- Tiếp sau đó, việc ra đời của Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triểnOECD và Ủy ban hỗ trợ phát triển DAC năm 1961 đã cho thấy nỗ lực củacộng đồng các quốc gia và các tổ chức tài trợ tro
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn
Đinh Thị Ngọc Anh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA VỐN ODA UNFPA VỚI VẤN ĐỀ DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM 4
1 VAI TRÒ CỦA VẤN ĐỀ DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM 4
1.1 Khái niệm dân số và sức khỏe sinh sản 4
1.2 Các nguồn vốn sử dụng trong chương trình hỗ trợ chương trình dân số và sức khỏe sinh sản 5
2 ODA CỦA UNFPA 6
2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại ODA 6
2.1.1 Khái niệm ODA 6
2.1.2 Đặc điểm nguồn vốn ODA 8
2.1.3 Phân loại vốn ODA 12
2.2.Tác động của nguồn vốn ODA đối với nước tiếp nhận 15
2.2.1 Tác động tích cực của ODA 15
2.2.2 Tác động tiêu cực 18
2.3.ODA của UNFPA cho Việt Nam 20
2.3.1.UNFPA 2.3.1.1 Tổchức: 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ODA CỦA LIÊN HỢP QUỐC TẠI DỰ ÁN “HỖ TRỢ BỘ Y TẾ THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020” .27 2.1 GIỚI THIỆU DỰ ÁN 27
2.1.1 Thông tin cơ bản về dự án: 27
2.1.2 Bối cảnh và sự cần thiết của dự án: 27
Trang 32.2.Thực trạng quản lý dự án 35
2.3 Đánh giá 46
2.3.1 Kết quả đạt được 46
2.3.2.Những vướng mắc tồn tại 47
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ODA TẠI DỰ ÁN “HỖ TRỢ BỘ Y TẾ THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020” 51
3.1.NHIỆM VỤ CÒN LẠI 51
3.2.CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TÁC ĐỘNG ĐẾN DỰ ÁN THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN 51
3.2.1.Cơ hội 51
3.2.2 Thách thức 53
3.3.GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ODA TẠI DỰ ÁN 54
3.3.1.Thường xuyên kiểm tra giám sát tiến độ thực hiện của dự án 54
3.3.3, Đảm bảo cung cấp đủ vốn đối ứng để thực hiện dự án 55
3.3.5.,Tăng cường tính làm chủ, trách nhiệm các Ban quản lý dự án 57
3.3.6,Tăng cường việc theo dõi và đánh giá các dự án ODA 58
3.3.8, Phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tham gia trực tiếp vào dự án……… 59
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1.HPPMG: Quy chế chung quản lý chương trình, dự án hợp tác
Việt Nam- Liên Hợp Quốc
2 KH-ĐT: Khoa học đào tạo
3 KH-TC: Kế hoạch tài chính
4 LHQ: Liên Hợp Quốc
5 ODA: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
6 SKBMTE: Sức khỏe bà mẹ trẻ em
7 UNFPA: Quỹ dân số Liên Hợp Quốc
8 TC-CB: Tổ chức cán bộ
9 TCDS- KHHGĐ: Tổng cục dân số, kế hoạch hóa gia đình
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng2 1: Dự kiến ngân sách theo hoạt động và theo đơn vị thực hiện năm 2011-2020 35Bảng 2.2: Dự kiến ngân sách theo hoạt động và theo đơn vị thực hiện từ 2011- 2014 37Bảng 2 3: Thực tế nguồn vốn giải ngân phân theo đơn vị thực hiện từ năm 2011- 2014 44
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Trong thời đại hiện nay,Song song với việc phát triển con người toàndiện về mọi mặt đời sống, kinh tế, văn hóa xã hội thì y tế là một trong nhữngvấn đề rất được quan tâm
Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng, có sự phát triển về lượng nhưngchưa có sự phát triển về chất Hàng loạt vấn đề rất đáng lo ngại làm ảnhhưởng đến cuộc sống an toàn xã hội của người dân như: hiện tượng già hóadân số, mất cân bằng giới tính, bạo lực gia đình, tình dục không an toàn songsong với sự phát triển lệch lạc của một bộ phận giới trẻ hiện nay,… Đó lànhững vấn đề cần phải được giải quyết lâu dài và triệt để Việc đầu tư cho sứckhỏe chính là đầu tư phát triển lâu dài, góp phần vào công cuộc công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
Nhưng để thực hiện được tốt các mục tiêu chiến lược trên thì Đảng vàNhà nước cần phải có sự đầu tư thích đáng, song nguồn kinh phí trong nướcdành cho phát triển sự nghiệp y tế còn hạn hẹp nên việc mở rộng khai thácnguồn tài chính từ bên ngoài cho y tế có ý nghĩa rất quan trọng nhằm pháttriển nền kinh tế - xã hội ở nước ta
Trong những năm qua, với việc trở thành thành viên của các tổ chức lớntrên thế giới như ASEAN, APEC, WTO… nên quan hệ quốc tế của nước ta đặcbiệt là trong ngành giáo dục và đào tạo có nhiều chuyển biến thuận lợi Nguồnvốn hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) docác tổ chức song phương, đa phương tài trợ cho ngành giáo dục trở nên vôcùng quan trọng Việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành y tế đãgóp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân ở Việt Nam
Nguồn vốn ODA là nguồn lực từ bên ngoài có những ưu điểm nổi trội:
ưu đãi về thời gian vay, thời gian ân hạn, lãi suất phù hợp để hỗ trợ các nước
Trang 7đang phát triển.Tuy nhiên, ODA không chỉ đơn giản là một nguồn viện trợ mà
đi kèm với nó là những điều kiện ràng buộc về chính trị, kinh tế Sẽ là mộtgánh nặng lớn nếu chúng ta không biết quản lý và sử dụng nguồn vốn ODAmột cách hợp lý và hiệu quả Bởi vậy việc tăng cường hiệu quả quản lý ODAcủa UNFPA vào dự án “Hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số
và sức khỏe sinh sản ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” là rất cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận về ODA, thực trạng quản lý và
sử dụng nguồn vốn ODA tại dự án tìm ra được kết quả, hạn chế và nguyên nhân
Từ đó đề xuất ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý ODA tại dự án
3 Đối tượng nghiên cứu:
Nguồn vốn ODA do UNFPA tài trợ thực hiện tại dự án hỗ trợ bộ y tếthực hiện chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020
4 Phạm vi nghiên cứu
Tình hình thực hiện, sử dụng và quản lý vốn ODA tại dự án hỗ trợ bộ y
tế thực hiện chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng các biện pháp thống kế, sosánh đối chiếu, phân tích, tổng hợp, để giải quyết các nội dung nghiên cứucủa khóa luận Các phương pháp đó được kết hợp chặt chẽ với nhau dựa trên
cơ sở các quan điểm, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách sử dụngnguồn vốn ODA của Đảng và Nhà nước
6 Bố cục luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:
1 Chương 1: Vai trò của vốn ODA Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc với vấn
đề dân số và sức khỏe sinh sản ở Việt Nam
Trang 82 Chương 2: Thực trạng quản lý ODA của UNFPA tại dự án “Hỗ trợ
bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản ở Việt Namgiai đoạn 2011-2020”
3 Chương 3: Các giải pháp tăng cường quản lý ODA tại dự án “Hỗtrợ Bộ Y Tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản ở ViệtNam giai đoạn 2011-2012
Trang 9CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA VỐN ODA UNFPA VỚI VẤN ĐỀ DÂN SỐ VÀ
SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM
1 VAI TRÒ CỦA VẤN ĐỀ DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN
ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM
1.1 Khái niệm dân số và sức khỏe sinh sản.
Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùngđịa
lý hoặc một không gian nhất định,, là nguồn lao động quý báu cho sự pháttriển kinh tế - xã hội, thường được đo bằng một cuộc điều tra dân số và biểuhiện bằng một tháp dân số
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: Sức khoẻ là một trạng thái
hoàn hảo cả về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc tàn phế Như vậy có thể thấy, khái niệm sức khoẻ là một khái
niệm rộng hơn nhiều so với những quan niệm đơn giản như: sức khoẻ là cómột cơ thể cường tráng, sức khoẻ là không ốm đau, sức khoẻ là người lànhlặn, không bị tàn phế…
Sức khoẻ sinh sản là một phần rất quan trọng của sức khỏe Sức khỏesinh sản gắn với toàn bộ cuộc đời của con người, từ lúc bào thai đến khi tuổigià Sức khoẻ sinh sản quan tâm đến các vấn đề của bộ máy sinh sản nam nữ
ở mọi lứa tuổi, đặc biệt chú trọng đến tuổi vị thành niên và độ tuổi sinh sản(15-49)
Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển họp tại Cai rô - Ai Cập năm
1994 đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản: “Sức khoẻ sinh sản là mộttrạng thỏi khỏe mạnh, hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọikhớa cạnh liên quan đến hệ thống, chức năng và qúa trình sinh sản chứ khôngphải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản”
Trang 101.2 Các nguồn vốn sử dụng trong chương trình hỗ trợ chương trình dân số và sức khỏe sinh sản.
a Vốn ODA: 7.300.000 USD, trong đó:
- Ngân sách cấp phát hành chính sự nghiệp 100% tổng vốn ODA
- Cho vay lại không áp dụng
Nguồn vốn đối ứng : từ nguồn chi sự nghiệp hàng năm của Bộ Y tế
1.3 Hiệu quả của vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản đối với nền kinh tế xã hội Việt Nam.
a Hiệu quả trực tiếp đối với đơn vị thực hiện:
- Năng lực của những cán bộ công chức làm việc trực tiếp tại dự
án sẽ được cải thiện về kiến thức chuyên môn và kỹ năng quản lý
- Góp phần nâng cao nhận thức và sự ủng hộ tích cực của các nhàlãnh đạo trong việc thực hiện các chính sách về dân số, sức khỏe sinh sản,HIV và bạo hành dựa trên cơ sở Giới
b Tác động kinh tế, môi trường, xã hội đối với ngành, lĩnh vực vàđịa phương
Góp phần tạo ra môi trường chính sách ổn định, phù hợp, trong đó cácvấn đề về chất lượng dân số, chất lượng sức khỏe sinh sản, chất lượng cuộcsống được tăng cường
Việc thiết kế và kết nối nhiều dự án hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản là
cơ sở để hỗ trợ chính phủ trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh
tế, xã hội trong cùng giai đoạn
Trang 11Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong những năm qua, công tác dân số vàchăm sóc sức khỏe sinh sản ở Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực Thôngqua việc thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách trong công tác kếhoạch hóa gia đình, hiện nay, Việt Nam đang là quốc gia có cơ cấu “dân sốvàng” Đồng thời, chất lượng dân số và công tác bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ
em cũng được cải thiện đáng kể
Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011
-2020 là một nội dung quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chấtlượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội
Chiến lược đã Giải quyết đồng bộ các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản,tập trung nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, pháthuy lợi thế của cơ cấu “dân số vàng”, chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số
và kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh
Đầu tư cho công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản là đầu tư chophát triển bền vững, mang lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế, xã hội và môitrường Tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước, tích cực tranh thủ các nguồnviện trợ và huy động sự đóng góp của nhân dân; ưu tiên nguồn lực cho vùngsâu, vùng xa, miền núi, vùng ven biển và hải đảo
Chương trình giúp nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sứckhỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơcấu dân số và phân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại ODA
2.1.1 Khái niệm ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance) ra đời từ
Trang 12sau chiến tranh thế giới thứ II khi Mỹ phê chuẩn bản kế hoạch Marshall năm
1947 để giúp đỡ các quốc gia Châu Âu phục hồi nền kinh tế bị chiến tranh tànphá Trong suốt những năm từ 1947 đến 1951, Châu Âu đã nhận được khoảnviện trợ tương đương 2,5% GDP của Mỹ cho các chương trình tái thiết củamình
- Tiếp sau đó, việc ra đời của Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển(OECD) và Ủy ban hỗ trợ phát triển ( DAC) năm 1961 đã cho thấy nỗ lực củacộng đồng các quốc gia và các tổ chức tài trợ trong việc phối hợp hoạt độngchung và nâng cao hiệu quả viện trợ cả về tài chính và ý tưởng Từ đó đếnnay, ODA đã trở thành một nguồn lực ngoài nước có ý nghĩa, giải quyết phầnnào nhu cầu về vốn cho nhiều quốc gia đang phát triển
- Có khá nhiều khái niệm đã được đưa ra về nguồn vốn ODA, song cóthể kế đến một số khái niệm cơ bản khá tổng quát sau:
- Theo OECD ( Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế), thì: “ODA lànhững nguồn tài chính do các chính phủ hoặc các tổ chức liên chính phủ hoặcliên quốc gia viện trợ cho một quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế vàphúc lợi của quốc gia đó” ( Hà Thị Ngọc Oanh - 2002)
- Ngân hàng thế giới (WB) lại cho rằng “Vốn hỗ trợ phát triển chínhthức (ODA) là những khoản cho viện trợ không hoàn lại cùng các khoản chovay ưu đãi có thời gian trả nợ dài và lãi suất thấp hơn lãi suất trên thị trườngquốc tế Mức độ ưu đãi của các khoản vay được đo bằng yếu tố cho không.Khoản tài trợ không phải hoàn trả có yếu tố cho không là 100%, gọi là việntrợ không hoàn lại Còn khoản vay ưu đãi có yếu tố cho không ít nhất 25% vàđược gọi là ODA.”
- Theo Nghị định 17/CP ngày 4/5/2001 của Chính phủ Việt Nam: “ODA
là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc chính phủ của một quốcgia với nhà tài trợ, bao gồm chính phủ nước ngoài và các tổ chức liên chính
Trang 13phủ hoặc liên quốc gia dưới hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc vốn vay
ưu đãi có yếu tố cho không đạt ít nhất 25%”
- Nói tóm lại, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, song Nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có thể được hiểu là các khoản viện trợkhông hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ,các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ (Non GovernmentalOrganization- NGO), các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (UnitedNations- UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậmphát triển nhằm hỗ trợ và thúc đẩy quốc gia đó phát triển kinh tế xã hội.Trong đó các điều kiện ưu đãi chung nhất bao gồm:
- Các khoản không hoàn lại chiếm ít nhất 25%
- Lãi suất thấp ( dưới 3% một năm)
- Thời gian trả nợ dài ( 25 đến 40 năm)
- Thời gian ân hạn dài ( 8 đến 10 năm)
2.1.2 Đặc điểm nguồn vốn ODA
Nguồn vốn ODA có các đặc điểm sau:
2.1.2.1.ODA là nguồn vốn hợp tác phát triển
- Nếu như trước kia ODA được hiểu là nguồn vốn viện trợ ngân sách màcác nước phát triển dành cho các nước đang phát triển, chủ yếu chỉ mang tínhchất tài trợ và giúp đỡ thì nay, trong xu thế toàn cầu hóa, quan niệm này đãphải thay đổi ODA giờ đây thể hiện sự hợp tác phát triển giữa các nước pháttriển, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển Nguồn vốn hợp táckhi bỏ ra sẽ đem lại lợi ích cho cả hai bên: bên viện trợ và bên tiếp nhận việntrợ Các nước phát triển khi cung cấp ODA sẽ nâng cao được vị thế của mìnhtrên trường quốc tế, tạo tiền đề cũng như thị trường để tiến hành đầu tư trựctiếp Còn các nước đang phát triển thì có điều kiện cải tạo cơ sở hạ tầng, họchỏi kinh nghiệm kỹ thuật để thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trang 14- Một khi hiểu được như vậy, các nước nhận viện trợ sẽ phải có cáchnhìn khác đi về nguồn vốn ODA Đó không phải là một khoản “cho không” hay
“từ thiện” mà là một khoản vay có nghĩa vụ trả nợ Việc tiếp nhận và sử dụngODA có hiệu quả cũng là nền tảng cho quan hệ hợp tác kinh tế lâu dài về saugiữa các quốc gia
2.1.2.2 ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi
- Tính ưu đãi của nguồn vốn ODA thể hiện ở các khía cạnh sau :
- Lãi suất thấp: Phần vốn vay phải hoàn trả được hưởng lãi suất
ưu đãi và thông thường chỉ dưới 3% một năm, thấp hơn nhiều so với lãi suấtthực tế trên thị trường quốc tế (khoảng từ 7% đến 7.5%) Thông thường lãisuất của các nhà tài trợ dành cho Việt Nam giao động trong khoảng từ 0,75%đến 2% một năm Có thể kể đến Nhật Bản với mức lãi suất từ 0,75% đến2,3% tùy dự án ODA của các tổ chức tài chính quốc tế thường được cho vayvới mức lãi suất bằng không, chỉ tính chi phí sử dụng vốn Cụ thể với Ngânhàng Phát triển Châu Á (ADB) chi phí này là 1%/ năm, còn các khoản vaycủa Ngân hàng thế giới (WB) choViệt Nam thường tính phí sử dụng vốn là0,75%/năm
- Thời gian sử dụng vốn dài Trong đó thời gian cho vay thườngvào khoảng 30 đến 40 năm (tiêu biểu như ODA của Nhật, ADB hoặc WB );thời gian ân hạn (thời gian trả lãi suất thấp hoặc không trả lãi) cũng khádài, thường từ 5 đến 10 năm
- Trong ODA còn bao gồm yếu tố không hoàn lại, được quy địnhchiếm ít nhất 25% Nhìn chung 4 yếu tố quyết định khoản không hoàn lại, làthời gian trả nợ, thời gian ân hạn, lãi suất khoản nợ và tỉ lệ chiết khấu Chínhyếu tố không hoàn lại là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại
- Bên cạnh đó, tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện ở chỗ nó lànguồn vốn dành riêng cho các quốc gia đang và chậm phát triển, để thực hiện
Trang 15các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội
2.1.2.3.ODA là nguồn vốn có nhiều ràng buộc
- Các ràng buộc mà các nước đang phát triển gặp phải khi tiếpnhận và sử dụng nguồn vốn ODA có thể chia thành 3 loại cơ bản: ràng buộc
về mặt kinh tế, ràng buộc về mặt chính trị và ràng buộc về mặt xã hội
- Vốn ODA có thể đi kèm nhiều ràng buộc về mặt kinh tế Nhữngđiều kiện ràng buộc thường rất khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưmối quan hệ giữa nước viện trợ và nước nhận viện trợ, trình độ phát triển kinh
tế xã hội hay thể chế chính trị của nước tiếp nhận viện trợ Hình thức ràngbuộc kinh tế thông thường nhất là gắn ODA với việc tiêu thụ hàng hóa vàdịch vụ từ quốc gia viện trợ Ví dụ Đan mạch, Đức, Bỉ thường yêu cầu 50%viện trợ phải mua bằng hàng hóa và dịch vụ của nước họ Canada là quốc giayêu cầu cao nhất, tới 65% Cũng có một số nước có tỉ lệ ODA yêu cầu muahàng hoá và dịch vụ thấp như Hà Lan (2,2% ) hay Thụy Sĩ (1,7%) song nhìnchung có tới 22% viện trợ từ Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC) yêu cầu được sửdụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia tài trợ Thông qua nhữngràng buộc như vậy, các nhà tài trợ có thể mở mang thị trường tiêu thụ sảnphẩm, thị trường đầu tư và đem lại lợi nhuận cho hàng hóa và dịch vụ củanước mình
- Những ràng buộc trong thực hiện ODA có thể mang đến chonước nhận viện trợ không ít rủi ro Ví dụ như với hỗ trợ kỹ thuật, các nướctiếp nhận có nhiều nguy cơ phụ thuộc lâu dài vào nước viện trợ do các trangthiết bị khó có thể thay thế bằng thiết bị của nước khác và đội ngũ vận hànhtrong nước cũng phải phụ thuộc nhiều vào các chuyên gia nước ngoài Thêmvào đó, do không được lựa chọn đồng tiền để vay ODA, các nước nhận việntrợ còn phải chịu rủi ro khi tỷ giá thay đổi Nếu đồng tiền viện trợ tăng giá,khi trả nợ, các quốc gia tiếp nhận viện trợ sẽ phải trả thêm một khoản tiền do
Trang 16chênh lệch tỉ giá gây ra.
- Về những ràng buộc chính trị, cần hiểu rằng trong ODA luôn chứađựng hai mục tiêu song song Thứ nhất là để thúc đẩy phát triển kinh tế, xãhội ở các nước đang và chậm phát triển Thứ hai là tăng cường vị thế chính trịcủa các nước và tổ chức tài trợ Thông qua ODA, các nước phát triển xác lập
vị trí và ảnh hưởng của mình tại khu vực tiếp nhận viện trợ Ví dụ như sauChiến tranh thế giới lần thứ II, kế hoạch Marshall của Hoa Kỳ không chỉnhằm tái thiết các nước Tây Âu bị chiến tranh tàn phá mà còn để chống lạiảnh hưởng của Liên Xô cũ tại đây Mỹ đã dùng viện trợ như một công cụ hiệuquả để “gây ảnh hưởng chính trị trong thời gian ngắn”, mở đường cho cáchoạt động ngoại giao trong tương lai Trong nhiều chương trình viện trợ, cóthể thấy các nước tài trợ rất hay đòi hỏi nước tiếp nhận phải thay đổi chínhsách phát triển của mình cho phù hợp với lợi ích của bên tài trợ Chính vìnhững rủi ro như thế, các nước khi tiếp nhận viện trợ luôn phải cân nhắc thật
kỹ lưỡng các điều kiện mà nhà tài trợ đưa ra, không nên vì những lợi íchtrước mắt mà đánh đổi quyền lợi lâu dài
- ODA còn là một nguồn vốn gắn liền với các nhân tố xã hội Xét về mặtbản chất, cung cấp ODA chính là quá trình chuyển giao có hoàn lại hoặckhông hoàn lại một phần tổng sản phầm quốc dân (GNP) từ các nước giàusang các nước nghèo Việc cung cấp và sử dụng ODA rất nhạy cảm về mặt
xã hội, chịu sự kiểm soát và điều chỉnh của dư luận xã hội cả ở nước viện trợ
và tiếp nhận viện trợ Với ở các quốc gia phát triển, nguồn ODA chính là từnhững đồng tiền đóng thuế mà người dân phải nộp Dân chúng ở các quốc gianày nhìn chung rất ủng hộ việc viện trợ cho các nước nghèo, song với điềukiện nguồn viện trợ đó phải được sử dụng có hiệu quả và đúng mục đích Vớingười dân ở các nước nhận viện trợ, nếu sử dụng sai phạm và lãng phí, ODAmang lại nguy cơ gây nợ lớn cho các thế hệ tương lai Bởi vậy, quy chế sử
Trang 17dụng viện trợ rõ ràng, công khai, giảm thiểu tình trạng tham nhũng là nhữngyêu cầu hàng đầu mà người dân ở cả quốc gia cho và nhận viện trợ luôn đòihỏi ở chính phủ
2.1.3 Phân loại vốn ODA
- ODA được phận loại dựa vào các tiêu chí khác nhau như tính chất tàitrợ, nguồn cung cấp, mục đích sử dụng, điều kiện.v.v…
2.1.3.1 Theo tính chất tài trợ
2.1.3.1.1.Viện trợ không hoàn lại
- Viện trợ không hoàn lại là các khoản cho không, nước nhận viện trợkhông có nghĩa vụ hoàn trả lại Phần viện trợ không hoàn lại được quy địnhchiếm ít nhất 25% giá trị viện trợ và thường được hạch toán như một nguồnthu trong cân đối ngân sách nhà nước Viện trợ không hoàn lại thường được
ưu tiên sử dụng cho các chương trình và dự án xã hội như xóa đói giảmnghèo, phát triển nông thôn, miền núi, bảo vệ môi trường…hoặc hỗ trợ chocác dự án phát triển và nâng cao năng lực thể chế, nghiên cứu khoa học vàphát triển công nghệ v v Trong trường hợp đặc biệt, ODA không hoàn lạicũng được sử dụng cho để hỗ trợ các hoạt động sản xuất, chủ yếu nhằm tạoviệc làm và giải quyết các vấn đề xã hội
- Viện trợ không hoàn lại thường có 2 dạng;
- Hỗ trợ kỹ thuật: thông qua việc chuyển giao công nghệ, truyền đạtkinh nghiệm và bí quyết từ nước phát triển cho nước nhận viện trợ
- Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật như thốc men, lương thực, quần áo,nhu yếu phẩm
2.1.3.1.2.Viện trợ có hoàn lại
- Viện trợ có hoàn lại là các khoản vay có nhiều ưu đãi về lãi suất, thờigian trả nợ, thời gian ân hạn Viện trợ có hoàn lại được coi như một khoản tíndụng ưu đãi, phần lớn để bù đắp thâm hụt ngân sách của nhà nước Chính vì
Trang 18vậy nó thường chỉ được sử dụng để đầu tư cho các mục đích có khả năng thuhồi vốn, hoàn trả cho nhà nước cả vốn lẫn lãi để trả nợ nước ngoài Trongthực tế, viện trợ có hoàn lại thường được sử dụng cho các dự án cải tạo cơ sở
hạ tầng, tạo tiền đề vững chắc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
2.1.3.2 Phân theo nguồn cung cấp
2.1.3.2.1 ODA song phương
- ODA song phương là các khoản viện trợ chính thức và trực tiếp từ Nhànước này đến Nhà nước kia thông qua hịêp định ký kết giữa hai chính phủ,không thông qua tổ chức thứ ba Hiện nay trên thế giới, phần viện trợ songphương chiếm tỉ lệ đến gần 80% tổng số ODA đang lưu chuyển
- ODA song phương có ưu điểm là nguồn vốn chuyển trực tiếp giữahai chính phủ nên nhanh gọn và đơn giản về mặt thủ tục cung cấp vầ tiếpnhận Thời gian ký kết viện trợ cũng nhanh hơn Tuy vậy viện trợ songphương thường đi kèm nhiều ràng buộc từ bên cung cấp tới bên nhận việntrợ Một số ràng buộc phổ biến có thể kể đến như bên viện trợ đảm nhậncung câp chuyên gia, cố vấn kỹ thuật và nước nhận viện trợ thường phảimua máy móc, hàng hóa của nước viện trợ
2.1.3.2.2 ODA đa phương:
- ODA đa phương là viện trợ phát triển chính thức của các tổ chức quốc
tế (IMF, ADB, WB…) hay tổ chức khu vực hoặc viện trợ của một chính phủdành cho một chính phủ khác thông qua các tổ chức đa phương như UNICEF(Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc ) hay UNDP ( Chương trình phát triển Liên
Trang 19+ Hỗ trợ cơ bản: là loại hình hỗ trợ các dự án xây dựng
+ Hỗ trợ kỹ thuật: là hình thức chuyển giao công nghệ, tri thức, đào tạo
kỹ thuật.v.v
2.1.3.3.2 Hỗ trợ phi dự án
- Hỗ trợ phi dự án bao gồm các loại hình sau:
+ Hỗ trợ chương trình: Là cung cấp ODA cho một mục đích tổng quátvới thời gian nhất định, không cần phải xác định chính xác khoản viện trợ đóđược sử dụng như thế nào
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp, hỗ trợhàng hóa hay hỗ trợ nhập khẩu Hàng hóa và ngoại tệ được chuyển qua hìnhthức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách
2.1.3.4Phân theo điều kiện
2.1.3.4.1 ODA không ràng buộc:
- Với ODA không ràng buộc, những khoản vốn chuyển giao chỉ phảituân theo các quy tắc tín dụng quốc tế chung còn việc sử dụng viện trợ không
bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng
Trang 20trợ, sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc do công tycủa các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).
+Ràng buộc bởi mục đích sử dụng là chỉ được sử dụng cho một lĩnh vựcnhất định hay một dự án cụ thể
và sự thiếu hụt nguồn lực tài chính, thì vốn ODA có tính bền vững đối với cáccông trình và dự án phát triển, do được thực hiện bằng viện trợ không hoànlại, hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ vốnvay dài
Tác động đầu tiên, rõ ràng và dễ thấy nhất của ODA là bổ sung chonguồn vốn trong nước của nước nhận viện trợ Các nước đang phát triển lànhững nước rất cần vốn cho đầu tư phát triển Vốn đầu tư được lấy từ nhữngnguồn vốn trong nước là chính, nhưng nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền kinh
tế lại rất hạn hẹp nên cần bổ sung bằng nguồn vốn nước ngoài Ưu điểm nổibật nhất của ODA là trong lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội của nướcnhận viện trợ Nguồn vốn ODA thường được các nước đang phát triển đầu tưcải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như xây dựng đường giao thông, pháttriển bưu chính viễn thông và tăng cường năng lực cung cấp năng lượng
Trang 21Những lĩnh vực này không có nhiều sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tưnhân vì lý do vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu và có nhiều rủi ro trongquá trình đầu tư Trong khi đó, các đặc điểm của vốn ODA lại giải quyết đượcnhững vấn đề đó
Mục tiêu của ODA là nhằm tập trung tài trợ cho các dự án phát triển kếtcấu hạ tầng kinh tế- xã hội, do vậy phù hợp với các chính sách phát triển kinhtế- xã hội của các nước đang phát triển Nguồn vốn ODA được sử dụng mộtcách hợp lý và có hiệu quả sẽ gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng của nước nhậnviện trợ Quá trình giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển lại có mối quan
hệ chặt chẽ với tăng thu nhập đầu người Với các nước tăng trưởng nhanh, thunhập của những người nghèo sẽ tăng nhanh, mức độ đói nghèo sẽ giảmxuống Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế thì bình quân ở các nước đangphát triển thu nhập đầu người tăng thêm 1%, dẫn đến tỷ lệ đói nghèo giảmxuống 2% Nói cách khác, viện trợ tăng thêm 1%, GDP thực tế tăng trưởngthêm 0,5% và do vậy dẫn tới giảm tỷ lệ đói nghèo xuống 1%
Viện trợ có thể ảnh hưởng tới việc tăng phúc lợi công cộng và nâng caochất lượng cuộc sống ở các nước đang phát triển theo nhiều cách Ví dụ nhưthông qua các hình thức hỗ trợ trong ngành y tế, số tử vong ở trẻ sơ sinh, tỷ lệtrẻ em suy dinh dưỡng, số người chết ở các bệnh có thể phòng ngừa… đều cóthể giảm mạnh Hay thông qua hỗ trợ giáo dục và đào tạo, cải cách giáo dục
đã được thực hiện, cơ hội được đào tạo và tiếp cận với kiến thức cũng mởrộng với tất cả người dân ở các nước này Như vậy, các chỉ tiêu xã hội củanước nhận viện trợ cũng sẽ được cải thiện
Nguồn vốn ODA còn giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh
tế, nâng cao năng lực bộ máy quản lý về kinh tế Các nước đang phát triểnthường ở trong tình trạng nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế
Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia đều phải cố gắng phối hợp với IMF, WB
Trang 22và các tổ chức quốc tế khác tiến hành chính sách điều chỉnh cơ cấu Việc điềuchỉnh này cần có một lượng vốn lớn, trong đó có vốn ODA Khi tiếp nhận vốnODA, các nước đang phát triển cũng phải thực hiện các cam kết như cải cáchnền kinh tế thành kinh tế thị trường,cải cách bộ máy hành chính, phân rõ quyền
và chức năng giữa các cơ quan quản lý Nhờ đó, bộ máy quản lý Nhà nước vềkinh tế ngày càng đổi mới, phù hợp hơn ; năng lực cán bộ quản lý được nâng caothông qua tiếp thu được kinh nghiệm từ khâu khảo sát, ý tưởng đầu tư, xây dựng
dự án, giám sát, đánh giá hiệu quả của dự án ODA Cải thiện thể chế và chínhsách kinh tế ở các nước đang phát triển chính là chìa khoá để tạo bước nhảy vọt
về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng làm giảm đói nghèo Một cơ chế quản lýtốt, một nền kinh tế vĩ mô ổn định, một Nhà nước pháp quyền và hạn chế thamnhũng sẽ dẫn tới tăng trưởng cao và giảm đói nghèo
Ngoài ra ODA còn tạo điều kiện để tăng khả năng thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) và mở rộng đầu tư trong nước ở các nước đangphát triển Nhờ có ODA mà nước nhận viện trợ sẽ giải quyết được những khókhăn, bất cập về cơ sở hạ tầng và cơ chế quản lý, chính sách Các nước đangphát triển sẽ tạo ra được một môi trường thuận lợi, đảm bảo tổn phí đầu tưthấp, hiệu quả đầu tư cao, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài cũng như đầu tư
tư nhân trong nước Theo các nhà nghiên cứu, viện trợ tăng 1% GDP sẽ làmtăng đầu tư tư nhân trên 1,9% GDP Ngoài ra, chính các chương trình, dự ánODA cũng góp phần tích cực trong việc tạo ra các cơ hội việc làm, luânchuyển các nguồn lực của xã hội, tăng sức sản xuất xã hội Nhờ đó mà cácnguồn lực cho phát triển kinh tế- xã hội của đất nước sẽ được thu hút nhiềuhơn và được sử dụng có hiệu quả hơn
Cuối cùng, ODA dưới hình thức viện trợ không hoàn lại thường đi kèmtheo việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lýtiên tiến cho các nước tiếp nhận Chẳng hạn, hỗ trợ kỹ thuật là một bộ phận
Trang 23lớn trong viện trợ phát triển của Nhật Bản Nó bao gồm nhiều loại hình khácnhau và gắn với các dự án về huấn luyện đào tạo chuyên môn, các chươngtrình tuyển cử chuyên gia, các dự án về cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập,các chương trình cử các đoàn khảo sát về phát triển…Dưới hình thức ODA,việc hỗ trợ đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực đã tạo điều kiện cho cácnước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại,trình độ quản lý tiên tiến, kỹ năng chuyên môn cao.Việc phát triển của mộtquốc gia có quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực Đây chính làlợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia nhận tài trợ.
Như vậy vốn ODA giúp thúc đẩy nền kinh tế của nước nhận viện trợphát triển phần lớn thông qua đầu tư, xây dựng và phát triển các công trìnhthuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng Phát triển cơ sở hạ tầng là tiền đề để phát triểnkinh tế Các dự án sử dụng ODA đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng tuykhông có khả năng sinh lời trực tiếp nhưng lại sinh lời một cách gián tiếp nhưthu hút vốn FDI và vốn đầu tư trong nước Các dự án sử dụng vốn ODA còngóp phần nâng cao điều kiện sống cho con người, tăng phúc lợi công cộng vàcải thiện môi trường sinh thái, đồng thời giúp các nước đang phát triển hoànthiện cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực thể chế, phát triển nguồn lực conngười Do vậy ODA có ý nghĩa rất lớn lao trong góp phần làm thay đổi bộmặt nền kinh tế xã hội của một quốc gia, đặc biệt trong giai đoạn đầu xâydựng và phát triển đất nước
Trang 24cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ;yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như chophép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao.
Nguồn vốn ODA cung cấp cho các nước đang phát triển cũng thườnggắn với việc mua các sản phẩm từ các nước viện trợ mà không hoàn toàn phùhợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước đang phát triển Các dự ánODA thường có những ràng buộc về mua sắm thiết bị, máy móc theo yêu cầucủa nhà tài trợ và phải ưu tiên đấu thầu cho doanh nghiệp của nước tài trợ Vínhư các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phầntrả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tàitrợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họquá cao so với chi phí thực tế thuê chuyên gia như vậy trên thị trường laođộng thế giới)
Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặcbiệt liên quan đến nhập khẩu tối đa các sản phẩm của nước tài trợ Cụ thể lànước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA làhàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất
Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưngthông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ýcủa nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể thamgia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phảihoàn lại tăng lên Sự biến động giá cả và lãi suất trên thị trường sẽ gây ranhững thách thức và rủi ro tài chính đối với nước tiếp nhận tài trợ như gánhnặng về nợ nước ngoài trong tương lai Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãngphí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào cáclĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình
Trang 25tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án khiến cho hiệu quả và chất lượngcác công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếpnhận ODA vào tình trạng nợ nần.
Như vậy, nguồn vốn ODA có những tác động tích cực và tiêu cực nhấtđịnh đối với các nước đang phát triển được nhận nguồn vốn này Việc sửdụng nguồn vốn này là để tận dụng những nguồn lực bên ngoài phục vụ cho
sự phát triển của mỗi quốc gia Nhưng sự phát triển này chỉ có được khi cómột chiến lược tiếp nhận và hoàn trả hợp lý để vừa phát huy tốt nhất nhữngtác động tích cực, vừa hạn chế đến mức tối đa các tác động tiêu cực
2.3.ODA của UNFPA cho Việt Nam
Do UNFPA là một cơ quan thuộc sự quản lý của Liên Hợp Quốc nên ta
có một vài thông tin sơ lược về Liên Hợp Quốc như sau:
Liên Hợp Quốc: là một tổ chức quốc tế có mục đích duy trì hòa bình và
an ninh trên thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc vàtiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bìnhđẳng và quyền tự quyết của các dân tộc Hiện nay, Liên Hiệp Quốc có 193thành viên, bao gồm hầu hết các quốc gia có chủ quyền trên Trái Đất LiênHiệp Quốc sử dụng 6 ngôn ngữ chính thức: tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếngNga, tiếng Pháp,tiếng Tây Ban Nha và tiếng Trung
- Từ trụ sở trong lãnh phận quốc tế tại thành phố New York, Liên HiệpQuốc và các cơ quan chuyên môn của nó quyết định các vấn đề về điều hành
và luật lệ Theo hiến chương LHQ thì tổ chức này gồm 6 cơ quan chính, chủyếu gồm: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo An, Hội đồng kinh tế và xã hội, Banthư kí, Tòa án Quốc tế vì Công lý, Hội đồng Ủy trị Liên Hiệp Quốc Ngoài ra,một số tổ chức tiến hành quản lý các cơ quan của Hệ thống Liên Hiệp Quốc,
ví dụ như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên HiệpQuốc(UNICEF)
Trang 26- Kinh phí hoạt động của Liên Hiệp Quốc được hình thành bằng tài trợđóng góp tự nguyện và nguồn niên liễm có kiểm soát từ các nước thành viên
2.3.1.UNFPA
2.3.1.1 Tổchức:
Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) bắt đầu các hoạt động từ năm 1969
và lúc đầu được đặt dưới sự quản lý của Chương trình phát triển Liên hợpquốc (UNDP) Năm 1971, Đại hội đồng Liên hợp quốc giao cho UNFPAđóng vai trò chính trong việc thúc đẩy các hoạt động về dân số và một nămsau (năm 1972), do sự phát triển về nguồn vốn và phạm vi hoạt động, UNFPAđược đặt dưới sự điều hành trực tiếp của Đại hội đồng Liên hợp quốc, nâng vịtrí của UNFPA lên ngang với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) vàUNDP
Các nước thành viên của Liên hợp quốc đều được coi là thành viên củaUNFPA Các thành viên Hội đồng chấp hành UNFPA cũng đồng thời là thànhviên Hội đồng chấp hành UNDP Hội đồng chấp hành UNDP/UNFPA chịu
sự chỉ đạo về mặt chính sách của Đại hội đồng LHQ và Uỷ ban Kinh tế Xãhội LHQ (ECOSOC)
Trụ sở chính của UNFPA đặt tại thành phố Niu Oóc (Mỹ) UNFPA cóVăn phòng Đại diện tại Việt Nam, do Đại diện thường trú UNFPA đứng đầu.2.3.1.2 Tôn chỉ và mục đích của UNFPA:
Trợ giúp các nước đang phát triển thông qua việc cung cấp các dịch vụ
có chất lượng trong sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình trên cơ sở sựlựa chọn của cá nhân; Hỗ trợ việc xây dựng các chính sách dân số phục vụphát triển bền vững
Thúc đẩy việc thực hiện chiến lược dân số do Hội nghị Quốc tế về Dân số
và Phát triển thông qua năm 1994 (ICPD) và được kiểm điểm tại Khoá họp đặcbiệt của Đại hội đồng LHQ năm 1999 (ICPD + 5) Chiến lược này không chỉ
Trang 27hướng vào các chỉ tiêu nhân khẩu học mà còn coi trọng yêu cầu nâng cao nănglực của phụ nữ, đưa lại cho phụ nữ nhiều sự lựa chọn hơn thông qua tăng cườngtiếp cận với giáo dục, các dịch vụ sức khoẻ và các cơ hội việc làm.
Thúc đẩy sự hợp tác và điều phối giữa các tổ chức Liên hợp quốc, các tổchức song phương, các Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và khuvực tư nhân trong việc giải quyết các vấn đề về dân số và phát triển, sức khoẻsinh sản, bình đẳng giới và nâng cao năng lực phụ nữ
2.3.1.3.CÁC HÌNH THỨC HỖ TRỢ CỦA UNFPA:
Hỗ trợ của UNFPA mang tính hỗ trợ kỹ thuật thông qua các chươngtrình, dự án viện trợ được xây dựng với sự phối hợp của Chính phủ nước nhậnviện trợ Từ khi bắt đầu hoạt động năm 1969, Quỹ Dân số đã cung cấp 5 tỉ đô
la viện trợ cho các nước đang phát triển Viện trợ của UNFPA tập trung vào 3lĩnh vực chương trình chính sau:
1 Sức khoẻ sinh sản:
-UNFPA hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sảnbao gồm việc đưa ra nhiều lựa chọn hơn về các biện pháp kế hoạch hoá giađình và cung cấp thông tin đường sinh sản và các bệnh lây nhiễm qua đườngtình dục bao gồm HIV/AIDS;
2 Chiến lược Dân số và Phát triển:
-UNFPA giúp các nước xây dựng, thực hiện và đánh giá các chính sáchdân số tổng thể như là một phần trọng tâm của các chiến lược phát triển bềnvững Sự hỗ trợ này bao gồm việc thu thập, phân tích số liệu và nghiên cứu vềdân số
3 Thông tin-giáo dục-truyền thông:
- UNFPA thực hiện các hoạt động thông tin-giáo dục-truyền thông vềcác mục tiêu của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) và Khoáhọp đặc biệt của Đại hội đồng LHQ năm 1999 (ICPD+5) bao gồm : sức khoẻ
Trang 28sinh sản (SKSS) và các quyền về SKSS; nâng cao địa vị của phụ nữ; tăng tuổithọ; giảm tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh; tăng cường năng lực quốc gia về xâydựng và thực hiện các chiến lược về dân số và phát triển; nâng cao nhận thức
và tăng cường các nguồn lực về dân số và phát triển
2.3.1.4 QUAN HỆ HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN GIỮA VIỆT NAM VÀ UNFPA:
-UNFPA tiến hành các hoạt động đầu tiên của tổ chức này tại Việt Nam
từ năm 1977 và chính thức hỗ trợ Việt Nam từ năm 1978 với Chương trìnhquốc gia I (1978-1983) Từ đó đến nay, hợp tác giữa Việt Nam và UNFPAtiếp tục phát triển mạnh và phong phú thông qua các Chương trình quốc gia(CTQG)
-Chương trình quốc gia được xây dựng dựa trên các ưu tiên của Chínhphủ trong lĩnh vực dân số-kế hoạch hoá gia đình Các Chiến lược quốc gia vềDân số và Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010 được Chính phủ thông quacuối năm 2000 là cơ sở cho việc xây dựng chương trình quốc gia 6 (2001-2005) và các CTQG tiếp theo Chương trình quốc gia cũng cần phù hợp vớitôn chỉ mục đích và các ưu tiên hỗ trợ của UNFPA Nguồn vốn phân bổ choCTQG của các nước được Hội đồng chấp hành UNDP/UNFPA thông qua,hay còn gọi là con số dự kiến viện trợ (Indicative Planning Figure), dựa trêncác thông số như thu nhập quốc dân và các chỉ số liên quan đến các mục tiêucủa ICPD Chương trình quốc gia tạo ra một khuôn khổ cho việc bố trí, sắpxếp các lĩnh vực, dự án cụ thể
- Các chương trình quốc gia hợp tác với UNFPA từ năm 1978 đến nay gồm:
-Chương trình quốc gia CP-I (1978-1983): có tổng số vốn là 15 triệuđôla Mỹ
-Chương trình quốc gia CP-II (1984-1987): có tổng số vốn là 14 triệuđôla Mỹ
Trang 29-Chương trình quốc gia CP-III (1988-1991): có tổng số vốn là 25 triệuđôla Mỹ.
-Chương trình quốc gia CP-IV (1992-1996): có tổng số vốn là 36 triệuđôla Mỹ
-Chương trình quốc gia CP-V (1997-2000): có tổng số vốn là 24 triệuđôla Mỹ
-Chương trình quốc gia CP-VI (2001-2005): có tổng số vốn là 27 triệuđôla Mỹ
-Chương trình quốc gia CP-VII (2006 - 2010): có tổng số vốn là 28 triệuđôla Mỹ (trong đó, cam kết từ quỹ thường xuyên là 20 triệu đôla, cam kết từquỹ vận động là 8 triệu đôla)
-Nội dung của các chương trình quốc gia hợp tác với UNFPA cũng có
sự thay đổi qua từng thời kỳ, nhất là sau Hội nghị Dân số và Phát triển tạiCai-rô năm 1994 Nếu các chương trình quốc gia trước thời điểm đó tập trungchủ yếu vào lĩnh vực kế hoạch hoá gia đình thì từ CTQG 5 (1997-2000), chấtlượng dân số và vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản trở thành những nội dungchính của CTQG 5, 6 và hiện nay là CTQG 7 (2005-2010)
-Việt Nam là thành viên Hội đồng chấp hành UNDP/UNFPA từ năm2000-2002 và là Phó Chủ tịch Hội đồng này trong 2 năm 2000 và 2001 Việc Việt Nam được trao giải thưởng dân số của Liên hợp quốc năm 1999 làmột trong những sự kiện quan trọng và có ý nghĩa nhất trong quan hệ hợp tácViệt Nam - UNFPA trong gần 30 năm qua
2.4 Nguyên tắc và quy trình quản lý, sử dụng ODA cho các dự án của Việt Nam.
Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thứctại Nghị định 131/NĐ-CP, nguyên tắc cơ bản trong quản lý và sử dụng ODAlà:
Trang 30- ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách nhà nước, được sử dụng
để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên về phát triển kinh tế - xãhội của Chính phủ
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA trên cơ sở tập trungdân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp, gắn quyền hạn vớitrách nhiệm, đảm bảo sự phối hợp quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ và pháthuy tính chủ động của các cấp, các cơ quan quản lý ngành, địa phương và cácđơn vị thực hiện
- Thu hút ODA đi đôi với việc nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo đảmkhả năng trả nợ nước ngoài, phù hợp với năng lực tiếp nhận và sử dụng ODAcủa các Bộ, ngành, địa phương và các đơn vị thực hiện
- Bảo đảm tính đồng bộ và nhất quán của các quy định về quản lý và sửdụng ODA; bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các bên có liên quan; hài hoàquy trình thủ tục giữa Chính phủ và nhà tài trợ
- Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về
ODA mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Trong trườnghợp điều ước quốc tế về ODA mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làthành viên có quy định khác với các quy định của pháp luật Việt Nam thì thựchiện theo quy định của điều ước quốc tế đó
Chu trình quản lý và sử dụng ODA của chính phủ được quy định trongNghị định 131/NĐ-CP bao gồm 4 giai đoạn: xác định dự án; chuẩn bị và thẩmđịnh dự án; thực hiện dự án; và chấp nhận, hoàn thành về mặt tài chính, bàngiao dự án cho người sử dụng và đánh giá sau bàn giao
Trong dự án hỗ trợ bộ y tế thực hiện chiến lược dân số và sức khỏe sinhsản năm 2011- 2020, UNFPA là cơ quan đại diện cho Liên Hợp Quốc thựchiện dự án Bởi vậy, tất cả các quá trình thực hiện đều phải tuân thủ theo quy
Trang 31chế chung quản lý chương trình, dự án hợp tác Việt Nam- Liên HợpQuốc( HPPMG).
Các văn bản trên đã qui định cụ thể về trình tự triển khai thực hiện dự ánODA, phân công, phân cấp trong quản lý và điều hành dự án, phân loại dự ánđầu tư, trách nhiệm quản lý của các bộ, ngành có liên quan , đã giúp dự án
đầu tư bằng vốn ODA thực hiện có hiệu quả hơn, giải quyết nhiều khâu ách
tắc làm chậm trễ thời gian thực hiện dự án
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ODA CỦA LIÊN HỢP QUỐC TẠI DỰ
ÁN “HỖ TRỢ BỘ Y TẾ THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC DÂN
SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020” 2.1.GIỚI THIỆU DỰ ÁN
2.1.1. Thông tin cơ bản về dự án:
- Tên dự án: Hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện hiệu quả chiến lược dân số và sứckhỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011- 2020
- Cơ quan hỗ trợ của Liên Hợp Quốc: UNFPA
- Cơ quan chủ quản: cơ quan đối tác cấp quốc gia: Bộ y tế
- Địa chỉ liên lạc: 138A, Giảng Võ, Hà Nội
- Số điện thoại/Fax: 0462732273
- Đơn vị đề xuất dự án: Vụ Kế hoạch- Tài Chính, Bộ Y tế
- Chủ dự án: Vụ Kế hoạch- Tài Chính, Bộ Y tế
- Các cơ quan đồng thực hiện: Tổng cục dân số- kế hoạch hóa gia đình,
Vụ sức khỏe bà mẹ- trẻ em, Vụ khoa học và đào tạo, Vụ tổ chức cán bộ, Cụcquản lý khám chữa bệnh, Cục quản lý dược
- Thời gian thực hiện dự án: 2011- 2020
- Địa điểm thực hiện dự án: cấp quốc gia
- Tổng vốn dự án: 8.250.000 USD và các hiện vật là cơ sở vật chất kỹthuật, nhà cửa, thiết bị…
- Hình thức cấp vốn: ODA không hoàn lại
2.1.2. Bối cảnh và sự cần thiết của dự án:
Chính sách dân số của Việt Nam trong suốt 50 năm qua đã góp phầnđáng kể tạo ra sự chuyển biến về nhân khẩu học Việt Nam bước vào giaiđoạn cuối của quá độ dân số với mức sinh và tỉ lệ tử vong có xu hướng giảm
Trang 33dần, mức sinh thấp dưới mức thay thế và tuổi thọ trung bình không ngừngtăng từ đó dẫn đến tình trạng già hóa dân số.
So với năm 2002, vào năm 2009 tỷ số chết mẹ đã giảm từ 165/100000xuống còn 69/100000 trẻ sinh sống Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biệnpháp tránh thai tăng từ 76,9% lên 28,2% năm 2010, trong đó tỷ lệ sử dụngbiện pháp tránh thai hiệu quả tăng từ 64,41% lên 68,6%
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được công tác dân số và sứckhỏe sinh sản còn nhiều vướng mắc và bất cập
1 về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục và HIV:
- Tử vong mẹ giảm nhưng có chênh lệch khá lớn giữa tử vong vàbệnh tật, giữa các vùng miền, đặc biệt là dân tộc thiểu số Tình trạng sinh sản
k có cán bộ đỡ đẻ và cán bộ thăm khám sau khi sinh ở các dân tộc miền núicòn thấp, cơ sở vật chất phục vụ cho cấp cứu sản khoa cơ bản và toàn diệncòn rất thấp
- Chăm sóc sức khỏe vị thành niên chưa được quan tâm đúng mức, tỷ
lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân không an toàn đang tăng lên Hiểu biết vềsức khỏe sinh sản của vị thành niên còn thấp, tỷ lệ nạo phá thai cao Hiện naychưa có 1 chương trình nào về sức khỏe sinh sản tập trung cho vị thành niên
- Sàng lọc phát hiện ung thư cổ tử cung chưa được phát hiện rộng rãi
- Tỉ lệ nhiểm khuẩn đường sinh sản và nhiễm khuẩn lây truyền quađường tình dục tăng cao nhưng ở Việt Nam vẫn chưa có một biện pháp nào đểthống kê và phòng chống được
- Trong những năm qua chưa có 1 khung an ninh hàng hóa sức khỏetoàn diện nào, đặc biệt là các loại thuốc thiết yếu và các sản phẩm dược cho cấpcứu sản khoa, thuốc cho các bệnh về HIV vẫn chưa được đầu tư đúng mức