam

Trước đây, để phân loại các thể thơ văn, Ưu Thiên Bùi Kỷ trong “Quốc văn cụ thể” chia các thể thơ văn cổ làm 4 lối :

1 Có vần không đối: như lục bát, song thất lục bát và các biến thể của chúng

(tức là những thể loại thuần túy của người Việt)

2 Có vần có đối: như thơ, phú Đường luật(tức là những thể loại mô phỏng theo

Trung Quốc)

3 Không vần có đối: như lối văn tứ lục (tức văn biền lệ, cũng là nhưng thể loại

mô phỏng theo Trung Quốc)

4 Không vần không đối: như lối tản văn (tức lối văn xuôi thông thường, tức

nhữngt thể loại ta và Trung Quốc đều có)

Sự phân biệt thể loại thơ văn trên cơ sở các yếu tố kỹ thuật vần và đối thực ra

chưa hoàn toàn thỏa đáng

Điểm thứ nhất: Ví dụ bài Đường phú tuy có vần có đối nhưng xét về cách cấu

trúc, nó sử dụng các loại câu của văn biền ngẫu –lối cấu trúc câu mang tính trí tuệ Tuy các câu trong bài Đường phú hiệp vần với nhau nhưng không phải vì thế mà cho

phú Đường luật là thơ được, bởi vì trong thơ – dù theo quan niệm cũ đi nữa- thì vần

cũng chỉ là yếu tố quan trọng chứ chưa phải là yếu tố duy nhất, yếu tố quyết định của thơ Đó là chưa nói đến quan niệm mới, vần không còn là yếu tố quan trọng trong thơ nữa, mà chính cảm xúc của người sáng tác mới là yếu tố quyết định Vả chăng, người

xưa cũng coi trọng cảm xúc thơ, xem nó như là yếu tố bản chất, yếu tố quyết định khi

phân biệt thơ với văn vần, hay nói cách khác không phải bất cứ bài văn vần nào cũng

là thơ được Như thế, chúng ta không thể xem bài phú Đường luật là thơ Có thể quan

niệm nó là loại văn xuôi có vần

Trang 5

Điểm thứ hai: Dựa vào đối để phân biệt thể loại 2(thơ Đường luật) và thể loại

1(Lục bát, Song thất lục bát) cũng chưa thỏa đáng, vì ngoài đối ra, các yếu tố kỹ thuật

thanh, vần, nhịp của 2 loại trên cũng có những điểm khác biệt cần lưu ý phân tích

Ví dụ về thanh, sự phối hợp trong thơ Đường luật bao giờ cũng chặt chẽ hơn,

nhất là ở những chữ có vị trí số chẳn trong câu và không bị chi phối bởi yếu tố vần; còn trong thơ lục bát cũng như song thất lục bát thì sự phối hợp thanh bao giờ cũng rộng rãi phóng túng hơn và tùy thuộc vào sự chi phối của vần

Về vần và nhịp cũng có sự khác biệt cơ bản giữa hai thể loại này Thơ Đường

luật chỉ có cước vận và cách ngắt câu tận cùng bằng nhịp lẻ là chủ yếu; còn thể lục bát cũng như song thất lục bát vừa có yêu vận lẫn cước vận và cách ngắt câu tận cùng bằng nhịp chẳn là phổ biến

Nhìn một cách tổng quát, ta thấy có sự trái ngược nhau trong cách sử dụng các yếu tố thanh, vần, đối, nhịp giữa thể thơ bắt nguồn từ Trung Quốc và thể thơ thuần túy Việt Nam

Vả chăng, quan niệm thơ lục bát và song thất lục bát là loại thơ có vần không

đối là không đúng, nó chỉ không bắt buộc phải đối chứ không phải là không thực hiện được đối

Ví dụ: -Cầu thệ thủy/ ngồi trơ cổ độ,

Quán thu phong/ đứng rũ tà huy

(Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc)

-Lối xưa xe ngựa/ hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài/ bóng tịch dương

(Bà Huyện Thanh Quan, Thăng Long thành hoài cổ)

Cả hai cặp câu thơ trên đều thực hiện bình đối rất chuẩn, cả ý lẫn lời, tuy cách ngắt nhịp có khác nhau

Do đó, dựa vào các yếu tố hình thức kỹ thuật như thanh, vần, đối, nhịp và xuất xứ nguồn gốc(thuần túy Việt Nam hay mô phỏng Trong Quốc) để phân loại thơ văn cổ sẽ tương đối hợp lý và thuyết phục hơn

Trong chuyên đề này, để đạt được mục đích nắm bắt sâu và rộng các thể loại

thơ văn trung đại Việt Nam, chúng tôi đề nghị cách phân loại như sau:

• Thơ:

-Thể thơ thuần Việt(Nói lối, Lục bát, Song thất lục bát và Hát nói)

-Thể thơ mô phỏng Trung Quốc(Cổ phong, Đường luật)

• Văn:

-Văn biền ngẫu

-Tản văn (tức văn xuôi thông thường)

-Phú Đường luật, Văn tế(áp dụng Đường phú)

Để thỏa mãn nhu cầu chiều rộng, chúng ta sẽ tìm hiểu tổng quát các vấn đề

học hành thi cử và các lối văn khoa cử ngày xưa cũng như các yếu tố kỹ thuật và các biện pháp tu từ được sử dụng trong các thể thơ văn cổ Để đáp ứng nhu cầu chiều sâu,

Trang 6

chúng ta sẽ trích giảng kỹ một vài thể loại tiêu biểu được ưa chuộng trong thơ văn cổ như Cổ phong, Đường luật, Nói lối, Lục bát, Song thất lục bát, Hát nói, Câu đối, Phú, Văn tế… Từ đó, chuyên đề này được xây dựng thành 5 chương:

Chương I: Các yếu tố kỹ thuật và biện pháp tu từ trong thơ văn cổ

Chương II: Khái quát về các lối văn khoa cử xưa

Chương III: Những thể thơ thuần túy Việt Nam:

Nói lối, Lục bát, Song thất lục bát và Hát nói

Chương IV: Những thể thơ bắt nguồn từ Trung Quốc:

Cổ phong và Đường luật

Chương V: Câu đối hay Đối liên

Với bố cục trên, Chương I là chương tổng quát mang tính lý thuyết làm nền

tảng cho các chương sau Việc nắm vững các yếu tố thanh, vần, đối, nhịp và mối tương quan của chúng là điều kiện cần thiết để vận dụng vào từng thể thơ văn cụ thể trong những chương kế tiếp Các tiết mục trong những chương này sẽ được trích giảng tùy vai trò và mức độ ảnh hưởng của chúng đối với nền văn học trung đại Việt Nam Chúng tôi hy vọng bố cục bài giảng sẽ giúp anh chị có được một cái nhìn tổng quát trên cái nền chung về các thể loại thơ văn cổ Việt Nam

Trang 7

CHƯƠNG I: CÁC YẾU TỐ KỸ THUẬT VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ

TRONG THƠ VĂN CỔ

Thanh, vần, đối, nhịp và các biện pháp sử dụng ngôn từ là những vấn đề quan trọng cần tìm hiểu khi muốn thưởng thức hoặc sáng tác văn chương

I THANH

Ngôn ngữ Việt Nam là ngôn ngữ đơn âm, mỗi tiếng là một âm tiết (ngôn ngữ âm tiết tính), nhưng mỗi âm có thể có nhiều thanh tùy mức độ cao thấp Thế nên ta có thể khái quát thanh là cách phát âm hoặc cao hoặc thấp, hoặc bổng hoặc trầm của mỗi tiếng(chữ – tự)

1 Số lượng và tên gọi

Tiếng Việt có 8 thanh, có tiếng đủ 8 thanh, có tiếng chỉ 6 thanh

Những tiếng tận cùng bằng phụ âm có 8 thanh: gồm phụ âm vang(tiếng tận cùng bằng m,n,ng,nh) có 6 thanh và phụ âm câm(tiếng tận cùng bằng c,ch,p,t) có 2 thanh Ví dụ: tiên - tiền - tiển -tiễn - tiến - tiện / tiết - tiệt ; tinh - tình - tỉnh - tĩnh - tính - tịnh / tích - tịch

Những tiếng tận cùng bằng nguyên âm có 6 thanh Ví dụ: ma - mà - mả - mã - má - mạ; đôi - đồi - đổi - đỗi - đối - đội

Vì chữ quốc ngữ chỉ có 5 dấu ( huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng) cùng với những chữ không đánh dấu thanh(thanh bằng ngang), nên nhiều người quan niệm tiếng Việt chỉ có 6 thanh Sáu thanh ấy chia làm 2 hệ thống : những tiếng tận cùng bằng nguyên âm hoặc phụ âm vang không có dấu thanh, dấu ngã, dấu sắc thuộc loại thanh bổng; còn những tiếng tạân cùng bằng nguyên âm hoặc phụ âm vang có dấu huyền, hỏi, nặng thuộc loại âm chìm Nhận định này chưa thỏa đáng vì thiếu trường hợp những tiếng tận

cùng bằng các phụ âm câm c, ch, p và t Đối với những tiếng tận cùng bằng phụ âm

câm thì dấu sắc thuộc loại thanh bổng còn dấu nặng thuộc loại thanh chìm

Như thế, tiếng Việt có 8 thanh chia làm hai cung bực : 4 thanh bổng(phù thanh)

gồm phù bình thanh(thanh bằng ngang), phù thượng thanh(dấu ngã), phù khứ

thanh(dấu sắc), phù nhập thanh(dấu sắc ở những tiếng tận cùng bằng phụ âm câm c,

ch, p, t) và 4 thanh chìm(trầm thanh)gồm trầm bình thanh(dấu huyền), trầm thượng

thanh(dấu hỏi), trầm khứ thanh(dấu nặng), trầm nhập thanh(dấu nặng ở những tiếng

tận cùng bằng phụ âm câm c, ch, p, t)

Cung bực trầm có tính cách chìm, giọng đọc tương đối nặng Cung bực phù có

tính cách nổi, giọng đọc tương đối nhẹ hơn Hai thanh phù bình, trầm bình là thanh

bằng, sáu thanh phù thượng, trầm thượng, phù khứ, trầm khứ, phù nhập, trầm nhập là thanh trắc Các thanh bằng có giọng nhẹ và có thể ngân nga kéo dài nghe êm dịu thoải

mái Các thanh trắc có giọng ngắn, không kéo dài được, đọc nghe rắn rỏi khúc khuỷu

Qua 2 ví dụ đầu, nếu ta so sánh 2 tiếng tiến với tiết, tính với tích hoặc tiện với tiệt, tịnh với tịch thì sẽ thấy tuy 2 cặp trên cùng dấu sắc, 2 cặp dưới cùng dấu nặng mà

Trang 8

thanh khác hẳn nhau Ta có thể liên hệ với tứ thanh bình thượng, khứ, nhập của Trung

Quốc để phân biệt (bốn thanh bình, thượng, khứ, nhập của Trung Quốc tương ứng với

tám thanh trong Tiếng Việt).Tuy cùng mang dấu sắc nhưng tiến, tính là khứ thanh (phù khứ), còn tiết, tích là nhập thanh (phù nhập) Cũng tương tự như vậy, tiện, tịnh là khứ thanh (trầm khứ) còn tiệt, tịch là nhập thanh (trầm nhập)

Ta có thể phân loại 8 thanh trong tiếng Việt như sau:

Loại 1 (BÌNH) tương ứng với 2 thanh bằng, hợp vần với nhau nếu có cùng âm (vần chính)hoặc có âm tương tự(vần thông)

Loại 2 (THƯỢNG) và loại 3 (KHỨ) tương ứng với 4 thanh trắc, hợp vần với nhau nếu có cùng âm hoặc có âm tương tự nhưng không hợp vần với nhập thanh

Loại 4 (NHẬP) tương ứng với 2 thanh trắc (sắc, nặng) trong các tiếng có phụ âm cuối là c, ch, t, p, hợp vần với nhau nếu có cùng âm hoặc âm tương tự nhưng không hợp vần với thượng thanh và khứ thanh

Như vậy, tiếng Việt có 2 thanh bằng (phù bình và trầm bình) và 6 thanh trắc (phù thượng, trầm thượng, phù khứ, trầm khứ, phù nhập, trầm nhập) Ta có thể tóm lược 8 thanh bằng trắc của tiếng Việt theo bảng biểu sau đây:

Ngã ( ) Hỏi ( ) Sắc ( ) Nặng (.) Sắc ( ) Nặng (.)

Tiếng có phụ âm cuối c, ch, p, t

2 Sự phối hợp thanh trong các thể thơ bắt nguồn từ Trung Quốc

Sự phối hợp thanh trong các thể thơ bắt nguồn từ Trung Quốc như Cổ phong, Đường luật nhìn chung được thực hiện theo 3 phương pháp gián cách, phương pháp đi đôi và phương pháp hoán thanh tùy vị trí của chữ trong câu thơ Tuy nhiên, qui luật này chỉ bó buộc đối với thơ Đường luật

Phương pháp gián cách: phối hợp bằng trắc lần lượt gián cách nhau, áp dụng cho những chữ có vị trí chẳn trong câu: các chữ thứ 2, 4 cho loại ngũ ngôn; 2,4,6 cho loại thất ngôn Đối với thơ Đường luật, qui tắc phối hợp này rất chặt chẽ, rõ ràng(nhị tứ hoặc nhị tứ lục phân minh) và mang tính độc lập, không bị các yếu tố kỹ thuật khác như vần, đối, nhịp chi phối

Người hết danh không hết, Rừng lau gió lác đác,

Trang 9

Đời còn việc vẫn còn;

Tội gì lo tính quẫn,

Lập những cuộc con con

(Đời người, Khuyết Danh)

Chim hôm bay xao xác;

Gánh củi lững thững về, Đường quen không sợ lạc

(Qui tiều - Khuyết Danh)

Ví dụ 3: Tạo hóa gây chi cuộc hí trường?

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

(Bà Huyện Thanh Quan, “Thăng Long thành hoài cổ”)

Tuy nhiên, cũng có khi nhà thơ cố tình không tuân thủ phương pháp gián cách để tạo nên thủ pháp nghệ thuật đặc biệt cho câu thơ Ví dụ:

Một đèo / một đèo / lại một đèo,

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

(Hồ Xuân Hương, “Đèo Ba Dội”)

Phương pháp đi đôi: phối hợp bằng cách dựa vào thanh của chữ đi sau để tạo từng cặp thanh bằng hoặc trắc nối tiếp nhau, áp dụng cho những chữ có vị trí số lẽ trong câu: các chữ 1,3 cho loại ngũ ngôn; 1,3,5 cho loại thất ngôn Đối với thơ Đường luật, qui tắc phối hợp này không gò bó chặt chẽ(nhất tam bất luận - nhất tam ngũ bất luận) Tuy nhiên, để phù hợp với luật thuận thanh và tránh bệnh khổ độc, thì chữ thứ 3 (loại ngũ ngôn) hoặc chữ thứ 5 (loại thất ngôn) phải có thanh ngược với chữ cuối cùng câu, hay nói cách khác 3 chữ cuối câu thơ không được cùng thanh.Ví dụ:

Bãi thẳm ngàn xa cảnh vắng teo

Đèo Ngang lợi bể nước trong veo

Thà là cúi xuống cây đòi sụt

Xô xát trông lên sóng muốn trèo

Lảnh chảnh đầu cành chim vững tổ

Lênh đênh cuối vịnh cá ngong triều

Cuộc cờ kim cổ chừng bao nã

Non nước trông qua vẫn bấy nhiêu

( Lê Thanh Tông, “Qua Đèo Ngang tức cảnh”)

Phương pháp hoán thanh: Hoán chuyển từ bằng sang trắc hoặc ngược lại đối với một số chữ thứ 3(trong thơ ngũ ngôn) và chữ thứ 5 (trong thơ thất ngôn) nếu những

chữ này tạo thành 3 âm bằng hoặc 3 âm trắc đi liền nhau ở cuối câu, nhằm tránh bệnh

khổ độc trong thơ

Trang 10

Ví dụ 1: Đối với câu thơ ngũ ngôn luật trắc vần bằng, nếu tuân thủ chặt chẽ hai

nguyên tắc gián cách và đi đôi trên đây thì khung thanh của câu thơ sẽ vướng bệnh

khổ độc t T b B b(v), do đó phải hoán thanh chữ thứ 3 từ bằng sang trắc

Ví dụ 2: Đối với câu thơ ngũ ngôn luật bằng không mang vần, nếu tuân thủ chặt

chẽ hai nguyên tắc gián cách và đi đôi trên đây thì khung thanh của câu thơ sẽ bị khổ

độc ( b B t T t ), do đó phải hoán thanh chữ thứ 3 từ trắc sang bằng.

Ví dụ 3: Đối với câu thơ thất ngôn luật bằng vần bằng, nếu phối hợp thanh chặt

chẽ theo 2 nguyên tắc gián cách và đi đôi trên đây thì khung thanh câu thơ sẽ vướng

bệnh khổ độc :b B t T b B b(v) do đó phải chuyển thanh chữ thứ 5 từ bằng sang trắc

Ví dụ 4: Đối với câu thơ thất ngôn luật trắc không mang vần, nếu phối hợp

thanh theo 2 nguyên tắc gián cách và đi đôi thì khung thanh câu thơ sẽ vướng bệnh

khổ độc ( t T b B t T t ), do đó phải chuyển thanh chữ thứ 5 từ trắc sang bằng.

3 Sự phối thanh trong các thể thơ thuần Việt

Trong các thể thơ thuần Việt, sự phối thanh vẫn theo ba phương pháp gián cách,

đi đôi và hoán thanh nhưng cách thực hiện nhìn chung rộng rãi hơn vì các yếu tố chi phối sự phối hợp thanh như vần, đối, nhịp có tác động trực tiếp hơn

+Đối với thể lục bát, ở hệ thống phổ biến, phương pháp gián cách cũng được áp dụng cho những chữ có vị trí chẳn trong câu nhưng tùy thuộc sự chi phối của yếu tố vần: những chữ 2,4,6 lần lượt gián cách bằng-trắc-bằng(vì chữ thứ 6 mang vần bằng nên không thể gián cách trắc-bằng-trắc được) Chữ thứ 8 mang thanh bằng vì ở vị trí gieo vần cho chữ cuối câu 6 kế tiếp bắt vào nhưng phải khác cung bực với chữ thứ 6 cùng câu(phù bình hoặc trầm bình)

Phương pháp đi đôi vẫn được áp dụng cho những chữ có vị trí số lẽ nhưng không gò bó chặt chẽ Riêng chữ thứ 7 thường dùng thanh trắc cho phù hợp với luật thuận thanh hơn

Phương pháp hoán thanh vận dụng vào chữ thứ 6 và chữ thứ 8 câu bát : phải khác cung bực(bằng nổi hoặc bằng chìm hoán đổi nhau):

b B t T b B(v)

b B t T b B(v) t B(v)

Vd 1: Cây cao bóng ngã qua rào,

Trông cho thấy mặt, không chào cũng thương

Vd 2: Gió sao gió mát sau lưng,

Bụng sao bụng nhớ người dưng lạ đời

Tuy nhiên, chữ thứ 7 trong câu bát dùng thanh bằng cũng được miễn sao chữ thứ 6 và chữ thứ 8 phải khác cung bực :

Vd 1: Tay bưng dĩa muối chấm gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng xa nhau

Vd 2: Hởi anh đi đường cái quan, Dừng chân đứng lại (cho) em than vài lời

Trang 11

Còn ở hệ thống biến cách, câu 8 bắt vần ở chữ thứ 4, thì luât gián cách mở đầu bằng thanh trắc có thể vận dụng được:

Ví dụ 1: Con cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Ví dụ 2: Núi cao chi lắm núi ơi,

Núi khuất mặt trời chẳng thấy người thương!

Ở thể lục bát, do cách sử dụng tiểu đối tạo thành 2 vế cân xứng nên ở một số trường hợp đặc biệt, luật gián cách dù có bị phá vỡ ở 1 vị trí cá biệt nào đó, thanh điệu câu thơ vẫn hài hòa cân đối Câu thơ lúc ấy thường được ngắt thanh 2 vế và chữ cuối của 2 vế trong cùng một câu phải ngược thanh nhau:

Người quốc sắc, kẻ thiên tài Tình trong như đã, mặt ngoài còn e

Tuy nhiên, chữ cuối 2 vế(nhất là đối với câu lục)cùng thanh vẫn tạo nên sự cân xứng:

-Ngồi một mình, nghĩ một mình Ngọn đèn khêu tỏ, bóng huỳnh bay cao

+Đối với thể song thất lục bát, vì vị trí vần của 2 câu 7 chữ rơi vào các chữ thứ 5(hoặc một số trường hợp rơi vào chữ thứ 3) và thứ 7 của câu(chữ lẽ) trong lúc vần của

2 câu 6,8 lại rơi vào vị trí chẵn nên quy luật phối hợp thanh sẽ không đồng nhất giữa

hai câu song thất và hai câu lục bát,cụ thể như sau:

Câu 7 chữ thứ nhất gọi là câu thất trắc có yêu vận bằng và cước vận trắc Yêu

vận bằng rơi vào chữ thứ 5 và phương pháp gián cách sẽ vận dụng vào những chữ ở vị trí lẻ trong câu, khởi đi từ chữ thứ 3(trắc) qua chữ thứ 5(bằng)đến chữ thứ 7(trắc)

Câu 7 chữ thứ hai gọi là câu thất bằng có yêu vận trắc và cước vận bằng thì

phương pháp gián cách sẽ khởi đi từ chữ thứ 3(bằng) qua chữ thứ 5(trắc) đến chữ thứ 7(bằng) để hợp với cước vận bằng của câu lục kế tiếp :

T B (v) T(v)

B T(v) B(v)

Ví dụ 1: Thủa trời đất nổi cơn gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên;

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này? Cũng có khi ở câu thất trắc, phương pháp gián cách chỉ thực hiện đối với những chữ phải mang vần:

Ví dụ 2: Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt,

Khói Cam tuyền mờ mịt thức mây;

Chín tầng gươm báu trao tay, Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh

Trang 12

4 Sự phối hợp thanh trong văn biền ngẫu

Trong văn biền ngẫu sự phối thanh theo luật gián cách được thực hiện ở 2 chữ cuối vế: chữ cuối vế trên bằng thì chữ cuối vế dưới phải trắc hoặc ngược lại Rồi cứ tuần tự như vậy, sự gián cách thanh trong các câu được thực hiện cho đến hết bài

Ngoài ra, đối với những câu phức tạp ( bát tự, cách cú, gối hạc), những chữ đậu

câu (chữ cuối mỗi đoạn) phải ngược thanh với chữ sáp cước (chữ cuối vế) cùng vế Ví

dụ:

Cái văn: Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân;

Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo

Duy ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang

Sơn xuyên chi phong vực ký thù, nam bắc chi phong tục diệc dị

Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương

Tuy cường nhược thời hữu bất đồng, nhi hào kiệt thế vị thường phạp

Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại, nhi Triệu Tiết hiếu đại dĩ xúc vong

Toa Đô ký cầm ư Hàm Tử quan, Ô Mã hựu ế ư Bạch Đằng hải

Kê chư vãng cổ, quyết hữu minh trưng

Dịch nghĩa:

Từng nghe : Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Cõi bờ sông núi đã riêng, phong tục bắc nam cũng khác.

Tự Triệu Đinh Lý Trần nối đời dựng nước, cùng Hán Đường Tống Nguyên đều chủ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, mà hào kiệt không bao giờ thiếu

Cho nên: Lưu Cung tham công to mà chịu tai vạ, Triệu Tiết ham việc lớn mà chóng bại vong

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.

Việc xưa xét lại, bằng chứng rõ ràng

(LSVN tập 1, tr.258)

Trong các lối văn xuôi cổ sự phối thanh tuy không gián cách chặt chẽ như văn biền ngẫu, nhưng sự chọn thanh lựa chữ sao cho bổng trầm cân xứng vẫn được đặc biệt chú trọng Các bài “Chiếu đời đô” (Thiên đô chiếu) của Lý Thái Tổ, “Chiếu tha thuế” (Xá thuế chiếu) của Lý Thái Tông, Hịch tướng sĩ (Dụ chư tì tướng hịch văn) của Trần Quốc Tuấn cho đến các truyện, ký, tự, bạt trong văn xuôi cổ đều mang tính chất này

Ví dụ 1: ”Huống Cao Vương cố Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung, đắc long bàn hổ cứ chi thế, chính nam bắc đông tây chi vị, tiện giang sơn hướng bội chi nghi Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải Dân cư miệt hôn điếm chi khốn, vạn vật cực phồn phụ chi phong Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa

Trang 13

Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội, vi vạn thế đế vương chi thượng đô.” (Lý Thái

Tổ, “Thiên đô chiếu”)

(Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương ở vào nơi trung tâm của trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời” (Lý Thái Tổ,

“Chiếu dời đô” - đoạn cuối)

Ví dụ 2 : “Viễn sự chinh phạt, phương đoạt công nông; khởi liệu kim đông, đắc đại phong thục? Cẩu bách tính chi ký túc, tắc trẫm thục dữ bất túc? Kỳ tứ thiên hạ kim

niên thuế tiền chi bán, dĩ uỷ bạt thiệp chi lao.”(Lý Thái Tông, “Xá thuế chiếu”)

(Việc đánh dẹp phương xa làm tổn hại đến nhà nông Thế mà có ngờ đâu mùa đông năm nay lại được mùa lớn Nếu trăm họ đều no đủ thì trẫm còn lo gì thiếu thốn? Vậy xá cho thiên hạ một nửa tiền thuế năm nay để an ủi nỗi khó nhọc lội suối trèo đèo ( Lý Thái Tông, “Chiếu xá thuế”)

Cho mãi đến những thập niên đầu của thế kỷ 20, lối văn chuộng thanh điệu bổng trầm này vẫn còn sử dụng

Ví dụ 1: “Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này, nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ Nước trong như một cặp mắt tuyệt vời Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng cung nữ thời xưa, và trong vườn nhà ai thấp thoáng hoa phù dung buổi sáng nở trắng như một linh hồn còn trẻ

“Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước Tôi vẫn ngờ như không có sự đổi thay, vì lại thấy mình đi trên đường này, thu năm nay, giữa lúc cây vàng rơi lá

“Đường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ, và may cũng thấy thu về để nước hồ xanh Chân ai đi xa vắng đằng kia, hay đó chỉ là gió thoảng mong manh? Và gió nào vương vấn hồn tôi, hay cũng chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ? Chao ôi! Buồn lại nhiều rồi, nhưng chỉ buồn như năm trước Lòng tôi chẳng biết tìm ai mà nhớ, hôm nay nhớ lại buồn qua mới thấy nắng kia nhiều dĩ vãng.” (Cảm thu, Mùa gặt mơí - Đinh Hùng)

Ví dụ 2: “Ta trông lên bầu trời, trăng sao vằng vặc, sông Ngân hà lấp lánh, lúc cầu vồng mọc, khi đám mây bay, bóng ráng chiều hôm, cơn mưa buổi sớm, làm cho sướng mắt ta, gọi là văn chương của bầu trời

“Ta nhìn xem dưới trái đất, ngọn núi kia cao chót vót, khúc sông nọ chạy quanh co, chỗ rừng rú, nơi hồ đầm, cây cổ thụ um tùm, đám cỏ hoa sặc sỡ, nào thành, nào quách, nào tháp, nào chùa, nào đám đồn điền cây cối tốt tươi, nào chỗ thị thành lâu đài san sát, làm cho vui mắt ta, gọi là văn chương của trái đất

“Ta xem trong sách, nghe những lời nghị luận của các bậc thánh hiền, xem những bài trước tác của các nhà văn sĩ, câu thơ đoạn phú, khúc hát điệu ca, tươi như hoa, đẹp như gấm, vui như tiếng đàn tiếng địch, vang như tiếng khánh tiếng chuông,

Trang 14

làm cho vui tai ta, sướng dạ ta, gọi là văn chương của loài người.” (Tự ngôn, Việt Hán văn khảo - Phan Kế Bính)

II VẦN

1 Nét khái quát

Vần do chữ vận mà ra, là một yếu tố kỹ thuật cần thiết trong thi ca

Vần là 2 hoặc nhiều chữ cùng một (khuôn) âm và cùng thanh (hoặc bằng hoặc trắc) đặt vào một số vị trí nhất định của dòng thơ để hưởng ứng nhau và làm cho thơ khi đọc lên có tính cách êm ái, nhịp nhàng

Đối với thơ Trung Quốc, thì tất cả vần đã được qui định thành từng bộ trong quyển “Đường vận tập thành” Tất cả có 106 bộ vần, gồm 30 bộ loại bình, 29 bộ thượng, 30 bộ khứ ,17 bộ nhập Một bài thơ đã gieo vần ở bộ nào thì chỉ được lấy vần

ở bộ ấy, không được lấy sang bộ khác

Đối với tiếng Việt không có sự qui định vần bộ chặt chẽ Từ nào có quan hệ với tiếng Trung Quốc (tức từ Hán Việt) thì có thể phỏng theo, còn từ thuần Việt thì ngoại trừ những tiếng có cùng âm và cùng thanh với nhau(chính vận) thì những tiếng có âm gần gũi và cùng thanh với nhau(thông vận) đều có thể hợp vần với nhau, nghe

“quen tai” là được

Xét về tính chất có vần chính (chính vận) và vần thông (thông vận)

-Vần chính: là vần cả thanh lẫn âm đều hiệp nhau theo các điều kiện sau đây :

Về thanh:

+ 2 loại thanh phù bình và trầm bình hiệp với nhau tức vẫn bằng

+ 4 thanh phù thượng, trầm thượng, phù khứ, trầm khứ hiệp nhau là vần trắc

+ 2 thanh phù nhập, trầm nhập hiệp nhau cũng là vần trắc

Về âm:

Hiệp âm là chọn 2 hoặc nhiều tiếng cùng âm, có phụ âm đầu khác nhau (nếu giống nhau thì từ phải khác nghĩa)

Ví dụ 1: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Nườc biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

Từng mây lơ lững trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được, Cá đâu đớp động dưới chân bèo

(Nguyễn Khuyến, “Thu điếu”)

Ví dụ 2: Thiên hạ đua nhau nói dại khôn,

Biết ai là dại biết ai khôn?

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại, Dại chốn văn chương ấy dại khôn

Trang 15

Mấy kẻ nên khôn đều có dại, Làm người có dại mới nên khôn

Chữ khôn ai cũng khôn là thế, Mới biết trần gian kẻ dại khôn.(Trần Tế Xương)

Ghi chú:

-Câu 2 và câu 6 bài “Thu điếu”, vần trong bài “Dại khôn” không trùng vận

-Vần thông:

Về thanh: vẫn như vần chính

Về âm: chọn 2 hoặc nhiều tiếng có âm tương tự, na ná nhau, còn phụ âm đầu

giống hoặc khác nhau đều được Ví dụ:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

(Thu vịnh - Nguyễn Khuyến) -Vần chuyển: Chuyển âm ở vị trí vần cho phù hợp, thường dùng trong thơ chữ Hán, Trung Quốc cũng như Việt Nam Ví dụ:

Đả khởi hoàng oanh nhi,

Mạc giao chi thượng đề

Đề thời kinh thiếp mộng,

Bất đắc đáo Liêu Tê(Tây)

(Y Châu Ca – Cáp Gia Vận)

Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan

Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thử giang san(sơn)

(Tụng giá hoàn Kinh–Trần Quang Khải) Xét về vị trí gieo vần, có vần lưng (yêu vận) và vần chân (cước vận).Vần lưng gieo từ chữ chót câu thơ trên bắt xuống một chữ ở lưng chừng câu dưới:

Ví dụ 1: Chị Hươu đi chợ Đồng Nai,

Bước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò

Ví dụ 2: Gái có chồng như gông đeo cổ,

Gái không chồng như phản gỗ long đanh

Phản long đanh anh còn chữa được Gái không chồng chạy ngược chay xuôi

Không chồng khổ lắm chị em ơí!

Vần chân gieo từ chữ cuối câu thơ trên bắt xuống chữ cuối câu thơ dưới Ví dụ1:

Cam, chóng ra thăm gốc hải đường, Hái hoa về để kết làm tràng

Những cành mới nhánh đừng vịn nặng, Mấy đóa còn xanh chớ bẻ quàng

Xong lại Tây hiên tìm liễn xạ, Rồi qua Đông viện lấy bình hương

Mà về cho chóng đừng thơ thẩn, Kẻo lại rằng không dặn kỹ càng

(Nguyễn Gia Thiều - Sai thằng Cam)

Ví dụ 2: Tháng tư đầu mùa ha,ï

Trang 16

Tiết trời thực oi ả

Tiếng dế kêu thiết tha, Đàn muỗi bay lả tả

Nỗi ấy biết cùng ai, Cảnh này buồn cả dạ

Biếng nhắp năm canh chầy, Gà đà sớm giục giã

Trong cách gieo vần của thơ, nên chú ý những trường hợp sau đây:

-Khi hiệp vần mà dùng những chữ có khuôn âm qúa cách xa, ít gợi âm hưởng

tương tự thì gọi là cưỡng vận hay cưỡng áp, dùng những chữ có khuôn âm hoàn toàn cách biệt thì gọi là lạc vận, còn dùng những chữ giống nhau (đồng âm đồng nghĩa) thì gọi là trùng vận, đều không thích hợp

-Khi một bài thơ chỉ dùng cước vận mà từ đầu chí cuối dùng toàn một khuôn

âm để làm vần thì gọi là độc vận, còn thỉnh thoảng hết vài câu lại lấy một khuôn âm khác làm vần thì gọi là đa vận hay liên vận

-Khi làm thơ theo đề tài ra sẵn, hạn định phải dùng những chữ qui định trước

làm vần thì gọi là thơ hạn vận, còn ngược lại nếu để mặc cho người làm thơ muốn dùng chữ nào làm vần cũng được thì gõi là phóng vận Nếu không tuân thủ được thơ hạn vận, gieo vần chệch ra ngoài những chữ cho sẵn thì gọi là xuất vận(khác với lạc vận)

2 Cách gieo vần trong thơ bắt nguồn từ Trung Quốc

Thơ Việt bắt nguồn từ Trung Quốc có Cổ phong và Đường luật Vần trong 2 thể thơ này đều là vần chân (cước vận) Cách gieo vần của thơ cổ phong và thơ Đường luật trên đại thể giống nhau (so với Đường luật, cổ phong được rộng rãi hơn về niêm luật) Sự khác biệt chỉ ở chỗ cổ phong được dùng cả vần bằng và vần trắc trong lúc Đường luật chỉ dùng vần bằng

Vần được dùng ở 2 thể này thường là vần gián cách, vần ôm và vần liên châu.Vần gián cách và vần ôm trong 2 thể này dùng giống nhau ở những trường hợp có số câu tương ứng và bằng nhau

Ví dụ loại tứ tuyệt 4 câu 2 vần:

Mê quá nên quên dại

Tỉnh dậy mới biết say

Gần đèn cũng sáng mắt

Xa dao không đứt tay

(“Tự thán” - Vô danh)

Lởm chởm vài hàng tỏi

Lơ thơ mấy khóm gừngVẽ chi là cảnh mọn Mà cũng đến tang thương (“Khóm gừng tỏi”- Oân Như Hầu)

Ví dụ loại tứ tuyệt 4 câu 3 vần:

Bốn mùa cảnh vắng teo

Một vùng nước trong veo Những lúc say sưa cũng muốn chừaMuốn chừa nhưng tính lại hay ưa

Trang 17

Phất phới thuyền ai đó

Xa xa một mái chèo

(“Cảnh mặt nước” - Nguyễn Khuyến)

Hay ưa đếân nổi không chừa được Chừa được rồi ra cũng chẳng chừa (“Chừa rượu” - Nguyễn Khuyến) Vần liên châu (vần liền = liên vận), trong cổ phong thỉnh thoảng cũng có lối này hoặc gieo toàn vần trắc, hoặc gieo toàn vần bằng, hoặc gieo từng cặp bằng trắc nối theo nhau.Ví dụ 1:

Thờ quấy tin hờ sao chẳng hổ, Hổ này đành phận sao thêm khổ

Khổ vì câu: hoàng thiên chấn nộ, Nộ bởi câu: tri nguyên bất cố Bất cố nguyên bất tầm chính lộ Chính lộ trước sau hằng hằng có Đạo xuất ư thiên nguyên là đó Nhiều kẻ ngâm thơ mà chẳng rõ

Chàng đi xa cách nhớ quê hương

Quê hương đất khách người một phương,Buồng không canh vắng bóng in tường

(Thu khuê oán - Tản Đà)

Ví dụ 3:

Đá xanh như nhuộm nước như lọc,Cỏ cây hoa lá dệt như vóc

Trời quang mây tạnh gió hiu hiu.

Ai thấy cảnh này mà chẳng yêu.

Mới biết là hoá công tay mới vẽ

Không mực không thước mà đủ vẻ

Tay người điểm xuyết ra nước non, Bể cạn nọn bộ nhỏ cỏn con.

Sao bằng tiêu dao cùng tạo hóa Bốn mùa phong cảnh thật không già

(Cảnh tạo hóa - Vô Danh)

3 Cách gieo vần trong thơ thuần Việt

Cách gieo vần trong các thể thơ thuần Việt bắt nguồn từ tục ngữ ca dao, rất phong phú và đa dạng Xét về tính chất, vừa có vần chính lẫn vần thông Xét về vị trí, vừa có vần lưng lẫn vần chân Có thể (lục bát) chỉ dùng vần bằng Có thể (song thất lục bát) dùng vần bằng lẫn vần trắc

Trang 18

Về vần lưng, thể lục bát dùng vầøn bằng còn song thất lục bát dùng cả vần bằng lẫn vần trắc Sự ổn định gieo và bắt vần vào chữ thứ 5 (thể song thất) và chữ thứ 6 (thể lục bát) đã trải qua sự thử nghiệm lâu dài

Thể nói lối có cả yêu vận lẫn cước vận Yêu vận dùng cả bằng lẫn trắc, thường rơi vào chữ thứ 2 của câu Cước vận dùng cả bằng lẫn trắc, nếu phối hợp luân phiên theo từng cặp một thì ở những câu chuyển từ vần bằng sang trắc hoặc ngược lại thường có yêu vận Ví dụ 1:

Mế ơi là mế

Mế hương mế hoa

Mế cà mế rợ

Mế ở ba mùa

Ai mua chẳng bán

Ai hoạn chẳng cho

Cắt cỏ ăn no

Cày bừa cho mẹ

Mế ơi là mế

Nghe vẻ nghe veNghe vè đánh bạcĐầu hôm xao xácBạc tốt như tiênĐêm khuya hết tiềnBạc như chim cú Cái đầu sù sụCon mắt trõm lơ

Lạy trời mưa xuốngLấy nước tôi uốngLấy ruộng tôi càyLấy đầy bát cơmLấy rơm đun bếpLấy nệp bánh chưngLấy lưng hủ gạo

Từ yêu vận ở chữ thứ 2 của thể nói lối tiến tới cách hiệp vần ở chữ thứ 5 của thể song thất lục bát Ví dụ 2:

Trèo lên cây bưởi hái hoa, Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân;

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!

Ba đồng một mớ trầu cay, Sao anh không hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá cắn câu

Cá cắn câu biết đây mà gỡ?

Chim vào lồng biết thuở nào ra!

Và lối hiệp vần ở chữ thứ 6 của thể lục bát (hệ thống phổ biến):

Cày đồng đang buổi ban trưa, Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày;

Ai ơi bưng bát cơm đầy,Dẽo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Còn lối hợp vần ở chữ thứ 4 thì ít phổ biến hơn, ở thể lục bát biến thể:

Con cò mà đi ăn đêm,Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao;

Ông ơi ông vớt tôi nao,Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng;

Có xáo thì xáo nước trong,Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

Trang 19

Ngoài ra, ở lục bát biến thể được dùng trong các ca khúc dân gian, thì vần lưng không phải bao giờ cũng bắt vào chữ thứ 6 Câu thơ do yêu cầu của nhạc điệu đã được kéo giãn ra bằng một số tiếng đệm nhưng vẫn giữ được dạng của thể hoàn chỉnh.Ví dụ:

Nước trong xanh lơ lững con cá vàng, Cây ngô cành bích con chim phượng hoàng nó đậu cao

Anh tiếc cho em phận gái má đào, Tham đồng bạc trắng gán mình vào lấy chú Tây đen

Sợi tơ hồng ai khéo xe duyên, Đem tranh tố nữ xếp bên pho tượng đồng,

Chị em ơi ba bảy đường chồng!

4 Cách gieo vần trong bài Đường phú

Trong bài Đường phú, vần được gieo ở cuối câu (câu gồm 2 vế tức là liên) vần đó có thể là vần bằng (vd: bài “Thầy đồ dạy học” của Trần Tế Xương) - Trích đoạn cuối:

Mẹ muốn con hay, rắp một nỗi biển cờ mũ áo;

Chủ rước thầy dạy, tính đủ tiền trà rượu cơm canh

Trước mặt thầy có án thư bàn độc;

Bên cạnh thầy có cánh xếp mành mành

Thầy ngồi chểm chệ, trò đứng chung quanh

Dạy câu kiều lẩy, dạy khúc lý kinh

Dạy những lúc xuống ngựa lên xe, đứng ngồi phải phép;

Dạy những khi cao lâu chiếu rượu, ăn nói cho sành

Hoặc vần trắc (Ví dụ: bài phú “Hỏng Thi” của Trần Tế Xương) - Trích đoạn đầu

Đau quá đòn hằn, rát hơn lửa bỏng

Tủi bút tủi nghiên, hổ lều hổ chõng

Nghĩ đến chữ “nam nhi đắc chí”, thêm nỗi thẹn thùng;

Ngẫm đến câu “quyển thổ trùng lai”, nói ra ngập ngọng

Thế mới biết học tài thi phận, miệng đàn bà con trẻ, nói vậy mà thiêng; Nào ai ngờ chữ tốt văn hay, tài bảng nhãn thám hoa, lỡ ra cũng hỏng

Cả bài phú có thể chỉ gieo một vần, gọi là độc vận hoặc có thể gieo nhiều vần gọi là liên vận Vần có thể do người sáng tác tự chọn gọi là phóng vận hoặc do người

ra đề hạn định gọi là hạn vận Vần có thể thuần là bằng, thuần là trắc hoặc bằng trắc

lẫn lộn

III ĐỐI

1 Nét khái quát

Trong thơ văn cổ của ta cũng như của Trung Quốc, đối là một yếu tố rất quan trọng Đối nghĩa là thành đôi, là đặt hai chữ, hai vế hoặc 2 câu, 2 đoạn đi song đôi và

Trang 20

cân xứng nhau Phàm đã đối nhau ắt phải thành đôi nên cũng gọi là đối ngẫu(ngẫu

nghĩa là đôi, cặp)

Văn xuôi có đối thì gọi là biền văn hay văn biền ngẫu, biền lệ tức mỗi câu phải

chia thành 2 vế cân xứng nhau về lời cũng như về ý

Xét về tính chất, trong thơ văn cổ, sự cân xứng về lời và ý là 2 yếu tố cấu thành của đối, rộng rãi hay chặt chẽ là tùy từng thể loại cụ thể.Lời (chữ) đối nhau phải cùng từ loại và khác thanh Ý đối nhau phải cân xứng dù đối tương phản hay tương liên

Đối thực hiện đúng cung cách, thỏa mãn được tất cả các đòi hỏi về từ loại, về

thanh và về ý thì gọi là đối chỉnh, nếu không đáp ứng được các yêu cầu trên, ít thì gọi là đối thoát, nhiều thì gọi là đối ép (cưỡng đối) Thơ Đường luật buộc phải tránh cường

đối Còn đối không những đã chỉnh rồi mà còn làm nổi bậït 2 ý trái ngược nhau thì gọi

là đối chọi, một kỹ thuật đối rất được tán thưởng trong thơ Đường luật và đối liên

Xét về phạm vi thực hiện, người ta lại phân ra tiểu đối và bình đối Tiểu đối

được thực hiện trong một câu thơ, ngắt làm 2 vế cân xứng nhau về lời và ý Lối này được thực trong từng câu lục hoặc từng câu bát của thể lục bát:

Ví dụ: Người quốc sắc, kẻ thiên tài

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e Bình đối được thực hiện trong phạm vi 2 câu thơ hoặc 2 khổ thơ với nhau (rộng rãi), cân xứng nhau về lời và ý Lối này được thực hiện trong thể thơ Đường luật (chặt chẽ), trong lục bát và song thất lục bát (rộng rãi)

Ví dụ 1: (Đường luật) Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu dài bóng tịch dương

Ví dụ 2:(Song thất) Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn, Lững da trời nhạn ngẩn ngơ sa

Ví dụ 3:(Lục bát) Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Trang 21

Buồn trông ngọn cỏ dàu dàu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Ví dụ 4:(Song thất) Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu, Hỏi ngày về: ước nẻo quyên ca;

Nay quyên đã giục oanh già,

Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo

Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió, Hỏi ngày về: chỉ độ đào bông;

Nay đào đã quyến gió đông, Phù dung lại đã bên sông bơ sờ

2 Phép đối trong thơ bắt nguồn từ Trung Quốc

Thơ cổ phong không bắt buộc phải đối, còn ở Đường luật, các cặp câu thực và luận phải đối nhau Đối với bài bát cú, nếu câu 1 không gieo vần (trốn vần) thì phải đối với câu 2 (song phong)

Ví dụ 1: Mặt trăng Ví dụ 2: Trần Bình Trọng

Vằng vặc bóng thuyền quyên,

Mây quang gió bốn bên

Nẽ cho trời đất rộng,

Quét sạch núi sông đen

Có khuyết nhưng tròn mãi,

Tuy già vẫn trẻ lên

Mảnh gương chung thế giới,

Soi tỏ mặt hay hèn

Lom khom dưới núi tiều vài chú,

Lác đác bên sông rợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

Thương nhà mõi miệng cái gia gia

(Bà Huyện Thanh Quan)

Trang 22

Góc túi càn khôn đủ chứa ta

Hơn kém cõi đời vinh với nhục, Nhục vinh rồi cũng hóa ra ma

3 Phép đối trong thơ thuần Việt

Trong các thể thơ thuần Việt, yếu tố đối không có tính cách bó buộc, nên được thực hiện rộng rãi; các yếu tố thanh, từ loại không bàn đến, chỉ cần xếp đặt 2 ý sóng đôi, cân xứng là đủ

Ở thể lục bát, đối được sử dụng gồm cả tiểu đối lẫn bình đối Tiểu đối được thực hiện trong phạm vi từng câu

Ví dụ 1:

-Mai cốt cách, tuyết tinh thần -Kẻ nhìn tận mặt, người e cuối đầu -Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

-Nửa in gối chiếc, nủa soi dặm trường Bình đối được thực hiện trong phạm vi từng đoạn, giữa 2 khổ thơ:

Ở thể song thất lục bát, đối chỉ là bình đối, thực hiện ở 2 câu 7 chữ:

-Nay Hán xuống Bạch thành đóng lại, Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua;

-Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ, Quán thu phong đứng rũ tà huy

Hoặc thực hiện trong phạm vi các khổ thơ:

Trang 23

Trông bến nam bãi che mặt nước, Cỏ biếc um dâu mướt màu xanh;

Nhà thôn mấy xóm chông chênh, Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm

Trông đường bắc đôi chòm quán khách, Rườm rà cây xanh ngắt núi non;

Lúa thành thoi thóp bên cồn, Nghe thôi địch ngọc véo von bên lầu

Non đông thấy lá hầu chất đống, Trĩ xập xoè mai cũng bẻ bai;

Khói mù nghi ngút ngàn khơi, Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc, Nhạn liệng không sóng đục thuyền câu;

Nhà thôn chen chúc khóm lau, Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về

Nhìn chung, đối thực hiện ở các thể thơ thuần Việt như lục bát , song thất lục bát tuy đa dạng - vừa tiểu đối vừa bỉnh đối - nhưng cũng mang tính cách rộng rãi, chủ yếu là sự cân xứng về ý tưởng còn yếu tố thanh và tự loại đôi khi không cần chặt chẽ lắm

4 Phép đối trong văn biền ngẫu

• Câu tứ tự:

+ Kê chư vãng cổ, quyết hữu minh trưng

( Việc xưa xét lại, bằng chứng rõ ràng)

• Câu bát tư:ï

+ Nhân nghĩa chi cử yếu tại an dân, Điếu phạt chi sư mạc tiên khử bạo

(Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân;

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo)

+ Gió trăng rơi rụng để cái quyên gầy, Sương gió hắt hiu làm con nhạn võ

• Câu song quan:

+ Sơn xuyên chi phong vực ký thù, Nam bắc chi phong tục diệc dị

(Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục bắc nam cũng khác)

• Câu cách cú:

+ Khi thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng;

Trang 24

Liên binh kết hấn, nẩm ác đãi thập dư niên

(Dối trời lừa người, kế gian đã muôn nghìn khóe;

Cậy binh gây hấn, ác chứa hơn hai chục năm.)

+ Lều nho nhỏ kéo tấm tranh lướt thướt, ngày thê lương hạt nặng giọt mưa sa;

Đèn cỏn con gon chiếc chiếu lôi thôi, đêm địch mịch soi chung vừng trăng tỏ

• Câu gối hạc:

+ Ngán nhẽ kẻ tham bề khóa lợi, mũ cánh chuồn đôïi trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực cửa hầu môn;

Quản bao kẻ mang cái giàm danh, áo giới làn trùm kín cơ phu, mõi gối qùi môn sân trướng phủ

Hoặc đối từng đoạn dài như trong bài kinh nghĩa viết theo lối bát cổ Ví dụ:

+ Con, con mẹ, mà dâu, dâu người vậy Hoặc lời ăn lời nói chi ra tuồng, tức lành đồn

xa, dữ đồn xa, ai bảo rằng con chi còn nhỏ

Dâu, dâu người, mà con, con mẹ vậy Hoặc trong cửa trong nhà chi có chuyện, tức yêu nên tốt, ghét nên xấu rồi ra trách mẹ chi không răn

Trong lối văn biền ngẫu cổ thể, tuy cấu trúc câu không chặt chẽ như biền ngẫu cậïn thể nhưng sự bố trí thanh cũng được vận dụng

Ví dụ 1:

“Dư thường văn chi: Kỷ Tín dĩ thân đại tử nhi thoát Cao Đế, Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu Vương, Dự Nhượng thôn thán nhi phục chủ thù, Thân Khoái đoạn tý

nhi phó quốc nạn ” (Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín liều thân chịu chết thay cho vua

Cao Đế, Do Vu lấy mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu Vương, Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ, Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước )

Ví dụ 2:

“Dư thường lâm xan vong thực, trung dạ vũ chẩm, tứ thế giao hi, tâm phúc như đảo, thường dĩ vị năng thực nhục tẩm bì, nhự can ẩm huyết vi hận dã, tuy dư chi bách

thân cao ư thảo dã, dư chi thiên thi lý ư mã cách, diệc nguyện vi chi”(Ta đây, ngày thì

quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác ngày gói trong

da ngựa, thì cũng đành lòng)

Ví dụ 3:

“Kim sử, duyên đề tặng phiến, Liêu Dương bất qui thúc phụ chi tang; biến khởi mại ti, Lôi Châu bất biện oan dân chi án; tắc sắc cầm hảo hợp, cốt nhục đoàn viên; bích ngọc trường lưu, tử thoa bất đoạn, yêu hoa thương khách, hà lai mãi tiếu chi kim; thanh giáo ngoại thần, chung trở qui hàng chi giáp; hà dĩ biểu khuê nhân chi hiếu hạnh, kiến hiệp nữ chi cơ quyền.Nãi tri: sự phi khúc tắc bất kỳ, ngộ dũ truân nhi nãi

hiển ” (Giả sử ngay khi trước, Liêu Dương cách trở, duyên chàng Kim đừng giở việc

ma chay, quan lại công bằng, án Viên ngoại tỏ ngay tình oan uổng, thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc, đem thân cho thiên hạ mua cười, mà chắc biên thùy một cõi nghênh ngang, ai xuôi được anh hùng cởi giáp Thế mới biết: người khôn thì hay gặp gian truân, chuyện đời khéo lắm trò quanh quẫn - Đoàn Tư Thuật dịch )

Trang 25

IV NHỊP

1 Nét khái quát

Nếu thanh, đối là 2 yếu tố được sử dụng trong các thể thơ và văn cổ, thì cũng như vần, yếu tố nhịp thường được dùng trong thơ nhiều hơn Nhịp là các ngắt câu thơ

thành nhiều đoạn tùy theo ý nghĩa câu thơ, là sự lặp lại cách quãng đều đặn và có thay

đổi của các hiện tượng ngôn ngữ, hình ảnh,môtíp nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mỹ về thế giới, tạo ra cảm giác vận động của sự sống, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật Câu thơ có thể tùy theo ý nghĩa, tùy theo các yếu tố vần, đối

mà ngắt nhịp khác nhau

2 Cách ngắt nhịp các thể thơ bắt nguồn từ Trung Quốc

Nhịp 2/3 cho ngũ ngôn cổ phong cũng như Đường luật Ví dụ 1:

Rừng lau/ gió lác đác

Chim hôm/ bay xao xác

Gánh củi/ lững thững về

Đường quen không sợ lạc

Người hết/ danh không hết Đời còn/ việc vẫn còn Tội gì lo tính quẫn Lập những cuộc con con Nhịp 4/3, 2/2/3 hoặc 2/5 cho thất ngôn cổ phong cũng như Đường luật

Hôm qua có bạn/ rượu lại hết, Hôm nay có rượu/ bạn không biết

Cất đi/ đợi bạn đến lúc nào?

Cùng uống/ cùng vui / trời đất tít

Khi say / quên cả ai là ta?

Còn hơn lúc tỉnh / nhớ mà mệt … Lom khom dưới núi/ tiều vài chú

Lác đác bên sông/ chợ mấy nhà

Nhớ nước/ đau lòng con quốc quốc, Thương nhà/ mõi miệng cái gia gia

(Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan) Nhìn chung chủ yếu là nhịp chẵn trước lẽ sau

Trong qúa trình hình thành và phát triển của thể cổ phong cũng như Đường luật,

do tác động của cách ngắt nhịp 3/4 của thơ song thất lục bát, khuynh hướng việt hóa cách ngắt nhịp từ chẳn trước lẻ sau thành lẻ trước chẳn sau ngày càng trở nên phổ biến

Đối với thơ thất ngôn Đường luật chữ Hán, lối ngắt nhịp 3/4 khá hiếm,chỉ còn tìm thấy ở bài “Hạnh Thiên Truờng hành cung” của vua Trần Nhân Tông Đây có thể là 1 sự thử nghiệm, phỏng theo lối ngắt nhịp của thể song thất của ta nhưng không thích hợp nên không phổ biến:

Cảnh thanh u / vật diệc thanh u,

Thập nhị tiên châu / thử nhất châu

Bách bộ sinh ca / cầm bách thiệt,

Trang 26

Thiên hàng nô bộc / quất thiên đầu

Nguyệt vô sự / chiếu nhân vô sự, Thủy hữu thu / hàm thiên hữu thu

Tứ hải dĩ thanh / trần dĩ tĩnh,

Kim niên du / thắng tích niên du

Dịch thơ:

Cảnh thanh u / vật cũng thanh u,

Mưới mấy châu tiên / ấy một châu

Trăm tiếng đàn chim / dàn nhạc hát, Nghìn hàng đám quýt / đám quân hầu

Trăng vô sự / chiếu ngườivô sự, Nước có thu / lồng trời có thu

Vừa bốn bể trong / vừa bụi lặng

Độ xưa / so với độ nay thua

Nếu trong thơ thất ngôn Đường luật chữ Hán cách ngắt nhịp 3/4 là cá biệt, thì trong thơ thất ngôn Đường luật chữ Nôm, cách ngắt nhịp này lại phổ biến và ngày càng tỏ ra có ưu thế khiến nhịp điệâu câu thơ vừa phong phú mới lạ vừa đậm đà bản sắc dân tộc :

Bạn cũ thiếu / ham đèn liễn sách Tính quen chăng / kiếm trúc cùng mai

Liệu cửa nhà / xem bằng quán khách, Đem công danh / đổi lấy cần câu

Người nhớ vua / nhìn sa đủa ngọc, Kẻ trông chồng / ngắm ruỗi mây xanh

(HĐQÂTT, Bài họa Vịnh trăng số 7) Thế Hán Sở / xem đà mấy chốc,

Cuộc Tần Tùy / đổi những bao giờ

Chồng nhớ vợ / lòng tơ bối rối, Con thương mẹ / lụy ngọc tuôn dầm

Bờ cõi xưa / đà chia đất khác, Nắng sương nay/ há đội trời chung?

Cách ngắt nhịp này ban đầu thường tìm thấy ở cả hai câu thực(3,4) hoặc luận (5,6) của bài thất ngôn bát cú, về sau thường gặp ở từng câu đơn lẻ Ví du:

Những giữ miệâng / đà không muốn nói

Phải giống sen / thời chẳng nhuốm bùn

Trang 27

(Nguyễn Công Trứ, “Tự thuật 1”)

Đã bấy lâu / nay bác đến nhà

Quyết mở đường / cho thiên hạ xem

Đặc trưng cơ bản của câu thơ Đường luật Nôm dạng ngắt nhịp 3/4 là thường tạo

nên một kiến trúc đối xứng, có đối ngẫu trong cùng dòng thơ (lẻ trước chẵn sau tức

dương/âm chứ không phải chẵn trước lẻ sau tức âm/dương như thơ Đường luật Trung

Quốc) Đây là cách cấu trúc đối xứng thường tìm thấy trong tục ngữ, thành ngữ Việt Nam

Nói chính xác hơn thì câu thơ ngắt nhịp 3/4 nói trên không đối xứng hoàn toàn mà thường có một chữ không có tính cách đối xứng chen vào giữa, chia câu thơ làm 2 vế cân xứng nhau Vị trí chữ này khá linh động, có thể là chữ thứ 5 để tạo nên sự đối xứng giữa các âm tiết 1,2,3 vơí 4,6,7 :

Đó một thì / đây cũng một thì

(Nguyễn Qúy Tân, “Hậu trung thu vọng nguyệt”)

hay chữ thứ 6 để tạo nên sự đối xứng giữa 1,2,3 với 4,5,7 :

Bên văn sang / bên võ cũng sang

hoặc chữ thứ 7 để tạo nên sự đối xứng giữa 1,2,3 với 4,5,6 :

Đứng núi này / trông núi nọ cao

Tuy nhiên, chữ tạo nên sự đối xứng trong cách ngắt nhịp trên thường là hư từ

“mà”, ở vị trí âm tiết thứ 4 trong câu thơ và xuất hiện với tần số rất cao :

Chị cũng xinh / mà em cũng xinh

Bạc qúa vôi / mà mỏng qúa mây

(Nguyễn Công Trứ, “Vịnh nhân tình thế thái”)

Danh chẳng ham / mà lợi chẳng mê

Cũng chẳng giàu / mà cũng chẳng sang

Chẳng phải quan / mà chẳng phải dân

3 Cách ngắt nhịp trong các thể thơ thuần Việt

Nhịp 2/2/2; 4/2;2/4 cho câu lục - nhịp 4/4; 2/2/4; 2/6 cho câu bát là cách ngắt nhịp phổ biến trong thơ lục bát Ví dụ:

Một duyên / hai nợ / ba tình Chiêm bao lẫn quất bên mình /năm canh

Trời mưa ướt bụi / ướt bờ, Ướt cây/ ướt lá / ai ngờ ướt em

Trang 28

Ngaøy ñi / luùa chöûa chia veø, Ngaøy veă / luùa ñaõ ñoû hoe ngoaøi ñoăng

Rađu huøm / haøm eùn / maøy ngaøi, Vai naím taâc roông / thađn möôøi thöôùc cao

Hoaịc cađu thô ñöôïc chia laøm hai nhòp cađn xöùng trong kyõ thuaôt thöïc hieôn tieơu ñoâi cuõng thöôøng baĩt gaịp trong theơ thô lúc baùt:

Ngöôøi quoâc saĩc / kẹ thieđn taøi, Tình trong nhö ñaõ / maịt ngoaøi coøn e

Coøn loâi ngaĩt nhòp taổn cuøng baỉng nhòp lẹ ít ñöôïc thöïc hieôn, ngoái tröø tröôøng hôïp dúng yù nhö moôt bieôn phaùp tu töø ñaịc bieôt cho cađu thô: (1/5 - 3/5)

+ Raỉng: / sao trong tieât thanh minh, Maø ñađy höông khoùi vaĩng tanh / theâ naøy?

+ Nöûa chöøng xuađn / thoaĩt gaõy caønh thieđn höông Nhòp 3/2 cho loâi thô moêi cađu 5 chöõ nhö loâi haùt giaịm Ngheô Tónh:

Naím daôu thaât thụ Kinh ñođ, Haøm Nghi quan töôùng cháy vođ ñái ngaøn

Kẹ chí só / caím gan Trai anh huøng / böùc chí Sanh phại hoăi / mát theâ Ñoaøn Tađy tạ / chieân tranh Kẹ nho só / hóc haønh

Traím cođng ghi / cheùp lái

Kẹ ñái taøi / cheùp lái

Ngöôøi vođ trang / vođ trái Ngöôøi nuùi thaúm / hang cuøng Kẹ ôû aơn / sôn trang

Cuõng long tieăm / theâ cạ

Nhòp 3/4 cho loâi thô song thaât lúc baùt:

Traõi vaùch queâ / gioù vaøng hiu haĩt, Maõnh vuõ y / lánh ngaĩt nhö ñoăng;

Oaùn chi / nhöõng khaùch tieđu phoøng, Maø xui / phaôn bác naỉm trong maù ñaøo?

Nhìn chung, caùch ngaĩt nhòp trong caùc theơ thô thuaăn Vieôt ña soâ taôn cuøng baỉng nhòp chaün Ñađy laø moôt ñieơm khaùc bieôt giöõa caùc theơ thô thuaăn Vieôt so vôùi caùc theơ thô baĩt nguoăn töø Trung Quoâc Xeùt veă tính chaât khaùc bieôt cụa tieât taâu 3/4(song thaât) so vôùi 4/3(thaât ngođn), tröôøng hôïp bạn dòch “Tyø baø haønh” laø moôt minh chöùng cú theơ:

Nguyeđn bạn: Taăm Döông giang ñaău / dá toâng khaùch,

Phong dieôp ñòch hoa / thu saĩt saĩt, Chụ nhađn há maõ / khaùch tái thuyeăn, Cöû töûu dúc aơm / vođ quạn huyeăn

Ngày đăng: 14/04/2016, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w