Nhu cầu vay ngân hàng bổ sung vốn lưu động hay đầu tư tài sản cố định của các tổ chức kinh tế sẽ ngày càng giảm do đã có một kênh huy động khác thay thế hiệu quả hơn đó là thị trường chứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn khoa học Các số liệu và trích dẫn được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này , tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trườ ng Đại học Kinh tế, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Hà Cường đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn
Trang 5
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 7
1.2.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 7
1.2.2 Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 23
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng 26 Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Các phương pháp nghiên cứu 35
2.1.1 Phương pháp thống kê mô tả 35
2.1.2 Phương pháp phân tích 35
2.1.3 Phương pháp tổng hợp 36
2.1.4 Phương pháp so sánh 37
2.2 Trình tự thực hiện nghiên cứu đề tài 38
2.2.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 38
2.2.2 Nghiên cứu về lý thuyết và tổng quan tình hình nghiên cứu 38
2.2.3 Xây dựng đề cương nghiên cứu (đề cương sơ bộ) 39
2.2.4 Thu thập dữ liệu 40
Trang 62.2.5 Hình thành các dữ liệu thứ cấp cần thu thập từ các nguồn tư liệu
gốc 41
2.2.6 Phân tích dữ liệu 42
2.2.7 Giải thích kết quả và viết luận văn cuối cùng 42
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG- CHI NHÁNH HÀ NỘI 43
3.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội 43
3.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội 43
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long – Chi nhánh Hà Nội 45
3.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội từ năm 2011 đến năm 2014 47
3.2 Thực trạng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội 54
3.2.1 Các hình thức cho vay tiêu dùng 54
3.2.2 Quy trình cho vay tiêu dùng 57
3.2.3 Doanh số, dư nợ cho vay tiêu dùng 59
3.2.4 Chỉ tiêu nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng 61
3.2.5 Tỷ trọng lãi từ hoạt động cho vay tiêu dùng 62
3.3 Đánh giá thực trạng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội 63
3.3.1 Kết quả đạt được 63
Trang 73.3.2 Hạn chế 64
3.3.3 Nguyên nhân 65
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG- CHI NHÁNH HÀ NỘI 69
4.1 Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội (nay là Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Đại La) 69
4.1.1 Định hướng phát triển chung 70
4.1.2 Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh Đại La 72
4.2 Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Đại La) 73
4.2.1 Phát triển các sản phẩm cho vay tiêu dùng mới bên cạnh việc tiếp tục nâng cao chất lượng các sản phẩm cho vay tiêu dùng truyền thống 73 4.2.2 Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, trình độ, đạo đức của cán bộ tín dụng 75
4.2.3 Cải tiến quy trình cho vay đơn giản, gọn nhẹ, hiệu quả 78
4.2.4 Đẩy mạnh công tác marketing, xây dựng thương hiệu ngân hàng vững mạnh 79
4.2.5 Hiện đại hoá công nghệ thông tin phục vụ hoạt động cho vay tiêu dùng 81
4.2.6 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động cho vay tiêu dùng 82
4.3 Một số kiến nghị 83
4.3.1 Đối với Chính phủ 83
Trang 84.3.2 Đối với NHNN Việt Nam 84
4.3.3 Đối với ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Nguồn vốn huy động giai đoạn 2011-2014 48
2 Bảng 3.2 Hoạt động sử dụng vốn giai đoạn 2011-2014 50
3 Bảng 3.3 Kết quả kinh doanh tại Ngân hàng MHB- Chi
4 Bảng 3.4 Các hình thức cho vay tiêu dùng 55
6 Bảng 3.6 Tỷ trọng nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng 61
7 Bảng 3.7 Tỷ trọng thu lãi từ hoạt động cho vay tiêu dùng 62
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
1 Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của MHB Hà Nội 45
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn phát triển của các ngân hàng trên thế giới, tỷ trọng thu nhập
từ tín dụng có xu hướng ngày càng giảm, thu nhập từ dịch vụ như thanh toán quốc tế, thẻ, chuyển tiền…chiếm tỷ trọng cao Nhu cầu vay ngân hàng bổ sung vốn lưu động hay đầu tư tài sản cố định của các tổ chức kinh tế sẽ ngày càng giảm do đã có một kênh huy động khác thay thế hiệu quả hơn đó là thị trường chứng khoán, đến một trình độ phát triển nào đó các công ty sẽ cổ phần hoá và niêm yết trên thị trường chứng khoán, thông qua thị trường chứng khoán các tổ chức kinh tế sẽ huy động trực tiếp từ nhiều nguồn vốn khác nhau, tín dụng ngân hàng sẽ chỉ đáp ứng cho các doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân tiêu dùng (cho vay bán lẻ), khi đó thị phần tín dụng các ngân hàng chủ yếu tập trung vào nhu cầu tín dụng bán lẻ, đặc biệt là mảng tín dụng tiêu dùng, một thị trường tín dụng đầy tiềm năng đang ngày một phát triển theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập và đời sống của dân cư
Việt Nam có dân số đông, lực lượng lao động trẻ, thu nhập của dân cư ngày càng được cải thiện, trong những năm tới, tín dụng tiêu dùng sẽ là thị trường tiềm năng cho phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tiện ích
Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, nền kinh tế Việt Nam vừa trải qua một giai đoạn khó khăn, sức cầu trong và ngoài nước suy yếu, hàng tồn kho của Doanh nghiệp vẫn còn ở mức cao, nhất là tình trạng tồn kho bất động sản, nợ xấu của Doanh nghiệp và ngân hàng tăng cao Việc các ngân hàng tập trung cho vay tiêu dùng, trong đó đẩy mạnh việc cho người dân vay mua, sửa nhà cũng là cách
để các DN bất động sản giảm hàng tồn kho, là cơ hội để ngân hàng tránh nợ xấu
Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội trong giai đoạn vừa qua hoạt động cho vay tiêu dùng chỉ đáp
Trang 13ứng nhu cầu thiết yếu về vay vốn, mua nhà, sửa chữa nhà ở, mua ôtô cho các
hộ gia đình Hoạt động cho vay tiêu dùng mới chỉ dừng lại ở các sản phẩm truyền thống, sản phẩm chưa đa dạng và đáp ứng đầy đủ các nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Để thực hiện mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, chuyển hướng cho vay phân tán, nhỏ lẻ, lấy trọng tâm tăng trưởng dư nợ ở khách hàng cá nhân vay tiêu dùng đang là nhu cầu cấp bách trong chiến lược phát triển kinh doanh của ngân hàng
Từ thực tiễn đó, qua thời gian làm việc tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội tôi đã chọn đề tài:
―Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội‖ để nghiên cứu
Tuy nhiên trong thời gian nghiên cứu đề tài, thực hiện Thực hiện Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 03 năm 2012 của Thủ Tướng Chính phủ về việc Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-
2015 và Quyết định số 589/QĐ-NHNN Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sáp nhập Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long vào Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, từ ngày 05/5/2015 Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long chính thức sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam; sau khi sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội vẫn giữ nguyên trụ sở, con người, cơ cấu tổ chức, các phòng giao dịch, chỉ thay đổi nhận dạng thương hiệu và đang trong quá trình thay đổi quy trình nghiệp vụ theo quy chuẩn của Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam, đồng thời đổi tên thành Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Đại La với chức năng, nhiệm vụ không thay đổi, do đó luận văn tiếp tục nghiên cứu và đưa ra giải pháp phát triển cho
Trang 14vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Đại La
2 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu: Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội cần làm rõ một số câu hỏi sau đây:
Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại;
Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại; Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại;
Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội;
Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội nay là
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Đại La
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu là phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long - Chi nhánh
Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại;
- Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội Từ đó, tìm hiểu những mặt mạnh, hạn chế và nguyên nhân trong việc phát triển hoạt
Trang 15động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh
- Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, luận văn đưa ra một số giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội nay là Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Đại La nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng biểu, sơ đồ, tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận phát triển hoạt
động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP
Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội
Chương 4: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân
hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thời gian qua, cho vay tiêu dùng đã trở thành sản phẩm quan trọng của các ngân hàng trong bối cảnh tín dụng tăng trưởng thấp,cho vay tiêu dùng cũng
là một vấn đề không mới nhưng mang tính thời sự và được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu Các nghiên cứu trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có liên quan được công bố như sau:
- Lê Thị Kim Huệ, 2013 Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay Tạp chí Kinh tế và dự báo số 21 tháng 11/2013 (trang 24-25) Bài viết đã chỉ ra sự cần thiết của các ngân hàng thương mại đối với hoạt động cho vay tiêu dùng để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, bù đắp phần nào khoảng trống do việc cho vay doanh nghiệp bị chậm lại; nêu ra cơ cấu sản phẩm cho vay tiêu dùng tại Việt Nam, một số hạn chế trong hoạt động cho vay tiêu dùng, đề xuất một số chính sách phát triển cho vay tiêu dùng trong thời gian tới như khoanh vùng và quản lý riêng biệt hoạt động cho vay tiêu dùng, đưa vào nề nếp công tác cảnh báo rủi ro hoạt động tín dụng tiêu dùng đối với các NHTM, khuyến khích cạnh tranh để giảm lãi suất
- Trần Mạnh Hùng (2012): ―Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Khánh Hòa‖
Tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển cho vay tiêu dùng; hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM, phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM, thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP
Trang 17phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Khánh Hòa, kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân
Từ đó luận văn đưa ra giải pháp phát triển cho vay tiêu dung tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Khánh Hòa như: xác định quan điểm kinh doanh mang tính chiến lược của MHB Khánh Hòa; đa dạng hoá các sản phẩm - dịch vụ, các phương thức và đối tượng của cho vay tiêu dùng; mở rộng chiến dịch quảng bá, tiếp thị cho vay tiêu dùng; đơn giản hóa các thủ tục, quy trình liên quan đến cho vay tiêu dùng; xây dựng chính sách khách hàng; nâng cao chất lượng thu thập thông tin khách hàng; nâng cao công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực
- Lê Minh Sơn, 2009 Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh
Luận văn đã hệ thống hoá được cơ sở lý thuyết về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế; tập hợp một số bài học kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài thành công trong lĩnh vực bán lẻ,
từ đó rút ra bài học kinh nghiệm phát triển bán lẻ cho các ngân hàng thương mại Việt Nam; mô tả, phân tích khá đầy đủ và khách quan thực trạng hoạt
động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, từ đó
chỉ ra những hạn chế trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam; đề xuất một số giải pháp để phát triển hoạt động cho
vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa đi sâu về những giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2014, đây là thời gian các ngân hàng đặc biệt quan tâm đến hoạt động cho vay tiêu dùng để tăng trưởng dư nợ bù đắp phần cho vay doanh nghiệp bị giảm sút do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, cũng như có sự đổi mới về quản lý và cách
Trang 18thức phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng Bên cạnh đó chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích một cách có hệ thống các yếu tố tác động đến phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng trong thời điểm hiện nay và cụ thể tại Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội là hết sức cần thiết.
1.2 Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Ngân hàng thương mại, hoạt động của ngân hàng thương mại
1.2.1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá Trải qua hàng trăm năm, đến nay hoạt động của các ngân hàng thương mại đã trở thành một yếu tố không thể thiếu gắn liền với nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới
Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, đến giai đoạn nền kinh tế thị trường thì NHTM ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính quan trọng Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại mang lại lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng bằng chênh lệch lãi suất
Cho đến thời điểm hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về NHTM: Trong Điều 1 Luật Ngân hàng của Pháp (ngày 13/06/1941) có ghi:
― ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác
và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ, trong các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán‖
Trang 19Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Việt Nam, theo khoản 3, điều 4 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 quy định: ―Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận‖
Từ những quan niệm trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối
đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
1.2.1.1.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà, cung cấp vốn cho nền kinh tế Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng đã có những bước tiến nhanh, đa dạng và phong phú hơn song ngân hàng vẫn duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau:
- Nghiệp vụ huy động vốn
Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng Vốn được huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của đại phương và cả nước Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng càng mở rộng,
uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Các ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, của địa
Trang 20phương để đưa ra các loại hình huy động vốn trung, dài hạn phù hợp, đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Nghiệp vụ sử dụng vốn
Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp
vụ sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường Ngân hàng có thể sử dụng vốn vào các mục đích sau đây:
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại Theo thống kê, khoảng 60% đến 70% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay Thành công hay thất bại của một ngân hàng phụ thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và hiệu quả của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của ngân hàng Các loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách, bao gồm: mục đích, hình thức đảm bảo, kỳ hạn, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả…;
Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu
tư, có hai hình thức chủ yếu mà các ngân hàng thương mại thường sử dụng là:
Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác;
Đầu tư vào trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Nghiệp vụ ngân quỹ
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng của các chủ thể khi tham gia tiến hành sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọng đó là hàng loạt các nhân tố cần quan tâm Một trong những nhân tố đó là tính an toàn, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Trung ương đề ra
Trang 21- Nghiệp vụ khác
Là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều lợi thế, ngân hàng có thể thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ
và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Mặt khác, các ngân hàng thương mại còn tiến hành môi giới, mua , bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ…
Các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồn tại
và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay Vì các nghiệp vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên tác động qua lại với nhau Nguồn vốn huy động ảnh hưởng đến quyết định sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu của nguồn vốn huy động Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả
1.2.1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại
để tạo ra lợi nhuận Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp được chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư
Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng đa dạng, cho vay của ngân
Trang 22hàng thương mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn Khu vực cho vay ngắn hạn nhường chỗ cho thị trường tài chính- tiền tệ cung ứng, ở hầu hết các nước đang phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm
tỷ trọng lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn (trong đó có những tác nhân chủ yếu như tình hình tăng trưởng, lạm phát…)
Ở một số nước đang phát triển, khi một ngân hàng được thành lập và
đi vào hoạt động, mối quan tâm chính và thường xuyên của nó là cho ai vay
và đầu tư vào đâu Ở những nước này, đối tượng cho vay là vấn đề quan trọng nhất, trong khi ở các nước phát triển thì ngược lại Vấn đề đặt ra cho các ngân hàng không phải là vấn đề cho ai vay, mà là lợi tức có cao không, có an toàn không, thậm chí những lo ngại như vậy thực tế đã không còn vì hầu hết họ đã
có những thị phần chắc chắn và vấn đề an toàn của vốn đã có pháp luật bảo đảm Điều họ quan tâm là làm sao huy động được ngày càng nhiều tiền cho các khoản đầu tư có sẵn
Cho vay của ngân hàng thương mại, nói rộng ra là tín dụng ngân hàng thương mại, là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên thay đổi theo những diễn biến của môi trường kinh tế
Nhà kinh tế Pháp Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụng như là ―một
sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai‖
Theo Quyết định số 20/VBHN-NHNN ngày 22/05/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy định:
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Trang 23Định nghĩa trên được các ngân hàng và tổ chức tín dụng áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình
Trong nền kinh tế thị trường, cho vay là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng chiếm hơn 50% tổng tài sản và có thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm khoảng từ 50% đến 75% tổng thu nhập của ngân hàng Mặt khác rủi ro trong hoạt động cho vay
có xu hướng tập chung chủ yếu vào danh mục cho vay Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh
từ hoạt động cho vay, việc ngân hàng không thu hồi được vốn, có thể là do ngân hàng buông lỏng quản lý, cấp tín dụng không minh bạch, áp dụng một chính sách tín dụng kém hợp lý, hay do nền kinh tế đi xuống không lường trước, do nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng…
Các hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại được phân thành các loại sau đây:
+ Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại bao gồm: cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh
Cho vay tiêu dùng: người đi vay phải sử dụng tiền vay vào việc tiêu dùng, mua sắm tài sản cố định nhằm phục vụ lợi ích cá nhân Khi thực hiện hình thức cho vay, cán bộ tín dụng đã phải tính đến nguồn tiền được dùng để trả nợ ngân hàng chính là thu nhập cá nhân của người vay tiền Hình thức phổ biến nhất của loại hình này là cho vay trả góp, một loại hình đã được áp dụng rất thành công ở các nước phát triển Ngân hàng có thể cho các công chức vay
để họ mua sắm ôtô, xe máy, trả góp nhà Ở các nước phương Tây và Mỹ thì một người mua ô tô để đi lại trở lên rất dễ dàng trong khi tài khoản của anh ta không cần phải có 100% hay 50% giá trị của chiếc xe đó Điều này đã giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá trở lên thuận lợi hơn, thúc đẩy sản xuất phát triển
Trang 24Cho vay kinh doanh: ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng một nhu cầu nào đó về tiền của doanh nghiệp Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp Có thể phân chia loại hình này theo tiêu thức cho vay doanh nghiệp sản xuất và cho vay thương mại hay có thể cho vay theo các ngành nghề kinh tế: cho vay ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, cho vay ngành dịch vụ
+ Dựa theo thời hạn cho vay, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại bao gồm cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn
Cho vay ngắn hạn: nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất Cho vay ngắn hạn trong những trường hợp sau:
Ngân hàng cho nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước Hình thức phổ biến hiện nay là ngân hàng mua trái phiếu do kho bạc phát hành Khả năng hoàn trả của nhà nước rất cao, song cũng không loại trừ
có những trường hợp Nhà nước mất khả năng chi trả khi đến hạn
Ngân hàng cho vay đối với các tổ chức tài chính như các ngân hàng, các công ty tài chính, quỹ tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản Một
số công ty chứng khoán vay vốn ngắn hạn của ngân hàng thương mại trong quá trình bảo lãnh và phân phối chứng khoán cho công ty phát hành Phần lớn các khoản cho vay này đều dựa trên uy tín của người vay;
Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăng thêm cho sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng đông nhất của các ngân hàng thương mại Phần lớn các khoản cho vay này có thế chấp hoặc cầm cố tài sản;
Các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, sản xuất theo thời vụ là khách hàng chủ yếu của ngân hàng;
Trang 25Các doanh nghiệp cần vay ngân hàng để xây dựng, mở rộng cải tiến sửa chữa tài sản cố định Các khoản vay này có thời hạn dưới một năm;
Ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu;
Ngân hàng cho vay để phát triển đất đối với các công trình xây dựng
và phát triển đô thị;
Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng
Cho vay trung và dài hạn:
Doanh nghiệp có nhu cầu vay trung và dài hạn để mua trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, để tồn tại và phát triển, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng cao;
Nhà nước vay trung và hạn để đầu tư phát triển;
Ngân hàng mua các trái phiếu trung và dài hạn doanh nghiệp nhằm tài trợ cho các quá trình hình thành tài sản cố định Kỳ hạn và khả năng chuyển đổi của trái phiếu, lãi suất trái phiếu, tình hình tài chính doanh nghiệp, các kế hoạch tương lai đều được ngân hàng tính toán khi mua trái phiếu;
Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định, nhằm thực hiện dự án nhất định, có thể xin vay ngân hàng Một trong những yêu cầu cho vay của ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư, cũng như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh) Thẩm định dự án là điều kiện để ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp
+ Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay có hình thức cho vay đảm bảo và cho vay không có đảm bảo:
Cho vay có đảm bảo: là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách hàng vay vốn, ngân hàng còn lắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản đó để thu hồi vốn vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng Quá trình cung ứng vốn của ngân hàng thương mại, không kể dưới hình thức nào đều làm tăng khối lượng tiền vào nền kinh tế, làm tăng khối
Trang 26lượng hàng hoá trên thị trường Ngoài ra khi thực hiện việc cho vay ngân hàng không trực tiếp quản lý nguồn vốn của mình nên có rất nhiều rủi ro xảy
ra, nguy cơ không thu hồi đủ vốn cho vay là rất cao, vì thế, các ngân hàng khi cho vay thường yêu cầu người vay phải có tài sản bảo đảm cho khoản vay
Trong cho vay kinh doanh nguồn thu lợi thứ nhất là doanh thu đối với những khoản vay trung và dài hạn Cho vay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất của ngân hàng là thu nhập cá nhân như tiền lương, các khoản thu nhập tài chính và các khoản thu nhập khác Khi đánh giá các hoạt động của khách hàng, nếu ngân hàng nhận thấy là nguồn thu nhập thứ nhất không có cơ sở chắc chắn thì ngân hàng phải yêu cầu thiết lập thêm chính sách pháp lý để có thêm nguồn thu nợ thứ hai, chính là tài sản đảm bảo cho khoản vay đó
Các khoản cho vay không có đảm bảo: là khoản cho vay mà ngân hàng không nắm giữ tài sản của người đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp đồng tín dụng Những điều kiện này có thể là: người đi vay không được giao dịch với ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được ngân hàng quản lý
Có như vậy Ngân hàng mới quản lý được tình hình tài chính của người đi vay
Thông thường chỉ có những khách hàng có quan hệ lâu năm với ngân hàng hoặc những khách hàng có uy tín, hay những khách hàng mà ngân hàng
có tham gia góp vốn thì mới được cho vay không có đảm bảo
+ Dựa theo hình thức hình thành khoản vay:
Cho vay trực tiếp: là các khoản cho vay khi khách hàng trực tiếp đến ngân hàng và xin vay vốn Ngân hàng trực tiếp chuyển giao tiền cho khách hàng sử dụng trên cơ sở những điều kiện mà hai bên thoả thuận
Khi khách hàng có tài sản thế chấp, có uy tín cao mà không cần phải thông qua trung gian nào thì họ thường vay trực tiếp ngân hàng
Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm, như nhóm sản xuất hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ…Các tổ chức này thường xuyên
Trang 27liên kết các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên Vì vậy việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói, giảm nghèo luôn được các trung gian quan tâm
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền sai mục đích
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng Trong trường hợp như vậy cho vay trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích, giám sát, thu nợ…)
Cho vay trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của Ngân hàng Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình và nếu ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất cho vay lại hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá cao cho người vay vốn
1.2.1.3 Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.2.1.3.1 Khái niệm hoạt động cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng trang trải cho nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và
du lịch cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng
Định nghĩa về cho vay tiêu dùng có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản là giống nhau, cùng đề cập đến mục đích của loại cho vay này: cho vay tiêu dùng là để phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình, những người có nhu cầu nâng cao mức sống nhưng chưa có khả năng chi trả trong hiện tại Ngân hàng phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thu được gốc hoàn trả cùng lợi nhuận từ khoản vay
Trang 28Trong những năm gần đây, cho vay tiêu dùng có xu hướng tăng lên mang lại lợi nhuận lớn cho nhiều ngân hàng Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng tích cực mở rộng hình thức cho vay này, điều này được lý giải thông qua các đặc điểm của cho vay tiêu dùng
1.2.1.3.2 Đặc điểm hoạt động cho vay tiêu dùng
- Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ của nền kinh tế Thu nhập của mỗi người phụ thuộc vào nguồn thu nhập của người đó Thu nhập lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố quan trọng là chu kỳ của nền kinh tế Khi nền kinh tế phát triển, mọi người kỳ vọng rằng trong tương lai thu nhập của mình sẽ tăng cao và họ có khả năng chi tiêu nhiều hơn Đồng thời nhà sản xuất được khuyến khích sản xuất ra nhiều mặt hàng đa dạng về mẫu mã, chủng loại cũng như nâng cao được chất lượng sản phẩm, từ đó khuyến khích được nhu cầu tiều dùng của dân cư Nếu thu nhập của người dân không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, họ sẽ phát sinh nhu cầu vay vì tin tưởng rằng với nền kinh tế phát triển, chắc chắn họ sẽ hoàn trả được các khoản vay ngân hàng trong tương lai Các ngân hàng cũng lạc quan về nền kinh tế nên sẽ mở rộng quy mô tín dụng Cho vay tiêu dùng sẽ phát triển khi nền kinh tế tăng trưởng, với nền kinh tế suy thoái thì quy mô cho vay tiêu dùng sẽ bị thu hẹp lại
- Quy mô cho vay tiêu dùng nhỏ
Đối tượng của cho vay tiêu dùng là cá nhân và hộ gia đình, họ thường vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng khi mà tích luỹ chưa đủ khả năng chi trả Các khoản cho vay tiêu dùng thường có quy mô nhỏ so với tài sản của ngân hàng, nhưng số lượng khoản vay lại rất lớn do số lượng hộ gia đình lớn và nhu cầu chi tiêu đa dạng
- Cho vay tiêu dùng ít nhạy cảm với lãi suất
Khách hàng vay tiêu dùng thường quan tâm đến những tiện ích và giá trị mà vay tiêu dùng đem lại nhằm thoả mãn cho nhu cầu tiêu dùng hơn là chi
Trang 29phí phải trả để có khoản vay đó Mặt khác, số lượng khoản vay nhỏ, số tiền thanh toán theo định kỳ, số tiền trả định kỳ không quá lớn, không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập của khách hàng
- Chất lượng thông tin khách hàng cung cấp không cao, khách hàng thường cung cấp thông tin có lợi cho mình (thông tin bất cân xứng)
Đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình thông tin làm cơ sở phân tích
để ngân hàng quyết định cho vay hay không? Đó là những thông tin về nghề nghiệp, thu nhập, độ tuổi, tình trạng sức khoẻ, nơi cư trú Những thông tin này
do chính khách hàng cung cấp do vậy mang tính chủ quan, một chiều, không được kiểm toán, kiểm soát như đối với khách hàng doanh nghiệp, và do đó có thể không chính xác, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng
- Nguồn trả nợ không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhâp, nguồn thu này có thể thay đổi tuỳ vào tình trạng sức khoẻ, công việc cũng như cơ cấu, chu kỳ của nền kinh tế Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định, có trình độ học vấn
là những tiêu chí quan trọng để các NHTM quyết định việc cho vay
- Lãi suất của các khoản cho vay tiêu dùng cao
Do quy mô của các khoản vay thường nhỏ ( trừ những khoản vay để mua BĐS), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản vay) cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro, ảnh hưởng tới sự an toàn của ngân hàng Vì vậy, khách hàng muốn nhận tài trợ theo hình thức cho vay tiêu dùng phải chịu mức lãi suất khá cao Mức lãi suất này giúp đảm bảo cho ngân hàng có thể hạn chế được rủi ro và ổn định thu nhập trong những trường hợp
có sự cố ngoài ý muốn xảy ra
1.2.1.3.3 Các hình thức cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng rất đa dạng và phong phú; tuỳ từng tiêu chí khác nhau mà cho vay tiêu dùng được phân loại theo các hình thái sau đây:
Trang 30- Căn cứ theo mục đích vay:
Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình
Đặc điểm của các khoản cho vay tiêu dùng cư trú là có giá trị lớn, thời hạn khá dài, đem lại nguồn thu tương đối ổn định cho ngân hàng Rủi ro của khoản cho vay này chịu ảnh hưởng bởi những biến động của thị trường BĐS do tài sản đảm bảo cho khoản vay thường là tài sản hình thành từ vốn vay
Cho vay tiêu dùng phi cư trú; là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí, du lịch của khách hàng cá nhân, hộ gia đình
Các khoản cho vay tiêu dùng này thương nhỏ lẻ và thời hạn vay ngắn hơn so với cho vay tiêu dùng cư trú
- Căn cứ theo phương thưc hoàn trả:
Cho vay tiêu dùng trả góp: đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong
đó người đi vay trả nợ ( gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay
Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn và thu nhập định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ
Một số điểm ngân hàng cần lưu ý khi áp dụng hình thức cho vay trả góp đối với khách hàng:
Loại tài sản được tài trợ: thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình thành từ nguồn vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương lai
Số tiền phải trả trước: thông thường ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm, số tiền này được
Trang 31gọi là số tiền trả trước Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại tài sản, thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng, môi trường kinh tế, năng lực của người vay Vì vậy, ngân hàng cần xác định số tiền trả trước phải đủ lớn để một mặt, làm cho người đi vay nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu của tài sản, mặt khác do hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều bị giảm giá trị, giá trị thị trường nhỏ hơn giá trị hạch toán của tài sản, nên số tiền trả trước có một vai trò quan trọng giúp ngân hàng hạn chế rủi ro
Chi phí tài trợ: là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc
sử dụng vốn Chi phí tài trợ phải trang trải cho chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro, đồng thời mang lại một phần lợi nhuận thoả đáng cho ngân hàng
Điều khoản thanh toán: khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng, ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau:
số tiền thanh toán mỗi định kỳ phải phù hợp với khả năng về thu nhập, trong mối quan hệ hài hoà với các nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng;
Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền ngân hàng tài trợ chưa thu hồi;
Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng Kỳ hạn trả nợ thường theo tháng Vì nguồn trả nợ chính của người vay tiêu dùng là lương được nhận hàng tháng;
Thời hạn trả nợ không nên quá dài
Cho vay tiêu dùng phi trả góp: theo phương pháp này tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn Thường thì các khoản CVTD phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ và có thời hạn không dài
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập
Trang 32từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng
Lãi phải trả từng thời kỳ có thể dựa trên 3 cách sau:
Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh: theo phương pháp này số dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ sau khi khách hàng đã thanh toán nợ cho ngân hàng
Lãi được tính dựa trên số dư trước khi điều chỉnh: theo cách này số dư được dùng để tính lãi là số dư nợ mỗi kỳ trước khi khoản nợ được thanh toán
Lãi được tính trên cơ sở dư nợ bình quân
Đối tượng cho vay: những nhu cầu chi tiêu thường xuyên mang tính tuần hoàn Khách hàng vay là cá nhân, doanh nhân, doanh nghiệp
Điều kiện cho vay: có thu nhập thường xuyên, ổn định và có thu nhập tối thiểu bằng quy định của ngân hàng; tài khoản thanh toán tại ngân hàng phát hành; lịch sử tín dụng tốt; năng lực hành vi sử dụng thẻ tín dụng
- Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng trực tiếp: là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó
ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người tiêu dùng
1.2.1.3.4 Quy trình hoạt động cho vay tiêu dùng
Các khoản vay tiêu dùng đều phải theo một quy trình cho vay, thu nợ nhất định, thông thường gồm 6 bước sau đây:
Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng, một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như: năng lực
Trang 33pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng, khả năng sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)
Bước 2: Phân tích tín dụng: là xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay
Mục tiêu: tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng
Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm
cơ sở cho việc ra quyết định cho vay
Bước 3: Quyết định tín dụng: ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc
từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng
Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản, đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt, từ chối cho vay với một khách hàng tôt;
Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng
Bước 4: Giải ngân: ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng
Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ, nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng
Bước 5: Giám sát tín dụng
Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực
tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng, để đảm bảo khả năng thu nợ
Trang 34Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng: thu nợ lãi nợ gốc và xử lý những phát sinh
1.2.2 Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Khái niệm phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng
1.2.2.1.1.Khái niệm về phát triển
Theo Từ điển Việt Nam, Phát triển là mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh
Phát triển là khái niệm chỉ sự vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu
1.2.2.1.2 Khái niệm phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, bất cứ một doanh nghiệp nào muốn đứng vững và phát triển, hoạt động sản xuất - kinh doanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới công nghệ, mẫu mã sản phẩm, mở rộng sản xuất và cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế Ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp sản xuất khác muốn giành được thị phần, giữ vững và nâng cao vị thế của mình thì luôn phải đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, trong đó có việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng (CVTD)
Phát triển hoạt động CVTD là sự tăng lên về số lượng, khối lượng hay chính là sự tăng lên theo chiều rộng nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng tăng của khách hàng về quy mô CVTD Hay nói cách khác là làm tăng tỷ trọng CVTD trong tài sản có của ngân hàng thương mại (NHTM)
Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng thể hiện trên các nội dung sau: Đối với Khách hàng: việc phát triển cho vay tiêu dùng có nghĩa là sự thoả mãn tối đa nhu cầu hợp lý của khách hàng về khối lượng cung cấp, sự đa
dạng về các hình thức cho vay tiêu dùng cùng các dịch vụ kèm theo
Trang 35Đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội: phát triển cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng được các yêu cầu bức xúc về vốn của người tiêu dùng, góp
phần nâng cao đời sống của nhân dân và sự phát triển của xã hội
Đối với ngân hàng thương mại: phát triển, đa dạng hoá các sản phẩm
CVTD góp phần làm tăng thu nhập cho ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh
và vị thế của ngân hàng
Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng phản ánh khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vốn cho nền kinh tế, theo một cơ cấu hợp lý, phù hợp với tốc độ phát triển của xã hội trong từng thời kỳ Từ đó cho thấy sự tăng trưởng và phát triển của CVTD nói riêng và của ngân hàng nói chung trong quá trình cạnh tranh
Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng được xác định trên cơ sở việc thực hiện đa dạng hoá khách hàng, các loại dịch vụ ngân hàng cũng như đối tượng cho vay Việc xác định mức lãi suất hợp lý cũng như xác định các kỳ hạn trả nợ phù hợp cũng góp phần phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng
Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng không chỉ là sự tăng lên về quy
mô CVTD mà còn phải nâng cao chất lượng tín dụng và đặt việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng trong mối quan hệ với các chỉ tiêu tài chính khác
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại
1.2.2.2.1 Chỉ tiêu doanh số cho vay của hoạt động cho vay tiêu dùng
Tỷ lệ tăng trưởng (DSCVTD năm nay – DSCVTD năm trước)
DSCVTD (%) = ————————————— x 100%
DSCVTD năm trước Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng tín dụng CVTD qua các năm
để đánh giá khả năng cho vay tiêu dùng, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng CVTD của ngân hàng (tương tự như chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ CVTD, nhưng bao gồm toàn bộ dư nợ cho vay tiêu dùng trong năm
Trang 36đến thời điểm hiện tại và dư nợ cho vay tiêu dùng trong năm đã thu hồi)
Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định
và có hiệu quả và ngược lại
1.2.2.2.2 Chỉ tiêu phản ánh dư nợ hoạt động cho vay tiêu dùng
Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của NH càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại NH đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng và tín dụng CVTD chưa hiệu quả
1.2.2.2.3 Tỷ trọng thu lãi từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Tổng lãi CVTD đã thu trong năm
Tỷ lệ thu lãi CVTD (%) = —————————— x 100%
Tổng lãi CVTD phải thu trong năm Chỉ tiêu này dùng để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính của ngân hàng, đánh giá khả năng đôn đốc, thu hồi lãi và tình hình thực hiện
kế hoạch doanh thu của ngân hàng từ việc cho vay tiêu dùng
Chỉ tiêu càng cao thì tình hình thực hiện kế hoạch tài chính cũng như tình hình tài chính của ngân hang càng tốt, ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc thu lãi cho vay tiêu dùng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu của ngân hàng Chỉ tiêu này cũng thể hiện tình hình bất ổn trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng, có thể nợ xấu trong ngân hàng tăng cao nên ảnh
Trang 37hưởng đến khả năng thu hồi lãi cho vay tiêu dùng của ngân hàng, và có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ cho vay tiêu dùng trong tương lai, (thông thường tỷ lệ này phải trên 95% mới là tốt)
1.2.2.2.4 Tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng
Tỷ lệ nợ xấu Tổng nợ xấu CVTD
trong hoạt động CVTD ( % ) = ————— x 100%
Tổng dư nợ CVTD Tổng nợ xấu CVTD của ngân hàng bao gồm nợ CVTD quá hạn, nợ khoanh, nợ CVTD quá hạn chuyển về nợ trong hạn, chính vì vậy chỉ tiêu này cho thấy thực chất tình hình chất lượng tín dụng CVTD tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng CVTD của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ đối với các khoản CVTD
Tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động CVTD càng cao thể hiện chất lượng tín
dụng CVTD của ngân hàng càng kém và ngược lại
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng
có bảo đảm hay không tuỳ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước
và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bước trong quy trình cho vay tiêu dùng
Trong quy trình cho vay tiêu dùng, bước chuẩn bị cho vay là hết sức quan trọng, là cơ sở để định lượng rủi ro trong quá trình cho vay, chất lượng tín dụng cho vay tiêu dùng tuỳ thuộc vào chất lượng công tác thẩm định đối tượng được vay vốn cũng như quy định điều kiện và thủ tục vay ở từng ngân hàng thương mại
Trang 38Kiểm tra quá trình cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng nắm được diễn biến của khoản vay tiêu dùng đã cung cấp để có thể điều chỉnh hoặc can thiệp khi cần thiết, sớm thấy được nguyên nhân và ngăn ngừa rủi ro có thể xẩy ra, việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu cho chất lượng tín dụng ngắn hạn
Thu nợ và thanh lý là khâu có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của ngân hàng thương mại, sự nhạy bén của ngân hàng thương mại trong việc phát hiện kịp thời những bất lợi xảy ra đối với khách hàng cùng các biện pháp
xử lý chính xác, sẽ giảm thiểu các khoản nợ quá hạn, có tác động tích cực đối với chất lượng tín dụng ngắn hạn
Sự phối hợp giữa các bước trong quy trình cho vay tiêu dùng sẽ tạo điều kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế hoạch đã định mà nhờ đó bảo đảm được chất lượng tín dụng ngắn hạn
- Chính sách cho vay tiêu dùng: chính sách cho vay tiêu dùng quyết định thành công hay thất bại của hoạt động CVTD, một chính sách CVTD đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động CVTD trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội, điều đó cũng có nghĩa là chất lượng tín dụng CVTD tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách của ngân hàng thương mại có đúng đắn hay không, bất cứ một ngân hàng thương mại nào muốn có chất lượng tín dụng CVTD đều phải có một chính sách rõ ràng, phù hợp với bản thân ngân hàng mình
Chính sách cho vay tiêu dùng cởi mở sẽ là nhân tố giúp cho các ngân hàng phát triển cho vay tốt hơn, ngược lại quan điểm bảo thủ trong cho vay tiêu dùng sẽ làm hạn chế việc phát triển hoạt động CVTD của ngân hàng Chính sách cho vay tiêu dùng bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với một khách hàng, kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí,
Trang 39phương thức cho vay, hướng giải quyết phần khách hàng vay vượt giới hạn, xử
lý các khoản vay có vấn đề…
Ngân hàng đa dạng hoá các mức lãi suất phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng kỳ hạn cho vay và chính sách khách hàng hấp dẫn càng thu hút được khách hàng, thực hiện tốt mục tiêu phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng Nhưng nếu lãi suất không phù hợp, quá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu đãi thì sẽ không thu hút được nhiều khách hàng và như vậy sẽ hạn chế hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng
- Chiến lược kinh doanh
Ngân hàng muốn tồn tại, phát triển thì phải có phương hướng, chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh phù hợp thì hoạt động cho vay tiêu dùng ngày càng được mở rộng Trên cơ sở các quyết định, chính sách của cấp trên, thông tin về khách hàng, vị thế của ngân hàng trên địa bàn hoạt động; ngân hàng phải xác định nên tăng cường hoạt động cho vay tiêu dùng hợp lý, nên chú trọng hơn vào những hướng nào có hiệu quả, tìm hiểu thêm những lĩnh vực mới tiềm năng giúp mở rộng hoạt cho vay tiêu dùng của ngân hàng
Chiến lược cho vay tiêu dùng của các ngân hàng phụ thuộc vào tình trạng vốn, thị trường và chất lượng tín dụng tiêu dùng Thông thường khi vốn khả dụng cao, chất lượng tín dụng tiêu dùng đảm bảo, nhu cầu của người vay lớn thì ngân hàng có quan điểm cởi mở trong hoạt động cho vay tiêu dùng và ngược lại, nếu vốn khả dụng thấp, tình trạng chất lượng tín dụng xấu, thị trường ảm đạm thì các ngân hàng hạn chế cho vay tiêu dùng
- Mạng lưới hoạt động kinh doanh của ngân hàng: mạng lưới hoạt động rộng là nhân tố tác động tích cực đến phát triển cho vay tiêu dùng, phát triển nguồn vốn huy động tạo điều kiện cho khách hàng giao dịch với ngân hàng được thuận lợi hơn, giúp các ngân hàng phát triển các hoạt động dịch vụ
từ đó thúc đẩy phát triển cho vay tiêu dùng
Trang 40Các ngân hàng thương mại hiện nay đang theo đuổi chiến lược ngân hàng bán lẻ, mạng lưới hoạt động là nhân tố quan trọng để phát triển hoạt động cho vay, thông thường các NHTM khi thành lập có trụ sở đóng ở các đô thị lớn sau đó mở các chi nhánh về các địa phương nơi có kinh tế phát triển để phát triển hoạt động cho vay
- Chất lượng thông tin
Thông tin trở thành vấn đề thiết yếu, không thể thiếu đối với mọi doanh nghiệp nói chung, ngân hàng thương mại nói riêng Trong hoạt động cho vay tiêu dùng, ngân hàng cho vay chủ yếu dựa trên sự tin tưởng đối với khách hàng Mức độ chính xác của sự tin tưởng này lại phụ thuộc vào chất lượng thông tin
mà ngân hàng có được
Để hoạt động cho vay tiêu dùng đạt hiệu quả, chất lượng cao, ngân hàng thương mại phải nắm bắt những thông tin cả bên trong, bên ngoài, khách hàng, những biến đổi của môi trường kinh tế, dân số, văn hoá, xã hội, chính trị, luật pháp, công nghệ, đối thủ cạnh tranh, nhu cầu khách hàng…) Luồng thông tin bên trong cung cấp cho biết rõ những điểm mạnh, yếu của các nguồn lực khác nhau trong ngân hàng mình Yêu cầu thông tin: đầy đủ, chính xác, kịp thời Nếu ngân hàng nắm bắt kịp thời những thông tin về kinh tế, xã hội, thị trường sẽ đưa ra những phương hướng hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng phù hợp Thông tin về khách hàng chính xác, hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng đối với từng khách hàng sẽ hợp lý hơn và chủ động hơn, không bỏ lỡ nhiều cơ hội cho vay, hạn chế những rủi ro cho những khoản cho vay tiêu dùng của mình
- Chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất thiết bị
Con người là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại trong quản lý vốn cho vay tiêu dùng cũng như trong hoạt động của ngân hàng, xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để đối phó kịp thời, có hiệu quả với các tình huống khác nhau của hoạt