CHƯƠNG 1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚICHỨNG KHOÁN 1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán 1.1.1 Khái niệm và mô hình tổ chức Công ty chứng khoán 1.1.1.1 Khái
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Ngọc Anh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 4
1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán 4
1.1.1 Khái niệm và mô hình tổ chức Công ty chứng khoán 4
1.1.2 Các nguyên tắc hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 7
1.1.3 Các hoạt động kinh doanh cơ bản của công ty chứng khoán 11
1.1.4 Vai trò của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán 21
1.2 Hoạt động môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán 23
1.2.1 Khái niệm hoạt động môi giới chứng khoán 23
1.2.2 Phân loại hoạt động môi giới chứng khoán 23
1.2.3 Nội dung và quy trình hoạt động môi giới chứng khoán 25
1.2.4Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán 32
1.3 Hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán 36
1.3.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán 36
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán 37
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 44
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG 50
Trang 32.1 Khái quát về Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng 50
2.1.1 Sự hình thành và quá trình phát triển của công ty 50
2.1.2 Cơ cấu tổ chức – nhân sự của công ty 53
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động của công ty 56
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm vừa qua……… 58
2.2 Thực trạng hoạt động môi giới và hiệu quả hoạt động môi giới ở công ty từ năm 2011 – 2013 64
2.2.1 Thực trạng hoạt động môi giới ở công ty từ năm 2011 – 2013 64
2.2.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty 72
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG .85 3.1 Định hướng phát triển Thị trường chứng khoán Việt Nam và của công ty trong các năm tới 85
3.1.1 Định hướng phát triển Thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020……… 85
3.1.2 Định hướng phát triển của Công ty trong các năm tới 88
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng 90
3.2.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ nhân viên môi giới chuyên nghiệp 91
3.2.2 Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ môi giới 92
3.2.3 Nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tiến công nghệ tin học 94
3.2.4 Tăng cường hoạt động quảng bá, marketing đến các nhà đầu tư 98
3.2.5 Phát triển mạng lưới chi nhánh 99
Trang 43.3 Một số kiến nghị 100
3.3.1 Kiến nghị với Uỷ ban chứng khoán nhà nước 100
3.3.2 Kiến nghị với Hiệp hội kinh doanh chứng khoán 102
3.3.3 Đối với các cơ quan quản lý thị trường 102
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.3: Cơ cấu doanh thu của công ty VPBS theo các hoạt động
Bảng 2.4: Biến động số lượng tài khoản mở giao dịch tại công ty VPBS Bảng 2.5: Giá trị, khối lượng giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư
Bảng 2.9: Tỷ trọng doanh thu hoạt động môi giới của VPBS
Bảng 2.10: Chi phí hoạt động môi giới của công ty VPBS
Bảng 2.12: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới trên doanh thu môi giới từ năm 2011 – 2013………
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Hình 2.6: Doanh thu hoạt động môi giới của VPBS so với các công ty chứng khoán khác ……….73
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sự ra đời và đi vào hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam năm
2000 dường như là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế đất nước Trong suốt quá trình hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam
đã dần hoàn thiện và chứng tỏ một vị trí quan trọng với tư cách là một kênhđầu tư hấp dẫn và hiệu quả, cung cấp vốn trực tiếp cho toàn bộ nền kinh tế,cũng như cung cấp các sản phẩm tài chính đa dạng cho các nhà đầu tư
Môi giới chứng khoán là một trong những hoạt động nghiệp vụ đặc trưng
và cơ bản của công ty chứng khoán, đòi hỏi một chất lượng đặc biệt về kĩnăng, nghiệp vụ, đạo đức đồng thời đòi hỏi một môi trường hỗ trợ tương đốiphức tạp về tổ chức, pháp luật, cơ sở vật chất, thiết bị, văn hóa, xã hội…Thịtrường chứng khoán phát triển ở trình độ cao là tiền đề để nghề môi giớichứng khoán có thể đảm nhận tốt chức năng của mình Ngược lại, môi giớichứng khoán đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển củathị trường chứng khoán Đối với thị trường, môi giới chứng khoán giúp nhữngngười bình thường, không am hiểu nhiều về kinh tế, tài chính cũng có thể tiếpcận thị trường, đáp ứng nhu cầu đầu tư, giao dịch của họ; làm tăng nguồn vốntrực tiếp vào thị trường chứng khoán, thu hút nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong
xã hội để đầu tư và phát triển Đối với công ty chứng khoán, môi giới chứngkhoán không chỉ tạo ra nguồn thu đều đặn mà còn mở rộng, thắt chặt và củng
cố quan hệ với khách hàng, qua đó có thể làm nền tảng cho các hoạt độngkhác của công ty
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
đã đạt những thành công nhất định trong khả năng kiểm soát thị trường, tạodựng vị thế và uy tín của công ty Tuy nhiên, cũng như nhiều công ty chứng
Trang 9khoán khác, VPBS vẫn chưa sử dụng hết những khả năng nội tại của mình đểđạt đến xây dựng một bộ máy hoàn thiện với mô hình dịch vụ môi giới chuyênnghiệp, trình độ cao Bên cạnh đó, với số lượng lớn các công ty cứng khoánnhư hiện nay thì VPBS phải đứng trước một cuộc cạnh tranh khá khó khăn đểchiếm lĩnh khách hàng và khả năng điều khiển thị trường Do vậy, việc tìm ranhững giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại các công ty chứngkhoán nói chung và tại VPBS nói riêng là rất quan trọng.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng” làm luận văn tốt nghiệp.
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Luận văn lấy hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty trách nhiệmhữu hạn chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượnglàm đối tượng nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu với mục đích:
- Hệ thống cơ sở lý luận chung về hoạt động môi giới chứng khoán, cũng như hiệu quả của hoạt động môi giới chứng khoán nói chung
- Phân tích, đánh giá về thực trạng môi giới chứng khoán tại Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng, những tồn tại và nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số vấn đề lý luận thực tiễn có liênquan trực tiếp đến hoạt động môi giới chứng khoán nói chung và hoạt động
Trang 10môi giới chứng khoán tại Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngânhàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng nói riêng.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương phápnghiên cứu khoa học để phân tích lý luận và luận giải thực tiễn như : phươngpháp so sánh, duy vật biện chứng, phân tích hoạt động kinh tế
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu như sau : ngoài lời mở đầu và kết luận, chuyên đềđược chia ra làm 3 chương :
Chương 1: Công ty chứng khoán và hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán
Chương 2: Thực trạng hoạt động môi giới và hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty trách nhiệm Chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại Công
ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
Trang 11CHƯƠNG 1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI
CHỨNG KHOÁN 1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm và mô hình tổ chức Công ty chứng khoán
1.1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn,hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hộitập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổchức kinh tế và nhà nước để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay chocác dự án đầu tư
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán cácloại chứng khoán Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi ngườimua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành và ở thị trường thứcấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơcấp Do vậy, thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành vàtrao đổi Các sản phẩm trên thị trường chứng khoán khác với những sản phẩmhàng hóa thông thường ở chỗ chúng không thể cầm, nắm hay cân đo đong đếmđược, chúng là những sản phẩm tài chính Thực ra, hình thức biểu hiện của chứngkhoán cũng giống như tiền, tức là chúng không có giá trị nội tại Giá trị của chứngkhoán chính là các lợi ích mà tổ chức phát hành mang lại cho người sở hữu chứngkhoán với những điều kiện ràng buộc cụ thể Chứng khoán có các thuộc tính gắnliền với nó là tính sinh lợi, tính thanh khoản và tính rủi ro Chính những đặc điểmnày làm chứng khoán trở thành những hàng hóa cao cấp, mà việc xác định giá trịthật không hề đơn giản
Trên thị trường chứng khoán, chứng khoán được các tổ chức phát hành
Trang 12nhau, tuy vậy không phải mọi người được mua bán, trao đổi chứng khoán trựctiếp cho nhau mà mọi giao dịch phải qua các trung gian môi giới
Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giớicho thấy, lúc ban đầu các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau.Sau này, cùng với sự tăng quy mô, khối lượng giao dịch và chức năng của cácnhà môi giới, đòi hỏi sự ra đời của các công ty chứng khoán là sự tập hợp củacác nhà môi giới riêng lẻ Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán,các nghiệp vụ cũng được mở rộng, không chỉ gói gọn trong nghiệp vụ môigiới, các công ty chứng khoán ngày càng có cơ cấu, tổ chức hoạt động phứctạp hơn, mang một vai trò lớn hơn trên thị trường chứng khoán Thị trườngchứng khoán tồn tại và phát triển là một sự vận động không ngừng để hoànthiện và phát triển theo xu hướng phát triển chung của nền kinh tế Trong quátrình phát triển đó không thể không nhắc đến một chủ thể là công ty chứngkhoán, một tổ chức tham gia vào thị trường và giúp thị trường phát triển hiệuquả hơn
Một định nghĩa về công ty chứng khoán phổ biến và được chấp nhận
rộng rãi là: Công ty chứng khoán là tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán thông qua việc thực hiện một hoặc một vài dịch vụ chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận (Theo Giáo trình Kinh doanh chứng
khoán, xuất bản năm 2010 của Học Viện Tài Chính)
Công ty chứng khoán đóng vai trò là tổ chức trung gian trong các giaodịch trên thị trường chứng khoán, là nơi kết nối và thực hiện giao dịch giữangười mua và người bán Bên cạnh đó, công ty chứng khoán còn là trung gian
về thông tin, chuyên cung cấp các thông tin tư vấn, các sản phẩm nghiên cứunhằm hỗ trợ nhà đầu tư chọn lựa được các chứng khoán cho danh mục đầu tưcủa mình
Trang 13Tại Điều 2 khoản 1 Quyết định 27/2007/QĐ – BTC ngày 24 tháng 4 năm
2007 của Bộ Tài chính có quy định: “Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”.
1.1.1.2 Mô hình tổ chức Công ty chứng khoán
Hoạt động của các công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, kháchẳn với các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì môitrường hoạt động của chúng chính là thị trường chứng khoán – thị trường tàichính bậc cao của nền kinh tế thị trường Chính hoạt động đa dạng và phứctạp như vậy nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của công tychứng khoán ở mỗi quốc gia lại có những điểm khác biệt nhất định Nhìnchung, hai mô hình được áp dụng phổ biến hiện nay là mô hình công ty đanăng và mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán
Mô hình công ty đa năng
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách làchủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ Mô hìnhnày chia thành hai loại:
- Loại đa năng một phần: các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phảilập công ty con độc lập hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ
- Loại đa năng hoàn toàn: các ngân hàng thương mại được phép kinhdoanh tổng hợp, bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bêncạnh kinh doanh tiền tệ
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinhdoanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có khả năngchịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán Mặt khác, ngân hàng sẽtận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh chứng khoán
Trang 14Tuy vậy, mô hình này cũng bộc lộ hạn chế như: không phát triển đượcthi trường cổ phiếu vì các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và thích hoạt độngcho vay hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu Đồng thời, các ngânhàng cũng dễ gây lũng đoạn thị trường và các biến động trên thị trường và cácbiến động trên thị trường chứng khoán nếu có, sẽ ảnh hưởng mạnh tới hoạtđộng kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không tách bạch giữa hai loại hìnhkinh doanh này.
Mô hình công ty chuyên doanh
Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công
ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực cứng khoán đảm nhận, các ngânhàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán
Mô hình này khắc phục được được hạn chế của mô hình đa năng: giảmrủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoánkinh doanh chuyên môn hóa, thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán.Ngày nay với sự phát triển của thị trường chứng khoán, để tận dụng thế mạnhcủa lĩnh vực tiền tệ và lĩnh vực chứng khoán, các quốc gia có xu hướng nớilỏng ngăn cách giữa hoạt động tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phéphình thành mô hình công ty đa năng một phần, các ngân hàng thương mạithành lập công ty con để chuyên kinh doanh chứng khoán
1.1.2 Các nguyên tắc hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
Hoạt động kinh doanh chứng khoán dựa trên hai nhóm nguyên tắc cơ bản
đó là nguyên tắc tài chính và nguyên tắc đạo đức
1.1.2.1 Nguyên tắc tài chính
Do tính đặc thù trong hoạt động nên hầu hết các nước đều đặt ra nhữngnguyên tắc, quy định rất chặt chẽ về tài chính đối với các tổ chức kinh doanh
Trang 15chứng khoán Thông thường, các tổ chức này phải đảm bảo tuân thủ các tiêuchí sau:
Mức vốn hoạt động
Vốn của một công ty chứng khoán nhiều hay ít phụ thuộc vào loại tài sảncần tài trợ, loại tài sản này lại được quyết định bởi loại hình nghiệp vụ thựchiện Công ty chứng khoán kinh doanh trong một lĩnh vực đặc biệt, có ảnhhưởng đến lợi ích của công chúng đầu tư nên sự tồn tại ổn định, lâu dài củacông ty chứng khoán và sức mạnh tài chính của các công ty này trong mộtmôi trường dễ biến động cần phải được đảm bảo Ở Việt Nam, nghiệp vụ củacác công ty chứng khoán có quy định mức vốn pháp định cho từng nghiệp vụnhư sau:
Môi giới : 25 tỷ VNĐ
Tự doanh : 100 tỷ VNĐ
Bảo lãnh phát hành : 165 tỷ VNĐ
Tư vấn đầu tư : 10 tỷ VNĐ
Ta thấy nghiệp vụ tự doanh và bảo lãnh phát hành là nghiệp vụ đòi hỏinguồn vốn lớn, bởi công ty chứng khoán phải duy trì số lượng lớn các chứngkhoán và bản thân giá của các công cụ trên thị trường vốn luôn biến độngmạnh Còn các hoạt động môi giới, tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư chứngkhoán,…do đặc điểm của các hoạt động này nên không cần nguồn vốn lớn.Nói chung số vốn cần có để thực hiện nghiệp vụ chứng khoán được xácđịnh bằng việc cân đối giữa yêu cầu về vốn pháp định và các nhu cầu vốnkinh doanh của công ty
Cơ cấu vốn
Là sự pha trộn giữa vốn của các cổ đông hoặc vốn góp của các thànhviên với các khoản nợ mà công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động của mình
Trang 16Cũng giống như những loại hình doanh nghiệp khác, các công ty chứng khoáncũng phải huy động vốn từ các thành viên góp vốn (với công ty trách nhiệmhữu hạn) hoặc từ vốn góp của cổ đông (với công ty cổ phần), hoặc thông quathị trường tín dụng Tùy theo quy mô và tính chất của loại hình nghiệp vụ màcông ty chứng khoán tìm cho mình những phương pháp huy động vốn hiệuquả Tuy nhiên, việc huy động vốn và cơ cấu vốn của các công ty chứngkhoán có những đặc điểm sau:
Các công ty phụ thuộc nhiều vào các khoản vay ngắn hạn
Các chứng khoán có thể đem ra mua bán, trao đổi trên thị trường thườngchiếm phần lớn trong tổng giá trị tài sản (khoảng 40 – 60%) và tổng giá trị cổphiếu (khoảng 90%)
Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản ròng phải duy trì ở mức độ nhất định
Các công ty chứng khoán thường huy động phần lớn tài sản vào việc pháthành cổ phiếu
Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh
Bên cạnh việc đáp ứng các tiêu chí về mức vốn hoạt động, cơ cấu vốn, cáccông ty chứng khoán còn phải tuân thủ các nguyên tắc về việc sử dụng vốn và cáchạn mức trong kinh doanh Các nguyên tắc này khác nhau tùy theo đặc điểm củatừng nghiệp vụ mà các công ty chứng khoán thực hiện Các nguyên tắc về sử dụngvốn mà pháp luật đặt ra đối với các công ty chứng khoán bao gồm: cơ cấu vốn (tỷ
lệ nợ so với vốn chủ sở hữu), mức vốn khả dụng phải duy trì, trích lập quỹ bù đắprủi ro, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ,…
Đối với việc quản lý hạn mức kinh doanh có một số hạn mức sau để hạnchế rủi ro đối với các công ty chứng khoán cũng như đảm bảo hạn chế cácxung đột lợi ích có thể xảy ra:
- Hạn chế mức mua sắm tài sản cố định theo một tỷ lệ phần trăm trên vốnđiều lệ
Trang 17- Hạn mức đầu tư vào mỗi loại chứng khoán: thường hạn mức đầu tư vàocác loại chứng khoán niêm yết được đặt cao hơn hạn mức đầu tư vào các loạichứng khoán không niêm yết.
- Hạn mức đầu tư vào một số những tài sản rủi ro cao như các loại trái phiếu
có định mức tín nhiệm thấp hay cổ phiếu của những công ty đang phát triển
- Hạn mức bảo lãnh phát hành: vì hoạt động bảo lãnh có mức rủi ro tươngđối cao nên quy định hạn mức này nhằm giới hạn tổng mức bảo lãnh trongcùng thời điểm của một công ty chứng khoán
- Hạn mức hoặc hạn chế đầu tư vào các quỹ đầu tư do công ty chứngkhoán quản lý
1.1.2.2 Nguyên tắc đạo đức
Các công ty chứng khoán phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức sau:
- Công ty chứng khoán phải hoạt động dựa trên nguyên tắc trung thực, tậntụy, bảo vệ và vì quyền lợi, lợi ích hợp pháp của khách hàng, ưu tiên bảo vệlợi ích của khách hàng trước lợi ích của công ty
- Công ty chứng khoán có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng và chỉ đượctiết lộ thông tin của khách hàng trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩmquyền yêu cầu
- Công ty chứng khoán phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng, khôngđược sử dụng bất kỳ hành động lừa đảo phi pháp nào, có trách nhiệm thôngbáo cho khách hàng biết đầy đủ các thông tin khi có những trường hợp có thểxáy ra xung đột lợi ích
- Tách biệt tài khoản của khách hàng với tài khoản của mình nhằm bảo vệtài sản của khách hàng Công ty chứng khoán không được dùng tiền củakhách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền
đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng
Trang 18- Khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn, công ty chứng khoán phải cung cấpthông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà kháchhàng có thể gánh chịu, đồng thời không được khẳng định về lợi nhuận của cáckhoản đầu tư mà họ tư vấn.
- Công ty chứng khoán không được phép nhận bất kỳ khoản thù lao nàongoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ của mình
Ngoài các quy định trên pháp luật cũng có các điều khoản chống thao túngthị trường như hạn chế sự hợp tác giữ các công ty chứng khoán, cấm các giao dịchmua bán giả tạo và khớp lệnh với mục đích tạo ra một trạng thái giao dịch tích cực
về bề ngoài Các công ty chứng khoán cũng không được đưa ra những lời đồn đại,xúi giục hoặc dùng các hành vi lừa đảo khác trong giao dịch chứng khoán
Bên cạnh các quy định về thao túng thị trường, giao dịch nội gián cũng làvấn đề được quản lý khá chặt chẽ Theo đó các công ty chứng khoán khôngđược phép sử dụng các thông tin nội bộ mà mình có được để mua bán chứngkhoán cho chính mình, gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng
1.1.3 Các hoạt động kinh doanh cơ bản của công ty chứng khoán
1.1.3.1 Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng Theo đó, Công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch Chứng khoán hoặc trên thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch đó Người môi giới chỉ thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng để hưởng phí hoa hồng, họ không phải chịu rủi ro từ hoạt động giao dịch đó.
Hoạt động môi giới ở bất kỳ công ty chứng khoán nào cũng bao gồm haihoạt động nhỏ: thứ nhất, công ty chứng khoán đại diện khách hàng giao dịch
Trang 19và thứ hai là tư vấn trợ giúp khác hàng trong quá trình ra quyết định mua, bánchứng khoán Do những đặc điểm của hoạt động môi giới chứng khoán, nhânviên môi giới không những có kiến thức sâu rộng, thông thạo về chứng khoán
mà còn cần đạo đức ngề nghiệp nhất định Những người làm nghề môi giớichứng khoán phải trung thực vì lợi ích khách hàng Bên cạnh đó, để làm đượcnghề môi giới chứng khoán, họ phải có những kỹ năng nhất định, bao gồmcác kỹ năng chủ yếu sau:
Kỹ năng truyền đạt thông tin
Hình thức tư vấn cho khách hàng là một phần của hoạt động môi giới.Phẩm chất hay thái độ của người môi giới đối với công việc, với bản thân vàvới khách hàng được truyền đạt rõ ràng tới hầu hết các khách hàng mà ngườimôi giới thực hiện giao dịch Để thành công trong công việc cung ứng dịch
vụ, người môi giới phải đặt lợi ích khách hàng lên trên hết và doanh thu củamình chỉ là yếu tố thứ yếu Đây là điểm then chốt trong hoạt động dịch vụ tàichính và được thể hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng
Kỹ năng tìm kiếm khách hàng
Trong quá trình nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như mởrộng và phát triển thị phần công ty, nhân viên môi giới luôn phải tự tìm kiếmcho mình những nguồn khách hàng thật tốt và một nguồn những khách hàngtiềm năng Có nhiều phương pháp để tìm kiếm khách hàng như:
Những đầu mối được gây dựng từ công ty hoặc các tài khoản chuyểnnhượng lại
Mạng lưới kinh doanh
Các chiến dịch viết thư
Các cuộc hội thảo
Gọi điện làm quen
Qua các lời giới thiệu
Trang 20Kỹ năng khai thác thông tin
Nguyên tắc chính trong hành nghề môi giới là phải hiểu khách hàng, biếtđược khả năng tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng Quá trìnhtiếp xúc thường xuyên với khách hàng đòi hỏi nhân viên môi giới phải biếtđược các thông tin về khách hàng của mình như: số điện thoại, địa chỉ, ngàysinh nhật và quan trọng là biết được tình hình tài chính thật sự của từng nhàđầu tư Bởi muốn tư vấn được cho khách hàng thì điều quan trọng là phải biếtđược tình hình tài chính của họ để có thể tư vấn những chiến lược đầu tư khácnhau cho các nhà đầu tư khác nhau phù hợp với khả năng chịu đựng của từngngười Ngoải ra, nó còn giúp cho nhà môi giới tăng được khối lượng tài sảnquản lý, có chiến lược khách hàng thích hợp
1.1.3.2 Hoạt động Tự doanh chứng khoán
Theo Luật Chứng khoán, ngày 26 tháng 6 năm 2006 về Chứng khoán và
Thị trường Chứng khoán thì: “Tự doanh là việc công ty chứng khoán mua
ưu tiên thực hiện trước Trên thị trường OTC, hoạt động tự doanh có thể đượcthực hiện trực tiếp giữa công ty chứng khoán với các đối tác hoặc qua hệthống giao dịch tự động, hoặc qua hoạt động nhà tạo lập thị trường
Mục đích của hoạt động tự doanh là thu lợi nhuận cho chính công ty từnguồn vốn sở hữu của chính công ty qua hoạt động mua bán chứng khoán
Trang 21Hoạt động tự doanh thất sự cần thiết đối với công ty chứng khoán vì hiện nay
nó vẫn là nguồn thu chính cho các công ty chứng khoán Đồng thời với hoạtđộng tự doanh, công ty chứng khoán giúp cho thị trường chứng khoán trở nênsôi động vì chính công ty chứng khoán là nhà đầu tư chuyên nghiệp, bên cạnh
đó cũng làm cho tính thanh khoản của chứng khoán tăng lên, góp phần bình
ổn giá chứng khoán trên thị trường
Với những đặc điểm như vậy, những yêu cầu đối với công ty chứngkhoán bao gồm:
Tách biệt quản lý
Khi công ty chứng khoán đồng thời thực hiện hai nghiệp vụ môi giới và tựdoanh thì phải tách biệt quản lý để đảm bảo tinh minh bạch trong hoạt động, baogồm tách bạch về yếu tố con người, quy trình nghiệp vụ, vốn và tài sản
Ưu tiên khách hàng
Công ty chứng khoán luôn phải ưu tiên khách hàng, tức là thực hiện lệnhgiao dịch của khách hàng trước khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh Xuất phát từviệc công ty chứng khoán có điều kiện tiếp xúc và có những thông tin đánh giáchính xác về thị trường nên có những quyết định cho việc mua bán sẽ thuận lợihơn so với khách hàng nên việc ưu tiên khách hàng là một điều khẳng định chiếnlược công ty chứng khoán luôn mong muốn mang lại những điều kiện thuận lợinhất cho khách hàng
Góp phần bình ổn thị trường
Công ty chứng khoán hoạt động trên thị trường chứng khoán không chỉnhằm mục đích bảo vệ lợi nhuận của chính mình mà còn góp phần tạo nên sự pháttriển của thị trường chứng khoán, là một định chế trung gian giúp cho thị trườngđược giao dịch, không chỉ như một cây cầu nối cho người mua và người bán gặpnhau mà công ty chứng khoán cón đóng vai trò như một người cứu hộ cho thịtrường chứng khoán khi có những dấu hiệu không tốt cho thị trường Chẳng hạn,
Trang 22khi thị trường có xu hướng đi xuống thì các công ty chứng khoán có trách nhiệmmua vào chứng khoán giúp thị trường đi lên thông qua nghiệp vụ tự doanh củacông ty Ngược lại, khi thị trường trong xu hướng tăng giá quá cao, các công tychứng khoán có thể bằng nghiệp vụ bán ra số chứng khoán trong tài khoản tựdoanh của mình nhằm hạ nhiệt thị trường.
Hoạt động tạo lập thị trường
Tạo lập thị trường là một hoạt động của các công ty chứng khoán màthông qua việc mua bán một chứng khoán mới được giao dịch tạo ra một thịtrường cho các chứng khoán này
Các công ty chứng khoán thực hiện tự doanh đối với chứng khoán mới pháthành và chưa có thị trường giao dịch, nhằm tạo ra thị trường cấp hai cho chúng.Thực tế, ở Việt Nam thì nghiệp vụ tự doanh của công ty chứng khoán chưa thểđóng vai trò như những nhà tạo lập thị trường cho một số loại chứng khoán nào
đó, bởi vì nghiệp vụ này với mục đích chính là mang lại lợi nhuận cho chínhmình và phần nào bình ổn giá cho thị trường, việc tạo nên tính thanh khoản haytạo ra những giao dịch cho một loại chứng khoán nào thì các công ty chứngkhoán chưa thực hiện được
Có hai hình thức trong hoạt động tự doanh là giao dịch trực tiếp và giaodịch gián tiếp Giao dịch trực tiếp là giao dịch thỏa thuận trực tiếp giữa kháchhàng và công ty chứng khoán, còn giao dịch gián tiếp là giao dịch đặt lệnhthông qua trung tâm giao dịch chứng khoán
1.1.3.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp váo quá trình phát hành chứng khoán nhằm tư vấn tài chính cho nhà phát hành, giúp nhà phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và
Trang 23giúp bình ổn giá chứng khoán trong thời gian sau đợt phát hành chứng khoán.
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành được thực hiện bởi đội ngũ chuyên giagiỏi về chứng khoán, am hiểu thị trường và có năng lực tài chính Họ thường
có một mạng lưới bán hàng rộng khắp để đảm bảo cho đợt phát hành thànhcông Vì vậy, thông qua các tổ chức bảo lãnh phát hành, rủi ro của đợt pháthành sẽ giảm Cung ứng dịch vụ này cho khách hàng, công ty chúng khoán sẽnhận được tiền hoa hồng bảo lãnh Tiền bảo lãnh được xác định dựa theo sựthỏa thuận giữa nhà phát hành và nhà bảo lãnh phát hành
Các phương thức bảo lãnh phát hành chứng khoán là:
Bảo lãnh theo phương thức cam kết chắc chắn
Theo phương thức này, tổ chức bảo lãnh sẽ nhận mua toàn bộ số chứngkhoán mới phát hành của tổ chức phát hành theo giá thỏa thuận
Bảo lãnh theo phương thức dự phòng
Là phương thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh cam kết nếu chứng khoánkhông được bán hết, tổ chức bảo lãnh sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại của
tổ chức phát hành, sau đó bán ra công chúng
Bảo lãnh theo phương thức cố gắng tối đa
Là phương thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh đóng vai trò như một đại lýphát hành và cam kết sẽ cố gắng bán được nhiều nhất số chứng khoán ra côngchúng theo mức giá đã xác định qua quá trình tư vấn Số chứng khoán khôngbán hết được trả về cho tổ chức phát hành và tổ chức bảo lãnh nhận được hoahồng bảo lãnh trên số chứng khoán bán được hoặc trêm số vốn huy động được
Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không
Phương thức này thường được áp dụng trong trường hợp tổ chức phát hànhcần huy động một lượng vốn tối thiểu để phục vụ cho kế hoạch sản xuất kinhdoanh Tổ chức phát hành yêu cầu một mức bán chứng khoán (mức vốn huy
Trang 24động) nhất định, nếu tổ chức bảo lãnh không bán được trên mức này, toàn bộ đợtphát hành sẽ bị hủy bỏ, tiền đặt mua chứng khoán được trả lại cho các nhà đầu tư
và tổ chức bảo lãnh không nhận được bất kỳ một khoản hoa hồng nào
Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán cóchức năng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện đầy đủ các thủ tục trướckhi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình
ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành Trên thị trườngchứng khoán, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ có các công ty chứngkhoán mà còn bao gồm các định chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư, nhưng thông thường khi công ty chứng khoán nhận bảo lãnh phát hànhthường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tưthường đứng ra nhận bảo lãnh phát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh pháthành) sau đó chuyển phân phối chứng khoán cho các công ty chứng khoán tựdoanh hoặc các thành viên khác
1.1.3.1.4 Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
Là hoạt động phân tích, dự báo các dữ liệu về lĩnh vực chứng khoán,
từ đó đưa ra các lời khuyên cho khách hàng.
Tư vấn đầu tư chứng khoán là các hoạt động tư vấn liên quan đến chứngkhoán hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích, đưa ra lời khuyên cóliên quan đến chứng khoán hoặc thực hiện một số công việc có tính chất dịch
vụ cho khách hàng
Với khả năng chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực chứng khoán,
họ sẽ đưa ra các dự báo để khách hàng tham khảo, đưa ra quyết định đầu tưcủa mình Nhà tư vấn không chịu trách nhiệm về hậu quả các quyết định củanhà đầu tư Tùy thuộc vào loại hình tư vấn và thông tin nhà tư vấn cung cấpcho khách hàng mà khách hàng có thể phải trả các khoản phí
Trang 25Trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán cungcấp thông tin, cách thức đầu tư và loại chứng khoán cần đầu tư đối với cáckhách hàng của mình Hoạt động này đòi hỏi nhiều kiến thức, kỹ năng và kinhnghiệm của nhân viên tư vấn Mặt khác, tính trung thực của các nhân viên tưvấn của công ty chứng khoán có tầm quan trọng trong việc thu hút kháchhàng Hoạt động tư vấn là hoạt động mà người tư vấn sử dụng kiến thức, hiểubiết của mình nhằm đem lại lợi nhuận cho khách hàng Người tư vấn cần phảihết sức thận trọng trong việc đưa ra những khuyến nghị cho khách hàng, vì từnhững khuyến nghị đó khách hàng có thể thu về lợi nhuận lớn hoặc thua lỗ,thậm chí phá sản, còn người tư vấn thu về cho mình phí dịch vụ tư vấn bất kểkết quả kinh doanh của khách hàng có thành công hay không.
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:
Theo hình thức tư vấn
- Tư vấn trực tiếp: khách hàng gặp gỡ trực tiếp nhà tư vấn
- Tư vấn gián tiếp: thông qua các ấn phẩm, phương tiện truyền thông
Theo mức độ ủy quyền của tư vấn
- Tư vấn có gợi ý: nhà tư vấn chỉ nêu lên ý kiến của mình, gợi ý cho kháchhàng và quyền quyết định là ở phía khách hàng
- Tư vấn ủy quyền: nhà tư vấn được ủy quyền và quyết định hộ khách hàng
Theo đối tượng tư vấn
- Tư vấn cho người phát hành: tư vấn cho tổ chức dự kiến phát hành cáchthức, hình thức phát hành, xây dựng hồ sơ, bản cáo bạch… và giúp tổ chứcphát hành lựa chọn tổ chức bảo lãnh, phân phối chứng khoán
- Tư vấn đầu tư chứng khoán: tư vấn cho khách hàng đầu tư chứng khoán trên thịtrường thứ cấp về giá, thời gian, định hướng đầu tư vào các loại chứng khoán…Khi hành động, nhà tư vấn cần tuân thủ theo những nguyên tắc tối thiểu sau:
- Không đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán
Trang 26- Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình có thể làkhông hoàn toàn chính xác và khách hàng cần biết là nhà tư vấn không chịutrách nhiệm về những lời khuyên.
- Không dụ dỗ hay mời gọi khách hnag mua hoặc không mua một loạichứng khoán nào đó, mọi lời khuyên đều xuất phát từ sự phân tích tình hình,
tư duy logic và khách quan
1.1.3.5 Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là hoạt động công ty chứng khoán nhận tiền ủy thác của khách hàng, xây dựng danh mục chứng khoán với mục tiêu làm cho tài sản của khách hàng sinh lời tối ưu nhất.
Đây là một dạng nghiệp vụ tư vấn của công ty chứng khoán nhưng ởdạng cao hơn Vì trong họat động này, khách hàng uỷ thác cho công ty chứngkhoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay một nguyêntắc đã được khách hàng chấp nhận Một số bước mà công ty chứng khoánphải làm khi thực hiện nghiệp vụ này:
- Công ty chứng khoán và khách hàng tiếp xúc tìm hiểu khả năng của nhau
- Công ty chứng khoán và khách hàng tiến hành ký hợp đồng quản lý Nộidung hợp đồng phải quy định rõ nhiều yếu tố: số tiền và thời hạn ủy thác, mụctiêu đầu tư, giới hạn quyền và giới hạn trách nhiệm của công ty, phí quản lý
mà công ty được hưởng
- Thực hiện hợp đồng quản lý Nếu có phát sinh ngoài hợp đồng thì công
ty phải xin ý kiến của khách hàng bằng văn bản và phải thực hiện theo đúngquyết định của khách hàng
- Khi đến hạn kết thúc hợp đồng hay trong trường hợp công ty bị giải thế,phá sản, ngừng hoạt động… công ty phải cùng với khách hàng bàn bạc vàquyết định xem có tiếp tục gia hạn hay thanh lý hợp đồng
Trang 271.1.3.6 Các hoạt động phụ trợ
Lưu ký chứng khoán
Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông qua tàikhoản lưu ký chứng khoán Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứngkhoán, bởi giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là hình thức giaodịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các công tychứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ) hoặc ký gửicác chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức chứng chỉ vậtchất) Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho các khách hàng, công tychứng khoán sẽ được nhận các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi,phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán
Hiện nay, ở Việt Nam hệ thống đăng ký lưu ký chứng khoán đã đi vàohoạt động có quy mô và hoàn đồng bộ Các công ty chứng khoán là nhữngthành viên lưu ký chứng khoán tại Trung tâm lưu ký Hoạt động lưu ký có vaitrò quan trọng trong việc tạo nên cơ chế kiểm soát hoạt động đầu tư nắm giữchứng khoán của nhà đầu tư chặt chẽ và linh hoạt, đồng thời cũng cung cấpmột dịch vụ cho họat động đầu tư như cầm cố, rút chứng khoán để vay tiềntrong các tổ chức tín dụng
Quản lý thu nhập của khách hàng
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứngkhoán sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làmdịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản củakhách hàng tại công ty
Nghiệp vụ tín dụng
Đối với các thị trường chứng khoán phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môigiới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, công ty chứng khoáncòn triển khai các dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao
Trang 28dịch bán khống (short sale) hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thựchiện mua ký quỹ (margin purchase).
Ngoài ra, còn có một số hoạt động hỗ trợ tín dụng cho khách hàng nhưRepo, cho vay cầm có chứng khoán, ứng trước tiền bán chúng khoán,…
- Repo là giao dịch mua bán chứng khoán có kỳ hạn được giao dịch trênthị trường tài chính Đây là loại giao dịch nhà đầu tư có thể mua và bán chứngkhoán (trái phiếu, cổ phiếu,…) của chính mình trong một khoảng thời gianthỏa thuận nhất định với công ty chứng khoán Tức là, khi có nhu cầu về vốntrong một thời gian nhất định mà không muốn bán số chứng khoán của mình,nhà đầu tư có thể ký hợp đồng Repo trong đó cam kết sẽ mua lại số chứngkhoán đã bán này từ công ty chứng khoán tại một thời điểm xác định trongtương lai với một mức giá nhất định xác định trước trong hợp đồng
- Cho vay cầm cố chứng khoán là việc thế chấp chứng khoán (thường là cổphiếu) để vay tiền của công ty chứng khoán hoặc ngân hàng trong một thờigian nhất định, mức vay được tính bằng 20% – 50%) thị giá chứng khoán, tùytheo bên nhận cầm cố, trong thời hạn vay mà thị giá giảm xuống dưới mộtmức quy định thì người đi vay phải nộp thêm tiền để đảm bảo an toàn cho bênnhận cầm cố, nếu không bên nhận cầm cố có quyền thanh lý chứng khoán
- Ứng trước tiền bán chứng khoán: xuất phát từ ngày thanh toán T+3 (sau 3ngày kể từ ngày bán chứng khoán tiền mời về tài khoản của khách hàng), công
ty chứng khoán thường phối hợp với ngân hàng để cho vay ứng trước tiền bánchứng khoán, phí cho thường được tính theo tỷ lệ %/ngày của khoản ứngtrước (thường từ 0,03% – 0,05%/ ngày) và quy định mức tối thiểu cho một lầnứng trước Dịch vụ này giúp khách hàng tăng vòng quay vốn, nhanh chóngđưa tiền vào kinh doanh chứng khoán, khắc phục nhược điểm T+3
Trang 291.1.4 Vai trò của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Khi thực hiện các nghiệp vụ của mình, công ty chứng khoán có nhữngvai trò sau:
1.1.4.1 Vai trò huy động vốn
Nói một cách đơn giản, các công ty chứng khoán là cầu nối, là kênh dẫnvốn từ nơi có vốn nhàn rỗi sang bộ phận khác của nền kinh tế đang cần huyđộng vốn Các công ty chứng khoán thường đảm nhiệm vai trò này qua cáchoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán
1.1.4.2 Vai trò hình thành giá cả chứng khoán
Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hànhchứng khoán cho các tổ chức phát hành, công ty chứng khoán thực hiện vaitrò hình thành giá cả chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổchức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợtphát hành Thông thường, mức giá phát hành thường do các công ty chứngkhoán xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu và thỏa thuận với các nhà đầu tưtiềm năng lớn trong đợt phát hành đó và tư vấn cho tổ chức phát hành
Trên thị trường thứ cấp, công ty chứng khoán luôn có vai trò giúp các nhàđầu tư đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình
1.1.4.3 Vai trò tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán
Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thànhchứng khoán và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định Các công tychứng khoán đảm nhận được chức năng chuyển đổi này, giúp cho nhà đầu tư
ít phải chịu thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư Một nhà đầu tư có thể hàngngày chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà không phảichịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình Nói cách khác, có
Trang 30thể có một số nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến giá trị đầu tư, chẳng hạn nhưtin đồn về một vấn đề nào đó trong nền kinh tế, nhưng giá trị khoản đầu tư nóichung không giảm đi do cơ chế giao dịch của thị trường.
1.1.4.4 Vai trò góp phần điều tiết và bình ổn thị trường
Theo quy định của các nước, công ty chứng khoán bắt buộc phải dành ramột tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giáchứng khoán trên thị trường đang giảm và bán ra khi giá chứng khoán cao
1.1.4.5 Vai trò thực hiện tư vấn đầu tư
Các công ty chứng khoán với đầy đủ các dịch vụ không chỉ thực hiệnmệnh lệnh của khách hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khácnhau thông qua việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó chocác công ty và các nhà đầu tư cá nhân
1.1.4.6 Vai trò tạo ra các sản phẩm mới
Trong mấy năm gần đây, chủng lại chứng khoán đã tăng lên do một sốnguyên nhân Ngoài cổ phiếu và trái phiếu đã được biết đến, các công tychứng khoán hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ, chứng quyền, quyền mua
cổ phần, trái phiếu, các hợp đồng quyền chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạngkhác, phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh tế
1.2 Hoạt động môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm hoạt động môi giới chứng khoán
Theo Giáo trình Kinh doanh chứng khoán – Trường Học viện Tài chính
(xuất bản năm 2010) thì: “Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian
mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, làm dịch vụ nhận các lệnh mua, lệnh bán chứng khoán của khách hàng, chuyển các lệnh mua bán đó vào Sở giao dịch chứng khoán và hưởng hoa hồng môi giới”.
Trang 31Theo Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 06 năm 2006 thì: “Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng”.
1.2.2 Phân loại hoạt động môi giới chứng khoán
Xét trên nhiều góc độ, chúng ta có nhiều cách phân loại khác nhau.Trong bài viết này xin được đề cập đến sự phân loại dựa trên tiêu thức làphạm vi của môi giới, sẽ bao gồm: Môi giới thừa hành và Môi giới độc lập
Trang 32Môi giới thừa hành
Nhà môi giới này là nhân viên của các công ty chứng khoán, họ làm việctrong một công ty chứng khoán duy nhất, chịu sự quản lý giám sát của công
ty chứng khoán nơi họ làm việc và Ủy ban chứng khoán Nhà nước Theo luậtđịnh, mỗi nhân viên môi giới chỉ được phép làm việc cho một công ty chứngkhoán duy nhất, chứng chỉ hành nghề của họ chỉ có hiệu lực khi đang làmviệc cho một công ty chứng khoán và có báo cáo gửi cho Ủy ban chứngkhoán Nhà nước
Nhân viên môi giới thừa hành làm việc phục vụ cho lợi ích của chínhcông ty mình làm việc Do vậy, mọi chế độ đãi ngộ, lương bỗng thưởng đều
từ công ty Môi giới thừa hành có thể làm môi giới hoạt động mua bán chứngkhoán cho những chứng khoán đăng ký giao dịch trên sàn, thông qua hoạtđộng nhập lệnh cho khách hàng Bên cạnh đó, các nhân viên có thể môi giớicho chứng khoán ở thị trường OTC, có thể nói đây là một sự mở rộng tronghoạt động môi giới của các công ty chứng khoán
Môi giới độc lập
Hay còn gọi là môi giới hai đô la, họ là những người hoạt động cho chínhlợi ích của họ, họ quan tâm đến chất lượng tư vấn vì đây chính là nguồn duynhất khẳng định hiệu quả làm việc, khi họ tư vấn cho một nhà đầu tư trongviệc ra quyết định mua hoặc bán một loại chứng khoán nào thì họ sẽ đượchưởng phần trăm lợi nhuận từ giá trị của giao dịch đó
Khi thị trường chứng khoán phát triển, thì lượng lệnh thực hiện chokhách hàng trở nên quá tải đối với các công ty chứng khoán, do vậy họ cần sựtrợ giúp của một lượng lớn những nhà môi giới độc lập này Họ bỏ tiền rathuê những “chỗ ngồi” ở Sở giao dịch và thực hiện đọc lệnh cho khách hàngcủa mình, họ làm việc độc lập Những lệnh do khách hàng của những nhà môigiới này là kết quả của một quá trình hoạt động cật lực để có được kết quả
Trang 33Ở Việt Nam hiện nay chưa có loại hình môi giới này, mới chỉ có môi giớithừa hành, là những nhân viên môi giới hoạt động trong các công ty chứngkhoán và chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật Xu hướng phát triển củathị trường chứng khoán trong tương lai sẽ phải có những nhà môi giới độc lậpnày, ở các thị trường chứng khoán phát triển đã có hoạt động môi giới này từrất lâu.
1.2.3 Nội dung và quy trình hoạt động môi giới chứng khoán
1.2.3.1 Nội dung hoạt động môi giới chứng khoán
Hoạt động môi giới chứng khoán thể hiện rõ vai trò của mình thông quacác hoạt động chủ yếu sau:
Thực hiện giao dịch theo yêu cầu của khách hàng
Theo quy trình, nhà đầu tư sẽ gửi lệnh mua hoặc bán chứng khoán củamình tới công ty chứng khoán, nhân viên môi giới sẽ nhập lệnh và hệ thốngmáy tính đã được nối mạng với Trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc Sởgiao dịch chứng khoán Tại đó, hệ thống kỹ thuật sẽ tự so khớp lệnh để tìmđối tác thích hợp cho các nhà đầu tư Sau đó, giao dịch của khách hàng đượcthực hiện và công ty chứng khoán sẽ hạch toán tiền và chứng khoán trên hệthống tài khoản mà khách hàng mở tại công ty khi kết thúc phiên giao dịch.Tuy nhiên, hoạt động môi giới không chỉ dừng lại ở mức độ thực hiện giaodịch theo lệnh của khách hàng mà kèm theo đó là những dịch vụ tư vấn vềđầu tư cũng như là tư vấn chung
Cung cấp sản phẩm và dịch vụ tài chính
Như chúng ta đã biết, công ty chứng khoán là nơi được trang bị đầy đủ
về cơ sở vật chất, con người và khung pháp lý để giao dịch của khách hàngđược thực hiện một cách chính xác và hiệu quả Do đó, trong quá trình sử
Trang 34dụng dịch vụ môi giới chứng khoán, các nhà đầu tư được hưởng các dịch vụ
về tài chính do công ty chứng khoán cung cấp
Sau quá trình giao dịch của khách hàng được thực hiện xong, nhân viên
tư vấn sẽ tiếp tục chăm sóc tài khoản của khách hàng có tại công ty chứngkhoán, đồng thời đem lại những thông tin cũng như những khuyến cáo vềbiến động của nền kinh tế đến khách hàng nếu những biến động đó ảnh hưởngkhông tốt đến tình hình tài chính hay thái độ đầu tư của khách hàng Từ đó đềxuất những giải pháp gỡ rối cho khách hàng
Tư vấn khách hàng và cung cấp thông tin
Thị trường chứng khoán ngày càng phát triển thì chất lượng của hoạtđộng môi giới chứng khoán ngày càng nâng cao, đặc biệt trong mảng tư vấncho khách hàng Việc thu thập và xử lý thông tin để lập báo cáo đòi hỏi nhữngkhoản đầu tư rất lớn về người và của do đó chỉ có các công ty chứng khoánmới có khả năng tài chính để trang trải Những báo cáo này gồm:
- Phân tích diễn biến tổng thể thị trường
- Phân tích động thái của từng khu vực riêng biệt trong thị trường đó
- Phân tích hoạt động của công ty trong từng khu vực
Một trong các yếu tố làm nên thành công của quá trình đầu tư của nhàđầu tư là khả năng cập nhật, nắm bắt, thẩm định và phân tích thông tin.Nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng có thời gian, khả năng phân tích,thẩm định thông tin và hệ thống thông tin thị trường dù có được công bố mộtcách minh bạch đến đâu thì nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân khó mànắm bắt kịp thời và đầy đủ Nhờ lợi thế chuyên môn hóa, các công ty chứngkhoán sở hữu nguồn thông tin phong phú và đáng tin cậy, đã được phân tích
và thẩm định bởi các chuyên gia Do đó, họ có thể thực hiện tư vấn đầu tư,giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định đúng đắn
Trang 35Trong quá trình tiếp cận khách hàng, tư vấn khách hàng, nhân viên môigiới vừa đưa ra những ý kiến tư vấn vừa cố gắng nắm bắt các thông tin vềkhách hàng như: tình hình tài chính, thu nhập, khả năng chịu đựng rủi ro, từ
đó nhân viên môi giới sẽ đưa ra được những lời tư vấn hiệu quả, phù hợp đốivới từng khách hàng
Chăm sóc khách hàng
Các công ty chứng khoán luôn quan tâm đến việc duy trì mối quan hệthân thiết, lâu dài với khách hàng Công ty không chỉ đơn thuần thực hiệnlệnh của khách hàng mà còn giúp quản lý tài khoản, thực hiện các quyền vàlợi ích liên quan dến chứng khoán của khách hàng
Nhân viên môi giới thường xuyên giữ liên lạc với khách hàng, tiếp tụctìm hiểu thông tin liên quan đến khách hàng Khi đã trở nên thân thiết và tincậy, nhân viên môi giới còn là người chia sẻ những lo âu, căng thẳng củakhách hàng khi đầu tư, đưa ra những lời khuyên phù hợp
1.2.3.2 Quy trình hoạt động môi giới chứng khoán
Khách hàng khi tham gia vào thị trường chứng khoán thì nhất thiết phảituân thủ các nguyên tác của thị trường Thị trường chứng khoán là một thịtrường tài chính bậc cao với các sản phẩm mang tính chất đặc biệt đó là cácsản phẩm tài chính Vì thế, nhà đầu tư muốn tham gia thị trường đều phải thựchiện với một quy trình riêng biệt Quy trình nghiệp vụ môi giới được thể hiệntrong sơ đồ:
Trang 36Hình 1.1: Quy trình nghiệp vụ môi giới
Các bước thực hiện quy trình nghiệp vụ môi giới:
Bước 1: Mở tài khoản cho khách hàng
Trước khi thực hiện mua bán chứng khoán qua hoạt động môi giới thìkhách hàng phải mở tài khoản giao dịch tại công ty Khách hàng sẽ được cácnhân viên môi giới hướng dẫn các thủ tục mở tài khoản tại công ty chứngkhoán mà nhân viên môi giới đang làm việc Có thể khái quát quy trình mở tàikhoản của khách hàng bao gồm các công việc sau:
- Thứ 1: Nhân viên môi giới gặp gỡ khách hàng mở tài khoản
- Thứ 2: Nhân viên môi giới để khách hàng điền vào Giấy yêu cầu mởtài khoản và ký hợp đồng giao dịch, sao chụp giấy chứng minh thư nhân dânhoặc hộ chiếu, giấy đăng ký kinh doanh đối với khách hàng là tổ chức, kiểmtra tính hợp lệ
SỞ GIAO DỊCH
KHÁCH HÀNG
CÔNG TY CHỨNGKHOÁN
3
Trang 37- Thứ 3: Nhân viên môi giới cấp số hợp đồng, số tài khoản và thẻ giao dịch.
- Thứ 4: Tập hợp hồ sơ khách hàng (Hợp đồng, Giấy yêu cầu mở tàikhoản, bản sao Giấy Chứng minh nhân dân, thẻ giao dịch)
- Thứ 5: Phó trưởng phòng môi giới kiểm soát và ký
- Thứ 6: Trưởng phòng môi giới kiểm tra, ký duyệt Giấy yêu cầu mởtài khoản và Hợp đồng
- Thứ 7: Nhân viên môi giới chuyển thẻ tài khoản, Hợp đồng chokhách hàng
- Thứ 8: Nhân viên môi giới lưu hồ sơ của khách hàng và khai báo trên
hệ thống máy nội bộ
Sau khi giúp khách hàng mở hợp đồng giao dịch chứng khoán, nhân viênmôi giới hướng dẫn nhà đầu tư nộp tiền ký quỹ và giải đáp các thắc mắccũng như những yêu cầu của khách hàng Công ty chứng khoán sẽ cung cấpcho khách hàng một mã số tài khoản và mã truy cập vào tài khoản để kiểmtra khi cần thiết
Ngoài việc nhận lệnh trực tiếp từ khách hàng, nhân viên môi giới cònnhận lệnh của khách hàng qua điện thoại, fax hay hệ thống máy điện tử, tùythuộc vào sự phát triển của thị trường
Mẫu lệnh phải bao gồm các thông tin sau:
Trang 38- Lệnh mua hay lệnh bán: thông thường thì từ “mua” hay “bán” khôngđược viết ra mà người ta thường sử dụng các chữ cái “B” và “S” để thể hiện Hầuhết các thị trường chứng khoán sử dụng lệnh mua và bán được in sẵn, mẫu lệnh nàyđược in bằng 2 màu mực trên 2 màu giấy khác nhau để dễ phân biệt.
- Số lượng các chứng khoán: số lượng này thể hiện bằng các con số
- Mô tả chứng khoán được giao dịch (tên hoặc ký hiệu): Tên củachứng khoán có thể viết ra hoặc viết tắt hoặc thể hiện bằng ký hiệu, biểutượng được mã hóa và đăng ký trước
- Số tài khoản của khách hàng, tên tài khoản, ngày giao dịch và đặt lệnh
- Giá các loại lệnh giao dịch mà khách hàng yêu cầu (lệnh thị trường,lệnh giới hạn, lệnh dừng,…)
Nếu là lệnh bán, công ty sẽ đề nghị khách hàng xuất trình số chứngkhoán muốn bán để kiểm tra trước khi thực hiện hoặc lệnh đề nghị Ủy banchứng khoán quy định Trong trường hợp chứng khoán của khác hàng đãđược lưu ký, công ty se kiểm tra trên tài khoản lưu ký của khách hàng
Nếu là lệnh mua, công ty phải đề nghị khách hàng mức tiền ký quỹ nhấtđịnh trên tài khoản của khách hàng ở công ty Khoản tiền này được tính theomột tỷ lệ % giá trị giao dịch
Bước 3: Thực hiện lệnh của khách hàng
Khi phiếu lệnh được kiểm tra hợp lệ và nhập lệnh thành công vào hệthống máy nội bộ của công ty thì nhân viên môi giới có trách nhiệm thực hiệnlệnh của khách hàng vào hệ thống của thị trường
Trên thị trường giao dịch tập trung, lệnh giao dịch của khách hàng đượcchuyển đến Sở giao dịch Chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứngkhoán Các lệnh được khớp với nhau để hình thành giá cả cạnh tranh tốt nhấttrên thị trường tùy theo phương thức khớp giá của thị trường Trên thị trườngOTC ứng thực hiện tương tự
Trang 39Bước 4: Xác nhận kết quả thực hiện lệnh
Sau khi thực hiện nhập lệnh xong, trên cơ sở số lệnh được khớp do Sởgiao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán có trách nhiệm lập thông báokết quả giao dịch và gửi tới khách hàng
Đối với các thị trường phát triển, khớp lệnh liên tục thì việc xác nhậngiao dịch được thực hiện qua máy móc và việc nay bù trừ liên tục trên tàikhoản của khách hàng Nhưng đối với các thị trường chưa phát triển, còn nonkém mới hình thành như Việt Nam thì quá trình giao dịch chỉ hoàn tất trongmột ngày T+n (trong đó T là ngày giao dịch còn n là ngày thanh toán, ở ViệtNam n=3), vì vậy khách hàng có thể biết được việc chứng khoán mình muađược sẽ về trong bao nhiêu ngày và việc mình bán chứng khoán thì tiền bán
sẽ về tài khoản mình trong bao nhiêu ngày
Bước 5: Thực hiện thanh toán bù trừ giao dịch
Sau khi hoàn tất việc giao dịch được thực hiện thì sẽ bắt đầu việc thanhtoán giao dịch Việc đối chiếu lệnh của khách hàng và khớp lệnh nếu trùngnhau thì:
- Với việc hạch toán tiền mặt mua bán chứng khoán khách hàng sẽđược thông qua Ngân hàng chi định thanh toán, nếu công ty chứng khoán nào
có Ngân hàng mẹ thì thường thanh toán qua Ngân hàng đó luôn Việc phảithanh toán tiền mua bán chứng khoán cộng với một khoản phí giao dịch vàhạch toán sẽ được thực hiện trực tiếp trên tài khoản của khách hàng Nếu làthị trường khớp lệnh liên tục thì quá trình hạch toán diễn ra liên tục và số dưtiền mặt trên tài khoản của khách hàng vì thế cũng thay đổi liên tục
- Với việc hạch toán chứng khoán sẽ được thông qua Trung tâm lưu kíchứng khoán Việc chuyển đổi chứng khoán sở hữu (chủ yếu là chứng khoánghi sổ) sẽ được Trung tâm lưu ký chuyển đổi giữa các tài khoản với nhau theohình thức thanh toán bù trừ đa phương hoặc song phương
Trang 401.2.4 Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán
1.2.4.1 Giảm chi phí giao dịch
Cũng như các thị trường khác, để tiến hành giao dịch thì người mua vàngười bán phải có cơ hội gặp gỡ nhau, trao đồi, thẩm định chất lượng hànghóa, thỏa thuận giá cả Tuy nhiên trên thị trường chứng khoán, với tư cách làthị trường của những sản phẩm dịch vụ bậc cao, để thẩm định chất lượng vàgiá cả hàng hóa, người ta cần một khoản chi phí rất lớn để phục vụ cho việcthu thập thông tin, xử lý thông tin, đào tạo kỹ năng phân tích và tiền hànhgiao dịch trên một hệ thống thị trường đấu giá tập trung Những chi phí đó chỉ
có các công ty chứng khoán hoạt động chuyên nghiệp trên quy mô lớn mới cókhả năng trang trải do được hưởng lợi ích kinh tế từ quy mô Mặt khác, cần cómột tổ chức trung gian và chuyên nghiệp như thế làm cầu nối cho các bênmua bán gặp nhau sẽ làm giảm chi phí đáng kể
Như vậy, vai trò đầu tiên của nghề môi giới chứng khoán là tiết kiệmđược chi phí giao dịch, xét trong từng giao dịch cụ thể cũng như toàn thịtrường, nhờ đó giúp nâng cao tính thanh khoản của thị trường
1.2.4.2 Tạo ra sản phẩm mới, phát triển sản phẩm và dịch vụ
Nhà môi giới chứng khoán là người thường xuyên tiếp xúc với kháchhàng, do vậy họ rất nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin từ khách hàng.Giúp nhà môi giới có thể nhìn ra những thuận lợi và bất lợi trong quá trìnhgiao dịch Từ đó trong quá trình thực hiện nghiệp vụ, nhà môi giới dần pháttriển và hoàn thiện hơn các sản phẩm dịch vụ, tăng tính đa dạng của sảnphẩm, đa dạng cơ cấu khách hàng, thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nhànrỗi trong xã hội cho đầu tư tăng trưởng