1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục của huyện từ liêm

64 254 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 473,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên việc đầu tư cho giáo dục cầnxem xét kỹ càng hơn, việc quản lý nguồn kinh phó từ NSNN cho giáo dụccòn nhiều bất cập, thiếu sót .Từ những thực trạng ấy, em xin chọn đề tài : Một

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.

Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khảng định mục tiêu tổngquát của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là “Phấn đấu đếnnăm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại;chính trị-xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất

và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trườngquốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơntrong giai đoạn sau.” Để đạt được mục tiêu nêu trên, giáo dục và khoa họccông nghệ có vai trò quyết định, phát triển giáo dục là một trong những độnglực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là yếu tố

cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

Xuất phát từ quan điểm đó, thời gian qua Nhà nước ta luôn luôn quantâm dành một tỷ lệ ngân sách thích đáng đầu tư cho giáo dục và đào tạo gópphần tạo ra những thành tựu quan trọng về mở rộng quy mô, nâng cao chấtlượng giáo dục và cơ sở vật chất nhà trường Trong vòng 12 năm qua (từ

1998 - 2010), Nhà nước tăng dần đầu tư GD-ĐT từ mức hơn 13% lên 20%tổng chi ngân sách nhà nước Với tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục như trên,Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất thế giới Tuy

nhiên, việc quản lý kinh phí NSNN chi cho hoạt động giáo dục ở các địaphương còn tồn tại một số nhược điểm Vì vậy, nghiên cứu, phát huy nhữngmặt tốt, tìm tòi và đề ra các giải pháp khắc phục những mặt còn yếu kémtrong công tác quản lý chi ngân sách cho giáo dục có ý nghĩa hết sức quantrọng trong việc thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển, đáp ứng yêu cầu đổi

Trang 2

mới, phát triển kinh tế - xã hội trong những năm gần đây Đảng bộ Huyện

Từ Liêm cũng đã đặc biệt quan tâm tới giáo dục Nguồn kinh phí đầu tư chogiáo dục từ NSNN ngày càng tăng Tuy nhiên việc đầu tư cho giáo dục cầnxem xét kỹ càng hơn, việc quản lý nguồn kinh phó từ NSNN cho giáo dụccòn nhiều bất cập, thiếu sót Từ những thực trạng ấy, em xin chọn đề tài :

Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục của Huyện Từ Liêm

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của chuyên đề

Trên cơ sở lý luận chung về chi NSNN và quản lý chi NSNN, luậnvăn đã góp phần khái quát vai trò, nội dung chi NSNN cho một lĩnh vực cụthể là giáo dục và nội dung quản lý chi NSNN cho giáo dục, đồng thời thôngqua việc nghiên cứu toàn diện công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục củahuyện Từ Liêm, đề xuất các biện pháp quản lý chi NSNN cho giáo dục thờigian tới hợp lý hơn

Mục đích của đề tài là qua nghiên cứu thực tế để tìm ra những biện phápnhằm tăng cường công tác quản lí chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệpgiáo dục của Huyện Từ Liêm

Đối tượng nghiên cứu đề tài là nội dung và quản lí chi thường xuyênNSNN cho sự nghiệp giáo dục của Huyện Từ Liêm

Chuyên đề gồm 3 chương:

Chương 1: Sự nghiệp giáo dục và công tác quản lý chi thường xuyênNgân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Trang 3

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên Ngân sáchNhà nước cho sự nghiệp giáo dục của Huyện Từ Liêm

Chương 3: Một số giải pháp cơ bản tăng cường công tác quản lý chithường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục của Huyện TừLiêm

Do hạn chế về thời gian thực tập cũng như trình độ hiểu biết nên bài chuyên

đề của em không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được ý kiếnđóng góp và giúp đỡ của thầy cô

Em xin chân thành cảm ơn thầy Phạm Văn Khoan là người hướng dẫn trựctiếp em trong quá trình viết đề tài, cùng các cô, chú, anh, chị, trong Phòng tàichính kế hoạch Huyện Từ Liêm đã quan tâm tạo điều kiện, giúp đỡ em hoànthành đề tài

Hà Nội: ngày 10 tháng 4 năm 2011

Lê Ngọc Quyền

Trang 4

Chương 1

Sự nghiệp giáo dục và công tác quản lý chi thường xuyên Ngân

sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

1.1 Sự nghiệp giáo dục và vai trò của giáo dục và đối với sự phát triển của kinh tế xã hội

1.1.1 Các khái niệm cơ bản.

Ngân sách Nhà nước là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử Sựhình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện vàphát triển của kinh tế hàng hoá tiền tệ trong các phương thức sản xuất củacác cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng Nói cách khác sự ra đời củaNhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sựphát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước

Từ “ngân sách” được lấy ra từ thuật ngữ “budjet” một từ tiếng Anhthời trung cổ,dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó có chứa nhữngkhoản tiền cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng.Dưới chế độ phongkiến, chi tiêu của nhà vua như : đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đường

xá và chi tiêu chi bản thân hoàng gia không có sự tách biệt nhau.Khi giai cấp

tư sản lớn mạnh từng bước khống chế nghị viện và đòi hỏi tách bạch haikhoản chi tiêu này , từ đó nảy sinh khái niệm NSNN

Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thường để chỉ số thu và chi củamột đơn vị trong một thời gian nhất định Một bảng tính toán các chi phí đểthực hiện một kế hoach, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất địnhcủa một chủ thể nào đó Nếu chủ thể đó là Nhà Nước thì gọi là NSNN

Từ điển tiếng Việt thông dụng định nghĩa:

Trang 5

“Ngân sách : tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời giannhất định”

Điều 1 của Luật NSNN được Quóc hội Khóa XII Nước Cộng hòaXHCN Việt Nam thông qua tại kì họp thứ hai, năm 2002 cũng khẳng định:

“ NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quanNhà Nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm đểthực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà Nước”

Về bản chất của NSNN, đằng sau những con số thu,chi đó là các quan

hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, hộgia đình, cá nhân trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phânphối và sử dụng quỹ NSNN

Giáo dục là tất cả dạng học tập của con người và có thể coi là một dạng

quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng con người theo nhiều nghĩa khácnhau Hay nói cách khác, Giáo dục là quá trình bồi dưỡng, nâng đỡ sựtrưởng thành về nhận thức con người,tạo ra những có đầy đủ kiến thức,năng

lực hành vi, có khả năng sáng tạo.

1.1.2 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của kinh tế xã hội.

Nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sự tác động to lớn của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại chuyển từ công nghiệp hoá tậptrung, chi phí lớn sang mô hình công nghiệp tự động, tin học hoá, nhỏ, gọn,tiêu tốn ít nhiên liệu, linh hoạt dễ đổi mới sản xuất theo nhu cầu đa dạng,phong phú của khách hàng Thị trường phong phú và biến động nhanh chóng

“một nền kinh tế thị trường như vậy còn đòi hỏi người lao động có trình độkhoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ cao, biết ứng xử linh hoạt, sáng tạo"

Bước sang thế kỷ 21, cuộc cánh mạng khoa học-công nghệ sẽ cónhững bước tiến nhảy vọt, đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp

Trang 6

sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, đồng thời tác động tớitất cả các lĩnh vực, làm biến động nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất

và tinh thần của xã hội Trong quá trình kinh tế hoá tri thức, con người vẫnđược nhấn mạnh là vị trí hạt nhân, phát triển vai trò trung tâm vô cùng quantrọng Vì vậy, nhóm ngành văn hoá giáo dục là quần thể tri nghiệp sản xuấttruyền bá tin tức văn hoá và tri thức, đặc biệt là đào tạo nên đội quân nhântài, những người sáng tạo ra tri thức trở thành một trong những ngành lớnnhất "Một số các công ty lớn đều đang phát triển cơ sở xản xuất nhân tàitoàn cầu của mình Thậm chí các nước như Anh, Mỹ, Australia đã phát triển

cả ngành giáo dục xuất khẩu"

Bên cạnh đó, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thếkhách quan, vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranhcủa các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích quốc gia Sự cạnh tranh kinh

tế giữa các quốc gia sẽ ngày càng quyết liệt hơn đòi hỏi phải tăng năng suấtlao động, nâng cao chất lượng hàng hoá và đổi mới công nghệ một cáchnhanh chóng

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năngđộng của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang làm choviệc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên hiệnthực hơn và nhanh hơn Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của

sự phát triển kinh tế xã hội Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại vàđóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần tráchnhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau

Hồ Chủ Tịch đã từng nói " muốn có chủ nghĩa xã hội, thì phải có

những con người xã hội chủ nghĩa ” Bác Hồ coi giáo dục là công việc xây

Trang 7

dựng con người lao động mới và là một chiến lược lâu dài "Vì hạnh phúc

mười năm trồng cây, vì hạnh phúc trăm năm trồng người” Nhận rõ tầm quan

trọng của sự nghiệp Giáo dục đôí với việc phát triển kinh tế, tri thức là chìakhóa để mở rộng cánh cửa vào tương lai,nước ta thực hiện nghị quyết củaBan chấp hành TW Đảng khóa VII với tinh thần là “Giáo dục là quốc sáchhàng đầu” và Hội nghị thứ II Ban chấp hành TW đảng khóa VIII với tinhthần là “Ưu tiên cao nhất cho sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo và khoa học

công nghệ thể hiện trên các mặt chính sách, đội ngũ quản lý ” Có thể nói

giáo dục là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của toàn Đảng, toàn dântrong thời gian qua Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục được coi là khâu độtphá cho những định hướng chiến lược về mục tiêu, giải pháp chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội cho đến năm 2010 - 2020

1.2 Chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

1.2.1 Nội dung chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Chi NSNN cho sự nghiệp Giáo dục là tổng thể các quan hệ kinh tếdưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình phân phối và sử dụng quỹNSNN nhằm trang trải chi phí cho các hoạt động của ngành giáo dục

Một thực tế cho thấy, việc đầu tư cho tất cả các ngành, vấn đề quantrọng và cốt yếu là vốn Đối với ngành Giáo dục cũng vậy, muốn thực hiệnđược mục tiêu phát triển ngành Giáo dục thì chúng ta phải có một lượng vốncho ngành, nguồn vốn này được huy động dưới nhiều hình thức như thu họcphí, vay viện trợ Nhưng ở nước ta hiện nay thì nguồn vốn từ NSNN là chủyếu và trong luật ngân sách cũng quy định rõ trong điều 29 mục 1a Về mặthình thức, chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là quá trình thực hiện quan hệphân phối dưới hình thức giá trị, từ quỹ tiền tệ tập trung của Nhà Nước theo

Trang 8

nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm duy trì và phát triển nền giáo dụcquốc gia, đáp ứng nhu cầu của cuộc đổi mới cũng như nhu cầu phát triềnkinh tế – xã hội Nhưng nếu xét về lâu dài thì chi ngân sách cho sự nghiệpgiáo dục là khoản chi mang tính chất tích luỹ, là nhân tố quyết định mức độtăng trưởng kinh tế cho tương lai, đặc biệt trong thời đại mới khi khoa học

kỹ thuật phát triển trở thành yếu tố quan trọng của sản xuất, khi tỷ lệ chấtxám chứa đựng trong của cải vật chất làm ra ngày càng cao Đó chính là kếtquả của quá trình đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục

Chi NSNN cho sự nghiệp Giáo dục bao gồm :

- Chi đầu tư phát triển

- Chi thường xuyên

- Chi khác

Xét theo cơ cấu các khoản chi, thì chi NSNN cho sự nghiệp Giáo dụcbao gồm :

+ Chi cho con người: Bao gồm các khoản chi về lương, phụ cấp,

BHXH, phúc lợi tập thể cho các giáo viên, cán bộ công nhân viên của nhàtrường Đây là khoản chi nhằm bù đắp hao phí lao động đảm bảo duy trì quátrình tái sản xuất sức lao động cho giáo viên, công nhân viên của nhà trường.Khoản chi có liên quan đén việc đảm bảo cuộc sống ổn định cho các thầy côgiáo trực tiếp giảng dạy các cán bộ quản lý trong ngành Giáo dục theo chế

độ Nhà nước ban hành

Kinh phí để chi cho con người : Khoản chi này được xác định dựa trên

số giáo viên bình quân dự kiến có mặt trong kỳ kế hoạch và mức chi bìnhquân dự kiến cho một giáo viên có mặt trong kỳ kế hoạch

+ Chi về nghiệp vụ chuyên môn : Bao gồm chi cho các trang thiết bị

trong trường như nghiên cứu thực hành, sách giáo khoa, đồ dùng học tập

Trang 9

Khoản chi này phụ thuộc vào từng đơn vị, quy mô cơ sở vật chất của từngtrường và nó quyết định đến hiệu quả giáo dục.

+ Chi cho mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ: Bao gồm chi đầu

tư xây dựng cơ bản trong trường, mua sắm sửa chữa trang thiết bị của nhàtrường trong từng thời kỳ và phụ thuộc vào quỹ ngân sách của Nhà nước

Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của cácTSCĐ dùng cho các hoạt động giảng dạy học tập nên thường phát sinh nhucầu kinh phí cần có để mua sắm, trang bị thêm hoặc sửa chữa cho nhữngTSCĐ đã bị xuống cấp ở các trường học, lớp học, khu hiệu bộ mà NSNNbao cấp Vì vậy, cần phải xác định nhu cầu kinh phí hàng năm của nhàtrường đáp ứng cho nhu cầu mua sắm sửa chữa hay xây dựng nhỏ trong dựtoán kinh phí hàng năm của mỗi trường để làm cơ sở lập dự toán chi NSNN

+ Các khoản chi khác: Bao gồm các mục chi về thanh toán dịch vụ

công cộng, vật tư văn phòng, thông tin truyền thông liên lạc, công tác phí,hội nghị phí… Chi các khoản chi này theo xu hướng hiện đại phải giảm tớimức tối đa, mặc dù nó vẫn tồn tại

Các hoạt động này nhằm duy trì sự hoạt động bình thường bộ máyquản lý các trường học là vấn đề tất yếu phải xảy ra Các quản chi liên quannhiều đến quy mô hoạt động và tổ chức của mỗi trường học Vì vậy việc xácđịnh số chi kinh phí này thường được dựa vào số công nhân viên bình quân

và mức chi quản lý hành chính cho một giáo viên kỳ kế hoạch

Như vậy khi xem xét đến nội dung chi NSNN cho sự nghiệp Giáo dụcngười ta không chỉ tính đến những đặc điểm riêng cuả công tác giáo dục màcòn tính đến tất cả các yếu tố tác động đến công tác giáo dục như :

- Chế độ chính trị mà quốc gia đang theo đuổi

- Tốc độ phát triển dân số

Trang 10

- Nguồn thu NSNN.

- Chiến lược phát triển sự nghiệp giáo dục trong từng giai đoạn

Đó là những yếu tố cơ bản có tác động lớn đến công tác giáo dụctrong từng giai đoạn Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là việc đảm bảonguồn lực tài chính để thực hiện việc phát triển ngành Giáo dục Chính vìvậy, để có một nội dung chi hợp lý cần phải xem xét kỹ đến các nhân tố ảnhhưởng cũng như mức độ tác động của nó đến công tác giáo dục

1.2.2 Vai trò của chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đồi với sự nghiệp giáo dục.

Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục là quá trình phân phối sử dụngmột phần vốn tiền tệ từ quỹ ngân sách nhà nước để duy trì, phát triển sựnghiệp giáo dục theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp

Vai trò của chi ngân sách không chỉ đơn thuần là cung cấp nguồn lựctài chính để duy trì, cũng cố các hoạt động giáo dục mà còn có tác dụngđịnh hướng, điều chỉnh các hoạt động giáo dục phát triển theo đường lối chủtrương của đảng và Nhà nước

Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộvốn đầu tư cho giáo dục do NSNN đài thọ Nguồn kinh phí này đã đóng vaitrò quyết định trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục, góp phần phát triểnnâng cao trình độ dân trí, tạo ra những lớp người có đủ năng lực, trí tuệ đónggóp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Ngày nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế tri thức với quanđiểm "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”, Đảng và Nhà nuớc ta đã cóchủ trương " Xã hội hoá giáo dục ” Gắn liền với chủ trương đó, Nhà nướcthực hiện mở rộng đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục kể cảtrong nước và nước ngoài " Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích các tổ

Trang 11

chức, cá nhân trong nước, người Việt nam định cư ở nước ngoài, các tổchức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục ”

Trong điều kiện có nhiều nguồn vốn đầu tư cho giáo dục như vậynhững nguồn vốn đầu tư từ NSNN vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Vaitrò chủ đạo của chi NSNN cho giáo dục được thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất: Ngân sách Nhà nước luôn là nguồn tài chính cơ bản, ổn

định để duy trì sự phát triển của hệ thống giáo dục, theo đường lối chủtrương của Đảng và Nhà nước

Giáo dục là một lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn mà Nhà nước luônphải quan tâm và có sự đầu tư thích đáng " Ngân sách Nhà nước giữ vai tròchủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục” Chính vì vậy mà nguồn vốnđầu tư của ngân sách Nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốnđầu tư cho giáo dục

Mặc dù thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trươngchính sách để huy động nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư cho giáo dục nhưchính sách về đóng góp học phí, lệ phí tuyển sinh, đóng góp xây dựngtrường, đóng góp phí từ phía các cơ sở sử dụng lao động, các chính sách ưuđãi về thuế, huy động các nguồn tài trợ khác cho giáo dục Tuy nhiên doviệc xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục còn chưa phổ biến, việc thu hút cácnguồn lực khác cho Giáo dục còn rất khó khăn Vì vậy, cho dù đối tượng chi

có giảm đi nhưng kinh phí đầu tư của NSNN cho giáo dục vẫn cao NguồnNSNN đầu tư cho giáo dục tăng từ 19.747 tỷ đồng năm 2001 lên 81.419 tỷđồng năm 2008 (tăng 4,1 lần) Tỷ trọng chi của NSNN cho giáo dục trongGDP năm 2001 là 4,1% (bằng 15,5% tổng chi NSNN), năm 2006 là 5,6%(bằng 18,4% tổng chi NSNN) Từ năm 2008, Chính phủ đã dành 20% chingân sách cho giáo dục, đạt tỷ lệ như Quốc hội đã phê duyệt cho năm 2010

Trang 12

Tóm lại: Trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương NSNN

luôn luôn giữ vai trò chủ yếu trong việc cung cấp nguồn lực tài chính để duytrì và phát triển sự nghiệp Giáo dục Có thể nói đầu tư cho giáo dụcđúngmức sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh chóng và thu lợi nhuận cao hơnbất cứ một lĩnh vực đầu tư nào khác Đầu tư cho giáo dục không chỉ là mộtchính sách xã hội mà còn phải được coi là một chính sách kinh tế, chínhsách phát triển sản xuất Đó là sự đầu tư kép và là đầu tư trực tiếp vào conngười - yếu tố quyết định trong lực lượng sản xuất

Thứ hai: Chi ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc

củng cố, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảngdạy Hai yếu tố này lại ảnh hưởng có tính chất quyết định đến chất lượnghoạt động giáo dục

Có thể nói, ngân sách giáo dục chủ yếu dành cho những chi phí liênquan đến con người Trong đó, chi lương và phụ cấp cho giáo viên luônchiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi thường xuyên cho giáo dục Hiện nay, trừmột phần nhỏ các trường dân lập, bán công thì lương và phụ cấp cho giáoviên đều do NSNN đảm bảo Trong xu hướng xã hội hoá giáo dục hiện nay,mặc dù một số gánh nặng về chi phí cho giáo dục được chia sẻ với khu vực

tư nhân, song chi tiêu của tư nhân không tự nó dẫn đến chất lượng giáo dụctốt hơn, vì vậy vẫn cần nguồn kinh phí lớn và tăng nhanh từ NSNN để đápứng sự gia tăng về số học sinh, do sức ép dân số và chi phí để nâng caochất lượng dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục

Thứ ba: Nguồn vốn ngân sách Nhà nước là nguồn duy nhất đảm bảo

kinh phí để thực hiện các chương trình - mục tiêu quốc gia về giáo dục như:Chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, chương trình tăngcường cơ sở vật chất trường học, đầu tư cho giáo dục giữa các vùng cácmiền thông qua cơ cấu và nội dung chi NSNN , từ đó sẽ góp phần rút ngắn

Trang 13

khoảng cách giữa các vùng, nâng cao trình độ dân trí cho toàn dân Đây lànhững chương trình mục tiêu lớn, cấp bách cần phải thực hiện và đòi hỏiphải có sự đầu tư kinh phí khá lớn Vì vậy Nhà nước phải tập trung ngânsách đầu tư thực hiện cho được các chương trình này

Thứ tư: Sự đầu tư của Ngân sách Nhà nước có tác dụng hướng dẫn,

kích thích thu hút các nguồn vốn khác đầu tư cho giáo dục Nhà nước đầu tưhình thành nên các trung tâm giáo dục có tác dụng thu hút sự đầu tư của các

tổ chức, cá nhân phát triển các loại dịch vụ phục vụ cho trung tâm giáo dục

đó Mặt khác trong điều kiện các tổ chức, cá nhân chưa có đủ tiềm lực đầu

tư độc lập cho các dự án giáo dục thì sự đầu tư vốn của ngân sách nhà nước

là số vốn đối ứng quan trọng để thu hút các nguồn lực khác cùng đầu tư chogiáo dục Thông qua sự đầu tư của Nhà nước vào cơ sở vật chất và một phầnkinh phí hỗ trợ đối với các trường bán công, tư thục, dân lập có tác dụngthúc đầy mạnh mục tiêu xã hội hoá giáo dục về mặt tài chính

Qua phân tích các vấn đề trên cho thấy, mức độ đầu tư của ngân sáchNhà nước được coi như một trong các yếu tố tác động có tính chất quyếtđịnh đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển hệ thống giáo dục quốcgia Từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông

Sự tăng cường đầu tư ngân sách cho giáo dục sẽ dẫn đến kết quả lànguồn nhân lực phát triển, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, trên cơ sở

đó ngân sách nhà nước tăng thu và có điều kiện để đầu tư trở lại cho giáodục cao hơn nữa Đó là mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư cho giáo dục vớităng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, đó cũng chính là con đường nhanhnhất, ngắn nhất để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra

Trang 14

1.3 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

1.3.1 Nội dung quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục.

Nội dung chi ngân sách nhà nước cho giáo dục gắn liên với cơ cấu,nhiệm vụ của ngành trong mỗi giai đoạn lịch sử và được xem xét ở các giác

độ khác nhau

Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của ngành giáo dục có thể hiện nội dungchi ngân sách Nhà nước cho giáo dục gồm:

- Chi ngân sách cho hệ thống các trường học có:

+ Chi ngân sách cho hệ thống các trường mầm non và các trường phổthông

+ Chi cho các trường Đảng, đoàn thể

+ Chi ngân sách cho các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục như:

Bộ giáo dục đào tạo, Sở giáo dục, phòng giáo dục

Theo cách phân loại chi NSNN theo yếu tố và phương thức quản lýcác khoản chi cho giáo dục bao gồm:

- Chi thường xuyên

- Chi xây dựng cơ bản tập trung

Đối với các khoản chi thường xuyên căn cứ vào đối tượng của việc sửdụng kinh phí NSNN có thể chia thành 4 nhóm mục chi sau:

1 Các khoản chi cho con người: Như chi lương, các khoản phụ cấptheo lương, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, chi phúclợi tập thể cho giáo viên, cán bộ nhân viên, chi học bổng và trợ cấp cho họcsinh sinh viên, tiền công

Trang 15

2 Chi cho hoạt động chuyên môn: Chi mua tài liệu, đồ dùng giảngdạy và học tập chi hội thảo, hội giảng, chi cho các lớp bồi dưỡng học sinhbồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn

3 Chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhỏ phục vụ cho hoạt độngchuyên môn như: Mua sắm bàn ghế, bảng và các trang thiết bị khác, sửachữa nhỏ trong trường

4 Các khoản chi khác: chi về công tác phí, công vụ phí, điện nước,xăng xe, văn phòng phẩm, chi hội nghị về công tác quản lý…

Ngoài ra từ năm 1991 ngân sách Nhà nước còn chi tiêu cho các đơn vịthực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục như chương trìnhphổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, chương trình tăng cường cơ sởvật chất trường học, chương trình công nghệ giáo dục Hầu hết các chikhoản chi trên là những khoản chi phát sinh thường xuyên, tương đối ổnđịnh và có thể định mức được Do vậy trong công tác quản lý các khoản chinày phải lấy định mức làm cơ sở, riêng các khoản mua sắm sửa chữa nhỏkhông phát sinh thường xuyên nên phải căn cứ vào thực trạng nhà cửa trangthiết bị, chế độ chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ và đặc biệt làkhả năng nguồn vốn của NSNN để cấp phát và chi tiêu

Đối với chi đầu tư XDCB tập trung, tuỳ theo yêu cầu quản lý nội dungchi đầu tư XDCB được phân loại theo những tiêu thức khác nhau Xét theohình thức tái sản xuất TSCĐ, chi đầu tư XDCB cho giáo dục được phânthành:

- Chi đầu tư xây dựng mới các TSCĐ phục vụ cho giáo dục như cáctrường học, thư viện, phòng thí nghiệm…

- Chi cải tạo, nâng cấp mở rộng các TSCĐ hiện có nhằm tăng thêmcông suất và hiện đại hoá TSCĐ như nâng cấp trường học, thư viện, xâythêm các lớp học…

Trang 16

Các nhân tố ảnh hưởng tới các khoản chi NSNN cho giáo dục:

- Tổng sản phẩm quốc nội và phương thức phân phối tổng sản phẩmquốc nội:

Tổng sản phẩm quốc nôị (GDP) là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phảnánh giá trị sản phẩm mới mà nền kinh tế sáng tạo ra trong 1 năm

Tổng sản phẩm quốc nội có ảnh hưởng tới số chi ngân sách cho Giáodục bởi vì:

Thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội cao, chứng tỏ một nền sản xuất cóhiệu quả khi đó thu nhập trong dân lớn, thu nhập bình quân đầu người tănglên Tổng sản phẩm quốc nội cao sẽ làm giàu các nguồn tài chính khác, làmảnh hưởng tới số chi ngân sách cho giáo dục

Thứ hai: Theo chế độ tài chính hiện hành, Nhà nước sẽ tham gia vàoquá trình phân phối lần đầu và phân phối lại tổng sản phẩm quốc nội để tạonguồn thu cho NSNN Nhà nước động viên một phần tổng sản phẩm quốcnội vào tay mình làm cơ sơ vật chất cho quá trình chi tiêu Thông thưòng tỷ

lệ điều tiết của Nhà nước có tính ổn định trong một thời gian dài cho nên khitổng sản phẩm quốc nội tăng sẽ làm tăng số thu NSNN, tạo cơ sở cho việctăng chi ngân sách cho Giáo dục, số chi NSNN cho Giáo dục không nhữngchịu ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội mà còn chịu ảnh hưởng củaphương thức phân phối tổng sản phẩm quốc nội: Nếu phương thức phânphối xác định tỷ lệ lớn, số chi ngân sách Nhà thì Giáo dục sẽ phát triển mạnhnhưng hạn chế khả năng chi cho các ngành khác và cho tích luỹ Nếuphương thức phân phối xác định tăng nhiều cho các ngành khác mà giảmnhẹ khoản chi NSNN sẽ làm giảm chất lượng Giáo dục

- Tốc độ phát triển dân số, số lượng và cơ cấu dân số:

Tốc độ dân số tăng lên, dân số lớn sẽ làm giảm thu nhập quốc dânbình quân đầu người, giảm thu nhập bình quân của mỗi gia đình Do đó, các

Trang 17

gia đình khó có điều kiện cho con đi học, nguồn kinh phí đầu tư từ gia đìnhcũng giảm, gây ảnh hưởng tới số chi NSNN cho Giáo dục

Trong trường hợp tốc độ tăng dân số nhỏ hơn tốc độ tăng sản phẩmquốc nội, nghĩa là thu nhập bình quân đầu người tăng lên sẽ làm tăng nhucầu giáo dục, chi NSNN cho Giáo dục sẽ tăng lên

Trong điều kiện nước ta hiện nay, nhu cầu giáo dục đã thực sự biếnđổi tỷ lệ thuận với dân số Ngân sách Nhà nước khó có thể đáp ứng đượcchu toàn Trước tình cảnh đó việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình ngoài ýnghĩa giải quyết các vấn đề xã hội còn có tác dụng giảm nhẹ nhu cầu chiNSNN cho Giáo dục

- Thực trạng trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho Giáo dục

Nhân tố này có ảnh hưởng đến các khoản chi có tính chất khôngthường xuyên của NSNN cho Giáo dục như khoản chi sửa chữa, mua sắmmáy móc, thiết bị cho hoạt động giảng dạy, khoản chi này không có địnhmức quản lý và được xác định tuỳ thuộc vào thực trạng của nhà trường

- Phạm vi, mức độ các khoản dịch vụ không phải trả tiền do Nhà nướccung cấp cho học sinh:

Thực chất của nhân tố này nói đến phạm vi, mức độ các khoản đượcNhà nước bao cấp phục vụ, trước khi với cơ chế quản lý quan liêu bao cấphầu hết mọi nhu cầu học hành, sinh hoạt của học sinh đều được Nhà nướcbao cấp, do vậy số chi NSNN cho Giáo dục rất cao Ngày nay khi nền kinh

tế chuyển sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, phạm vi baocấp của Nhà nước giảm, Nhà nước chỉ đảm bảo kinh phí để duy trì sự đảmbảo của nhà trường, phần còn lại phải huy động qua chính sách thu học phícủa học sinh Do vậy, số chi NSNN cho Giáo dục đã giảm nhẹ mà chỉ mangtính chất định hướng quản lý vĩ mô GD - ĐT

Trang 18

Trên đây là 4 nhân tố khách quan tác động lớn tới số chi NSNN chogiáo dục xuất phát từ tình hình kinh tế xã hội mang lại Tuy nhiên, từ phầnmình Giáo dục cũng tạo nên nhân tố ảnh hưởng tới số chi NSNN cho Giáodục.

- Mạng lưới tổ chức hoạt động sự nghiệp Giáo dục :

Tính hợp lý hay không hợp lý trong việc tổ chức mạng lưới giáo dục

sẽ tác động mạnh tới số chi, một mạng lưới giáo dục vừa gọn nhẹ vừa đủ, bốtrí trường lớp hợp lý đảm bảo được chất lượng công tác quản lý, giảng dạythì phần nào sẽ giảm chi cho NSNN và ngược lại trường lớp bố trí khônghợp lý, bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh, biên chế giáo viên giảng dạyquá nhiều, không xếp đủ số giờ, số tiết tiêu chuẩn cho họ theo quy định củaNhà nước thì chi NSNN sẽ tăng lên, hiệu quả sử dụng NSNN sẽ giảmxuống

Với ảnh hưởng của nhân tố này theo quan điểm về lâu dài là từngbước hợp lý hoá mạng lưới tổ chức, tinh giảm gọn nhẹ biên chế, nâng caochất lượng giảng dạy, phục vụ, từng bước cải cách hành chính trong hệthống Giáo dục Ngành Tài chính cần có biện pháp xác định quản lý số chiNSNN cho Giáo dục để khoản chi đó có tác dụng tích cực tới tổ chức mạnglưới Giáo dục

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới số chi NSNN cho Giáo dụcgiúp chúng ta có cơ sở phân tích tính hợp lý về nội dung và mức độ chiNSNN cho Giáo dục ở các năm, giải thích được sự khác nhau của nó ở cácgiai đoạn lịch sử, đồng thời từ những biến đổi của các hiện tượng kinh tế xãhội mà thấy được sự cần thiết phải thay nội dung, mức độ chi cho phù hợp.Khi ấy các nhân tố ảnh hưởng đã thực sự trở thành các cơ sở khoa học đểxác định số chi NSNN cho Giáo dục Ngoài ra trong công tác quản lý tài

Trang 19

chính cũng thấy được sự ảnh hưởng của các nhân tố đó mà áp dụng các biệnpháp quản lý thích hợp trong từng thời kỳ.

1.3.2 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý chi thường xuyên Ngân sách

Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Chi NSNN rất đa dạng và phong phú, trong đó có chi NSNN cho sựnghiệp Giáo dục Hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN co sự nghiệpGiáo dục xuất phát từ lý do:

-Chi cho sự nghiệp giáo dục là một khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trongtổng chi NSNN

- Nội dung chi NSNN cho sự nghiệp Giáo dục gồm nhiều khoản chi, mụcchi khác nhau lien quan đến nhiều chính sách chế độ nên cần quản lý để đạthiệu quả trong quá trình sử dụng NSNN

- Chi NSNN là một mảng trong hoạt động của NSNN mà nhà nước sử dụng

để diều tiết nền kinh tế vĩ mô Chi NSNN phải đảm bảo đúng nguyên tắc, chiđúng mục đích, đúng kế hoạch, dựa trên dự toán được duyệt, triệt để nguyêntắc tiết kiệm và hiệu quả, chi trực tiếp qua kho bạc nhà nước… Để đảm bảonhững yêu cầu trên đòi hỏi công tác quản lý chi thường xuyên NSNN phảităng cường hoạt động kiểm soát

Trong những năm gần đây công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho

sự nghiệp Giáo dục đã có những tiến bộ đáng kể nhưng vẫn còn nhiều vấn

đề chưa được giải quyết triệt để Nguyên nhân là do trình độ đội ngũ kế toáncòn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc, các mục tiêu đề ra chưathực hiện được tốt… đã làm lãng phí nguồn vốn NSNN Để tìm hiểu kĩ hơn

về những mặt đã đạt được và những tồn tại trong công tác quản lý chi NSNN

Trang 20

cho sự nghiệp Giáo duc chúng ta cần đi sâu vào thực tế Do giới hạn về thờigian thực tập nên bài chuyên đề chỉ đề cập tới giải pháp nhằm tăng cườngcông tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục củaHuyện Từ Liêm

Trang 21

Chương 2:

Thực trạng chi thường xuyên của NSNN cho sự

nghiệp Giáo dục của Huyện Từ Liêm những năm qua

2.1 Khái quát chung về đặc điểm Kinh tế - Xã hội Huyện Từ Liêm

Từ Liêm là một Huyện ven đô, nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà

Nội có bề dày lịch sử hàng ngàn năm của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội

Do có mối quan hệ trực tiếp từ lâu đời với các trung tâm chính trị, kinh tế,văn hoá của đất nước nên trong con người Từ Liêm đã sớm hình thànhtruyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lao động sáng tạo ra những sảnphẩm nông nghiệp và sản phẩm thủ công tinh xảo cùng với truyền thốnghiếu học từ ngàn xưa

Sau nhiều lần tách huyện, từ tháng 9/1997 huyện Từ Liêm mới bắt tayvào thực hiện nhiệm vụ KT-XH theo địa giới hành chính mới với nhiềuthuận lợi cơ bản song cũng còn không ít những khó khăn

Hiện nay, huyện gồm 16 xã và một thị trấn với diện tích đất tự nhiên75,5km2, dân số 423.838 người Đây chính là thuận lợi cơ bản của mộthuyện ngoại thành có tiềm năng lớn về đất đai, nguồn lao động dồi dào.Trong những năm gần đây nền kinh tế của huyện đã có chiều hướng pháttriển nhanh Người nông dân Từ Liêm bước đầu chuyển sang sản xuất hànghoá nông sản có giá trị kinh tế cao, mở rộng quy mô phát triển các loại câytrái đặc sản như : Bưởi (Phú Diễn), Hồng Xiêm (Xuân Đỉnh) Bên cạnh đóthương nghiệp dịch vụ cũng phát triển mạnh mẽ gắn liền giữa sản xuất vớitiêu thụ sản phẩm, sản xuất nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới theohướng đô thị hoá Vì vậy nền kinh tế của huyện ngày càng phát triển và tăngnhanh, số hộ giàu có ngày càng nhiều

Trang 22

Nằm trên vùng có vị trí địa lý thuận lợi, đất đai màu mỡ, có nhiềusông ngòi, khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho việc phát triển một nềnnông nghiệp nhiệt đới Mặt khác trong tiến trình đô thị hoá nhanh trên địabàn Huyện tập trung nhiều cơ quan, xí nghiệp và đặc biệt tập trung nhiềutrung tâm giáo dục lớn của thành phố và cả nước như : Học Viện Tài Chính,Học viện Cảnh Sát Nhân Dân, Đại học Mỏ Điều này đã có tác động rất lớnđến sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của địa phương, nhất là trong việctạo ra một môi trường nhằm thúc đẩy sự nghiệp Giáo dục của Huyện pháttriển.

Nhận thức được tầm quan trọng của ngành Giáo dục trong sự nghiệpđổi mới đất nước nói chung và của Huyện Từ Liêm nói riêng, mặc dù cònnhiều khó khăn, nhưng với mục tiêu “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”ngành Giáo dục trên địa bàn Huyện vẫn không ngừng được sự quan tâm đầu

tư, tạo điều kiện phát triển đồng bộ theo định hướng của Đảng- UBND vàcác ban ngành

Với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của thành phố và nhờ sự kiên trìthực hiện theo đường lối của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ thị, nghịquyết cấp trên của toàn thể cán bộ đảng viên và nhân dân trong Huyện nêntình hình kinh tế chính trị xã hội của Huyện giữ được thế ổn định và pháttriển sự nghiệp GD-ĐT của Huyện cũng nhờ đó mà ngày càng được củng cố,

ổn định và phát triển vững chắc về số lượng cũng như chất lượng Đồng thờitiếp tục đổi mới theo tinh thần nghị quyết của Ban Chấp Hành TW và quántriệt tinh thần Nghị Quyết VII của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội XII của Đảng

bộ Hà Nội, nghị quyết của Đảng bộ huyện Từ Liêm về công tác GD-ĐT, coiGiáo dục là “quốc sách hàng đầu” Thực hiện mục tiêu sát thực, có tínhchiến lược của sự nghiệp GD-ĐT của huyện để nâng cao dân trí, bồi dưỡngnhân tài nhằm thực hiện xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 23

2.2 Tình hình hoạt động của sự nghiệp giáo dục của Huyện từ Liêm

2.2.1 Mô hình quản lý ngân sách giáo dục huyện Từ Liêm.

Trong số các nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý chiNSNN cho sự nghiệp giáo dục thì nhân tố về mô hình quản lý hợp lý là mộttrong các nhân tố có vai trò mang tính quyết định

Mô hình quản lý ngân sách giáo dục trên địa bàn huyện Từ Liêm được thực hiện theo sơ đồ sau :

Sở Tài chính – Kế Hoạch Hà Nội về chi thường xuyên :

- Chi về khối Mầm non khu vực nhà nước

- Chi thường xuyên về sự nghiệp giáo dục Tiểu học

- Chi thường xuyên về sự nghiệp giáo dục THCS

- Chi cho khối Giáo dục thường xuyên

Phòng TC-KH huyện Từ Liêm

Phòng GD

huyện Từ Liêm Khối

mầm non

Khối tiểu học

Khối

Trang 24

Ghi chú : (1)- Chi từ nguồn Ngân sách huyện

(2)- Chi theo chương trình mục tiêu do Ngân sách Thànhphố bổ sung cho Ngân sách huyện

Giải thích cho mô hình cấp phát kinh phí :

(1) - Phòng TC-KH huyện thông báo hạn mức kinh phí của từngtrường cho KBNN trích trả hạn mức đó sang tài khoản của từng trường

(2) - Phòng TC-KH huyện thông báo hạn mức kinh phí cho phònggiáo dục huyện

(2a) - Khi có nhu cầu chi tiêu thì phòng giáo dục lập giấy rút hạn mứckinh phí gửi lên phòng TC-KH phê duyệt, sau đó gửi toàn bộ giấy rút hạnmức kinh phí sang kho bạc huyện để rút tiền

(3) - Phòng TC-KH huyện thông báo hạn mức kinh phí cho từng trường.(3a)- Khi có nhu cầu thì từng đơn vị thuộc khối mầm non đi rút tiềntại KBNN huyện (khoản 01 : Giáo dục mầm non)

(3b)- Khi có nhu cầu thì từng đơn vị thuộc khối tiểu học đi rút tiền tạiKBNN huyện (khoản 02 : Giáo dục tiểu học)

Phòng TC-KH huyện Từ Liêm

Phòng

giáo dục

KBNN huyện

Từ Liêm

Khối Mầm non Tiểu họcKhối THCSKhối GDTXKhối

Trang 25

(3c)- Khi có nhi cầu thì từng đơn vị thuộc khối THCS đi rút tiền tạiKBNN huyện (khoản 03 : Giáo dục THCS).

(3d)- Khi có nhu cầu thì từng đơn vị thuộc khối GDTX đi rút tiền tạiKBNN huyện (khoản 05 : Giáo dục thường xuyên)

Cấp phát bằng hạn mức kinh phí thì các trường phải đề rõ giấy xin rúthạn mức kinh phí (hoặc chứng từ có mẫu) sau đó phòng Tài chính chi ngânsách cho ngành Giáo dục theo Chương 22 – Loại 14- Khoản 01, 02, 03, 05

Bên cạnh đó việc quản lý khoản cấp kinh phí ủy quyền từ ngân sáchthành phố thì phòng TC-KH huyện còn phải đảm nhận việc cấp phát kinhphí từ ngân sách huyện đối với các khoản phát sinh Trong quá trình cấpphát kinh phí, phòng Tài chính kết hợp chặt chẽ với UBND huyện và phòngGiáo dục để tăng cường công tác quản lý đạt hiệu quả cao Phòng Tài chínhhuyện đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý các khoản cấp phát kinhphí cho ngành Giáo dục trên địa bàn huyện Là đơn vị dự toán cấp 2, phòngTài chính đảm nhận khối lượng công việc lớn, đây cũng là vấn đề khó nếunhư hiện nay tổ chức ngân sách của phòng tài chính thường xuyên chỉ có 1

kế toán trưởng và 4 nhân viên (1 kế toán thu, 1 kế toán chi, 1 kế toán phụtrách ngân sách xã- thị trấn và 1 kế toán ĐTXDCB)

* Bộ máy kế toán tài chính trong ngành giáo dục huyện Từ Liêm.

Tổ chức bộ máy kế toán của ngành gồm:

Tổ tài vụ của phòng giáo dục Huyện, kế toán của các trường học vớichức năng quản lý tài chính và hạch toán thu chi, nhìn chung các trườngcũng đáp ứng được phần nào đó Nhưng bên cạnh đó, bộ máy kế toán tàichính của ngành giáo dục trên địa bàn huyện vẫn còn bộc lộ một số mặt hạnchế sau :

Trang 26

- Nghiệp vụ kế toán tài chính còn chưa chuyên sâu, chưa đồng đều,còn hạn chế trong việc quản lý nguồn vốn NSNN ngày càng lớn và cácnguồn đầu tư ngoài ngân sách.

- Việc xây dựng dự toán và lập quyết toán quý, năm còn thiếu căn cứ,không đúng kiểu mẫu

- Cán bộ chuyên môn được đào tạo theo chuyên ngành tài chính trongngành còn thiếu

2.2.2 Tình hình sự nghiệp giáo dục của Huyện Từ Liêm

Sự nghiệp giáo dục huyện Từ Liêm trong những năm vừa qua luôn có

sự chuyển biến rõ rệt về lượng và chất; qui mô mạng lưới giáo dục ngàycàng được mở rộng và hiện đại hóa đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên,học tập liên tục và học tập suốt đời của nhân dân Chất lượng giáo dục cótiến bộ rõ rệt, tỉ lệ học sinh xếp loại khá giỏi và tốt nghiệp các cấp năm saucao hơn năm trước; Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý được tăng cường vàcủng cố theo hướng đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu Công tác đầu tư xâydựng và mua sắm trang thiết bị cho hoạt động giáo dục được quan tâm và đivào chiều sâu; huyện đã hoàn thành công tác xóa phòng học cấp 4, cải tạo hệthống chiếu sáng học đường ở tất cả các ngành học, cấp học Toàn huyện đãxây dựng được 29 trường chuẩn Quốc gia, 100% các xã thị trấn có trung tâmhọc tập cộng đồng hoàn thành công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểuhọc đúng độ tuổi, phổ cập THCS và THPT, tỉ lệ trẻ khuyết tật được huyđộng ra lớp học hòa nhập ngày càng cao đạt 83,5%; Các chuyên đề học tậptại các trung tâm học tập cộng đồng huy động người dân tham gia học tậpđạt tỉ lệ ngày càng cao

Trang 27

2.2.2.1 Quy mô:

Về cơ sở vật chất: 100% các trường học, phòng học, lớp học đã

được kiên cố hóa, dần hiện đại hóa, 100% các phòng học đã được cải tạochiếu sáng học đường, hầu hết các trường đã được dùng nước đảm bảo vệsinh và 100% các công trình vệ sinh của giáo viên và học sinh đạt chuẩn vềcác tiêu chuẩn nhà vệ sinh Các phòng học bộ môn, phòng học đa năng,phòng học năng khiếu và nhà thể chất đang được đầu tư kiện toàn theohướng hiện đại hóa Đến nay đã có 27 trường đạt chuẩn Quốc gia

Biểu thống kê số trường, lớp, học sinh, giáo viên:

Số lượng

CB-GV-NV

Sốlượnghọcsinh

Học2buổi/ngày

Cônglập NCL

TS Chuẩn Trên

chuẩnMầm

Nguồn thống kê năm học 2009-2010.

2.2.2.2 Phát triển giáo viên:

- Triển khai thực hiện tốt Chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban

Bí thư Trung Ương, Chỉ thị 35/CT-TU ngày 08/4/2005 của Thành uỷ, Kế

Trang 28

hoạch 79/KH-UB ngày 27/12/2005 của UBND Thành phố Hà Nội về việcxây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý Tổng

số cán bộ giáo viên nhân viên đồng bộ hơn và chất lượng hơn, cho đến nămhọc 2009-2010 giáo viên đứng lớp của khối mầm non đạt chuẩn 100%, Tiểuhọc đạt chuẩn 100%, THCS đạt chuẩn 100% trong đó giáo viên trên chuẩnmầm non 57%, Tiểu học 94,8%, THCS 78% Thạc sĩ 2%

bị bài giảng và phương pháp dạy học Huyện Từ Liêm có 7/7 ĐDDH dự thi cấp thành phố đạt giải cao (4A2, 3B)

- Kết quả ĐDDH:

Trang 29

* Chất lượng giáo dục toàn diện và dánh giá học sinh:

* Chất lượng giáo dục đạo đức học sinh:

- Toàn ngành thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục đạo đức và rèn luyện sức khoẻ, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động tập thể, cuộc thi, trò chơi như: “trò chơi dân gian”; thi tìm hiểu về Ma túy; Đại hội cháu ngoan Bác Hồ.v.v Các trường phổ thông bám sát chủ đề hoạt động đoàn đội

- hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; giờ sinh hoạt lớp và sinh hoạt dưới

cờ Đặc biệt cấp mầm non đó chỉ đạo 100% các trường tổ chức “Chợ quê” gợi lại những phiên chợ, những món ăn, phong tục mang đậm dà bản sắc dântộc Hoạt động này cú ý nghĩa hết sức to lớn trước ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội

Kết quả đạo đức năm học 2009-2010:

Tỉ lệ

Chưađạt

Trang 30

THCS 83,3 15,0 1,5 0,2

Nguồn thống kê năm học 2009-2010

* Chất lượng giáo dục Trí dục:

- Giáo dục Mầm non :

100% các lớp Mẫu giáo được học theo chương trình đổi mới hình

thức và một số lớp điểm dạy theo chương trình giáo dục mầm non mới như:

MN Xuân Đỉnh A, MN Cầu Diễn, MN Mỹ Đình, MN Lê Quý Đôn Tăng

cường rèn nền nếp và một số kỹ năng cơ bản theo độ tuổi

- Giáo dục phổ thông:

Nền nếp chuyên cần của học sinh Tiểu học và THCS trong các nhà

trường đã đi vào chiều sâu, học sinh được phát huy trí lực, tích cực phát biểuxây dựng bài để hiểu bài ngay tại lớp Phong trào phấn đấu vươn lên đạt học sinh Khá- Giỏi đã được 100% các trường phát động Chủ đề Chăm ngoan

học giỏi đã được thảo luận trong các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt đội, phongtrào dành nhiều hoa điểm tốt được phát động đánh giá thi đua trong các nhà trường

Trang 31

THCS 33,1 39,3 23,5 3,8 0,2

Nguồn thống kê năm học

2009-2010

Cấp Tiểu học loại giỏi tăng 10%, tỷ lệ yếu kém giảm 3%;

Cấp THCS loại giỏi tăng 2,9%, tỷ lệ yếu kém giảm 1,3%;

Các trường tiểu biểu và có tiến bộ rõ rệt như: Cấp THCS: Cầu Diến, DL

LMNX, DLĐTĐ, Phú Diễn, Xuân Phương, Xuân Đỉnh v.v.; Cấp tiểu học: ĐTĐ, Cầu Diễn, Phú Diễn, v.v

Phong trào thi giáo viên dạy giỏi được duy trì trong các trường Hội

thi giáo viên giỏi được tổ chức từ trường tới Huyện và Thành phố Trong cáctiết học giáo viên đã kết hợp các phương tiện đồ dùng dạy học nhằm nâng

cao chất lượng giảng dạy Các tiết thi dạy giỏi cấp Huyện, cấp Thành phố cónhiều đổi mới trong phương phỏp và sáng tạo trong sử dụng đồ dựng dạy

học Việc đổi mới phương pháp và cách đánh giá học sinh đã được đưa ra tổ nhóm thảo luận, quán triệt và từng bước đã tìm ra các giải pháp nâng tỷ lệ

học sinh Khá- Giỏi và giảm tỷ lệ học sinh yếu kém Tiếp tục triển khai kế

hoạch giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập

Trang 32

- Tổ chức nhiều hoạt động chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy, bồi dưỡng kỹ năng soạn giảng bằng giáo án điện tử, phát huy tính tích cực của học sinh trong các tiết dạy.

- Cấp Tiểu học tiếp tục dạy theo mô hình phân hoá đối tượng, nâng chất lượng sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn; 100% các trường đã tổ chức cho học sinh học Ngoại ngữ và Tin học Tổ chức tốt các buổi sinh hoạt chuyên

Nguồn báo cáo tổng kết năm học 2009-2010

2.3 Thực trạng công tác công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho

sự nghiệp giáo dục trên địa bàn Huyện Từ Liêm:

2.3.1 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho giáo dục của Huyện Từ Liêm

Cơ cấu nguồn vốn NSNN

Đây là khoản đầu tư chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư cho giáo dục,khoản đầu tư này được lấy từ nguồn ngân sách Huyện và kinh phí bổ sung từngân sách thành phố Hàng năm ngân sách nhà nước đã giành một khoản rấtlớn để đầu tư nâng cấp, sữa chữa, xây dựng trường lớp mới, mua sắm thêm

Ngày đăng: 14/04/2016, 10:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w